1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài giảng môn đánh giá đất

88 226 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 3,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng có thể hiểu đánh giá đất đai là một bộ phận của phân loại đất đai trong đó cơ sở phân loại là xác định mức độ thích hợp của việc sử dụng đất... * Phương pháp yếu tố: Đánh giá phân h

Trang 1

MỤC LỤCMỤC LỤC 1

A PHẦN LÝ THUYẾT CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG1.1 Giới thiệu môn học

1.1.1 Khái niệm đánh giá đất đai

Theo A.Young: Đánh giá đất đai là quá trình đoán định tiềm năng của đất cho một hoặc một số loại sử dụng đất được chia ra để lựa chọn

Theo FAO đã đề xuất định nghĩa đánh giá đất đai (1976): Đánh giá đất đai là quá trình

so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của vạt đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại sử dụng đất yêu cầu phải có

Đánh giá đất đai (Land assactment): Là quá trình xác định tiềm năng của đất cho một hay nhiều mục đích sử dụng được lựa chọn Cũng có thể hiểu đánh giá đất đai là một bộ phận của phân loại đất đai trong đó cơ sở phân loại là xác định mức độ thích hợp của việc

sử dụng đất

Trang 2

Như vậy đánh giá đất đai là quá trình thu thập thông tin về đất đai, xem xét toàn diện

để phân hạng đất về mức độ thích hợp và các yếu tố kinh tế xã hội khác Kết quả đánh giá phân hạng đất được thể hiện bằng bản đồ, bản báo cáo và các bảng biểu số liệu kèm theo

1.1.2 Vị trí, vai trò môn học

Là môn chuyên sâu trong phần kiến thức ngành chính, có vai trò là môn chuyên môn cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản về đánh giá đất đai để họ có thể vận dụng trong việc đánh giá đất đai, phân hạng đất tham gia vào việc quản lí tài nguyên đất lâm nông nghiệp

1.1.3 Yêu cầu của môn học

Sinh viên phải nắm được những nội dung, nguyên tắc, phương pháp và qui trình đánh giá đất đai trong nông lâm nghiệp

Có khả năng đánh giá đất theo thích hợp và đánh giá phân hạng đất đai theo văn bản quy định hiện thời của Nhà nước và đề xuất những biện pháp sử dụng đất đai hợp lí, bền vững

1.2 Tổng quan về đánh giá đất đai

1.2.1 Trên thế giới

Từ những năm 1960, Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO) đã tập hợp lực lượng gồm các chuyên gia nghiên cứu đất trên Thế giới để xây dựng phương pháp điều tra đánh giá tài nguyên đất (Soil) và khả năng sử dụng đất đai (Land) toàn cầu và trên cơ sở đó áp dụng cho các khu vực, các nước FAO đã đưa ra các tài liệu hướng dẫn về phân loại đất và đánh giá đất đai v.v Các tài liệu hướng dẫn của FAO được các nước quan tâm thử nghiệm, vận dụng và chấp nhận là phương pháp tốt nhất để đánh giá tiềm năng đất đai làm cơ sở cho quy hoạch sử dụng đất Theo phương pháp đánh giá đất đai của FAO, các yếu tố tự nhiên (địa hình, đất đai, sông ngòi, khí hậu, thảm thực vật, v.v.), kinh tế - xã hội, nhu cầu dinh dưỡng cây trồng, khả năng đầu tư thâm canh, hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất, mức độ ảnh hưởng của môi trường, được xem xét dựa trên những luận cứ khoa học và được tiến hành theo từng bước Với kỹ thuật tin học tiên tiến, Hệ thống Thông tin Địa lý (GIS) đã được ứng dụng trong đánh giá đất đai để xử lý thông tin, đưa ra được các thông

số cần thiết và chính xác nhằm xây dựng các loại bản đồ về đất

Thấy rõ tầm quan trọng của đánh giá, phân hạng đất đến 1976 FAO đã tập trung nghiên cứu xây dựng đề cương đánh gá đất Tài liệu này được nhiều nước trên thế giới quan tâm, thử nghiệm và vận dụng vào công tác đánh giá đất đai của nước mình Đến

1983 và những năm tiếp theo đề cương ngày càng được nghiên cứu bổ sung để hoàn thiện,

đã xây dựng các tài liệu hướng dẫn đánh giá đất đai chi tiết cho các vùng sản xuất khác nhau như:

• Đánh giá đất đai cho nông nghiệp nước trời - 1983

• Đánh giá đất đai cho vùng đất rừng -1984

• Đánh giá đất đai cho nông nghiệp được tưới – 1985

Quan điểm và nội dung công tác đánh giá đất của một số nước trên thế giới:

Trang 3

1.2.1.1 Đánh giá đất của Mỹ

Tại Mỹ đang ứng dụng hai phương pháp: phương pháp tổng hợp và phương pháp yếu tố

* Phương pháp tổng hợp: Tiến hành phân chia phức hệ lãnh thổ tự nhiên và đánh gia

đất đai theo năng suất trong nhiều năm (tối thiểu là 10 năm) Trong đó vấn đề quan trọng

là phải phân hạng đất đai trên từng loại cây trồng đặc biệt là chọn cây lúa mì với các giống lúa khác nhau để làm cây trồng trong các nghiên cứu chính

* Phương pháp yếu tố: Đánh giá phân hạng đất đai dựa trên cơ sở thống kê các đặc

tính tự nhiên như độ dày tầng canh tác, thành phần cơ giới, độ thấm nước, mức độ đá lẫn, hàm lượng các muối độc trong đất, địa hình tương đối, mức độ xói mòn và yếu tố khí hậu

Ở cấp toàn quốc, công tác đánh giá phân hạng đất đai của Mỹ được thực hiện bằng phương pháp được gọi là đánh giá tiềm năng của đât Theo đó, toàn bộ quỹ đất được chia thành 8 nhóm trong đó có 4 nhóm có tiềm năng sản xuất nông nghiệp, 2 nhóm có tiềm năng sản xuất lâm nghiệp và 2 nhóm không có khả năng sử dụng ở hiện tại

- Nhóm 1: Gồm những loại đất không có trở ngại gì trong quá trình sử dụng, thích hợp với nhiều loại cây trồng Nhóm này có đặc điểm là tầng đất dày, dễ canh tác, không bị xói mòn, không đòi hỏi nhiều biện pháp tốn kém trong việc bảo vệ độ phì của đất

- Nhóm 2: Gồm những loại đất thích hợp với nhiều loại cây trồng nhưng có chất lượng kém hơn nhóm 1 và bắt đầu xuất hiện một số hạn chế.Trong quá trình sử dụng phải thực hiện một số biện pháp phòng chống xói mòn

- Nhóm 3: Gồm những loại đất còn thích hợp với nhiều loại cây trồng nhưng trong quá trình canh tác phải tuân thủ một số biện pháp bảo vệ đất, mức độ hạn chế của các yếu tố đã tăng lên

- Nhóm 4: Gồm một số loại đất vẫn thích hợp với một số loại cây trồng nông nghiệp nhưng không thường xuyên do một số yếu tố hạn chế đã tăng lên Muốn trồng trọt được trên các loại đất này thì phải tiến hành bón phân, tưới nước và áp dụng các biện pháp bảo

vệ đất, chống xói mòn

- Nhóm 5: Gồm các loại đất không thích hợp với mục đích sản xuất nông nghiệp do đất thường xuyên bị úng ngập hoặc quá ướt, đất nhiều sỏi đá, khí hậu của khu vực khắc nghiệt Do đó nhóm này nên dùng vào mục đích chăn thả gia súc, trồng rừng hoặc xây dựng cơ bản

- Nhóm 6: Gồm các loại đất dốc, bị xói mòn mạnh, tầng đất mỏng, trơ sỏi đá, thường

bị khô hạn, có nơi bị nhiễm mặn, khí hậu của khu vực khắc nghiệt Nhóm này thường dùng để chăn thả gia súc hoặc trồng rừng

- Nhóm 7: Gồm các loại đất có độ dốc lớn, bị xói mòn mạnh hoặc đất bị úng ngập, bị nhiễm mặn, khí hậu khu vực khắc nghiệt Nhóm này không thể dùng vào mục đích sản xuất nông nghiệp được

- Nhóm 8: Gồm các loại đất hoàn toàn không thuận lợi đối với việc sản xuất nông nghiệp lâm nghiệp (Ví dụ: đầm lầy, vực sâu, vùng cát trắng, )

1.2.1.2 Đánh giá đất đai của Liên Xô (cũ)

Phương pháp: Cho điểm đối với các yếu tố dựa vào thang điểm chuẩn đã được xây

Trang 4

dựng thống nhất Từ đó đối chiếu giữa tính chất đất và điều kiện tự nhien với yêu cầu của

hệ thống cây trồng được lựa chọn để phân hạng đánh giá đất

Nguyên tắc: Phân chia khả năng sử dụng đất đai trên toàn lãnh thổ theo các nhóm và các lớp thích hợp

- Nhóm thích hợp được phân theo điều kiện vùng sinh thái đất đai tự nhiên trên phạm

+ Nhóm 2: Đất thích hợp trên đồng cá thâm canh gồm 4 lớp

+ Nhóm 3: Đất nuôi trồng thủy sản cải tạo để sau có thể sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp gồm 7 lớp

+ Nhóm 4: Đất đòi hỏi phải được cải tạo cơ bản trước khi đưa vào mục đích sử dụng sản xuất gồm 6 lớp

+ Nhóm 5: Đất ít thích hợp đối với sản xuất nông nghiệp gồm 2 lớp

+ Nhóm 6: Đất không thích hợp đối với mục đích sản xuất nông nghiệp gồm 2 lớp

1.2.1.3 Đánh giá đất đai ở Canada

Phương pháp đánh giá đất là theo các tính chất tự nhiên của ddaatd và năng suất ngũ cốc trong nhiều năm trong đó lấy cây lúa mỳ làm tiêu chuẩn

Một số chỉ tiêu được lưu ý trong quá trình đánh giá đất gồm: thành phần cơ giới, cấu trúc đất, mức độ muối độc trong đất, xói mòn và đá lẫn

Kết quả đánh giá đất là đất đai trên toàn quốc được chia thành 7 nhóm:

- Nhóm 1: Những loại đất có thể trồng được nhiều loại cây, địa hình bằng phẳng, tầng đất dày, khả năng giữ nước tốt, không bị xói mòn

- Nhóm 2: Đất bị xói mòn do điều kiện khí hậu không thuận lợi, độ thấm nước kém, ngheo dinh dưỡng, có khả năng thích hợp với một số loại cây trồng Trong quá trình sử dụng cần đầu tư phân bón, lao động và có biện pháp chống xói mòn, rửa trôi

- Nhóm 3: Đất có độ dốc lớn (250 – 300), thành phần cơ giới nặng, nghèo dinh dưỡng, những nơi thấp dễ bị ngập úng, tầng đất mỏng, có sỏi đá, có thể bị nhiễm mặn, chỉ thích hợp với một số loại cây trồng nhất định

- Nhóm 4: Đất thích hợp với rất ít cây trồng, có nhiều hạn chế như nhóm 3, khí hậu khu vực khắc nghiệt, không có khả năng giữ nước, bị xói mòn mạnh, tầng đất mỏng, có nhiều sỏi đá, năng suất cây trồng thấp

- Nhóm 5: Đất phù hợp với cây trồng lâu năm nhưng cần đầu tư chăm sóc và thực hiện các biện pháp cải tạo đất

- Nhóm 6: Đất chỉ dùng vào mục đích chăn thả gia súc, gia cầm

Trang 5

- Nhóm 7: Đất không thể sản xuất nông nghiệp được.

1.2.1.4 Đánh giá đất đai ở Anh

Phương pháp: Dựa vào thống kê sức sản xuất tiềm năng và sức sản xuất thực tế của đất.Phương pháp đánh giá đất dựa vào thống kê sức sản xuất tiềm tàng của đất người ta chia đất làm các hạng, mỗi hạng được xem xét bởi những yếu tố hạn chế của đất đối với sản xuất nông nghiệp trong vùng nghiên cứu

Phương pháp đánh giá đất dựa vào thống kê sức sản xuất thực tế của đất dựa vào năng suất bình quân nhiều năm làm chuẩn (10 năm) so sánh với năng suất thực tế trên đất để cho phân hạng

Kết quả đánh giá đất chia toàn bộ lãnh thổ thành 5 nhóm khác nhau

- Nhóm 1: Đất thuận lợi nhiều mặt để sản xuất nông nghiệp, trồng được nhiều loại cây cho năng suất cao

- Nhóm 2: Đất đã xuất hiện một số yếu tố hạn chế nhưng mức ảnh hưởng không lớn lắm, có khả năng thích hợp với nhiều loại cây trồng

- Nhóm 3: Đất có chất lượng trung bình, thích hợp trồng cỏ và một số ít cây lươn thực, tầng đất mỏng, địa hình không bằng phẳng, khí hậu khu vực quá lạnh

- Nhóm 4: Đất nghèo dinh dưỡng, canh tác khó khăn, chỉ trồng được các loại cây mà đòi hỏi ít phải đầu tư thâm canh

- Nhóm 5: Đất chỉ thích hợp làm đồng cỏ, chăn nuôi, không trồng được cây lương thực

1.2.1.5 Đánh giá đất đai ở Ấn Độ

Ở Ấn Độ người ta thường áp dụng phương pháp tham biến để biểu thị mối quan hệ về sức sản xuất của đất với các yếu tố đặc tính đất độ dày, tầng đất, thành phần cơ giới, độ dốc và các yếu tố khác… dưới dạng phương trình toán học

Kết quả là đất đai trên phạm vi toàn lãnh thổ được chia thành 6 nhóm:

- Nhóm siêu tốt: đạt 80 - 100 điểm, có thể trồng bất kỳ loại cây nào cũng cho năng suất cao

- Nhóm tốt: đạt 60 - 79 điểm, có thể trồng bất kỳ loại cây nào nhưng cho năng suất khá (thấp hơn nhóm siêu tốt)

- Nhóm trung bình: đạt 40 - 59 điểm, đất trồng được 1 số nhóm cây trồng mà không đòi hỏi đầu tư chăm sóc nhiều (cho năng suất trung bình)

- Nhóm nghèo: đạt 20 - 39 điểm, đất chỉ trồng một số loại cây cỏ

- Nhóm rất nghèo: đạt 10- 19 điểm, đất chỉ làm đồng cỏ chăn thả gia súc

- Nhóm cuối cùng: đạt < 10 điểm, đất không thể dùng vào sản xuất nông nghiệp được

Trang 6

mà phải sử dụng cho các mục đích khác

1.2.1.6 Đánh giá đất đai ở vùng nhiệt đới ẩm Châu Phi

Phương pháp được sử dụng là phương pháp tham biến có tính đến sự phụ thuộc vào một số tính chất sức sản xuất của đất Sức sản xuất của đất lại chịu ảnh hưởng của một số tính chất đặc trưng như:

+ Sự phát triển của phẫu diện đất: thể hiện qua sự phân tầng phát sinh rõ ràng, cấu trúc đất, thành phần khoáng vật và sự phân bố khoáng sét trong lòng đất và khả năng trao đổi cation

+ Sự xuất hiện của tầng đất chặt trong phẫu diện đất

+ Màu sắc đất và điều kiện thoát nước

+ Độ chua và độ no bazơ

+ Mức độ phát triển của tầng mùn

Tất cả các đặc tính trên được thể hiện bằng phương trình toán học và từ đó sẽ tính toán được sức sản xuất của đất

1.2.1.7 Đánh giá đất đai theo FAO

Năm 1970, tổ chức Nông – Lương Liên Hợp Quốc (FAO) đã tập hợp các chuyên gia nông nghiệp hàng đầu ở nhiều quốc gia tổng hợp xây dựng “Đề cương đánh giá đất đai” Các nhà nghiên cứu đánh giá đất cũng đã nhận thấy những nỗ lực không thể đơn phương ở từng quốc gia riêng rẽ, mà phải có sự thống nhất về các nguyên tắc và tiêu chuẩn đánh giá đất đai chung trên phạm vi toàn thế giới

Kết quả là Uỷ ban Quốc tế nghiên cứu đánh giá đất của tổ chức FAO đã cho ra đời bản dự thảo đánh giá đất lần đầu tiên vào năm 1972 Sau đó được Blikman và Smyth biên soạn và cho in ấn chính thức vào năm 1973

Năm 1975 bản dự thảo đã được các chuyên gia đánh giá đất của tổ chức FAO tham gia đóng góp, năm 1976 đề cương đánh giá đất (A Framework for land Evaluatinon,1976) đã

ra đời Qua những thử nghiệm ban đầu ở các nước đang phát triển đề cương này được tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện vào các năm sau đó để áp dụng cho từng đối tượng sản xuất nông nghiệp cụ thể như:

- Đánh giá đất cho nền nông nghiệp nước trời

- Đánh giá đất cho nền nông nghiệp được tưới

- Đánh giá đất cho phát triển nông nghiệp

- Đánh giá đất cho sự nghiệp phát triển nông thôn

- Đánh giá đất và phân tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất

Theo FAO có hai kiểu đánh giá phân hạng đất đai:

- Phân hạng đất thích hợp định tính: Kết quả chỉ được trình bày trong phạm vi tính chất, không có đánh giá riêng ở đầu vào và đầu ra

- Phân hạng đất thích hợp định lượng: Các kết quả được trình bày dưới dạng số Nếu kết quả chỉ đề cập đến số lượng đầu tư, chi phí ở đầu vào và khối lượng sản phẩm ở đầu ra thì đây là phân hạng đất định lượng thông thường Nếu kết quả đề cập đến chi phí, giá thành ở đầu vào và giá cả, lợi nhuận ở đầu ra thì là phân hạng đất định lượng kinh tế

Trang 7

Ưu điểm của phương pháp đánh giá đất theo FAO:

- Các chỉ tiêu được sử dụng có thể định lượng, đo đếm được

- Đánh giá đất đai được nhìn nhận khá toàn diện trên các khía cạnh: tự nhiên, kinh tế xã- hội và môi trường

- Đánh giá thích hợp đất đai cho những hệ thống cây trồng riêng rẽ, trả lời những yêu cầu cụ thể của các loại sử dụng đất (LUT) trong sản xuất

- Dễ dàng vận dụng cho đánh giá đất ở các mức độ chi tiết, bởi do sự khác biệt về yêu cầu của từng loại cây trồng đối với đất, một số yếu tố được xác định trong đánh giá có thể

là yếu tố hạn chế hay không thích hợp cho loại hình sử dụng này, song lại không phải là yếu tố hạn chế cho các loại hình sử dụng khác

- Phương pháp đánh giá đất của Liên Xô (cũ ) và Hoa Kỳ chủ yếu dựa vào khả năng thích hợp điều kiện tự nhiên đối với (LUT), rất ít quan tâm đến những yếu tố kinh tế và

xã hội điều này có thể đưa đến những sai lệch trong áp dụng các kết quả đánh giá vì chúng không phù hợp với điều kiện, kinh tế- xã hội của vùng nghiên cứu

- Phương pháp đánh giá đất của FAO đã đề cập đến các chỉ tiêu kinh tế- xã hội liên quan đến khả năng sử dụng đất và khả năng sinh lợi nhuận Đây là những thông tin rất có

ý nghĩa cho việc xác định và lập kế hoạch cho sử dụng đất

- Việc nhấn mạnh những yếu tố hạn chế trong sử dụng và quản lý đất liên quan đến các vấn đề về môi trường trong phương pháp đánh giá đất của Mỹ và của FAO là rất có ý nghĩa cho việc bảo vệ môi trường sinh thái, đặc biệt trên những loại đất có vấn đề và dễ bị suy thoái

* Tóm lại:

- Phương pháp đánh giá đất của FAO là sự kế thừa, kết hợp được những điểm mạnh của cả hai phương pháp đánh giá đất của Liên Xô (cũ) và của Hoa kỳ, đồng thời bổ sung hoàn chỉnh về phương pháp đánh giá thích hợp đất đai cho các mục đích khác nhau

- Việc đưa ra phương pháp đánh giá mang tính quốc tế giúp các nhà khoa học có được tiếng nói chung, trong trao đổi thông tin, kiến thức trong đánh giá sử dụng đất giữa các quốc gia trên thế giới

- Điểm ưu việt nổi bật của phương pháp FAO là rất quan tâm đến khả năng duy trì và bảo vệ tài nguyên đất đai nhằm xây dựng một nền nông nghiệp bền vững trên phạm toàn thế giới cũng như ở từng quốc gia riêng rẽ

1.2.2 Tại Việt Nam

Vào những năm 60 - 70 thế kỷ trước, việc điều tra tài nguyên đất đai ở nước ta đã được tiến hành, nhằm phục vụ cho công tác quy hoạch sản xuất nông nghiệp Nhiều địa phương đã quy hoạch sử dụng đất trên các tỷ lệ bản đồ khác nhau và đã góp phần vào việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp nước ta Tuy nhiên, việc quy hoạch đó còn những khiếm khuyết, chưa đề cập tới các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội , dẫn đến tình trạng nhiều bản quy hoạch không thể áp dụng vào thực tiễn sản xuất

Năm 1999, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành Quy trình đánh giá đất đai phục vụ nông nghiệp dựa trên cơ sở phương pháp của FAO có chỉnh biên cho phù hợp với điều

Trang 8

kiện nước ta (Tiêu chuẩn Ngành 10 TCN 343-98 và sau đó là TCVN 8409-2010 và TCVN 8409-2011), hướng dẫn các cơ quan chức năng và địa phương áp dụng để đánh giá tài nguyên đất đai trên phạm vi cả nước

Trong lâm nghiệp các tác giả Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế và Vũ Tấn Phương đã xây dựng Hệ thống đánh giá đất lâm nghiệp Việt Nam 2005, Nxb KH&KT

1.3 Khái quát phương pháp đánh giá đất theo FAO

1.3.1 Hướng dẫn của FAO về đánh giá đất đai

Trong tổng hợp báo cáo của FAO (1995) cho thấy tỷ lệ của sự suy thoái đất đai đang tiếp tục gia tăng Tuy nhiên, sự suy thoái đất đai có thể được chỉnh sửa nếu đất đai được sử dụng một cách hợp lý hay tất cả các chức năng của đất đai được quan tâm suy nghĩ từ góc

độ của địa phương, quốc gia và toàn cầu, ngược lại sự suy thoái đất đai càng nghiêm trọng hơn ở những nơi không có quy hoạch sử dụng đất đai hoặc thực hiện theo thứ tự, hoặc nếu

có một quyết định sử dụng đất đai sai hay định kiến lãnh đạo sử dụng đất không hợp lý

Ðể khắc phục tình trạng này, có thể có những biện pháp như đối với việc tránh tác động tổn hại nhiều đến sự phát triển và đạt được một sự bền vững trong phát triển nông nghiệp Có phương pháp điều chỉnh việc sử dụng đất đai được trình bày, đó là một hoạt động được xác định trên nền tảng của qui luật chắc chắn có hiệu quả đối với từng thời kỳ

sử dụng đất Một khoảnh đất được xem là thích hợp khi sử dụng có hiệu quả đối với cả lúa, thổ cư và được đánh giá thông qua việc định lượng Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng phương pháp này đóng góp cho kế hoạch sử dụng đất trong việc tìm ra chương trình để điều chỉnh đối với trồng lúa là đất được sử dụng ổn định và có những kiến nghị cho sự phát triển ổn định lâu dài

Một số nghiên cứu chỉ rõ hơn trong sử dụng đất đai là cần đảm bảo một hệ sinh thái bền vững và hệ thống xã hội phát triển hoặc là tạo ra kết quả của sự suy giảm tài nguyên

Do vậy, để phục hồi tình trạng cân bằng giữa sự phá hoại và sự hữu dụng của tài nguyên là vấn đề quan trọng cho cả hai: con người và những đặc điểm tự nhiên trong hệ sinh thái Cần có sự phân tích hiện trạng và tiềm năng sử dụng đất đai, từ đó cho phép phục hồi lại đất đai, xác định các nhân tố giới hạn mà từ đó có thể được làm hạn chế bớt đi hoặc ngưng suy thoái đất đai và sản xuất gia tăng (Geerling and Bie, 1986)

Ðã từ lâu, con người đã biết dựa vào điều kiện tự nhiên để cải tạo tự nhiên từng bước cho phù hợp và có nhiều bài học kinh nghiệm đắt giá Như kết quả nghiên cứu của Lê Quang Trí (1996) đã chứng minh được: kinh nghiệm của người nông dân dưới ảnh hưởng khác nhau của sự hạn chế về mặt tự nhiên, nhưng những người nông dân trong vùng đất phèn đã phát triển những kiểu thực hành khác nhau để khắc phục những hạn chế về đất trong sản xuất của họ, và cho những kết quả khả quan trong việc khai thác tốt tài nguyên đất và nước như:

- Chọn lựa cơ cấu cây trồng thích hợp và mùa vụ thích hợp như lúa, khoai, mía

- Việc tưới và hệ thống kinh tiêu nước cho vùng lúa năng suất cao

- Tạo lớp đất bồi cho hoa màu trồng cạn

Trang 9

- Tạo lớp đất bồi thấp cho cây lúa từ sự canh tác lúa mùa địa phương.

- Thêm cỏ hoặc rơm phủ trên mặt của lớp đất bồi sau khi trồng hoa màu cạn

- Không cày cho việc canh tác 2 vụ lúa cao sản

- Xây dựng đê, đập, cống thoát trên vùng nhiễm mặn

- Xây dựng hệ thống rãnh cho hệ thống Lúa-Tôm càng xanh trên những vùng nước ngọt

- Xây dựng hệ thống rãnh cho việc nuôi Tôm-Cua trên những vùng đất phèn, mặn.Kết quả đã để lại một hiện trạng đặc thù của Ðồng bằng sông Cửu long, từ chỗ chỉ dựa vào tự nhiên là chủ yếu để khai thác môi trường chưa biến đổi lớn, tiến đến mục tiêu gia tăng lương thực, nhất là sau năm 1975, dẫn đến tình trạng khai thác độc canh làm môi trường tài nguyên bị phá huỷ Nền nông nghiệp chỉ thiên về khai thác tài nguyên tự nhiên

mà chưa chú trọng đúng mức đến việc tái tạo chúng (làm mặn hoá hoặc phèn hóa một số vùng) Vì vậy, hiện trạng này cần phải được chú ý giải quyết và mục tiêu quan trọng là phải bảo đảm an toàn lương thực, đồng thời phải đa dạng hoá nền nông nghiệp, tức là đa dạng hóa cơ cấu sử dụng đất và mục tiêu bảo vệ môi trường

Ðặc biệt từ kết quả đánh giá thích hợp đất đai cho mục tiêu phát triển nền nông nghiệp sinh thái đã đề ra những biện pháp kỹ thuật đặc thù Riêng ở ÐBSCL với đề tài nghiên cứu

- Phát triển phương thức quản trị đối với vùng đất phèn dựa vào kinh nghiệm của nông dân

và kiến thức của chuyên gia đã cho thấy:

- Trong thực tế chất lượng đất đai quyết định cơ bản đến các kiểu sử dụng đất, cơ cấu mùa vụ (trên vùng đất phèn)

- Công tác đánh giá thích hợp đất đai được thực hiện ở cấp độ nông trang để có những quyết định quản lý tối ưu dùng để cải tiến nâng cấp thích nghi, để từ đó sẽ có những đề nghị về khoa học kỹ thuật mới cho từng đặc thù của từng vùng như kiểu sử dụng đất, cơ cấu mùa vụ và loại cây trồng (Lê Quang Trí, 1996)

Các nhà khoa học của FAO đã xây dựng nên một hệ thống khả năng phân hạng thích hợp đất đai cho các kiểu sử dụng đất đai khác nhau Đây là hệ thống bao gồm các nguyên tắc và quan điểm trên cơ sở đánh giá thích hợp cấp quốc gia, cấp vùng và cấp địa phương.Mục đích của việc xây dựng hệ thống đánh giá đất đai FAO là:

- Xác định và xây dựng nguyên lý, quan điểm và qui trình đánh giá đất đai cho sử dụng đất nông nghiệp như : trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản; hay cho lâm nghiệp, bảo tồn thiên nhiên

- Có khả năng áp dụng được cho toàn cầu cũng như xuống đến cấp địa phương của cả các quốc gia đã phát triển và đang phát triển

- Có được cái nhìn tổng quát về những đặc tính tự nhiên của đất đai, những chiều hướng về kinh tế xã hội, và sự thay đổi môi trường, cũng như các biện pháp kỹ thuật đang

áp dụng của đất đai và sử dụng đất đai Từ đó cung cấp những thông tin cần thiết cho qui hoạch sử dụng đất đai

- Hệ thống này được sử dụng như là nền tảng để đánh giá các hệ thống đánh giá đất đai hiện có thông qua sự so sánh và kết quả

- Với hệ thống này sẽ là cơ sở cho việc nghiên cứu thành những hệ thống đánh giá đất

Trang 10

đai mới riêng cho các vùng chuyên biệt hệ thống này đã và đang được áp dụng rộng rãi cho các nước trên thế giới

1.3.2 Mục đích và yêu cầu của công tác đánh giá đất đai

1.3.2.1 Mục đích của công tác đánh giá đất đai

- Phát hiện tiềm năng đất đai chưa sử dụng

- Đề xuất các biện pháp cải tạo đất

- Làm cơ sở cho công tác quy hoạch sử dụng đất

- Cung cấp các thông tin về những điều kiện thuận lợi và khó khăn trong việc sử dụng đất từ đó có cơ sở để đề xuất các quyết định hợp lý

1.3.2.2 Yêu cầu của công tác đánh giá đất đai

Yêu cầu chính trong đánh giá đất của FAO là gắn liền đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất, coi đánh giá đất là một phần của quá trình quy hoạch sử dụng đất Do đó, các yêu cầu cụ thể là:

- Thu thập được những thông tin phù hợp về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của khu vực nghiên cứu

- Đánh giá được sự thích hợp của vùng đất với các mục tiêu sử dụng khác nhau theo mục đích và nhu cầu của con người

- Phải xác định được mức độ chi tiết đánh giá đất theo quy mô và phạm vi quy hoạch

là toàn quốc, vùng, tỉnh, huyện hoặc các cơ sở sản xuất

- Mức độ thực hiện đánh giá đất phụ thuộc vào tỷ lệ bản đồ vùng nghiên cứu, cụ thể:+ Đánh giá đất phục vụ thiết kế sản xuất cho cấp xã, trang trại: cần đánh giá chi tiết về hiện trạng sản xuất, các hệ thống cây trồng Thực hiện trên bản đồ tỷ lệ 1/2.000 đến 1/5.000

+ Đánh giá đất phục vụ cho các dự án khả thi cần có bản đồ đất, bản đồ địa hình, nghiên cứu về tài nguyên nước, hiện trạng sử dụng đất Thực hiện trên bản đồ tỷ lệ 1/10.000 đến 1/25.000 hoặc 1/25.000 đến 1/100.000

+ Đánh giá đất phục vụ cho quy hoạch tổng thể cần các tài liệu về đất tổ hợp theo nhóm liên quan đến khí hậu, nước, hiện trạng cây trồng Thực hiện trên bản đồ tỷ lệ 1/100.000 đến 1/250.000

+ Đánh giá đât cấp toàn quốc: thực hiện trên bản đồ tỷ lệ 1/500.000 đến 1/1.000.000

1.3.3 Khái quát qui trình đánh giá đất đai

Qui trình đánh giá đất đai được thực hiện theo các bước sau:

1) Xây dựng các đơn vị bản đồ đất đai

Dựa trên cơ sở kết quả điều tra khảo sát các điều kiện đất đai như: khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, nước, thực vật, … Để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai Mỗi đơn vị bản đồ đất đai có những đặc tính đất đai riêng khác so với những đơn vị bản đồ đất đai khác

2) Chọn lọc và mô tả kiểu sử dụng đất đai

Chọn lọc, mô tả kiểu sử dụng đất hiện tại phù hợp và liên quan đến mục tiêu chính sách và phát triển đã được xây dựng bởi các nhà qui hoạch cũng như phải phù hợp với những điều kiện về kinh tế xã hội và tự nhiên môi trường trong khu vực đang thực hiện

Trang 11

3) Chuyển đổi những đặc tính đất đai

Chuyển đổi những đặc tính đất đai của mỗi đơn vị bản đồ đất đai thành các chất lượng đất đai có ảnh hưởng trực tiếp đến các kiểu sử dụng đất đai đã được chọn lọc

4) Xác định yêu cầu về đất đai

Xác định yêu cầu về đất đai cho các kiểu sử dụng đất đai đã chọn lọc, hay gọi là yêu cầu sử dụng đất đai trên cơ sở của các chất lượng đất đai

Đối chiếu giữa yêu cầu sử dụng đất đai của các kiểu sử dụng đất đai được diễn tả dưới dạng phân cấp yếu tố với các chất lượng trong mỗi đơn vị bản đồ đất đai được diễn tả dưới dạng yếu tố chuẩn đoán Kết quả cho được sự phân hạng khả năng thích hợp đất đai của mỗi đơn vị bản đồ đất đai với từng kiểu sử dụng đất đai

Đánh giá đất đai là sự so sánh giữa các dữ liệu về nguồn tài nguyên thiên nhiên và những yêu cầu về quản trị và bảo vệ môi trường của sử dụng đất đai Do đó trong việc thực hiện cần phối hợp đa ngành bao gồm các nhà khoa học về đất, cây trồng, hệ thống canh tác, cũng như các chuyên gia về lâm nghiệp, kinh tế và xã hội Tùy theo từng vùng và mục đích đánh giá qui hoạch sử dụng đất đai cho từng vùng khác nhau mà thành phần các nhà khoa học tham gia cũng thay đổi

Các bước thực hiện trong qui trình đánh gia đất đai được trình bày một cách hệ thống trong sơ đồ

Trang 12

Hình 1.1: Qui trình đánh giá đất đai cho qui hoạch sử dụng đất đai De Vos

t.N.C 1978; H Huizing, 1988; Lê Quang Trí, 1997.

1.3.4 Những nguyên tắc của đánh giá đất đai

Sáu nguyên tắc cơ bản sau đây được sử dụng cho cho đá nh giá đất đai theo FAO, 1976:

- Nguyên tắc 1: Khả năng thích hợp đất đai phải được đánh giá và phân hạng cho một

loại sử dụng chuyên biệt

Trang 13

- Nguyên tắc 2: Đánh giá đòi hỏi phải có sự so sánh về lợi nhuận và mức đầu tư cần

thiết cho từng kiểu sử dụng đất đai khác nhau

- Ngu yên tắc 3 : Đánh giá đất đai đòi hỏi phải đa ngành.

Các đề án đánh giá đất đai ở các nước đang phát triển thường thiếu những kiến thức thông tin có hiệu quả về những điều kiện về môi trường tự nhiên, kinh tế xã hội, mà những yếu tố này có liên quan đến vùng đang nghiên cứu

- Nguyên tắc 4: Đánh giá cần phải đứng trên quan điểm sự ảnh hưởng và liên quan

các yếu tố về môi trường tự nhiên, kinh tế và xã hội đến vùng đang nghiên cứu Khi đánh giá đất đai, thường những hậu quả về sinh thái môi trường như: đất xói mòn, gia tăng bệnh sốt rét, sự mặn hóa, thiếu nguồn nước ngọt ở hạ lưu không được chú ý đề cập đến trong khi thực hiện Nên trong các đề án lâu dài thường bị thất bại là do các kết quả trên đem lại

- Ngu yên tắc 5 : Đánh giá phải xây dựng trên nền tảng tính bền vững

Đánh giá đất đai đôi khi được thực hiện một cách độc lập để xác định tính thích hợp của một kiểu sử dụng chuyên biệt nào đó, thí dụ như chỉ cho cây mía mà quên đi khả năng cho lợi nhuận cao hơn khi so sánh với các kiểu sử dụng khác

- Ngu yên tắc 6 : Đánh giá thích hợp thường phải so sánh nhiều kiểu sử dụng với nhau.

1.3.5 Mức độ chi tiết và tỉ lệ khảo sát cho đánh giá đất đai

Đánh gia đất đai được thực hiện ở các cấp độ khác nhau tùy thuộc vào kết quả của các

tỉ lệ bản đồ khác nhau Theo Young, 1976 thì có thể phân biệt ra 6 mức độ khác nhau để khảo sát cho đánh giá đất đai:

- Tỷ lệ biên soạn: ở mức độ này thì bản đồ đánh giá đất đai được biên soạn dựa trên cơ

sở các tư liệu đã có trước và được tổng hợp lại trong phạm vi toàn thế giới hay một vùng lớn Tỉ lệ sử dụng là 1/1.000.000 hay nhỏ hơn Phương pháp sử dụng là đánh giá chất lượng đất đai Kết quả được sử dụng để đánh giá nguồn tài nguyên để giải quyết vấn đề lương thực trên thế giới hay trong vùng Trong điều kiện Việt Nam, mức độ này được thực hiện ở tỷ lệ 1/1.000.000 đến 1/5.000.000

- Tỷ lệ khảo sát thăm dò: dựa trên cơ sở biên soạn các tài liệu đang có và bổ sung thêm một số thông tin từ các lát cắt thực địa xuyên qua các vùng chưa biết Mức độ này thường áp dụng cho cấp quốc gia, với tỉ lệ thay đổi từ 1/1.000.000 đến 1/250.000 Vẫn

sử dụng phương pháp đánh giá chất lượng đất đai Ở mức độ này dùng để kiểm kê tài nguyên thiên nhiên của quốc gia Trong điều kiện Việt Nam, mức độ này được thực hiện ở

tỷ lệ cả nước 1/1.000.000

- Tỷ lệ khảo sát sơ bộ: theo FAO, thì đây là mức độ thấp để kiểm kê nguồn tài nguyên thiên nhiên trong một vùng của một quốc gia Mức độ này để xác định những nhóm sử dụng chính cho từng vùng Tỉ lệ thực hiện là 1/100.000 đến 1/250.000 Áp dụng phương pháp đánh giá chất lượng đất đai và bán số lượng đất đai Kết quả có thể sử dụng cho việc chọn khả năng ưu tiên phát triển của các đề án trong vùng Trong điều kiện Việt Nam, mức độ này được thực hiện ở cấp vùng với tỷ lệ 1/250.000

- Tỷ lệ bán chi tiết: theo FAO đây là mức độ trung bình thường thực hiện trong các khu vực mà kết quả khảo sát thăm dò cho thấy có nhiều triển vọng phát triển Mục tiêu của

Trang 14

mức độ này là chọn những kiểu sử dụng chuyên biệt cho từng khu vực để hổ trợ cho việc xây dựng các dự án khả thi Áp dụng từng phần phươ ng pháp đánh giá số lượng đất đai

Tỉ lệ bản đồ sử dụng là 1/25.000 đến 1/100.000 Kết quả sử dụng cho thực hiện dự án khả thi và qui hoạch vùng nông thôn Trong điều kiện Việt Nam, mức độ này được thực hiện

ở cấp Tỉnh với tỷ lệ 1/100.000 cho tỉnh lớn và 1/50.000 cho tỉnh có diện tích nhỏ

- Tỷ lệ chi tiết: theo FAO đây là mức độ cao cần thiết thực hiện để phát triển dự án khả thi trong từng khu vực nhỏ Áp dụng phươ ng pháp đánh giá số lượng chi tiết đất đai

Tỉ lệ sử dụng là 1/10.000 đến 1/25.000 Kết quả được sử dụng để cung cấp thông tin cho vùng dự án và qui hoạch Huyện hay liên xã nông thôn Trong điều kiện Việt Nam, mức độ này được thực hiện ở cấp Huyện với tỷ lệ 1/25.000

- Tỷ lệ thật chi tiết: theo FAO đây là mức độ rất cao để cung cấp thông tin và tư liệu cho việc quyết định cách quản lý và cải thiện về canh tác trong nông trang như áp dụng hệ thống tưới, khu chuyên biệt cho từng loại cây hay lượng phân bón cần áp dụng Tỉ lệ lớn hơn 1/10.000 Kết quả dùng để qui hoạch xã thôn hay trang trại Trong điều kiện Việt Nam, mức độ này được thực hiện ở cấp Xã với tỷ lệ 1/5.000, tuy nhiên tùy điều kiện mà

có thể thực hiện quy hoạch cấp ấp (xóm, làng hay thôn)

1.3.6 Các phương pháp đánh giá đất đai

1.3.6.1 Phương pháp đánh giá đất của FAO

Đây là phương pháp được sử dụng khá phổ biến Các khái niệm được trình bày trên được sử dụng khá rộng rãi ở các nước Tây Âu và phương pháp đã được tổ chức FAO thừa nhận, hoàn chỉnh thành cẩm nang hướng dẫn đánh giá đất đai để áp dụng rộng rãi Ví dụ năm 1979, FAO xuất bản cẩm nang hướng dẫn “Đánh giá đất đai cho lâm nghiệp” Trên

cơ sở đó một số nội dung hoặc khái niệm được xác định như sau:

(1) Đánh giá tiềm năng sử dụng đất đai (land capability):

Đánh giá tiềm năng sử dụng đất đai là việc phân chia hay phân hạng đất đai thành các

nhóm dựa trên các yếu tố thuận lợi hay hạn chế trong sử dụng như độ dốc, độ dày tầng đất,

đá lẫn, tình trạng xói mòn, úng ngập, khô hạn, mặn hoá, v.v Trên cơ sở đó có thể lựa chọn những kiểu sử dụng đất phù hợp

Việc đánh giá tiềm năng sử dụng đất thường áp dụng trên qui mô lớn như trong phạm

vi một nước, một tỉnh hay một huyện Đánh giá tiềm năng đất được áp dụng thành công ở

Mỹ và một số nước khác Yếu tố hạn chế là những yếu tố hầu như không thay đổi được như độ dốc, độ dày tầng đất, khí hậu

Ở Mỹ đất đai toàn quốc được phân thành 8 nhóm với yếu tố hạn chế tăng dần từ nhóm

I tới nhóm VIII Nhóm I là nhóm thuận lợi nhất trong sử dụng, có rất ít yếu tố hạn chế Nhóm VIII là nhóm có nhiều hạn chế nhất trong sử dụng

Yếu tố hạn chế chủ yếu được thể hiện qua chữ viết tắt như xói mòn là e, dư thừa nước

là w Ví dụ IV-e, IV-w là nhóm đất IV có yếu tố hạn chế là đất bị xói mòn, bị ngập úng

Đánh giá tiềm năng sử dụng đất là phương pháp đánh giá đất đai tổng quát với mục tiêu sử dụng lớn như cho nông nghiệp, lâm nghiệp, du lịch hoặc các mục tiêu khác không

Trang 15

phải là nông, lâm nghiệp và không đi sâu đánh giá chi tiết cho từng thành phần của mỗi kiểu sử dụng đất tổng quát.

(2) Đánh giá mức độ thích hợp đất đai (land suitability):

Đánh giá mức độ thích hợp đất đai là quá trình xác định mức độ thích hợp cao hay thấp của các kiểu sử dụng đất cho một đơn vị đất đai và tổng hợp cho toàn khu vực dựa trên so sánh yêu cầu kiểu sử dụng đất với đặc điểm các đơn vị đất đai

Đánh giá mức độ thích hợp đất đai có thể áp dụng chỉ cho một kiểu sử dụng đất nhất định, ví dụ cho một loài cây trồng nông nghiệp như ngô, lúa hay lâm nghiệp như thông, keo, bạch đàn, v.v hoặc cho nhiều kiểu sử dụng đất khác nhau để so sánh lựa chọn Ngoài

ra còn phân biệt đánh giá độ thích hợp hiện tại dựa trên thực trạng hiện nay và đánh giá độ thích hợp trong tương lai khi mà có những tác động lớn vào đất đai như đầu tư cao, áp dụng mạnh các tiến bộ khoa học công nghệ Quá trình đánh giá mức độ thích hợp đất đai

có thể tóm tắt như sau:

Xác định kiểu sử dụng đất hay loài cây trồng cần đánh giá

Xác định các đơn vị đất đai

Xác định đặc điểm các yếu tố đơn vị đất đai

Xác định các yêu cầu, đòi hỏi của kiểu sử dụng đất hay loài cây trồng theo mức độ thích hợp khác nhau dựa trên các yếu tố của đơn vị đất đai

So sánh các yêu cầu của loài cây hay kiểu sử dụng đất với đặc điểm các yếu tố đất đai

để xác định mức độ thích hợp các kiểu sử dụng đất hay loài cây trồng

- Không thích hợp vĩnh viễn (N2): Đất có hạn chế không thể khắc phục được

Chú ý: Xác định yếu tố hạn chế cho từng mức độ thích hợp thể hiện bằng các chữ như

e: xói mòn, w: ẩm ướt, t: địa hình, địa mạo, v.v Ví dụ như S2e là mức độ thích hợp trung bình nhưng có hạn chế do bị xói mòn S2et là mức độ thích hợp trung bình nhưng có hạn

Trang 16

chế về xói mòn và địa hình S3w là mức độ thích hợp kém và có hạn chế về nguồn nước trong đất

Xác định yêu cầu về mặt quản lý thể hiện bằng con số 1 (rất dễ), 2(dễ), 3 (khó) để trong ngoặc, ví dụ như S2e(2) là Mức độ thích hợp trung bình nhưng có hạn chế do bị xói mòn và mức độ quản lý đơn giản v.v

1.3.6.2 Đánh giá đất đai dựa trên cơ sở lập địa (Site)

1) Tiêu chí phân chia lập địa (Site)

Phương pháp được áp dụng khá phổ biến ở Cộng hoà dân chủ Đức trước kia (nay là Cộng hoà liên bang Đức) Ngoài ra ở Ukraina nhà lâm học có uy tín Pogrebnhiac có phân chia lập địa phục vụ công tác trồng rừng và xác định các kiểu rừng Có rất nhiều định nghĩa về lập địa nhưng có thể hiểu bản chất của khái niệm là:

“Lập địa là một phạm vi lãnh thổ nhất định với tất cả những yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng tới sự sinh sinh trưởng của cây cối Lập địa theo nghĩa hẹp bao gồm 3 thành phần: Khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng và lập địa theo nghĩa rộng bao gồm 4 thành phần: khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, thế giới động thực vật”

Phương pháp này nghiên cứu mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên với nhau, giữa các thành phần tự nhiên với cây trồng trong một không gian nhất định và được cụ thể hoá trên bản đồ Đại diện cho cách làm này có Krauss (1935, 1954), Kopp (1965, 1969), và W Schwaneeker (1965, 1974) Ở Liên xô cũ lập địa được coi là điều kiện nơi sinh trưởng, nghĩa là tác động tổng hợp của các yếu tố ngoại cảnh hình thành nên các kiểu rừng nhất định và ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng của thực vật rừng

Những yếu tố xác định lập địa có nhiều nét tương đồng các yếu tố xác định đơn vị đất đai Đơn vị cơ bản của hệ thống phân loại lập địa là dạng lập địa và nhóm dạng lập địa Đó cũng là đơn vị cơ bản để đánh giá đất đai hoặc xác định các loài cây trồng phù hợp Các yếu tố chính xác định các dạng lập địa cũng là địa hình (độ dốc, vị trí chân, sườn, đỉnh), loại đất, độ dày tầng đất, thực bì,.v.v Sau đây là một số phương pháp phân chia lập địa

a) Phân chia lập địa dựa vào độ phì và độ ẩm của đất

Pogrebnhiac (Ucraina, 1992) đã phân chia lập địa làm cơ sở cho trồng rừng và xác định các kiểu rừng dựa trên 2 tiêu chí chính là độ phì và độ ẩm của đất Độ phì được chia làm 4 cấp: rất xấu (A), xấu (B), trung bình (C), tốt (D) Độ ẩm đất chia làm 6 cấp: rất khô (0), khô (1), ẩm vừa (2), ẩm (3), ướt (4), lầy (5) Tổng hợp 2 tiêu chí trên sẽ có 24 kiểu lập địa như sau:

Bảng 1 Các kiểu lập địa dựa vào độ phì và độ ẩm

Độ

phì

Độ ẩm

Trang 17

A A0 A1 A2 A3 A4 A5

Việc xác định độ phì có thể dựa vào tác dụng chỉ thị của tầng cây gỗ do chúng có bộ rễ

ăn sâu và quan hệ chặt chẽ với độ phì của đất, còn độ ẩm dựa vào lớp thảm tươi do chúng nhạy cảm hơn với sự thay đổi của độ ẩm (ví du: A0 là đất rất xấu và rất khô…)

Lập địa có thể phân chia ở cấp vĩ mô (quốc gia, tỉnh, huyện, v.v.) hoặc vi mô (xã, thôn v.v.) Trong ứng dụng hiện nay để phục vụ cho các dự án trồng rừng lập địa được phân chia và đánh giá ở cấp vi mô

b) Phân chia lập địa dựa vào điều kiện thoát nước

Một phân loại khác về lập địa được áp dụng ở Liên xô cũ, do đặc điểm điều kiện thoát nước kém ở vùng Tây Bắc (vùng Saint Pesterburg) nên lập địa được phân chia dựa trên 3 yếu tố: đá mẹ hình thành đất, địa hình, chế độ thoát nước (Blaglovidop, Buadop 1958,

1959, Trectop 1977, 1981) Đó là đơn vị cơ bản của lập địa gọi là kiểu lập địa Trectop

trong quá trình nghiên cứu còn bổ sung thêm tiêu chuẩn phân chia lập địa là kiểu mùn vì ông cho rằng kiểu mùn phản ánh quá trình hình thành và phát triển độ phì đất rừng (1981) Trên cùng một kiểu khí hậu, hệ thống phân loại lập địa được phân chia như sau: (1)

Nhóm lập địa dựa vào điều kiện thoát nước để phân chia; (2) Nhóm phụ lập địa dựa vào điều kiện thoát nước và đá mẹ hình thành đất; (3) Kiểu lập địa dựa vào 3 yếu tố trên.

Điều kiện thoát nước tác giả phân chia thành 6 kiểu: Thoát nước mạnh; Thoát nước bình thường; Thoát nước không tốt; Thoát nước kém; Tạo thành dòng chảy rất yếu; Tạo thành dòng chảy yếu

Đá mẹ hình thành dựa trên quan điểm sinh thái cần xem xét các yếu tố là độ dày tầng đất và thành phần cấp hạt

Đỗ Đình Sâm (1990) trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm sinh khí hậu ở Việt Nam, đặc biệt chế độ khô hạn mùa khô ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của rừng và hình thành các kiểu rừng khác nhau nên đã đề xuất tiêu chí mức độ khô hạn mùa khô cùng mức độ thoát nước để xác định các nhóm lập địa ở Việt Nam Mức độ khô hạn được chia làm 4 cấp: rất khô, khô, ẩm và ẩm thường xuyên dựa trên chế độ nhiệt ẩm, đai cao so mặt biển, đặc điểm đất, địa hình

Các nhóm lập địa đất rừng chính ở Việt Nam theo tác giả phân chia là: Nhóm lập địa thoát nước mạnh, rất khô hạn; Nhóm lập địa thoát nước mạnh, khô hạn mùa khô; Nhóm lập địa thoát nước mạnh, ẩm thường xuyên; Nhóm lập địa thoát nước, rất khô hạn; Nhóm lập địa thoát nước, khô hạn; Nhóm lập địa thoát nước, ẩm thường xuyên; Nhóm lập địa thoát nước không tốt, rất khô hạn; Nhóm lập địa thoát nước không tốt, ẩm; Nhóm lập địa thoát nước yếu, ẩm; Nhóm lập địa thoát nước yếu, khô hạn

Từ 1991 đến 1995 khi đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp và hoàn thiện phương pháp điều tra lập địa, Đỗ Đình Sâm và cộng sự đã xác định hệ thống tiêu chuẩn

Trang 18

phân chia dạng lập địa theo nguyên tắc: Không sử dụng các yếu tố và tiêu chuẩn phân chia giống nhau trong phân chia lập địa Cần xét tới yếu tố chủ đạo trong phân chia Các yếu tố lựa chọn cần được xem xét phù hợp và thoả mãn với mục đích kinh doanh, mức độ thâm canh Trên cơ sở đó tác giả đề xuất 3 nhóm yếu tố tham gia phân chia lập địa

c) Phân chia lập địa dựa vào địa hình thổ nhưởng và điều kiện thoát nước

Nhóm yếu tố địa hình: Bao gồm 2 yếu tố là vị trí và độ dốc Yếu tố vị trí được chia ra

theo 3 cấp là chân, sườn, đỉnh Yếu tố độ dốc được phân chia tuỳ từng điều kiện cụ thể

Nhóm yếu tố thổ nhưỡng: Gồm 3 yếu tố quan trọng là nhóm và loại đất, thành phần

cơ giới đất và độ dày tầng đất Nhóm và loại đất được xác định thông qua bản đồ thổ nhưỡng và điều tra thực địa Thành phần cơ giới đất được chia ra thành 4 cấp là cát rời, cát pha, thịt và sét Độ dày tầng đất được xác định cùng với tỷ lệ đá lẫn, kết von Phân chia cấp độ dày tuỳ từng đối tượng cây trồng

Nhóm yếu tố chế độ thoát nước và ngập nước: Gồm 2 yếu tố là chế độ thoát nước

và chế độ ngập nước Với chế độ thoát nước, 4 cấp để đánh giá là thoát nước mạnh, thoát nước trung bình, thoát nước yếu và thoát nước rất yếu Đối với yếu tố chế độ ngập nước thì các cấp phân chia phụ thuộc vào đối tượng và điều kiện thực tế Nhóm chế độ thoát nước và ngập nước có ý nghĩa sinh thái cho nhiều vùng như đất chua phèn, đất dưới rừng khộp, một số vùng ở Đông Nam bộ, vùng ven biển

2) Phân chia lập địa trong lâm nghiệp ở Việt Nam

a) Các cấp phân chia lập địa

Căn cứ vào đặc điểm tự nhiên ở Việt Nam, Nguyễn Văn Khánh (1996) Viện điều tra Quy hoạch rừng đề xuất một hệ thống phân chia lập địa Lâm nghiệp cho toàn quốc gồm 6 cấp theo sơ đồ sau:

Trang 19

Miền lập địa: Miền lập địa là một lãnh thổ khép kín được đặc trưng bởi một chế độ

nhiệt riêng trong đó có hay không có mùa đông lạnh (mùa đông lạnh là mùa đông có một

số tháng ở đó nhiệt độ bình quân dưới 200C) là dấu hiệu để phân chia

Á miền lập địa: Á miền lập địa là một lãnh thổ khép kín, có đặc trưng của miền lập

địa là chế độ nhiệt đồng thời còn có đặc trưng riêng của á miền là thời gian mưa trong năm

Vùng lập địa: Vùng lập địa là một lãnh thổ khép kín được phân ra từ á miền lập địa

Vùng lập địa là kết quả đan xen của một vùng địa mạo, một vùng khí hậu, trong đó miền Bắc lấy trường độ và cường độ lạnh làm dấu hiệu phân chia, miền Nam lấy trường độ và cường độ khô hạn làm dấu hiệu phân chia

Tiểu vùng lập địa: Tiểu vùng lập địa là một lãnh thổ khép kín được phân ra từ vùng

lập địa mang các đặc trưng chung của các cấp phân vị trên nó đồng thời mang đặc trưng riêng của nó đó là tổng hợp của một kiểu địa hình, một kiểu khí hậu và một nhóm đất chính hoặc phụ trong đó kiểu khí hậu bao gồm 4 yếu tố: Nhiệt độ bình quân năm, nhiệt độ bình quân tháng lạnh nhất, lượng mưa năm và số lượng tháng khô

Dạng đất đai: Dạng đất đai là cấp trung gian giữa tiểu vùng lập địa và cấp dạng lập

địa (đơn vị cơ sở của lập địa) Dạng đất đai được chia nhỏ ra từ kiểu vùng lập địa bởi thêm vào kiểu địa hình, yếu tố độ dốc (cấp độ dốc) hoặc thoát nước, thêm vào nhóm đất chính hoặc đất phụ cấp độ dày tầng đất hoặc cấp thành phần cơ giới

Trang 20

Dạng lập địa: Dạng lập địa là đơn vị cơ sở của lập địa có khí hậu của tiểu vùng lập

địa, được đặc trưng bởi một đơn vị địa mạo thấp nhất (chân, sườn, đỉnh ) một bậc độ dốc, một đơn vị thổ nhưỡng thấp nhất (thổ chủng hoặc biến chủng) và bao chiếm một diện tích nhất định

b) Các thành phần tham gia phân chia lập địa

b1 Thành phần khí hậu

Yếu tố và chỉ tiêu tham gia phân chia Miền lập địa:Yếu tố và chỉ tiêu tham gia

miền lập địa là có hay không có mùa đông lạnh ở hai đai nhiệt đới cơ sở Để phân chia miền lập địa, nhiệt độ bình quân năm và nhiệt độ bình quân tháng là yếu tố được lựa chọn

để phân chia Quy định tên gọi theo nhiệt độ bình quân như sau:

- Nhiệt độ bình quân năm trên 250 C: Cận xích đạo;

- Nhiệt độ bình quân năm từ 20 - 240 C: Nhiệt đới;

- Nhiệt độ bình quân năm từ 15 - 190 C: Cận nhiệt đới;

- Nhiệt độ bình quân năm dưới 150 C: Cận nhiệt đới núi cao;

- Nhiệt độ bình quân tháng trên 250 C: Tháng rất nóng;

- Nhiệt độ bình quân tháng từ 20 - 240 C: Tháng nóng;

- Nhiệt độ bình quân tháng từ 15 - 190 C: Tháng lạnh;

- Nhiệt độ bình quân tháng dưới 150 C: Tháng rét

Yếu tố và chỉ tiêu tham gia phân chia Á miền lập địa: Thời gian mưa trong năm là

yếu tố tham gia phân chia á miền lập địa Quy định theo tháng như sau:

- Mùa xuân: Các tháng III, IV;

- Mùa hè: Các tháng V- IX;

- Mùa thu: Các tháng X, XI;

- Mùa đông: Các tháng XII, I, II

Và độ dài của mùa mưa được xác định:

- Mùa mưa ngắn: Dưới 3 tháng;

- Mùa mưa trung bình: Từ 3 đến 6 tháng;

- Mùa mưa dài: Từ 7 đến 9 tháng;

-Mùa mưa rất dài: Trên 9 tháng

Yếu tố và chỉ tiêu khí hậu tham gia phân chia Vùng lập địa:

Vùng ẩm (Miền Bắc): Dựa vào trường độ và cường độ lạnh Trường độ lạnh tính theo

số tháng có nhiệt độ bình quân dưới 200 C, cụ thể là:

- Mùa lạnh ngắn: 3 tháng liên tục có nhiệt độ bình quân tháng dưới 200C;

- Mùa lạnh trung bình: 4 - 6 tháng liên tục có nhiệt độ bình quân tháng dưới 200C;

- Mùa lạnh dài: 7 - 9 tháng liên tục có nhiệt độ bình quân tháng dưới 200C;

- Mùa lạnh rất dài: Trên 9 tháng liên tục có nhiệt độ bình quân tháng dưới 200C

Vùng khô hạn (Miền Nam) Dựa vào trường độ và cường độ khô hạn Cường độ khô

tính theo số tháng khô liên tục (tháng khô tính theo công thức Gaussen), cụ thể:

- Mùa khô ngắn: Thời gian mùa khô dưới 2 tháng

- Mùa khô trung bình: Thời gian mùa khô dưới từ 3 - 4 tháng

Trang 21

- Mùa khô dài: Thời gian mùa khô dưới từ 5 - 6 tháng

- Mùa khô rất dài: Thời gian mùa khô dưới trên 7 tháng

Yếu tố và chỉ tiêu tham gia phân chia Tiểu vùng lập địa: Khí hậu đặc trưng cho

tiểu vùng lập địa là kiểu vùng khí hậu Kiểu khí hậu gồm 4 yếu tố:

- Nhiệt độ bình quân năm

- Nhiệt độ bình quân tháng lạnh nhất

- Trường độ khô (số tháng khô)

- Lượng mưa bình quân năm: Được chia làm 5 cấp với tên gọi như sau:

+ Mưa rất nhiều: Lượng mưa bình quân năm trên 2500mm

+ Mưa nhiều: Lượng mưa bình quân năm từ 2000 đến 2500mm

+ Mưa trung bình: Lượng mưa bình quân năm từ 1500 đến 2000mm

+ Mưa ít: Lượng mưa bình quân năm từ 1000 đến 1500mm

+ Mưa rất ít: Lượng mưa bình quân năm dưới 1000mm

Mỗi kiểu khí hậu là sự đồng nhất của 4 yếu tố tạo thành kiểu khí hậu nêu trên Dựa vào sự phân chia này, đã xác định 146 kiểu khí hậu trên phạm vi toàn quốc

b2 Thành phần địa hình

Căn cứ vào thực tế ở Việt Nam, người ta chia làm 8 kiểu địa hình chính là:

- Địa hình núi (1) gồm có 3 kiểu phụ: Núi cao (> 1700m), núi trung bình (700 - 1700m), núi thấp (300 - 700m)

- Sơn nguyên (2) gồm sơn nguyên cao (> 1500m), sơn nguyên trung bình (1000 - 1500m), cao nguyên thấp (500 - 1000m)

- Cao nguyên (3) gồm cao nguyên cao (> 1500m), cao nguyên trung bình (1000 - 1500m), cao nguyên thấp (500 - 1000m) Cao nguyên khác sơn nguyên ở chỗ độ cao tương đối của cao nguyên nhỏ hơn 25m, còn sơn nguyên từ 25 – 100m

- Đồi (4) gồm đồi cao (200 - 300m); đồi trung bình (100 - 200m), đồi thấp (< 100m)

- Sụt võng, xâm thực bồi tụ giữa núi đồi (5) gồm thung lũng, bồn địa, lòng chảo…

Nhóm nền vật chất tạo đất được phân chia:

- Mácma chua, mácma kiềm

- Trầm tích và biến chất có kết cấu hạt mịn

- Trầm chất và biến chất có kết cấu hạt thô

- Đá vôi và biến chất đá vôi

- Phù sa cổ, phù sa mới, hỗn hợp đá, xác hữu cơ thực vật

- Phù sa biển, phù sa song biển

b4 Các thành phần khác/thảm thực bì rừng

Trang 22

Ngoài ba thành phần khí hậu, địa hình và thổ nhưỡng tham gia phân chia trực tiếp

các cấp và các cá thể trong cùng một cấp, ngoài ra còn sử dụng thành phần thảm thực bì rừng mà cụ thể là kiểu rừng, để tham gia kiểm tra đối chiếu các kết quả đã được phân chia

vì chúng thường thể hiện mối quan hệ giữa lập địa và thực vật rừng được hình thành

1.3.6.3 Phương pháp đánh giá đất đai tổng hợp

Đánh giá sử dụng đất có hiệu quả nên dựa vào nhiều yếu tố như tiềm năng đất đai; độ thích hợp của cây trồng và điều kiện kinh tế xã hội của từng vùng

1) Tiềm năng của đơn vị đất đai (ĐVĐĐ)

Sẽ được xác định trên cơ sở tổng điểm của từng ĐVĐĐ dựa vào quy định điểm số cho từng chỉ tiêu như đã nêu Tiềm năng sản xuất của ĐVĐĐ được xác định theo 3 hạng như sau:

- Hạng 1: Tiềm năng sản xuất cao: ĐVĐĐ có tổng điểm từ 21 điểm trở lên

- Hạng 2: Tiềm năng sản xuất trung bình: ĐVĐĐ có tổng điểm từ 12 - 21 điểm;

- Hạng 3: Tiềm năng sản xuất thấp: ĐVĐĐ có tổng điểm dưới 12 điểm

2) Đánh giá độ thích hợp cây trồng

Đánh giá độ thích hợp cây trồng được đánh giá theo từng đơn vị đất đai dựa trên các căn cứ sau: Tiềm năng sản xuất của đơn vị đất đai; Đặc tính sinh thái của các loài cây trồng; Qui trình trồng các loài cây đã được ban hành; Kinh nghiệm, kết quả và những tiến

bộ kỹ thuật về trồng rừng

Độ thích hợp cây trồng được đánh giá theo 4 cấp thích hợp đưới đây: S1: Thích hợp cao; S2: Thích hợp trung bình; S3: Thích hợp thấp; N: Không thích hợp

Đánh giá độ thích hợp cây trồng bằng phương pháp so sánh dựa trên đặc tính sinh

thái của loài cây với điều kiện tự nhiên của đơn vị đất đai (ĐVĐĐ) Xác định độ thích hợp cây trồng được tiến hành như sau:

- Xác định mức độ thích hợp của cây trồng dựa trên đặc tính sinh thái của từng loài theo các tiêu chí và chỉ tiêu về điều kiện tự nhiên, các qui trình trồng một số loài cây đã ban hành, kinh nghiệm, kết quả và những tiến bộ kỹ thuật về trồng rừng

- So sánh cấp thích hợp chuẩn của loài cây dự kiến trồng rừng với các tiêu chí của ĐVĐĐ đã xác định ở khu vực đánh giá để xác định độ thích hợp của các loài cây đó với ĐVĐĐ đang đánh giá Trong quá trình so sánh, độ thích hợp cây trồng được xác định dựa trên nguyên tắc yếu tố hạn chế là:

Nếu 1 trong 6 tiêu chí đánh giá ở mức không thích hợp (N) thì cây trồng thuộc cấp không thích hợp (N);

Nếu 1 trong 2 tiêu chí độ dốc, độ dày tầng đất ở cấp thích hợp kém (S3) thì cây trồng thuộc cấp thích hợp thấp (S3);

Nếu đa số (trên 50%) các tiêu chí đánh giá nằm ở cấp thích hợp nào cây trồng thuộc cấp thích hợp đó

3) Đánh giá điều kiện kinh tế - xã hội

Điều kiện kinh tế - xã hội được phân chia thành 3 khu vực là Khu vực I (khu vực phát triển), Khu vực II (khu vực tạm ổn) và Khu vực III (khó khăn)

Trang 23

Lựa chọn cây trồng theo điều kiện kinh tế - xã hội Việc quyết định lựa chọn cây trồng trong một khu vực hoặc một dự án được thực hiện dựa trên cơ sở đánh giá độ thích hợp cây trồng và điều kiện kinh tế - xã hội Các cơ cấu để đưa ra cơ cấu cây trồng gồm:

- Kết quả đánh giá tiềm năng sản xuất của đất

- Kết quả đánh giá độ thích hợp cây trồng theo điều kiện tự nhiên

- Kết quả đánh giá điều kiện kinh tế - xã hội

- Kết quả đánh giá nguyện vọng người dân

- Kết quả đánh giá mục tiêu phát triển lâm nghiệp của khu vực hoặc dự án.

Chọn loài cây trồng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội có ý nghĩa rất quan trọng đến sự thành công của sản xuất lâm nghiệp Tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội mà lựa chọn loài cây trồng cho phù hợp Việc lựa chọn cây trồng đề xuất như sau:

Với điều kiện kinh tế - xã hội thuộc mức 1 (Khu vực I) và mức 2 (Khu vực II), chọn loại cây thích hợp ở cả 3 cấp gồm cấp thích hợp cao (S1), thích hợp trung bình (S2) và thích hợp thấp (S3)

Với những nơi có điều kiện kinh tế - xã hội thuộc mức 3 (Khu vực III), chọn loài cây thích hợp ở 2 cấp gồm cấp thích hợp cao (S1) và thích hợp trung bình (S2)

4) Phương pháp đánh giá đất đai theo phân hạng đất đai

Phân hạng đất đai cũng là một phương pháp đánh giá đất đai Phương pháp này áp dụng phổ biến ở Liên xô và các nước xã hội chủ nghĩa cũ và chủ yếu với cây trồng nông nghiệp

Bản chất của phương pháp: này là tìm mối quan hệ giữa đặc điểm, tính chất đất đai

với năng suất cây trồng để phân hạng đất thành các cấp khác nhau ứng với các loài cây trồng khác nhau Trên cơ sở phân hạng đất có thể dự đoán được năng suất cây trồng

Ví dụ: Phân hạng đất cây lâm nghiệp Ở Việt Nam việc phân hạng đất trồng rừng như

Bồ đề, Thông nhựa, Thông ba lá, Luồng, Hồi, Quế, v.v.Phân hạng đất cho cây lúa, cây trồng công nghiệp (Cà phê, cao su ) như đất hạng 1; hạng 2, hạng 3…

Trong nông nghiệp: các yếu tố dùng để phân hạng thường là các loại đất như độ pH,

hàm lượng hữu cơ, chất dễ tiêu N, P, K, v.v Cách phân hạng thường dựa vào phương pháp cho điểm theo thang 10 điểm hoặc 50, 100 điểm

Trong lâm nghiệp các yếu tố dùng để phân hạng thường là loại đất, độ pH, chất hữu cơ

(mùn) thành phần cơ giới, độ dày tầng đất, thực bì chỉ thị cho độ phì đất hoặc mức độ thoái hoá đất

Điều quan trọng đối với phân hạng đất đai là cần phải có tư liệu về năng suất cây trồng/sản lượng rừng và tìm ra mối quan hệ của chúng với các tính chất đất đai trong nhiều năm

5) Phương pháp đánh giá đất theo phân chia cấp đất rừng trồng

Trong lâm nghiệp còn xây dựng biểu cấp đất cho một số rừng trồng như rừng Bồ đề, Thông ba lá, Thông mã vĩ, v.v Bản chất của cấp đất cũng thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố lập địa với sinh trưởng rừng trồng thông qua chỉ số chiều cao của lâm phần (H bình quân, hoặc H cây trội: H ưu thế) ứng với cấp tuổi nhất định

Trang 24

Dựa vào sự biến động chiều cao lâm phần hoặc chiều cao các cây trội ở các cấp tuổi trong các điều kiện hoàn cảnh khác nhau mà phân chia thành các cấp đất khác nhau Thông thường một biểu cấp đất gồm từ 5 tới 8 cấp

Dựa vào biểu cấp đất ta có thể xác định một lâm phần nào đó ở một cấp tuổi nhất định

sẽ thuộc cấp đất nào trên cơ sở xác định các nhân tố về chiều cao của lâm phần hoặc chiều cao cây trội (thường đo 10% số cây lớn nhất lâm phần) Điều đó phản ánh lâm phần xem xét sinh trưởng trong điều kiện lập địa tốt hay xấu

Vũ Đình Phương đã xây dựng biểu cấp đất cho rừng trồng Bồ đề (Styrax tonkinensis) dựa trên mối quan hệ Hvn với tuổi lâm phần (1972) Nguyễn Ngọc Lung (1987) đã xây dựng biểu cấp đất cho rừng Thông ba lá ở Lâm Đồng với 5 cấp đất

6) Nghiên cứu và áp dụng các phương pháp để đánh giá Đất lâm nghiệp

Đất lâm nghiệp có thể phân chia thành 4 nhóm đất khác nhau vì những đặc trưng rất khác biệt giữa các nhóm đất là nhóm đất vùng đồi núi, nhóm đất cát ven biển và nhóm đất ngập mặn sú vẹt; nhóm đất chua phèn, v.v Kết quả nghiên cứu đã được xuất bản trong ấn phẩm “Đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp ở Việt Nam” (Đỗ Đình Sâm, Nguyễn Ngọc Bình chủ biên) do nhà xuất bản Nông nghiệp xuất bản năm 2001 Trong tài liệu này chúng tôi chỉ đưa ra một số tiêu chí cơ bản để đánh giá đất vùng núi và vùng cát ven biển

a Đánh giá TNSX đất lâm nghiệp vùng đồi núi

Xác định các tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá

Lựa chọn các tiêu thức đánh giá TNSX đất lâm nghiệp vùng đồi núi cần thoả mãn 2 yêu cầu:

- Thứ nhất các tiêu chí phải phản ánh đựợc những đặc điểm chủ yếu của độ phì đất

liên quan đến việc đánh giá đất đai và sử dụng đất đai

- Thứ hai các tiêu chí có thể thu thập, chẩn đoán trong phạm vi toàn quốc để xử lý

thông tin

Dựa trên các tính chất và đặc điểm cơ bản độ phì đất vùng đồi núi đã trình bày, lựa

chọn 4 tiêu chí đánh giá TNSX đất lâm nghiệp vùng đồi núi là: độ dốc, độ dày tầng đất, hàm lượng hữu cơ tầng mặt và thành phần cơ giới đất.

a.1) Độ dốc:

Có liên quan chặt chẽ đến độ phì đất, tới quá trình xói mòn, rửa trôi và các phương thức sử dụng đất, mức độ thuận lợi hay khó khăn trong sử dụng đất Dựa vào bản đồ địa hình chúng ta có thể dễ dàng xác định được độ dốc và phân làm 6 cấp:

Trang 25

Là một trong những tiêu thức quan trọng xác định độ phì đất Các bản đồ thổ nhưỡng đều đã xác định yếu tố này Độ dày được chia làm 3 cấp:

- Cấp 1 và 2: Độ dày tầng đất trên 100 cm

- Cấp 3: Độ dày tầng đất từ 50cm - 100cm

- Cấp 4: Độ dày tầng đất dưới 50cm

a.3.) Hàm lượng hữu cơ (mùn) tầng mặt

Đây là yếu tố quan trọng phản ánh độ phì đất rừng Hàm lượng hữu cơ đất rừng biến đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là: độ cao so với mặt biển, loại đất, thực bì Do vậy việc phân cấp hàm lượng hữu cơ không thể áp dụng thống nhất cho các loại đất Dựa vào các tư liệu đã thu thập, nghiên cứu trong nhiều vùng, việc phân cấp hàm lượng chất hữu cơ cần phải khác nhau đối với 4 nhóm đất hoặc loại đất có sự phân biệt rõ nét về hàm lượng chất hữu cơ Đó là nhóm đất mùn trên núi cao, đất mùn vàng đỏ trên núi, đất đỏ vàng trên mácma kiềm và trung tính trên đá vôi, các loại đất feralit còn lại Các loại và nhóm đất mùn trên núi cao, mùn vàng đỏ trên núi, đất đỏ vàng trên mácma kiềm và trung tính tích luỹ hàm lượng chất hữu cơ cao hơn so với các loại đất feralit khác

Qua thực tế điều tra chúng tôi nhận thấy rằng, đất mùn vàng đỏ trên núi ở những nơi không có rừng với đa số thực bì là cây bụi, cỏ thì hàm lượng chất hữu cơ tầng mặt thường đạt 3-4% hoặc cao hơn, nếu như lượng chất hữu cơ nhỏ hơn 3% thì đất đã bị thoái hoá Trên đất nâu đỏ phát triển trên đá bazan ở các cao nguyên miền Nam, lượng chất hữu cơ giảm tới 3% cũng là những đất bazan thoái hoá Trong khi đó hàm lượng chất hữu cơ đạt 3-5% ở các loại đất feralit đai thấp thường là dưới rừng tự nhiên chưa bị phá hoại hoặc là rừng thứ sinh, nhìn chung đất còn khá tốt

Dựa vào các kết quả đó chúng tôi phân cấp lượng chất hữu cơ tầng mặt theo 4 cấp cụ thể như sau:

- Cấp 1: Rất giàu mùn; thường là những nơi còn rừng nguyên sinh ít bị phá hoại, trên các loại đất: Đất mùn vàng đỏ trên núi: ≥ 10%; Đất feralit trên mácma kiềm và trung tính:

a.4.) Thành phần cơ giới đất

Trang 26

Đây là yếu tố có quan hệ chặt chẽ với độ phì đất và có thể dựa vào bản đồ đất để phân cấp, thành phần cơ giới đất được chia làm 3 cấp: đất cát, đất thịt và đất sét, v.v Phân cấp thành phần cơ giới như sau:

- Cấp 1: Đất thịt;

- Cấp 2: Đất sét;

- Cấp 3: Đất cát

Tổng hợp tiêu chí và kết quả đánh giá

Bốn yếu tố trên đựợc phân cấp, cho điểm và đánh giá riêng biệt từng yếu tố Điểm từng yếu tố được xác định tương ứng với từng cấp

- Điểm 1 tương ưng cấp 1,

- Điểm 2 tương ứng với cấp 2, v.v

Tuy nhiên trên thực tiễn, ở trên một mảnh đất nhất định nào đó các yếu tố trên thể hiện với các cấp khác nhau Do vậy, cần phải tổng hợp đánh giá chung tiềm năng sản xuất của đất khi 4 yếu tố cùng tác động với mức độ phân cấp khác nhau

Dựa vào phương pháp cho điểm như trên, chúng tôi lấy trị số giữa tổ để phân cấp: 2,5-3,5 Tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp được phân thành 4 cấp:

1,5 Cấp I: Đất có ít yếu tố hạn chế trong sử dụng, độ phì tiềm tàng của đất còn cao, điểm trung bình là 1,5

- Cấp II: Đất có một số yếu tố hạn chế trong sử dụng, độ phì tiềm tàng của đất còn khá, điểm trung bình là từ 1,51-2,5

- Cấp III: Đất có một số yếu tố hạn chế đáng kể trong sử dụng, độ phì tiềm tàng của đất trung bình, điểm trung bình là từ 2,51-3,5

- Cấp IV: Đất có nhiều yếu tố hạn chế trong sử dụng, độ phì tiềm tàng của đất thấp, điểm trung bình trên 3,5

Trong quá trình đánh giá dựa vào 4 yếu tố, mặc dù không chọn yếu tố chủ đạo nhưng chúng tôi cũng quan tâm tới 2 yếu tố có ảnh hưởng mạnh hơn đến độ phì đất và tiềm tàng

sử dụng đất đó là: Độ dày tầng đất và thành phần cơ giới của đất Nếu như ở một diện tích đất đồng thời xuất hiện cấp 4 của hai yếu tố này thì phần đánh giá tổng hợp sẽ hạ đi 1 cấp

7) Phương pháp đánh giá đất đai hai giai đoạn

Trong phương pháp này giai đoạn đầu chủ yếu khảo sát đánh giá đất đai về mặt điều kiện tự nhiên Sau đó, đến giai đoạn hai điều tra khảo sát, đánh giá và phân tích về mặt kinh tế xã hội Thuận lợi của phương pháp này là khi nghiên cứu chỉ tập trung theo từng phần theo từng p hương pháp rõ ràng Thời gian thực hiện cũng được uyển chuyển và nhân sự cũng dễ dàng tổ chức

8) Phương pháp đánh gia đất đai song song

Nghiên cứu điều tra khảo sát đ iều kiện tự nhiên và phân tích các yếu tố về kinh tế xã hội cùng thực hiện một lúc Thuận lợi của phương pháp này là có sự hợp tác đa ngành cùng thực hiện Phương pháp này thường được thực hiện cho các tỉ lệ chi tiết và bán chi tiết.Tuy nhiên hai phương pháp này có thể kết hợp nhau tạo thành một chuổi liên tiếp như kết quả khảo sát thăm dò hay sơ bộ thì có thể áp dụng phương pháp hai giai

Trang 27

đoạn để làm tiền đề cho việc xây dựng tỉ lệ bản đồ chi tiết và bán chi tiết bằng phương pháp song song Tuy nhiên, trong th ực tế thì giữa hai phương pháp này cũng chưa được rõ ràng vì trong ph ương pháp hai giai đoạn, ở giai đoạn đầu chọn lọc kiểu sử dụng đất đai cho đánh giá thích hợp thì cũng cần những thông tin từ l ĩnhh vực kinh tế xã hội.

Hình 1.3 : Phương pháp đánh giá hai giai đoạn đầu và phương pháp song song

cho đánh giá đất theo FAO, 1976

Trang 28

CHƯƠNG 2: BẢN ĐỒ ĐƠN VỊ ĐẤT ĐAI2.1 Một số khái niệm cơ bản

2.1.1 Khái niệm về đất

Khái niệm đất (soil): Đất là một vùng đất có ranh giới, vị trí cụ thể và có các thuộc tính tổng hợp của các yếu tố tự nhiên – kinh tế - xã hội như: thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thủy văn, thực vật, động vật và hoạt động sản xuất của con người

Docuchaev (1846 – 1903) đã đưa ra một định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về đất :"Đất

là một vật thể có lịch sử tự nhiên hoàn toàn độc lập Nó là sản phẩm tổng hợp của đá mẹ, khí hậu, sinh vật, địa hình và thời gian"

Viện sĩ Viliam (1863 – 1939) đưa ra định nghĩa : "Đất là lớp tơi xốp ngoài cùng của lục địa mà thực vật có thể sinh sống được" Như vậy theo quan điểm này đặc tính cơ bản nhất của đất là độ phì nhiêu, là khả năng cho sản phẩm

Theo Karl Mark: "Đất là tư liệu sản xuất cơ bản, phổ biến, quý báu nhất của nền sản xuất nông nghiệp" Đất là điều kiện sinh tồn của con người không gì thay thế được

Theo Jenny (nhà khoa học Mỹ): Đất được xem như sản phẩm hoạt động của khí hậu (Cl) trên đá mẹ (p) được làm thay đổi dưới ảnh hưởng của thực vật và các cơ thể sống khác (o), địa hình (r) và phụ thuộc vào thời gian (t) Jenny đã biểu diễn mối quan hệ sau:Đất = f(p, Cl, t, r, o), bao gồm 5 biến số và người ta gọi là 5 yếu tố hình thành đất.Khái niệm đất đai (land): Hội nghị quốc tế về Môi trường ở Rio de Janerio, Brazil, (1993), thì đất đai về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa rộng thì xác định đất

đai là “diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường

sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó, bao gồm: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối, đầm lầy), các lớp trầm tích sát bề mặt, cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con nguời, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước, hay hệ thống thoát nước, đường xá , nhà cửa ) (UN, 1994).

Như vậy đất đai có thể bao gồm:

- Kết quả hoạt động của con người

Theo P M Driessen và N T Konin (1992), chúng ta cần phân biệt giữa thuật ngữ đất

và đất đai, vì đất chỉ là một trong những thuộc tính của đất đai , bên cạnh các thuộc tính khác như: khí hậu, thời tiết, tập đoàn động thực vật, các hoạt động của con người - Các

Trang 29

vùng tự nhiên mang tính đồng nhất về tất cả các thuộc tính của đất đai được gọi là các đơn

vị đất đai (Land unit) Ðể mô tả một đơn vị đất đai chúng ta cần có các đặc tính đất đai (Land characteristics)

Đất là tư liệu sản xuất sử dụng với nhiều mục tiêu khác nhau đặc biệt trong hoạt động nông lâm nghiệp Mỗi mục tiêu sử dụng đất có những yêu cầu nhất định mà đất đai cần đáp ứng Việc lựa chọn, so sánh các kiểu sử dụng đất hoặc cây trồng khác nhau phù hợp với điều kiện đất đai là đòi hỏi của người sử dụng đất, các nhà quy hoạch để có những quyết định xác thực trong việc sử dụng đất mang lại hiệu quả kinh tế và bền vững thì trước hết cần phải đánh giá đất đai

Tuy nhiên, trong LE, đất đai được thể hiện thành những khoanh đất với những đặc điểm riêng biệt được gọi là đơn vị bản đồ đất đai – LMU (Land Mapping Unit)

Trên mỗi LMU, có những loại hình sử dụng đất – LUT (Land Use Type) khác nhau với những yêu cầu sử dụng đất – LUR nhất định mà LMU đó phải thỏa mãn

2.1.2 Những khái niệm cần nắm khi tiếp cận môn học đánh giá đất đai.

* Đất (thổ nhưỡng: soil) và đất đai (land): Đất là lớp phủ bề mặt trên Trái đất được

phong hoá từ đá mẹ Đất đai bao gồm các điều kiện môi trường vật lý khác mà trong đó

đất chỉ là một thành phần Các yếu tố môi trường vật lý khác thường là các nhân tố: địa hình, độ dốc, độ cao, nhân tố khí hậu, v.v

* Phân loại đất đai (land classicfication): Là việc phân chia đất thành các nhóm, các

loại khác nhau Đôi khi phân loại đất còn được hiểu đồng nghĩa với việc đánh giá đất đai nhưng có tính chuyên sâu hơn, chủ yếu phân loại đất đai thành các nhóm

* Sử dụng đất (land use): Đó là mục đích tác động vào đất đai nhằm đạt kết quả mong

muốn Trên thực tế có nhiều kiểu sử dụng đất khác nhau trong đó có các kiểu sử dụng đất chủ yếu như cây trồng hàng năm, lâu năm, đồng cỏ, trồng rừng, cảnh quan du lịch, v.v Ngoài ra còn sử dụng đa mục đích với hai hay nhiều kiểu sử dụng đất chủ yếu trên cùng một diện tích đất Kiểu sử dụng đất có thể là hiện tại nhưng cũng có thể trong tương lai, nhất là khi các điều kiện kinh tế xã hội, cơ sở hạ tầng, tiến bộ khoa học công nghệ thay đổi Trong mỗi kiểu sử dụng đất Nông - Lâm nghiệp thường gắn với các cây trồng cụ thể

* Hệ thống sử dụng đất (Land Use System – LUS)

- LUS là sự kết hợp của LMU và LUT ở thời điểm hiện tại hoặc tương lai Như vậy, mỗi LUS có một hợp phần đất đai và một hợp phần sử dụng đất

+ Hợp phần đất đai của LUS chính là những đặc tính của LMU

Ví dụ: Loại đất, độ dốc, độ ẩm, lượng mưa,…

+ Hợp phần sử dụng đất của LUS là các đặc tính để mô tả LUT

Ví dụ: Thuộc tính sinh học, thuộc tính kỹ thuật và quản lý sản xuất, thuộc tính KTXH,…

Trang 30

- Như vậy, có thể nói đánh giá đất chính là việc đánh giá tính thích hợp của hệ thống

sử dụng đất LUS

- Trong LE, LUS là một phần của hệ thống canh tác và nó có mối quan hệ chặt chẽ với

hệ thống nông nghiệp của một vùng sản xuất Thực tế cho thấy, hệ thống canh tác của mỗi vùng có ảnh hưởng đáng kể đến các LUS (như nguồn lao động, hoạt động khuyến nông, phương thức canh tác, vốn đầu tư cho sản xuất, …)

Có thể khái quát hệ thống sử dụng đất bằng sơ đồ:

* Hạng đất: Là những khoảnh đất có cùng giá trị, khả năng sinh lợi và khả năng sản

xuất, cùng sản xuất một lượng sản phẩm, trong điều kiện và trình độ tương tự Trên cơ sở đồng nhất, đặc trưng về chất lượng; các thửa đất, khoảnh đất được chia thành hạng

* Phân hạng đất đai: Là so sánh, đánh giá, thống kê phẩm chất và các khả năng đất

đai, sắp xếp theo từng khoảnh đất để định hạng dựa vào các chỉ tiêu, yếu tố phân hạng của khoảnh đất ấy, trong điều kiện tự nhiên, trình độ, chế độ sử dụng đất thông thường tại địa bàn nghiên cứu ở thời điểm tiến hành phân hạng

2.2.2 Đơn vị bản đồ đất đai (Land Mapping Unit - LMU)

Đơn vị bản đồ đất đai là một khoanh đất, vạt đất được xác định cụ thể trên bản đồ đơn

vị đất đai với những đặc tính và tính chất đất đai riêng biệt thích hợp đồng nhất cho từng LUT nhất định (FAO, 1983), (Land Unit Type - LUT)

Trang 31

Tập hợp các đơn vị bản đồ đất đai trong khu vực, vùng đánh giá đất được thể hiện bằng bản đồ đơn vị đất đai (Land Unit Map - LUM).

Để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai cần phải tuân thủ các chỉ dẫn sau đây:

- LMU cần phải bảo đảm tính đồng nhất tối đa Nếu không được thể hiện trên bản đồ thì cũng phải được mô tả chi tiết

- Các LMU phải có ý nghĩa thực tiễn cho các loại hình sử dụng đất sẽ được đề xuất lựa chọn

- Các LMU phải được vẽ trên bản đồ

- Các LMU phải được xác định một cách đơn giản dựa trên những đặc điểm quan sát trực tiếp trên đồng ruộng hoặc qua sử dụng kỹ thuật ảnh máy bay, viễn thám

- Các đặc tính của LMU phải là những đặc tính và tính chất khá ổn định vì chúng sẽ là các nhu cầu sử dụng đất thích hợp cho các loại hình sử dụng đất LE

Việc lưa chọn các yếu tố của một đơn vị đất đai phụ thuộc vào tầm quan trọng của mỗi yếu tố tới kiểu sử dụng đất, mức độ tư liệu hoá để có thể hoàn thành bản đồ đơn vị đất đai Đơn vị đất đai là nền tảng sử dụng để đánh giá đất đai

2.2.3 Các yếu tố và các chỉ tiêu xây dựng đơn vị đất đai

2.2.3.1 Các yếu tố xây dựng bản đồ đơn vị đất đai cấp toàn quốc

Thường chọn từ 5 – 10 chỉ tiêu và mỗi chỉ tiêu thường phân từ 2 – 5 cấp Số chỉ tiêu

và mức độ phân cấp sẽ quyết định độ chính xác của kết quả đánh giá

Ở Việt Nam, để xây dựng các đơn vị đất đai và xây dựng bản đồ đơn vị đất đai thường

sử dụng các chỉ tiêu như: Loại đất (G), Độ dốc (SL), Độ dày tầng đất (D), Tổng tích ôn (T), Thuỷ văn nước mặn, Tưới tiêu (I), Lượng mưa (R)

Trang 32

Bảng 2.1 Các yếu tố và phân cấp chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai toàn quốc

1.3 Nhóm đất mặn:

− Mặn mùa khô

− Mặn thường xuyên1.4 Nhóm đất phèn (có/ không mặn):

− Phèn nặng (hoạt động/ tiềm tàng)

− Phèn nhẹ và trung bình (hoạt động/ tiềm tàng)1.5 Nhóm đất xám

1.6 Nhóm đất thung lũng, dốc tụ1.7 Nhóm đất đen và đất than bùn1.8 Nhóm đất đỏ (trên macma bazo và trung tính)1.9 Nhóm đất đỏ vàng trên đá khác

1.10 Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi đá và đất mùn trên núi cao

1.11 Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá

G1G2

G3G4

G5G6G7G8G9G10G11G12G13

2 Độ dày

tầng đất

2.1 >100cm2.2 50 – 100cm2.3 <50cm

D1D2D3

4 Lượng

mưa /năm

4.1 >2500mm4.2 1500 – 2500mm4.3 <1500mm

R1R2R3

5 Thủy văn

nước mặt

5.1 Không bị ngập, ngập nông (<30m)5.2 Ngập 30 – 60cm

5.3 Ngập >60cm5.4 Ngập triều hàng ngàyXâm nhập mặn (SA) trên 4g/lít5.5 Không bị xâm nhập mặn5.6 Xâm nhập mặn dưới 3 tháng/năm5.7 Xâm nhập mặn trên 3 tháng/năm5.8 Xâm nhập mặn thường xuyên

F1F2F3F4

SA.1SA.2SA.3SA.4

6 Tưới tiêu 6.1. Có tưới

6.2 Nhờ nước trời

I.1I.2

7 Nhiệt độ

(0C) (tổng

tích ôn)

7.1 >80007.2 7000 – 80007.3 <7000

T.1T.2T.3

Trang 33

Trong các yếu tố trên, loại đất là một yếu tố tổng hợp, khái quát được đặc tính chung của một vạt đất Loại đất đã hàm chứa hàng loạt chỉ tiêu lý hóa tính cơ bản của đất Loại đất còn cho ta khái niệm ban đầu về khả năng sử dụng với mức độ tốt, xấu, tương đối.

Để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai cấp toàn quốc, các loại đất được gộp vào 13 nhóm đất chính ký hiệu từ (G1 đến G13 - Bảng 2.1)

2.2.3.2 Phân loại đất Việt Nam theo phương pháp định lượng

Bảng 2.2a Phân loại đất Việt Nam theo phương pháp định lượng

Tên theo FAO – UNESCO

Thionic Gleysols

13 P Đất phù sa trung tình ít chua FLe Eutric Fluvisols

Bảng 2.2b

Trang 34

25 CM Đất mới biến đổi trung tính ít chua CMe Eutric cambisols

34 Ne Đất nứt nẻ trung tính ít chua VRe Eutric Vertisols

41 Lc Đất có tầng sét loang lổ chua PTd Dystric Plinthosols

42 La Đất có tấng sét loang lổ bị rửa trôi

mạnh

PTa Albic Plinthosols

43 Lu Đất có tầng sét loang lổ giàu mùn PTu Humic Plinthosols

Trang 35

46 X Đất xám bạc màu ACh Haplic Acrisols

55 F1 Đất đỏ vàng có tầng sét loang lổ FRp Plinthic Ferralsols

XIX A Đất mùn alit núi cao (1) (2) AL Alisols (3)

59 At Đất mùn thô than bùn núi cao ALu histric Alisol s

2.2.4 Kết quả xác định các đơn vị đất đai Việt Nam

Bảng 2.3 Các đơn vị đất đai Việt Nam

Trang 36

* Nguyên tắc tổng hợp các đơn vị bản đồ đất đai toàn quốc

Các đơn vị bản đồ đất đai cấp toàn quốc được tổng hợp từ đơn vị đất đai của 9 vùng sinh thái nông lâm nghiệp trong cả nước tỷ lệ 1/250.000 lên cấp miền tỷ lệ 1/500.000 và từ cấp miền tổng hợp lên cấp toàn quốc tỷ lệ 1.1000.000

Phương pháp tổng hợp căn cứ vào 7 yếu tố và các chỉ tiêu phân cấp như đã nêu phần 2.2.3 Bảng 2.4 loại bỏ các đơn vị đất đai chiếm diện tích quá nhỏ không thể hiện được trên bản đồ Đất Việt Nam

Trang 37

Bảng 2.4.

Nguồn thứ cấp:Viện Quy hoạch thiết kế nông nghiệp 1995

Theo nguyên tắc tổng hợp nêu trên theo tỷ lệ bản đồ 1/1.000.000 cả nước có 373 đơn

vị đất đai.Theo bản đồ tỷ lệ 1/500.000 tổng cộng có miền Bắc 270, miền Nam 196

2.2.5 Quy trình xây dựng bản đồ đơn vị đất đai LUM

Nguyên tắc cơ bản của việc xây dựng LUM là chồng ghép các bản đồ đơn tính Các bước cụ thể gồm:

- Thu thập các tư liệu có liên quan đến khu vực nghiên cứu: bản đồ, báo cáo thuyết mình, tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội,…

- Lựa chọn và phân cấp các chỉ tiêu thích hợp, tiến hành kiểm tra, đánh giá các tư liệu hiện có

- Xây dựng các bản đồ chuyên đề cùng tỉ lệ theo các chỉ tiêu phân cấp được lựa chọn phù hợp mục đích, yêu cầu và phạm vi

Trang 38

Bảng 2.5 Các hệ thống sử dụng đất ở đồng bằng sông Cửu Long

Vùng đất Điều kiện tưới

Đất cát

Có tưới

1 Lúa đông xuân – Lúa hè thu

2 Rau màu ĐX – Rau màu HT – Lúa mùa địa phương

3 Rau màu ĐX – Lúa mùa

4 Chuyên rau màu (rau, đậu, khoai)Nhờ mưa 5 Lúa mùa địa phương

6 Rau màu HT – Lúa mùa cao sảnĐất mặn

10 Lúa mùa địa phương

11 Lúa mùa cao sản

12 Lúa HT – Lúa mùa địa phương

13 Lúa HT – Lúa mùa cao sản

14 Lúa HT – Lúa mùa cao sản

15 Lúa mùa cao sản – tôm

16 Lúa mùa cao sản – cá

21 Rau màu ĐX – Lúa mùa

22 Chuyên rau màu (dưa, khoai)

23 MíaNhờ mưa

24 Lúa mùa địa phương

25 Lúa HT – Lúa mùa cao sản

30 Lúa ĐX 0 Lúa HT- Lúa TĐ

31 Rau màu ĐX – Lúa HT – Lúa TĐ

32 Lúa ĐX – Đay HT

33 Rau màu ĐX – Lúa HT

34 Chuyên rau màu (dưa,khooai)

35 Mía

Nhờ mưa

36 Lúa mùa địa phương

37 Lúa mùa cao sản

38 Lúa HT – Lúa mùa địa phương

39 Lúa HT – Lúa mùa cao sản

40 Rau màu HT – Lúa mùa cao sản

41 Dứa

42 Bạch đản

43 Lúa ĐX – Lúa HT

Trang 39

44 Lúa ĐX – Lúa HT

45 Lúa ĐX – Lúa HT – Lúa TĐ

46 Lúa ĐX – Rau màu XH – Lúa địa phương

47 Rau màu ĐX – Rau màu HT – Lúa địa phương

48 Lúa ĐX – Đay HT

49 Rau màu ĐX – Lúa HT

50 Chuyên rau màu

51 Mía

52 Dừa

53 Cây ăn tráiNhờ mưa 54 Lúa mùa địa phương

55 Lúa HT – Lúa mùa cao sản

56 Rau màu HT – Lúa mùa cao sản

Nguồn: Nguyễn Văn Nhân 1997

Bảng 2.6 Hệ thống sử dụng đất trong nông nghiệp vùng Đông Nam Bộ

Vùng đất Điều kiện tưới

Vùng đất cát Có tưới 1 Rau các loại (salad, rau cải, củ môn )2 Lúa 2 vụ (HT – M)

Không được tưới

9 Lúa 2 vụ HT – M

10 Lúa 3 vụ ĐX – HT – M

11 Cây ăn trái (mãng cầu, sầu riêng, dâu)

Trang 40

12 MíaKhông được

tưới

13 Lúa 1 vụ M

14 Lúa 1 vụ HT

15 MíaVùng đất

25 Lúa M – Dưa chuột

26 Cây ăn trái (Mãng cầu, sầu riêng, dâu)Không được

tưới

32 Điều

33 Chuối

34 Sắn35 Đậu xanh HT

36 Bông vải – ngô – đậu xanh

51 Lúa M – Dưa chuột ĐX

52 Lúa M – Lạc xen đậu xanh ĐX

53 Lúa HT – Lúa M – Lạc xen đậu xanh ĐX

Ngày đăng: 21/04/2016, 15:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Qui trình đánh giá đất đai cho qui hoạch sử dụng đất đai. De Vos - Bài giảng môn đánh giá đất
Hình 1.1 Qui trình đánh giá đất đai cho qui hoạch sử dụng đất đai. De Vos (Trang 12)
Bảng 1. Các kiểu lập địa dựa vào độ phì và độ ẩm - Bài giảng môn đánh giá đất
Bảng 1. Các kiểu lập địa dựa vào độ phì và độ ẩm (Trang 16)
Hình 1.3 : Phương pháp đánh giá hai giai đoạn đầu và phương pháp song song - Bài giảng môn đánh giá đất
Hình 1.3 Phương pháp đánh giá hai giai đoạn đầu và phương pháp song song (Trang 27)
Bảng 2.1. Các yếu tố và phân cấp chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai toàn quốc - Bài giảng môn đánh giá đất
Bảng 2.1. Các yếu tố và phân cấp chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai toàn quốc (Trang 32)
Bảng 2.2a. Phân loại đất Việt Nam theo phương pháp định lượng - Bài giảng môn đánh giá đất
Bảng 2.2a. Phân loại đất Việt Nam theo phương pháp định lượng (Trang 33)
Bảng 2.3. Các đơn vị đất đai Việt Nam - Bài giảng môn đánh giá đất
Bảng 2.3. Các đơn vị đất đai Việt Nam (Trang 35)
Bảng 2.6. Hệ thống sử dụng đất trong nông nghiệp vùng Đông Nam Bộ - Bài giảng môn đánh giá đất
Bảng 2.6. Hệ thống sử dụng đất trong nông nghiệp vùng Đông Nam Bộ (Trang 39)
Bảng 3.2. Các tiêu đề về thuộc tính để mô tả các LUT - Bài giảng môn đánh giá đất
Bảng 3.2. Các tiêu đề về thuộc tính để mô tả các LUT (Trang 48)
Bảng 4.1: Chỉ tiêu định lượng các cấp thích hợp (chỉ dẫn cấu trúc xếp hạng) - Bài giảng môn đánh giá đất
Bảng 4.1 Chỉ tiêu định lượng các cấp thích hợp (chỉ dẫn cấu trúc xếp hạng) (Trang 55)
Bảng 4.2: Cấu trúc của phân hạng thích hợp đất đai (FAO, 1976). - Bài giảng môn đánh giá đất
Bảng 4.2 Cấu trúc của phân hạng thích hợp đất đai (FAO, 1976) (Trang 60)
Hình 4.1: Mô hình đánh giá đất đai - Bài giảng môn đánh giá đất
Hình 4.1 Mô hình đánh giá đất đai (Trang 66)
Bảng 5.2. Dự kiến các yếu tố và phân cấp chỉ tiêu xây dựng LMU theo tỷ lệ bản đồ - Bài giảng môn đánh giá đất
Bảng 5.2. Dự kiến các yếu tố và phân cấp chỉ tiêu xây dựng LMU theo tỷ lệ bản đồ (Trang 72)
Bảng 5.3. Các hệ thống sử dụng đất - Bài giảng môn đánh giá đất
Bảng 5.3. Các hệ thống sử dụng đất (Trang 74)
Bảng 5.4. Tổng hợp kết quả phân hạng thích hợp đất đai - Bài giảng môn đánh giá đất
Bảng 5.4. Tổng hợp kết quả phân hạng thích hợp đất đai (Trang 76)
Bảng phân cấp yếu tố thích hợp cho từng kiểu sử dụng đất đai. - Bài giảng môn đánh giá đất
Bảng ph ân cấp yếu tố thích hợp cho từng kiểu sử dụng đất đai (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w