1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận tìm HIỂU về TỈNH PHÚ THỌ

25 899 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 822,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phú Thọ có địa thế khá thuậnlợi về giao thông, với ba con sông lớn là sông Hồng, sông Lô, sông Đà chảyqua, hệ thống giao thông đường sắt Hà Nội – Lào Cai – Côn Minh; đường quốc lộ 2, đườ

Trang 1

TÌM HIỂU VỀ TỈNH PHÚ THỌ

Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi, cửa ngõ phía Tây Bắc của thủ đô

Hà Nội, cách thủ đô Hà nội 80 km về Phía Bắc Phú Thọ có địa thế khá thuậnlợi về giao thông, với ba con sông lớn là sông Hồng, sông Lô, sông Đà chảyqua, hệ thống giao thông đường sắt Hà Nội – Lào Cai – Côn Minh; đường quốc

lộ 2, đường cao tốc xuyên Á là cầu nối quan trọng trong giao lưu kinh tế giữaTrung Quốc với Việt Nam và các nước ASEAN Ngoài ra, Phú Thọ còn có cácyếu tố khác để phát triển kinh tế- xã hội như con người, tài nguyên, các khucông nghiệp, khu du lịch văn hoá lịch sử Đền Hùng, khu du lịch sinh thái XuânSơn…

Phú Thọ là vùng đất tổ cội nguồn của dân tộc Việt Nam Nơi đây các vua Hùng

đã dựng nước Văn Lang - quốc gia đầu tiên của Việt Nam, thủ đô là PhongChâu

Phú Thọ có nền văn hoá rực rỡ từ lâu đời Những di chỉ khảo cổ văn hoá Sơn

Vi, Đồng Đậu, Làng Cả và nhiều đình, chùa, lăng, tẩm còn lại quanh vùng núiNghĩa Lĩnh cho thấy đất Phong Châu là một trung tâm văn hoá của dân tộc.Đây là vùng đất có nhiều lễ hội, đáng kể nhất là lễ hội Giỗ tổ Hùng Vương(10/3 âm lịch) Các dân tộc ít người cũng có những đặc trưng văn hoá riêng củamình: Người Mường có nhiều truyện thơ, ca dao, tục ngữ, hát xéc bùa, hát ví,hát đúm Người Việt có hát xoan, hát ghẹo

Lịch sử

Tỉnh Phú Thọ là một trong những chiếc nôi của loài người Hàng nghìn năm qua, từ khi vua Hùng dựng nước Văn Lang cho đến ngày nay, địa bàn Phú Thọ

đã trải qua biết bao đổi thay về địa danh và địa giới hành chính

Thời Hùng Vương, địa bàn Phú Thọ nằm trong bộ Văn Lang, trung tâm của nước Văn Lang Thời Thục An Dương Vương với Nhà nước Âu Lạc, Phú Thọ nằm trong huyện Mê Linh

Dưới thời Bắc thuộc (từ năm 111 trước Công nguyên đến thế kỷ X), Phú Thọ nằm trong địa bàn quận Mê Linh, Tân Xương, Phong Châu

Đến thời kỳ phong kiến độc lập, đơn vị hành chính là các đạo (lộ, trấn, xứ, tỉnh), dưới là các phủ, châu, huyện, thay thế cho chế độ quận huyện thời Bắc thuộc, Phú Thọ thuộc lộ Tam Giang Đầu triều Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam, địa bàn Phú Thọ nằm trong hai tỉnh Hưng Hóa và Sơn Tây

Trang 2

tất cả các trấn trong cả nước là tỉnh, điều chuyển một số huyện từ tỉnh nọ sang tỉnh kia, chia tách một số huyện lớn… Ở phạm vi hai tỉnh Hưng Hóa và Sơn Tây năm 1831 chuyển huyện Tam Nông thuộc tỉnh Sơn Tây về tỉnh Hưng Hóa,tách huyện Thanh Xuyên phủ Gia Hưng của tỉnh Hưng Hóa thành hai huyện Thanh Sơn và Thanh Thuỷ (1833).

Sau khi đánh chiếm Bắc Kỳ, hoàn thành việc xâm lược toàn bộ Việt Nam, thực dân Pháp thi hành chính sách chia để trị, lập ra các tỉnh mới

ba sông” cửa ngõ phía Tây của Thủ đô Hà Nội, Phú Thọ cách Hà Nội 80 km,cách sân bay Nội Bài 60 km, cách cửa khẩu Lào Cai, cửa khẩu Thanh Thuỷhơn 200 km, cách Hải Phòng 170 km và cảng Cái Lân 200 km

Phú Thọ nằm ở trung tâm các hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt vàđường sông từ các tỉnh thuộc Tây - Đông - Bắc đi Hà Nội, Hải Phòng và cácnơi khác Là cầu nối giao lưu kinh tế - văn hoá - khoa học kỹ thuật giữa cáctỉnh đồng bằng Bắc Bộ với các tỉnh miền núi Tây Bắc

Quốc lộ 2 qua Phú Thọ đi Tuyên Quang, Hà Giang sang Vân Nam (TrungQuốc), quốc lộ 70 đi Yên Bái, Lào Cai sang Vân Nam (Trung Quốc), quốc lộ

32 qua Phú Thọ đi Yên Bái, Sơn La, cùng với các tỉnh bạn trong cả nước vàquốc tế

Phú Thọ có 12 đơn vị hành chính gồm thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ,huyện Đoan Hùng, Hạ Hoà, Thanh Ba, Cẩm Khê, Phù Ninh, Lâm Thao, TamNông, Thanh Thuỷ, Thanh Sơn và Yên Lập Thành phố Việt Trì là trung tâmchính trị - kinh tế - văn hoá của tỉnh; 274 đơn vị hành chính cấp xã gồm 14phường, 10 thị trấn và 250 xã, trong đó có 214 xã miền núi, 7 xã vùng cao và

50 xã đặc biệt khó khăn

Trang 3

1 2 Đặc điểm địa hình

Phú Thọ là tỉnh miền núi, trung du nên địa hình bị chia cắt, được chia thànhtiểu vùng chủ yếu Tiểu vùng núi cao phía Tây và phía Nam của Phú Thọ, tuygặp một số khó khăn về việc đi lại, giao lưu song ở vùng này lại có nhiều tiềmnăng phát triển lâm nghiệp, khai thác khoáng sản và phát triển kinh tế trangtrại Tiểu vùng gò, đồi thấp bị chia cắt nhiều, xen kẽ là đồng ruộng và dải đồngbằng ven sông Hồng, hữu Lô, tả Đáy Vùng này thuận lợi cho việc trồng cácloại cây công nghiệp, phát triển cây lương thực và chăn nuôi

Trang 4

2 Tài nguyên thiên nhiên

2.1Tài nguyên k hí hậu

Phú Thọ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có một mùa đông lạnh.Nhiệt độ trung bình năm khoảng 230C, lượng mưa trung bình trong nămkhoảng 1.600 đến 1.800 mm Độ ẩm trung bình trong năm tương đối lớn,khoảng 85 – 87% Nhìn chung khí hậu của Phú Thọ thuận lợi cho việc pháttriển cây trồng, vật nuôi đa dạng Mưa, bão tập trung vào các tháng từ tháng 5đến tháng 10 trong năm với lượng mưa trung bình hàng năm là 1.343mm Cáchiện tượng gió lốc, mưa đá thường xuyên xảy ra vào mùa hè và mùa thu thánglạnh nhất là tháng 12 Tần suất sương muối thường xảy ra vào mùa đông

Đánh giá các loại đất của Phú Thọ thấy rằng, đất đai ở đây có thể trồng câynguyên liệu phục vụ cho một số ngành công nghiệp chế biến, nếu có vốn đầu tư

và tổ chức sản xuất có thể tăng năng suất ở nhiều nơi; đưa hệ số sử dụng đất lênđến 2,5 lần (hiện nay hệ số sử dụng đất mới đạt khoảng 2,2), đồng thời bảo vệ

và làm giàu thêm vốn tài nguyên này; cho phép phát triển công nghiệp và đôthị

2.

3 Tài nguyên rừng

Diện tích rừng hiện nay của Phú Thọ nếu đem so sánh với các tỉnh trong cảnước thì được xếp vào những tỉnh có độ che phủ rừng lớn (42% diện tích tựnhiên) Với diện tích rừng hiện có 144.256 ha, trong đó có 69.547 ha rừng tựnhiên, 74.704 ha rừng trồng, cung cấp hàng vạn tấn gỗ cho công nghiệp chếbiến hàng năm Các loại cây chủ yếu như bạch đàn, mỡ, keo, bồ đề và một sốloài cây bản địa đang trong phát triển (đáng chú ý nhất vẫn là những cây phục

vụ cho ngành công nghiệp sản xuất giấy)

Trang 5

3 - Đặc điểm sông ngòi.

Phú Thọ nằm ở trung lưu của hệ thống sông Hồng, tiếp nhận nguồn nước của 3sông lớn: sông Lô, sông Thao, sông Đà ngoài ra còn có các sông nhỏ, ngòi lớnnhư: sông Bứa, ngòi Lao, ngòi Giành, ngòi Me chảy ra sông Thao: sông Chảychảy ra sông Lô, ngòi Lạt chảy ra sông Đà Nhìn chung các sông trên địa bàntỉnh Phú thọ có đặc điểm như sau:

a- Sông Thao: Có lưu vực từ nơi bắt nguồn đến Việt Trì khoảng 55.605

km2, riêng phần Việt Nam là: 11.173 km, chiều dài chảy qua Phú Thọ từ HậuBổng (Hạ Hoà) đến Bến Gót (Việt Trì) khoảng 110 km, chảy theo hướng TâyBắc - Đông Nam Lưu lượng lũ lớn nhất trên 30.000 m3/sek

b- Sông Lô: Lưu vực sông từ nơi bắt nguồn đến Việt Trì khoảng

25.000km2, chiều dài chảy qua Phú Thọ từ Chi Đám (Đoan Hùng) đến Bến Gót(Việt Trì) khoảng 67 km cũng chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam gần nhưsong song với sông Thao Tuy bắt nguồn và chảy qua các tâm mưa của vùngViệt Bắc, song các chi lưu và suối ngòi đổ vào không cùng chế độ thuỷ văn nên

ít xảy ra lũ trùng hợp, dữ dội Lưu lượng lũ lớn nhất xấp xỉ 9.000 m3/sek

c- Sông Đà: Có lưu vực khoảng 50.000 km2, chảy qua Phú Thọ từ TinhNhuệ (Thanh Sơn) đến Hồng Đà (Tam Nông), khoảng 41,5 km theo hướng BắcNam Đây là con sông chảy qua các tâm mưa dữ dội nhất của vùng núi caohiểm trở Tây Bắc nên có lưu lượng lũ khoảng lớn hơn 18.000 m3/sek, lượng lũchiếm tới 49% tổng lượng lũ sông Hồng và là nguyên nhân gây lũ lụt nhiềunhất

d- Hệ thống sông ngòi nội địa: Ngoài 2 chi lưu lớn là sông Chảy và

sông Bứa đổ vào 3 sông lớn còn có rất nhiều suối ngòi với mật độ dầy đặc, gópphần tạo nên lượng dòng chảy lớn của hệ thống sông Hồng Số sông ngòi chảyvào sông Hồng, sông Lô, sông Đà có chiều dài  10 km là 72 sông ngòi, mật độtrung bình sông nhỏ và suối từ 0,5 -: - 1,5 km/km2

4 Tài nguyên khoáng sản

Phú Thọ không phải là tỉnh giàu tài nguyên khoáng sản, nhưng lại có một sốloại có giá trị kinh tế như đá xây dựng, cao lanh, fenspat, nước khoáng Caolanh có tổng trữ lượng khoảng 30 triệu tấn, điều kiện khai thác thuận lợi, trữlượng chưa khai thác lên đến 24,7 triệu tấn Fenspat có tổng trữ lượng khoảng 5triệu tấn, điều kiện khai thác thuận lợi, trữ lượng chưa khai thác còn khoảng 3,9triệu tấn, nước khoáng có tổng trữ lượng khoảng 48 triệu lít, điều kiện khai thácthuận lợi, trữ lượng chưa khai thác còn khoảng 46 triệu lít

Trang 6

Ngoài ra, Phú Thọ còn có một số loại khoáng sản khác như: quactít trữ lượngkhoảng 10 triệu tấn, đá vôi 1 tỷ tấn, pyrít trữ lượng khoảng 1 triệu tấn,tantalcum trữ lượng khoảng 0,1 triệu tấn, và nhiều cát sỏi với điều kiện khaithác hết sức thuận lợi.

Đây là một số lợi thế cho phép Phú Thọ phát triển các ngành công nghiệp như

xi măng, đá xây dựng, các loại vật liệu xây dựng có ưu thế cạnh tranh

II

Nguồn lực kinh tế - xã hội

1.Dân cư

Dân số - Dân tộc:Theo kết quả điều tra ngày 1/4/1999, tỉnh Phú Thọ có

1.216.599 người Trong đó, lao động xã hội toàn tỉnh là 727.500 người, chiếm59,8% dân số Trên địa bàn tỉnh có 28 dân tộc, đông nhất là dân tộc Kinh với sốdân là 1.044.979 người, chiếm 85,89% dân số của tỉnh Dân số là người dân tộcthiểu số là: 171.620 người, chiếm 14,11% số dân toàn tỉnh Trong số các dântộc thiểu số dân tộc Mường có 165.748 người, chiếm 13,62%; dân tộc Dao có11.126 người, chiếm 0,92%; dân tộc Sán Chay có 2.641 người, chiếm 0,22%;dân tộc Tày có 1.885 người, chiếm 0,15%; dân tộc Mông có 628 người, chiếm0,05%; dân tộc Thái có 465 người, chiếm 0,04%; dân tộc Nùng có 350 người,chiếm 0,03%; dân tộc Hoa có 274 người, chiếm 0,02%; dân tộc Thổ có 143người, chiếm 0,01%; dân tộc Ngái có 99 người, chiếm 0,008%

Trình độ dân trí :

Ðến nay đã phổ cập giáo dục tiểu học cho 12/12 huyện, thị, thành phố với100% số xã; tỷ lệ người biết chữ đạt 98,3% dân số Số học sinh phổ thông niênhọc 2001-2002 có trên 307.250 em, số giáo viên là 14.183 người Số thầy thuốc

có 2.597 người, bình quân y, bác sĩ trên 1 vạn dân là 206 người

Theo số liệu thống kê: Số người trong độ tuổi lao động của tỉnh hiện nay là: 80vạn người; Số lao động làm việc trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng; 11,6vạn người ( khoảng 14,5% ); Số lao động đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ nhỏ: 28% (năm 2005 ) và 36% ( năm 2007 ); Số người thất nghiệp hoặc chưa có việc làm:gần 2 vạn người Những con số trên phản ánh một thực trạng đang diễn ra hiệnnay là sự mất cân đối trong cung và cầu về lao động: Mặc dù nhu cầu về sửdụng lao động là rất lớn, nguồn lao động của tỉnh rất đồi dào, nhưng tỉ lệ laođộng được giải quyết việc làm lại không cao Nguyên nhân cơ bản dẫn đến tìnhtrạng thừa lao động, thiếu việc làm như trên chính là do chất lựơng nguồn laođộng của tỉnh còn thấp Bản thân các nhà đầu tư chưa có chính sách ưu đãi đặc

Trang 7

biệt đối với lực lượng lao động điạ phương và chưa có một chiến lược pháttriển nguồn nhân lực hiệu quả và hợp lý.

2 Những lĩnh vực kinh tế lợi thế

Phú Thọ có nhiều tiềm năng phát triển công nghiệp chế biến nông – lâm sản.Khai thác và chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp dệt,may vì ở Phú Thọ có nguồn nguyên liệu, lực lượng lao động tại chỗ; đã xâydựng được một số khu công nghiệp, cụm công nghiệp và đầu tư với tốc độnhanh

Khu công nghiệp Phù Ninh

Khu công nghiệp Phú Hà

Khu công nghiệp Trung Hà

Khu công nghiệp Tam Nông

Trọng điểm có :

Khu công nghiệp Thuỵ Vân

Khu công nghiệp Thụy Vân

Trang 8

Tổng diện tích là 400 ha

Khu công nghiệp (KCN) Thụy Vân nằm ở phía Bắc thành phố Việt Trì tỉnhPhú Thọ, cách ga Phủ Ðức - tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai 0,5 km, cáchquốc lộ số 02 là 01km, cách đường xuyên Á gần 02km, cách Cảng sông ViệtTrì 7km và cách sân bay Quốc tế Nội Bài 50 km Hiện nay tại KCN Thụy Vân

có 52 dự án đã được cấp phép đầu tư trong đó có 28 doanh nghiệp 100% vốnnước ngoài

Cơ sở hạ tầng:

1 Hệ thống giao thông: Hệ thống giao thông nội bộ KCN đã được xây dựng

hoàn chỉnh và được đấu nối đồng bộ vào mạng lưới giao thông của thành phốViệt Trì

2 Hệ thống cấp điện: Hệ thống điện lưới sử dụng của KCN Thụy Vân đượccung cấp từ mạng lưới điện quốc gia được đấu nối bằng hệ thống đường dây 35

KV và 22 KV qua trạm biến áp 2 x 40 MAV - 110/35/ 22

3 Hệ thống cấp nước: Mạng lưới cấp nước của thành phố Việt Trì được xây

dựng đến tận chân hàng rào của từng nhà máy trong KCN Hệ thống này cócông suất cao và ổn định có khả năng đáp ứng mọi nhu cầu về nước củacác Nhà đầu tư

4 Hệ thống thông tin liên lạc: Mạng lưới thông tin liên lạc của KCN Thụy Vân

đã được hoà mạng viễn thông quốc gia và quốc tế với đầy đủ các dịch vụ viễn

thông cơ bản: Điện thoại, Fax, Internet Hệ thống này đảm bảo được các tiêuchí cơ bản về tốc độ kết nối, chất lượng thông tin cung cấp và tính bảo mật

5 Cảng nội địa ICD: Cảng nội địa ICD thực hiện mọi thủ tục hải quan ngoàicửa khẩu trong KCN (thủ tục hải quan tại chỗ), cung cấp các dịch vụ bốc

dỡ, vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp nằm trongKCN

6 Khu đô thị mới và khu nhà ở công nhân: Khu đô thị mới và khu nhà ở côngnhân cũng đang được đầu tư xây dựng đồng bộ để đáp ứng các nhu cầu về nhà

ở cho các Nhà đầu tư và đội ngũ công nhân của doanh nghiệp

3 Tiềm năng du lịch

Phú Thọ có bản sắc văn hoá dân tộc gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước

từ thời Hùng Vương với trên 200 di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, di tíchcách mạng kháng chiến đều có khả năng khai thác phục vụ cho tham quan, dulịch

Phú Thọ có nhiều di tích nổi tiếng như:

Trang 9

3.1 Đền Hùng

Quần thể di tích đền Hùng nằm từ chân núi đến đỉnh ngọn núi Nghĩa Lĩnh cao

175 mét (núi có những tên gọi như Núi Cả, Nghĩa Lĩnh, Nghĩa Cương, HyCương, Hy Sơn, Bảo Thiếu Lĩnh, Bảo Thiếu Sơn), thuộc địa phận xã HyCương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, trong khu rừng được bảo vệ nghiêmngặt giáp giới với những xã thuộc huyệnLâm Thao, Phù Ninh và vùng ngoại ôthành phố Việt Trì, cách trung tâm thành phố Việt Trì khoảng 10 km Khu vựcđền Hùng ngày nay nằm trong địa phận của kinh đô Phong Châu của quốcgiaVăn Lang cổ xưa Theo cuốn Ngọc phả Hùng Vương, đương thời các VuaHùng đã cho xây dựng điện Kính Thiên tại khu vực núi Nghĩa Lĩnh này

lễ rước kiệu và dâng hương trên đền Thượng Lễ hội đền Hùng hiện được Nhà

Trang 10

nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nâng lên thành giỗ quốc Tổ tổ chức lớn vào những năm chẵn.

Có 2 lễ được cử hành cùng thời điểm ngày chính hội:

Lễ rước kiệu vua: Đám rước kiệu với màu sắc sặc sỡ của bạt ngàn cờ, hoa, lọng, kiệu, trang phục truyền thống xuất phát từ dưới chân núi rồi lần lượt qua các đền để tới đền Thượng, nơi làm lễ dâng hương Đám rước như một con rồng uốn lượn trên những bậc đá dưới những tán lá cây để tới đỉnh núi Thiêng

Lễ dâng hương: Người hành hương tới đền Hùng chủ yếu vì nhu cầu của đời sống tâm linh Mỗi người đều thắp lên vài nén hương khi tới đất Tổ để nhờ làn khói thơm nói hộ những điều tâm niệm của mình với tổ tiên Trong tâm hồn người Việt thì mỗi nắm đất, gốc cây nơi đây đều linh thiêng và chẳng có gì khóhiểu khi nhìn thấy những gốc cây, hốc đá cắm đỏ những chân hương

Các di tích chính

1. Đền Hạ : Tương truyền là nơi Âu Cơ sinh hạ bọc trăm trứng, sau nở

thành 100 người con

2. Nhà bia : Nhà bia nằm ngay cạnh đền Hạ có kiến trúc hình lục giác với 6

mái Trong nay đặt tấm bia đá khắc dòng chữ quốc ngữ: "Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước" Đây là câu nói nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến thăm Đền Hùng ngày 19 tháng 9 năm 1954

3 Chùa Thiên Quang : còn gọi là Thiên quang thiền tự, tọa lạc gần đền Hạ.

4. Đền Trung: Tương truyền là nơi các Vua Hùng cùng các Lạc hầu, Lạc tướng du ngoạn Nghĩa Lĩnh ngắm cảnh và họp bàn việc nước

5. Đền Thượng : Đền được đặt trên đỉnh núi, nơi ngày xưa theo truyền

thuyết các Vua Hùng thường lên tiến hành các nghi lễ, tín ngưỡng của

cư dân nông nghiệp thờ trời đất, thờ thần lúa, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, nhân khang vật thịnh Ngoài cổng đền có dòng đại tự: "Nam Việt triệu tổ" (tổ tiên của Việt Nam)

6. Cột đá thề : Bên phía tay trái đền Thượng có một cột đá gọi là cột đá thề,

tương truyền do Thục Phán dựng lên khi được Vua Hùng thứ 18 truyền ngôi để thề nguyện bảo vệ non sông đất nước mà Hùng Vương trao lại

và đời đời hương khói trông nom miếu vũ họ Vương

Trang 11

7. Lăng Hùng Vương (Hùng Vương lăng) tương truyền là mộ của Vua

Hùng thứ 6 Lăng mộ nằm ở phía đông đền Thượng, mặt quay

theo hướng Đông Nam Xưa đây là một mộ đất, thời Tự Đức năm thứ 27(năm 1870) đã cho xây mộ dựng lăng Thời Khải Định tháng 7

(năm 1922) trùng tu lại

8. Đền Giếng : Tương truyền là nơi công chúa Tiên Dung và công chúa

Ngọc Hoa (con gái của Vua Hùng thứ 18) thường soi gương, vấn tóc khitheo cha đi kinh lý qua vùng này Đền được xây dựng vào thế kỷ thứ 18

9. Đền Tổ mẫu Âu Cơ : Là một ngôi đền mới, được bắt đầu xây dựng vào

năm 2001 và khánh thành tháng 12 năm 2004 Đền được xây dựng trên núi Ốc Sơn (núi Vặn)

3.2Vườn Quốc gia Xuân Sơn

Vườn quốc gia Xuân Sơn được thành lập theo Quyết định số 49/2002/QĐ-TTgngày 17/42002 của Thủ tướng Chính phủ, là một trong 30 VQG có trên lãnhthổ Việt Nam, là địa bàn không những có vị trí quan trọng về an ninh quốcphòng mà còn là hành lang giao lưu phát triển kinh tế nối liền vùng Tây Bắc vàĐồng bằng Bắc Bộ

Vị trí địa lý

Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm ở huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, cách thành phố Việt Trì 80 km, Hà Nội 120 km[1], có phạm vi ranh giới được xác định như sau:

 Phía Đông: Giáp các xã Tân Phú, Minh Đài, Long Cốc, huyện Tân Sơn

 Phía Tây: Giáp huyện Phù Yên (tỉnh Sơn La), huyện Đà Bắc (tỉnh Hoà Bình)

 Phía Nam: Giáp huyện Đà Bắc (tỉnh Hoà Bình)

 Phía Bắc: Giáp xã Thu Cúc, huyện Tân Sơn

Tọa độ địa lý: Từ 21°03' đến 21°12' vĩ bắc và từ 104°51' đến 105°01' kinh đông[1]

Địa hình

Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm trên hệ thống núi đá vôi có độ cao từ 700 đến 1.300 m Trong khu vực có rất nhiều hang đá

Trang 12

Diện tích

Vườn quốc gia Xuân Sơn có diện tích vùng đệm 18.369 ha, trong đó diện tích vùng lõi là 15.048 ha[1] khu vực bảo vệ nghiêm ngặt là 11.148 ha, phân khu phục hồi sinh thái kết hợp bảo tồn di tích lịch sử: 3.000 ha phân khu hành chính, dịch vụ: 900 ha Điểm đặc trưng của Xuân Sơn là vườn quốc gia duy nhất có rừng nguyên sinh trên núi đá vôi (2.432 ha) Xuân Sơn được đánh giá làrừng có đa dạng sinh thái phong phú, đa dạng sinh học cao, đa dạng địa hình kiến tạo nên đa dạng cảnh quan

Diện tích vùng đệm của Vườn quốc gia Xuân Sơn là 18.639 ha, bao gồm các xã: Kiệt Sơn, Lai Đồng, Minh Đài và một phần các xã: Đồng Sơn, Tân Sơn, Kim Thượng, Xuân Đài, đều cùng huyện

Quyết và ngành Hạt trần Có 91 loài cá, 75 loài bò sát và lưỡng cư, 241

loài chim, 76 loài thú[2]

Nằm trong khu vực giao tiếp của hai luồng thực vật Mã Lai và Hoa Nam, hệ thực vật ở Xuân Sơn có các loài re, dẻ, sồi và mộc lan chiếm ưu thế Ngoài ra,

Ngày đăng: 21/04/2016, 15:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w