1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CÁC vấn đề về đầu tư KINH DOANH tại PHILIPPINE

102 363 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các đặc khu kinh tế được thành lập để phát triển đồng đều các ngành nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, du lịch… Philippines có nhiều đặc khu kinh tế như Industrial Estate để hỗ trợ cá

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU - 7

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHILIPPINES - 9

1.1 Khái quát tình hình chính trị ở Philippines - 9

1.1.1 Tổng quan về Philippines - 9

1.1.2 Thể chế nhà nước - 10

1.1.3 Các Đảng phái chính trị chính - 10

1.1.3.1 Liên minh cầm quyền hiện nay - 10

1.1.3.2 Các Đảng chính trị - 10

1.2 Khái quát tình hình kinh tế ở Philippines - 11

1.2.1 Tổng quan - 11

1.2.2 Các chỉ số kinh tế - 13

1.2.3 Môi trường đầu tư của Philippines - 16

1.2.4 Các ngành kinh tế trọng điểm - 16

1.3 Khái quát tình hình văn hóa, xã hội ở Philippines - 16

1.3.1 Văn hóa - 16

1.3.2 Xã hội - 17

1.3.3 Văn hóa kinh doanh - 18

1.3.3.1 Phong cách nói chuyện - 18

1.3.3.2 Ngôn ngữ - 19

1.3.3.3 Gặp gỡ, đàm phán - 19

1.3.3.4 Ăn uống - 20

1.3.3.5 Trang phục - 21

1.3.3.6 Các vấn đề khác - 21

1.4 Khái quát về hệ thống pháp luật ở Philippines - 23

1.4.1 Bộ Tư pháp của Philippines - 23

1.4.2 Toà án - 25

1.4.2.1 Toà án quận, thành phố - 25

1.4.2.2 Toà án khu vực - 25

1.4.2.3 Toà Sharia - 26

1.4.2.4 Toà phúc thẩm thuế - 26

1.4.2.5 Toà phúc thẩm - 26

Trang 2

1.4.2.6 Toà tối cao - 26

1.4.3 Một số đặc điểm - 26

1.5 Quan hệ Việt Nam – Philippines và các hiệp định - 28

1.5.1 Ngày thiết lập ngoại giao với Việt Nam - 28

1.5.2 Về chính trị - 28

1.5.3 Hợp tác biển - 29

1.5.4 Kinh tế, đầu tư, thương mại - 29

1.5.5 Về an ninh-quốc phòng - 31

1.5.6 Về nông nghiệp - 31

1.5.7 Về giáo dục - 32

1.5.8 Các cơ chế hợp tác - 32

1.5.9 Các chuyến thăm - 32

1.5.10 Các văn kiện ký kết giữa Việt Nam và Philippines - 33

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ KINH DOANH - 35

2.1 Điều kiện đầu tư - 35

2.1.1 Sự xem xét đầu - 36

2.1.2 Địa lý và khí hậu - 37

2.1.3 Môi trường kinh tế - 37

2.1.3.1 Cơ cấu thị trường chung - 37

2.1.3.2 Những chỉ số kinh tế chung - 38

2.1.3.3 Nông nghiệp - 38

2.1.3.4 Khai thác mỏ - 38

2.1.3.5 Nhu cầu năng lượng và tài nguyên - 39

2.1.3.6 Những tiện ích - 39

2.1.3.7 Chế tạo - 40

2.1.3.8 Xây dựng - 40

2.1.3.9 Giao thông vận tải, thông tin liên lạc, và lưu trữ - 40

2.1.3.10 Tài chính ngân hàng - 40

2.1.3.11 Dịch vụ nói chung - 41

2.1.3.12 Tỉ lệ lương - 41

2.1.3.13 Lạm phát và tỷ giá hối đoái - 41

2.1.3.14 Ngoại thương - 42

Trang 3

2.1.4 Đầu tư nước ngoài - 43

2.1.5 Những trung tâm phát triển - 43

2.1.6 Những yêu cầu phải được tuân thủ trước khi một công ty nước ngoài có thể tham gia vào kinh doanh tại Philippines - 45

2.1.7 Các chính sách chung của chính phủ có liên quan đến đầu tư nước ngoài - 47

2.2 Thủ tục - 47

2.2.1 Bước 1: Thành lập doanh nghiệp - 48

2.2.1.1 Hồ sơ - 48

2.2.1.2 Thủ tục - 49

2.2.1.3 Giá trị pháp lý - 49

2.2.1.4 Thời gian xử lý - 49

2.2.2 Bước 2: Xin phê chuẩn của Ban đầu tư đối với dự án đầu tư - 49

2.2.2.1 Hồ sơ - 49

2.2.2.2 Mức phí - 50

2.2.2.3 Thủ tục thực hiện - 50

2.3 Ngành nghề - 51

2.3.1 Tự do đầu tư - 51

2.3.2 Hạn chế và cấm đầu tư - 52

2.3.3 Mô hình tổ chức, quản lý hoạt động đầu tư - 59

2.4 Hình thức đầu tư và loại hình doanh nghiệp - 59

2.4.1 Thành lập một công ty Philippines - 59

2.4.1.1 Doanh nghiệp tư nhân - 59

2.4.1.2 Hợp doanh - 63

2.4.1.3 Công ty - 68

2.4.2 Đăng ký để hoạt động với tư cách là một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài - 72

2.4.2.1 Chi nhánh - 73

2.4.2.2 Văn phòng đại diện - 73

2.4.2.3 Trụ sở chính của khu vực hoặc Trụ sở điều hành chính của khu vực 73 2.5 Hình thức ưu đãi, hỗ trợ đầu tư - 76

2.5.1 Ưu đãi về thuế - 76

Trang 4

2.5.2 Hỗ trợ đầu tư - 76

2.5.3 Các doanh nghiệp có đủ điều kiện nằm trong vùng kinh tế (Ecozone) - 78

2.5.4 Những ưu đãi hiện có dành cho các doanh nghiệp trong vùng kinh tế, tuỳ theo tính chất hoạt động của mình, là - 79

2.5.5 Những ưu đãi BOI - 80

2.5.5.1 Kế hoạch ưu tiên đầu tư IPP - 80

2.5.5.2 Những ưu đãi tài chính - 85

2.5.5.3 Những ưu đãi phi tài chính - 86

2.5.6 Những ưu đãi PEZA - 87

2.5.7 Những ưu đãi khác - 87

CHƯƠNG 3: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA NHÀ ĐẦU TƯ VIỆT NAM PHILIPPINES - 89

3.1 Cơ hội - 89

3.2 Thách thức đối với các nhà đầu tư nước ngoài - 93

KẾT LUẬN - 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO - 99

NHẬN XÉT - 103

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Hiện nay hệ thống pháp luật của Việt Nam ngày càng được hoàn thiện về nhiều mặt nổi bật nhất là Luật Doanh nghiệp 2014, nó là bước ngoặt lớn trong lĩnh vực pháp lý liên quan đến việc thành lập doanh nghiệp Với những quy định chặt chẽ, Nhà nước ta mong muốn rằng những điểm mới này có thể tạo điều kiện cho việc thành lập doanh nghiệp trở nên dễ dàng hơn và thu hút được các nhà đầu tư trong và ngoài nước bởi Việt Nam là một nơi có rất nhiều tiềm năng

Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với các nước trên thế giới được đẩy mạnh từ đó chính sách kinh tế trở thành mối quan tâm hàng đầu Bên cạnh việc phát triển kinh tế theo đường lối của Đảng và Nhà nước, điều chỉnh có hiệu quả các hoạt động kinh doanh của quốc gia, mà còn phải phù hợp với pháp luật kinh doanh của cộng đồng quốc tế Như vậy, chúng ta cần phải có cái nhìn khái quát về tổng thể cũng như nắm rõ được những quy định của luật kinh doanh mà nước bạn đã đề ra

Một trong những nước có nền kinh tế phát triển mạnh hiện nay đó là Philippines Chính sự ra đời của Luật Doanh nghiệp Philippines, nó là bàn đạp giúp cho Philippines ngày càng đứng vững hơn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Vậy hãy cùng chúng tôi tìm hiểu về Luật Doanh nghiệp Philippines để xem tại sao nó có thể tồn tại bền vững như thế? Từ đó đưa ra những mặt hạn chế của Luật Doanh nghiệp Việt Nam để từng bước hoàn thiện nó một cách tốt nhất Đặt vấn đề, nếu Việt Nam là một nhà đầu tư muốn đầu tư vào Philippines thì những thử thách gì sẽ đặt ra cho họ và cơ hội trở thành nhà đầu

tư cho Philippines sẽ mang lại những lợi ích gì?

Do trình độ còn hạn chế nên bài tiểu luận còn có những thiếu sót về nội dung lẫn hình thức, kính mong nhận được sự góp ý của thầy, cô và các bạn sinh viên

Nhóm thực hiện

Trang 7

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHILIPPINES

1.1 Khái quát tình hình chính trị ở Philippines

- Diện tích đất liền: 299.764km2

- Khí hậu: Nhiệt đới biển, có gió mùa Đông Bắc (từ tháng 11 đến tháng 4), gió mùa Tây Nam (từ tháng 5 đến tháng 10) Nhiệt độ trung bình: 27 độ C Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.000- 4.000mm

- Dân số: 91.983.000 (2009)

- Dân tộc: Người Mã lai Thiên chúa giáo (91,5%), người Mã lai Hồi giáo (4%), người Hoa (1,5%), các dân tộc khác (3%)

- Hành chính: Philippines được chia thành ba miền là Luzon, Visayas và Mindanao

Ba miền lại được chia thành 17 vùng Cấp hành chính địa phương chính thức của Philippines là tỉnh gồm 81 đơn vị Các tỉnh lại bị chia tách tiếp thành thành phố và các huyện Thành phố và huyện được chia thành các barangay Đây là cấp hành chính địa phương thấp nhất ở Philiipines

- Đơn vị tiền tệ: Peso

- Tôn giáo: Philippines là nước duy nhất ở châu Á lấy Thiên chúa giáo làm quốc đạo với khoảng 85% dân số theo đạo Thiên chúa, 10% theo đạo Hồi, 5% theo đạo Tin lành và các tôn giáo khác

Trang 8

- Ngôn ngữ chính: Tiếng Philippines (Tagalog)1

1.1.2 Thể chế nhà nước

Thế chế nhà nước Philippines: Cộng hòa

+ Từ 1972 trở về trước: Theo Hiến pháp năm 1935, Quốc hội gồm Thượng viện và

Hạ viện Đứng đầu Nhà nước và Chính phủ là Tổng thống với nhiệm kỳ 4 năm, do dân trực tiếp bầu

+ Từ 1981-1985: Theo Hiến pháp năm 1973, Quốc hội chỉ gồm một viện (bỏ Thượng viện) Đứng đầu Nhà nước là Tổng thống với nhiệm kỳ 6 năm, không được tái

cử Đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng Quyền lực tập trung vào Tổng thống

+ Từ 1986 đến nay: Theo Hiến pháp năm 1987, Cơ quan lập pháp cao nhất là Quốc hội (Congress) gồm hai viện Thượng viện gồm 24 thượng nghị sĩ (với nhiệm kỳ 6 năm)

và Hạ viện gồm 200 đến 250 hạ nghị sỹ (với nhiệm kỳ 3 năm)

Tổng thống là người đứng đầu Nhà nước và Chính phủ Tổng thống có các quyền:

bổ nhiệm các bộ trưởng nội các với sự thông qua của Quốc hội; thành lập các Hội đồng

Cơ chế bầu cử : Theo Hiến pháp năm 1987, dân trực tiếp bầu Tổng thống, Phó Tổng thống và các thượng và hạ nghị sỹ

1.1.3 Các Đảng phái chính trị chính

1.1.3.1 Liên minh cầm quyền hiện nay: Liên minh Lakas-NUCD-UMDP do Tổng

thống Arroyo làm Chủ tịch và ông De venecia làm đồng chủ tịch Hiện nay Liên minh này đổi tên là “Lakas ng Kristiyano at Muslim Democrata “ (Liên minh Sức mạnh quần chúng của những người dân chủ Thiên chúa giáo và Hồi giáo)

1.1.3.2 Các đảng chính trị

- LDP Phong trào đấu tranh vì nền dân chủ Phi-lip-pin

- LPC Liên hiệp những người dân tộc chủ nghĩa

- PMP Đảng Quần chúng Phi-lip-pin

- UNIDO Đảng Dân tộc Dân chủ Thống nhất

- PDP-Laban Đảng Dân chủ Phi-lip-pin-Sức mạnh quần chúng

1 http://vietkieu.vietnamplus.vn/PH/196/Thong-tin-quoc-gialanh-tho/Tong-quan-ve-Cong-hoa-Philippines/437.vnp

Trang 9

- NUCD Liên hiệp toàn quốc những người dân chủ Thiên chúa giáo

- GAD Đại liên minh dân chủ

- PRP Đảng Cải cách nhân dân

- KAMPI Liên hiệp những người Phi-lip-pin tự do

- NP Đảng Dân tộc chủ nghĩa

- LP Đảng Tự do

- KBL Phong trào vì xã hội mới

- LAMMP Liên minh đa đảng gồm LDP, PMP, NPC thành lập 1998

- PKP Đảng Cộng sản thân Liên Xô, thành lập 1930

- CPP Đảng Cộng sản thân Trung Quốc, thành lập 1968

- NDF Mặt trận Dân tộc Dân chủ ( là lực lượng đấu tranh chính trị của CPP, được coi là hợp pháp và có trụ sở ở Hà Lan)

- LAKAS- NUCD Đảng Sức mạnh quần chúng-Liên hiệp toàn quốc những người dân chủ Thiên chúa giáo

- UMDP Đảng Liên minh những người dân chủ Hồi giáo

- PPC Liên minh Sức mạnh nhân dân gồm các đảng LP, Reporma, Aksyon, Demokratiko, Lakas-NUCD, Promdi và NP2

1.2 Khái quát tình hình kinh tế ở Philippines

1.2.1 Tổng quan

Philippines là nước khá giàu tài nguyên thiên nhiên trên đất liền và dưới biển, có nhiều khoáng sản như vàng, đồng, sắt, crôm, măng-gan, than đá, dầu lửa và khí đốt Năm

2004, Chính phủ ước tính trữ lượng khoáng sản trong lòng đất có tổng giá trị khoảng từ

800 đến 1000 tỷ USD Tuy nhiên, hiện nay Philippines mới chỉ xuất khẩu khoáng sản khoảng 0,5 tỷ USD/năm

Philippines chủ yếu vẫn là một nước nông nghiệp và trình độ phát triển còn thấp, GDP đầu người 4,500 USD (2011, xếp hạng 156 toàn cầu) Dân số dựa vào nông nghiệp

2

http://www.vietnamembassy-philippines.org/vi/nr070521165956/news_object_view?newsPath=/vnemb.vn/cn_vakv/ca_tbd/nr040819104120/ ns070731034115

Trang 10

là chủ yếu Nông nghiệp chiếm 12.3% GDP Cây trồng chính là lúa, ngô, dừa, mía, chuối, dứa, cà phê, thuốc lá, bông, đay, các loại đậu và cây Abaca để lấy sợi Trước đây, công nghiệp của Philippines chủ yếu là khai khoáng, gỗ và chế biến thực phẩm Một số ngành mới nổi lên là điện tử và may mặc xuất khẩu Philippines buôn bán chủ yếu với Mỹ, Nhật Nhập khẩu chính của Philippines là: dầu mỏ, than đá, sắt thép, vật liệu xây dựng, thiết bị máy móc, lương thực, hoá chất

Dịch vụ ở Philippines phát triển khá mạnh, chiếm trên 54.4% GDP Xuất khẩu lao động rất quan trọng, với trên 10 triệu người lao động ở nước ngoài, mỗi năm ước tính gửi về nước khoảng 10 - 12 tỷ USD

Từ năm 1946, với chiến lược "thay thế nhập khẩu", kinh tế Philippines bắt đầu phát triển và có tốc độ tăng trưởng cao hơn Indonesia, Malaysia và Thái Lan Sang thập kỷ 70, với chiến lược "hướng vào xuất khẩu", kinh tế Philippines đã có một số kết quả tích cực: GNP năm 1979 đạt 7,5% và bình quân đầu người đạt 590 USD Từ năm 1983, kinh tế Philippines khủng hoảng Đến 1986, được sự hỗ trợ tích cực của các nước tư bản lớn và các tổ chức tài chính quốc tế, kinh tế Philippines phục hồi Năm 1996, GDP đạt 7,1%, dự trữ ngoại tệ đạt 11,6 tỉ USD, FDI đạt 5,5 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt 1090 USD Từ năm 1998 đến năm 2000, do khủng hoảng tài chính-tiền tệ khu vực và tình hình nội bộ Philippines bất ổn làm cho nền kinh tế Philippines suy giảm Giá trị đồng peso giảm mức thấp nhất

Từ năm 2004 trở lại đây, kinh tế Philippines phát triển tương đối khá, đạt mức tăng trưởng 5 – 5,5%/năm, GDP năm 2005 đạt 1.080 USD/người Xuất khẩu tăng khá, đồng Pêsô tăng từ 57 Pêsô/1 USD lên khoảng 50 Pêsô/1 USD Năm 2009, do khủng hoảng kinh tế toàn cầu, GDP Philippines chỉ tăng 1.1% Đến năm 2010 và 2011, kinh tế Philippines có dấu hiệu phục hồi với mức tăng GDP lần lượt là 7.6% và 4.7% Tuy nhiên, kinh tế Philippines còn nhiều khó khăn do cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu kinh tế vùng nói riêng không hợp lý, quan hệ kinh tế đối ngoại chưa đa phương hoá, đa dạng hoá, nghèo đói, đặc biệt ở nông thôn chậm được giải quyết, bất ổn chính trị, an ninh, dân số tăng cao

Trong những năm gần đây, nền kinh tế Philippines ít bị ảnh hưởng hơn các quốc gia khác do ít tiếp xúc với chứng khoán quốc tế vốn đang khó khăn, phụ thuộc ít vào xuất khẩu; sức tiêu dùng trong nước ổn định; kiều hối lớn từ 4-5 triệu người Philippines đang

Trang 11

lao động ở nước ngoài Dự trữ quốc tế ở mức cao kỷ lục, hệ thống ngân hàng ổn định, thị trường chứng khoán tốt thứ hai ở châu Á năm 2012 Tăng trưởng kinh tế Philippines trung bình 4,5% trong suốt thời kỳ Macapagal- Arroyo làm tổng thống, nhưng nghèo đói trở nên tồi tệ trong nhiệm kỳ của bà Tăng trưởng kinh tế đã mạnh mẽ hơn dưới chính quyền của ông Aquino, nhưng tỷ lệ thất nghiệp vẫn còn quá cao Thiếu việc làm là gần 20% và hơn 40% số người có việc làm không chính thức Chính quyền của ông Aquino

đã nỗ lực để tăng ngân sách cho giáo dục, y tế, giúp đỡ tài chính cho người nghèo và các chương trình chi tiêu xã hội khác và nhờ khu vực tư nhân giúp các dự án cơ sở hạ tầng lớn theo chương trình hợp tác công- tư Những thách thức dài hạn bao gồm cải cách quản trị và hệ thống tư pháp, xây dựng hạ tầng, cải thiện khả năng dự báo và thuận lợi hóa kinh doanh, thu hút hơn nữa các khoản đầu tư trong và ngoài nước

1.2.2 Các chỉ số kinh tế

Trang 12

2011 2012 2013 2014 GDP (ppp) 397.5 tỷ USD 416.7 tỷ USD

(xếp hạng 33 toàn cầu)

454.3 tỷ 694.6 tỷ USD

Xếp hạng 30 toàn cầu

GDP (OER) 216.1 tỷ USD 240.7 tỷ 272.2 tỷ 289.7 tỷ USD

6.2%

Xếp hạng 30 toàn cầu

GDP theo đầu người 4,100 USD 4,300 USD

xếp hạng 162 toàn cầu

4,700 USD xếp hạng 165 toàn cầu

7,000 USD

Xếp hạng 153 toàn cầu

GDP theo ngành

Phân bổ lao động

theo ngành

Trang 13

111.36 tỷ Giảm 3.6%

126.29 tỷ USD

Tăng 13%

Kim ngạch xuất khẩu 47.23 tỷ

USD

52.17 tỷ Tăng 10.46%

47.45 tỷ Giảm 9%

53.36 tỷ USD

Tăng 12%

Mặt hàng chính Sản phẩm điện và phụ kiện, thiết bị giao thông, dệt

may, đồng, dầu khí, dầu dừa, hoa quả

Bạn hàng XK chính Nhật Bản 21%, Mỹ 15%, Trung Quốc 12%, Hong

Kong 8%, Singapore 7%, Hàn Quốc 6%, Đức 4%,

Kim ngạch nhập khẩu 62.68 tỷ 63.42 tỷ

USD tăng 1.18%

63.91 tỷ Tăng 0.8%

72.93 tỷ USD

Tăng 14%

Mặt hàng chính Máy móc thiết bị điện tử, khoáng chất, thiết bị giao

thông máy móc, quặng, thép, vải, hóa chất, nhựa

Bạn hàng NK chính Trung Quốc 13%; Mỹ 11%, Nhật Bản 8%, Hàn Quốc

8%, Singapore 7%, Thái Lan 6%; Saudi Arabia 4%,

Indonesia 4%

Trang 14

1.2.3 Môi trường đầu tư của Philippines

Lợi thế cạnh tranh: Philippines có lực lượng lao động chất lượng cao và có khả năng giao tiếp tiếng Anh rất tốt Chi phí trả cho lương công nhân, nhà ở và thực phẩm là khá thấp Môi trường chính sách kinh doanh thân thiện với nhiều lĩnh vực cho phép 100% sở hữu nước ngoài Philippines có vị trí địa lý chiến lược là cửa ngõ của khu vực kinh tế Đông Á với nhiều sân bay và cảng biển thuận lợi cho kinh doanh

Các đặc khu kinh tế được thành lập để phát triển đồng đều các ngành nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, du lịch… Philippines có nhiều đặc khu kinh tế như Industrial Estate để hỗ trợ các ngành công nghiệp; Export Processing Zones phục vụ cho các doanh nghiệp xuất khẩu, ngoài ra các khu hỗ trợ cho ngành du lịch, công nghệ thông tin…

Ảnh hưởng của Tây Ban Nha đối với văn hoá Philippines, bắt nguồn chính từ văn hoá Mexico và văn hoá Tây Ban Nha, là kết quả của hơn ba trăm năm chính quyền thuộc địa Những ảnh hưởng Tây Ban Nha đó hiện vẫn thấy trong các cách thức phong tục và những nghi tức liên quan tới nhà thờ Ki-tô giáo, đặc biệt là trong các lễ hội tôn giáo Hàng năm, người Philippines từ khắp nơi trong đất nước tổ chức những lễ hội gọi là Barrio Fiesta để tưởng nhớ các vị thánh bảo trợ cho thành phố, làng xã và các vùng Mùa

lễ hội được kỷ niệm với những ngày lễ nhà thờ, các cuộc diễu hành đường phố để vinh danh các vị thánh bảo trợ, những cuộc thi pháo, sắc đẹp và nhảy múa, và những cuộc thi chọi gà Tuy nhiên, di sản rõ ràng nhất của Tây Ban Nha là sự phổ biến của các tên họ Tây Ban Nha của người Philippines Nét đặc biệt này là duy nhất trong số các dân tộc ở

3 http://www.vcosa.org.vn/vi/phan-tich-thong-ke/ho-so-thi-truong/ho-so-thi-truong/2373/philippines.html

Trang 15

châu Á, là kết quả của một nghị định của chế độ thuộc địa về phân loại họ, và áp dụng hệ thống tên họ Tây Ban Nha đối với những người dân Philippines

Ảnh hưởng từ Trung Quốc đối với văn hoá Philippines có thể thấy rõ nhất trong ẩm thực tại nước này, ảnh hưởng này rất toàn diện Sự phổ biến của các loại mì, được gọi theo tiếng địa phương là mami, cũng như các loại thực phẩm khác như các món ăn từ thịt

là một bằng chứng rõ ràng về nguồn gốc Trung Quốc Các ảnh hưởng khác gồm một số tên họ mượn có nguồn gốc từ Trung Quốc

Ảnh hưởng văn hoá Hoa Kỳ đối với Philippines chỉ bắt đầu từ hơn một thế kỷ nay

Di sản lớn nhất là việc sử dụng rộng rãi tiếng Anh Môn thể thao được ưa chuộng nhất nước là bóng rổ Cũng có một số khuynh hướng văn hoá Mỹ khác đang phát triển như ưa thích thức ăn nhanh (fast-food) Ở Philippines, có rất nhiều điểm bán fast-food, và bên cạnh những ông khổng lồ Mỹ như McDonald's, Pizza Hut, Burger King, KFC, các cửa hàng bán đồ ăn nhanh trong nước cũng rất phát triển gồm Jollibee, Greenwich Pizza và Chowking Người Philippine cũng ưa thích nhạc Mỹ, nhảy theo điệu Mỹ, xem phim Mỹ

và các diễn viên truyền hình Mỹ Các quy định đạo đức bản địa về tôn trọng gia đình, kính trọng người già và thân thiện vẫn không bị thay đổi.4

1.6.2 Xã hội

Số người biết đọc, biết viết đạt 94,3%, nam: 95%, nữ: 94,3%

Mô hình giáo dục gần giống như của Hoa Kỳ Hầu hết trẻ em đến tuổi đều được đến trường Ở thành thị, phần lớn trẻ em theo học bậc trung học, trong bậc trung học có một năm dành cho huấn luyện quân sự Các trường trung và đại học quản lý theo những quy tắc của đạo Thiên Chúa Trường đại học Philippines ở Quezon City là trường có uy tín thế giới

Công tác chăm sóc y tế ở cả khu vực Nhà nước, tư nhân và tôn giáo đều tốt với những người có thu nhập cao Trẻ em được tiêm chủng miễn phí

Tuổi thọ trung bình đạt 66,58 tuổi, nam: 63,78, nữ: 69,8 tuổi

4 https://vi.wikivoyage.org/wiki/Philippines

Trang 16

Những danh thắng dành cho du lịch, nghỉ ngơi và giải trí: các khu nghỉ mát ở bãi biển, các khu phố cổ thời Tây Ban Nha đô hộ, núi lửa Ta-an, đảo Một trăm, đảo Vi-sa-y-a, các khu rừng nguyên thuỷ ở Min-đa-nao…5

1.6.3 Văn hóa kinh doanh

Ở Philippines, các vấn đề kinh doanh đều được giải quyết trực tiếp trong bầu không khí thân mật và cởi mở Trong khi rất nhiều doanh nhân Châu Âu luôn tuân thủ phương châm “thời gian là vàng bạc” thì người Philippines lại không thích nói trực tiếp Họ thích nói về bạn bè, gia đình, sở thích hay đơn thuần là chia sẻ những mẩu chuyện cười khi trò chuyện Chỉ khi các bên thiết lập được một bầu không khí thân mật thì việc đàm phán mới thực sự bắt đầu Và dù kết quả của cuộc đàm phán ra sao thì không khí thảo luận cũng luôn luôn vui vẻ

Đối với người Philippines, xây dựng một tình bạn, thiết lập một mối giao lưu thân tình và phát triển các mối quan hệ cá nhân chính là chất dầu bôi trơn cho bánh xe hợp tác kinh doanh chuyển động

1.6.3.1 Phong cách nói chuyện

Philippines là đất nước đa chủng tộc Vì vây, tầng lớp xã hội, xuất xứ, tuổi tác, giới tính…là những điều kiện quyết định mức độ thân mật, giọng nói, cử chỉ khi giao tiếp Thông thường, người Philippines luôn cố gắng tránh làm tổn thương người khác nên rất ít trả lời “không” cho các đề nghị hay các câu hỏi khác Thay vào đó, họ hay nói

“có lẽ…”, “có thể…”, ‘để tôi xem…”, “tôi sẽ cố gắng…” Khi nói chuyện, người Philippines luôn cố gắng bày tỏ quan điểm, ý kiến của mình theo cách ngoại giao nhất có thể

Khi giới thiệu hay chào đón một người nào đó, dù là nam hay nữ giới, người Philippines cũng đều có thói quen bắt tay Tuy nhiên, những cử chỉ tiếp xúc thân mật khác giữa hai giới lại không được ủng hộ ở đất nước Hồi giáo này

Giao tiếp qua mắt là một “kênh” truyền đạt quan trọng, nhất là trong những cuộc trò chuyện nghiêm túc Đó là một dấu hiệu tốt cho thấy sự tự tin của các bên khi trao đổi Tuy nhiên, khi một người từ chối hay ngại thực hiện cử chỉ này, chỉ đơn giản là người đó đang thấy xấu hổ

5 http://vietnamexport.com/nuoc-lanh-tho/151/tong-quan.html

Trang 17

Người Philippines rất chuộng giao tiếp không qua ngôn ngữ Ví dụ như để tỏ ý đồng tình hay chào đón một người bạn, họ nhướn mày Và bạn sẽ bị coi là mất lịch sự nếu đi qua trước mặt người khác hay chen ngang vào giữa những người đang nói chuyện với nhau Nếu buộc phải làm như vậy, theo phong cách của một người Philippines lịch sự, bạn phải chìa một hoặc cả hai cánh tay của mình ra với bàn tay nắm chặt và chỉ xuống phía dưới

1.6.3.2 Ngôn ngữ

Tiếng Anh là ngôn ngữ được sử dụng chủ yếu trong kinh doanh ở Philippines Hầu hết hợp đồng, thư từ và các tài liệu liên quan khác đều được viết bằng tiếng Anh Tuy nhiên, những người Philippines lại thích nghe “Taglish”- sự kết hợp giữa tiếng Anh

và tiếng Tagalog (tiếng địa phương của người Philippines) hay nghe cả hai thứ tiếng đó được sử dụng trong cùng một cuộc đối thoại Người Philippines cũng có thể trình bày ý kiến của mình đơn thuần qua ngôn ngữ cử chỉ như một cái nhướn mày hay một nụ cười mỉm Tin nhắn qua điện thoại di động cũng đang dần trở thành một sự lựa chọn đáng chú

ý cho người dân Philippines

1.6.3.3 Gặp gỡ, đàm phán

Khi sắp xếp một cuộc hẹn, đặc biệt là với các cơ quan Chính phủ, sẽ rất thuận lợi cho bạn nếu có trung gian hoặc một người nào đó đã có liên hệ trước với cơ quan bạn muốn làm việc nhân danh bạn đứng ra giới thiệu đôi chút Người Philippines thích gặp gỡ vào buổi chiều hoặc giữa giờ làm việc buổi sáng

Trước ngày hẹn gặp một ngày, bạn nên gọi điện để xác định lại cuộc gặp gỡ đó Làm việc với đối tác Philippines, bạn phải làm quen với việc đến muộn ít nhất là 15 phút của họ Và với các đối tác quan trọng, khoảng thời gian chờ đợi này có thể còn lâu hơn Sau màn trao đổi ngắn tiếp theo phần giới thiệu, cuộc gặp gỡ đàm phán với đối tác Philippines sẽ chỉ tập trung vào chương trình nghị sự đã được lên lịch

Trong cuộc gặp gỡ đầu tiên, không nhất thiết các bên phải đạt được kết quả thỏa thuận nào đó Tuy nhiên, người Philippines là những đối tác dễ chịu, thường có trách nhiệm theo đuổi các cuộc trao đổi, đàm phán đến cùng Sẽ mất nhiều thời gian hơn để đạt được thỏa thuận hay hợp đồng với người Phiplipines nếu so với đối tác Châu Âu

Trang 18

Hơn nữa, cũng giống như những nền văn hóa Châu Á khác, người Philippines rất tránh việc “mất mặt” ở nơi công cộng Bởi vậy, họ thích làm việc trong bầu không khí êm đềm, dè dặt và tránh đối đầu trực tiếp Họ thường trả lời một cách lịch thiệp kèm theo một nụ cười thay vì phản ứng một cách trực diện và gay gắt trước các ý kiến khác của đối tác Một câu trả lời “có” có thể bao hàm rất nhiều nghĩa Bởi vậy, làm việc với người Phiplipines, bạn cần ý thức về sự khôn khéo, tế nhị trong mỗi lần trao đổi

Người Philippines có những nghi thức của riêng họ Ví dụ, họ sẽ dùng chức danh để gọi một người nào đó nhằm bày tỏ sự kính trọng của mình cho dù đôi lúc những người này lại thích một cách tiếp cận ít nghi thức hơn sau lời giới thiệu chính thức (như gọi bằng tên hiệu chẳng hạn) Khi đàm phán công việc với các nhân viên cao cấp của Chính phủ hay quân đội, tốt nhất là nên gọi họ bằng chức danh tranh trọng (ví dụ như “Tướng Anfonso” hay “Bộ trưởng Flore”…)

Trao đổi danh thiếp là một công việc bắt buộc khi đàm phán với người Philíp-pin dù rằng cách thức trao đổi có phần thoải mái hơn so với các nền văn hóa khác Khi một đối tác Philippines đưa cho bạn số điện thoại cá nhân của họ (số nhà riêng hoặc số di động) ngoài những thông tin trong danh thiếp, điều đó có thể coi là một lời mời gọi đến hoặc là một dấu hiệu tốt cho việc thiết lập một mối quan hệ thân mật

Quan tâm đến các nghi thức xã giao nơi văn phòng cũng là một điều rất quan trọng

Ví dụ như khi khiển trách nhân viên, người Philippines sẽ đưa họ ra ngoài và trao đổi riêng Hãy lịch sự đến mức tối đa có thể và hãy luôn nhớ kết thúc mọi cuộc gặp gỡ như thế này với những lời hỏi han đến gia đình người bị khiển trách để làm cho anh ta cảm thấy mình vẫn là thành viên của công ty và việc khiển trách không phải là việc cá nhân Một lần nữa cần phải nhắc lại, tuyệt đối tránh làm cho khách bị “mất mặt”.'

1.6.3.4 Ăn uống

Việc hẹn ăn trưa hoặc tối cho mục đích công việc sẽ được sắp xếp một cách cá nhân qua điện thoại và sẽ được thư ký xác nhận lại Thông thường, người mời sẽ là người trả tiền cho bữa ăn đó Người được mời sẽ không gọi những món đắt tiền nhất trong thực đơn trừ phi người mời nhất định yêu cầu như vậy Uống một chút gì đó trước khi ngồi vào bàn ăn là một tập quán khác trong ăn uống của người Philippines Bữa ăn sẽ diễn ra một cách thoải mái, vui vẻ và hạn chế đến mức tối đa những nghi thức xã giao Chỉ sau

Trang 19

khi thiết lập được một bầu không khí vui vẻ, thường là sau món súp hoặc rượu khai vị, công chuyện làm ăn mới được đưa ra thảo luận

1.6.3.5 Trang phục

Trang phục mùa hè, thường mặc ở các vùng có khí hậu ôn hòa sẽ phù hợp ở đất nước Hồi giáo này Nam giới có thể mặc áo sơ mi ngắn hoặc dài tay, thắt ca vát mà không cần mặc áo khóac Cả những trang phục không đồng bộ hay “barong tagalog” (áo

sơ mi dài tay, may từ chất liệu nhẹ và không thắt ca vát) cũng được chấp nhận ở Philippines Phụ nữ thường mặc áo sơ mi vải nhẹ với váy

1.6.3.6 Các vấn đề khác

Về thể hiện cảm xúc, người Philippines khá thoải mái khí thể hiện cảm xúc của

mình Tuy nhiên, ở nơi công cộng, họ thường không biểu lộ sự giận dữ của mình nhằm tránh trở nên thô lỗ Việc bắt tay, ôm choàng qua vai đều được chấp nhận ở Philippines

Về cách nói chuyện, người Philippines rất dễ kết bạn Họ đều rất chân tình và hiếu

khách Trong khi trò chuyện, họ cười rất nhiều và điều đó khiến cho người lạ hoặc người nước ngoài cảm thấy thực sự thoải mái và gần gũi Họ rất dễ dàng bắt chuyện với người ngồi ngay cạnh mình

Muốn để lại ấn tượng tốt khi gặp gỡ người Philippines lần đầu, hãy tỏ ra thân thiện, giản dị và thể hiện sự quan tâm thực sự của mình đến nền văn hóa của họ Đừng khoe khoang sự giàu có của bản thân Cũng đừng ăn mặc quá lố, đặc biệt ở những vùng chủ yếu theo đạo Hồi

Người Philippines rất có khiếu hài hước Họ luôn luôn tìm ra được một được một điều gì đó để cười Ngay cả những câu chuyện bên lề về tình hình kinh tế chính trị xã hội cũng có thể trở thành các câu chuyện cười với họ Tuy nhiên, người nước ngoài không nên bình luận về tình hình chính trị hay tôn giáo ở xứ sở này Về các cuộc xung đột, tranh chấp văn hóa xã hội, hãy lắng nghe và đừng bày tỏ ý kiến của mình suốt trong cuộc trao đổi Những chủ đề được ưa thích nhất là gia đình (người Philippines rất thích nói về gia đình họ), xuất xứ và lý do vì sao bạn đến Philippines

Hầu hết người Philippineses không ngại khi bị hỏi về tuổi tác Vì thế mà việc họ hỏi tuổi bạn thì cũng là lẽ thường Khi nói chuyện với người lớn tuổi hoặc những người có

Trang 20

địa vị, hãy sử dụng cách nói trang trọng (po/ho) để bày tỏ sự tôn trọng tới họ (ví dụ: Good morning po/ho)

Về giờ làm việc, các doanh nghiệp nhà nước ở Philippines thường bắt đầu làm việc

từ 8h sáng và kết thúc vào 5h chiều hoặc từ 9h sáng đến 6h chiều với 1 tiếng để ăn trưa Một số các công ty tư nhân thì làm việc sáng thứ bảy từ 9h sáng đến trưa

Hầu hết các ngân hàng mở cửa từ 9h sáng đến 3h chiều Các doanh nghiệp thường nghỉ hai ngày thứ bảy và chủ nhật Trung tâm mua sắm, các cửa hàng và siêu thị mở cửa

từ thứ hai đến thứ sáu từ 9h sáng cho tới 19h30

Về bí quyết kinh doanh với người Philippines, nếu đến làm ăn, thương thuyết tại

Philippines, điều quan trọng nhất cho các đối tác nước ngoài là phải biết kiềm chế cảm xúc, đừng nóng nảy, giận dữ

Hiện nay, tiếng Anh và tiếng Phi (gọi là Tagalog) là ngôn ngữ chính của Philippines

Về tập quán trong nhận thức, tại Philippines mọi người rất thích chuyện trò, do vậy,

người xứ này rất cởi mở với những luồng thông tin khác nhau Nhưng đừng vì vậy mà cho rằng nhận thức của họ dễ dàng thay đổi

Cũng như phong cách truyền thống Đông phương, người Philippines có khuynh hướng xử lý các thông tin theo cảm xúc chủ quan, hơi nghiêng về các yếu tố tình cảm

Họ đánh giá đối tượng trên cơ sở nào?

Chân lý được Philippines thừa nhận thường đến từ các cảm xúc trực tiếp Mặc dù chân lý này còn được họ phối kiểm với các đức tin tôn giáo trước khi thừa nhận, nhưng rất ít khi họ quan tâm đến các số liệu, dẫn chứng khách quan

Họ xử sự theo chuẩn mực nào?

Như đã thấy trong bối cảnh lịch sử, hệ thống giá trị tạo ra chuẩn mực của người Philippines ảnh hưởng từ các nguồn khá đa dạng: văn hóa, bản địa, Trung Hoa, Hồi giáo, Tây Ban Nha và Mỹ…

Họ quyết định trong hoàn cảnh nào?

Philippines, cá nhân hành động trong mối tương quan của nhóm xã hội mà họ phụ thuộc, trong đó gia đình là quan trọng nhất Mỗi cá nhân không bao giờ tự cho rằng họ có

Trang 21

quyền nói tiếng nói chung cuộc khi chưa tìm được sự nhất trí của nhóm Và họ luôn quyết định trong mối tương quan đó

Người Philippines thường muốn tìm hiểu về bạn trước, nên họ hay hỏi về xuất thân của bạn Thay vì chủ động bày tỏ ý tưởng nhận xét của họ, người Philippines có thói quen thường chờ bạn bày tỏ trước và thông qua việc đáp lại thái độ của bạn, họ bày tỏ quan điểm của mình

Điều tạo ra sự yên tâm: Gia đình là nơi người Philippines cảm thấy được che chở an toàn nhất Bên cạnh đó là tôn giáo và các truyền thống xã hội

Quan niệm về bình đẳng: Do nhiều nguồn ảnh hưởng khác nhau, người Philippines rất xem trọng dân chủ, tôn trọng tự do cá nhân, các quyền bình đẳng về giáo dục và báo chí Địa vị xã hội cũng được chú ý nhiều trong xã hội này, đôi khi nó biến thành một cuộc “đua” quyết liệt Về sắc tộc, người có màu da sáng hơn thường được xem trọng hơn.6

1.7 Khái quát về hệ thống pháp luật ở Philippines

Hệ thống pháp luật của Philippines dựa trên cơ sở truyền thống án lệ (common law) Tổ chức bộ máy Nhà nước của Phillippines giống với mô hình tổ chức bộ máy Nhà nước của Hoa Kỳ Quyền lực Nhà nước được phân chia theo học thuyết tam quyền phân lập Đứng đầu cơ quan hành pháp là Tổng thống do nhân dân bầu ra Quốc hội chịu trách nhiệm lập pháp còn tư pháp được giao cho Toà án Xin giới thiệu hai cơ quan tư pháp của Phillippines là Bộ Tư pháp và Toà án

1.7.1 Bộ Tư pháp của Philippines

Bộ Tư pháp của Philippines là cơ quan pháp luật của Chính phủ

Chức năng nhiệm vụ của Bộ Tư pháp như sau:

- Là cơ quan pháp luật của Chính phủ, tư vấn pháp lý và đại diện của Chính phủ khi

có yêu cầu;

- Điều tra tội phạm, khởi tố và quản lý hệ thống quản chế và phục hồi nhân phẩm;

- Trợ giúp pháp lý cho những người nghèo trong các vụ án hình sự hoặc các tranh chấp dân sự phi thương mại;

6 http://exporthelp.asia/en/market-intelligence/itemlist/user/54-exporthelpasia

Trang 22

- Thống nhất quản lý hệ thống đất đai thông qua hệ thống đăng ký;

- Điều tra và trọng tài đối với tranh chấp đất vô chủ liên quan tới người sở hữu đất nhỏ và các thành viên của dân tộc thiểu số;

- Quản lý việc nhập cư, hộ tịch;

- Cung cấp dịch vụ pháp lý cho Chính phủ quốc gia và các chức năng của nó bao gồm các tập đoàn của nhà nước hoặc do nhà nước kiểm soát và các chi nhánh của nó;

- Thực hiện các chức năng khác theo quy định của pháp luật

Bộ Tư pháp bao gồm các đơn vị chức năng sau:

- Phòng Trị sự;

- Văn phòng tư vấn của luật sư Chính phủ cho công ty Nhà nước;

- Cục điều tra quốc gia;

- Văn phòng Chưởng lý;

- Ban Đặc xá và ân xá;

- Ban Quản lý quản chế;

- Cục Phục hồi nhân phẩm;

- Ban đăng ký đất đai;

- Uỷ ban giải quyết tranh chấp các vấn đề về đất đai;

- Văn phòng luật sư công

- Giúp Bộ trưởng thực hiện việc giám sát và quản lý các dịch vụ tố tụng quốc gia theo quy định của pháp luật

Trang 23

- Thực hiện các chức năng khác theo quy định của pháp luật và yêu cầu của Bộ trưởng

Văn phòng tư vấn luật của Chính phủ cho doanh nghiệp nhà nước

Văn phòng tư vấn luật công ty của Chính phủ hoạt động như là văn phòng luật của các công ty của Chính phủ và do Chính phủ kiểm soát và các công ty có vốn của Chính phủ và quản lý các văn phòng luật của các công ty này

Cục điều tra Liên bang

Cục điều tra liên bang được trao quyền điều tra các tội phạm và các hành vi phạm tội theo luật của Philippines, cả vì động cơ của Chính phủ lẫn vì mục đích của cộng đồng Cục điều tra sẽ lưu giữ hồ sơ hình sự và tất cả các thông tin cần thiết để sử dụng cho việc buộc tội và thực thi pháp luật của các cơ quan của Philippines, lưu giữ hồ sơ nhận dạng của tất cả các công dân dù chưa bị buộc tội hình sự, hồ sơ về đặc điểm nhận dạng của việc sở hữu súng đạn

Văn phòng Luật sư công

Văn phòng này có trách nhiệm cung cấp các dịch vụ pháp lý cho người nghèo và bị can

1.7.2.2 Toà án khu vực

Toà án khu vực của được chia thành 13 khu vực toà thủ đô và toà I đến XII Toà án khu vực có thẩm quyền đối với các vụ án hình sự trừ những vụ thuộc thẩm quyền của Toà án quận, thành phố và theo quy định của pháp luật Đối với các vụ án dân sự, Toà

Trang 24

khu vực có thẩm quyền đối với tất cả các vụ dân sự mà tài sản hoặc yêu cầu từ 20.000 pêso trở lên

1.7.2.3 Toà Sharia

Ở một số tỉnh ở vùng phía Nam Mindanao theo luật của đạo hồi đối với luật tư, có 5 toà án quận được thành lập nó tương đương với toà khu vực và có 51 toà hạt tương đương với toà quận bình thường

1.7.2.4 Toà phúc thẩm thuế

Đây là toà có thẩm quyền phúc thẩm đặc biệt nhằm phúc thẩm các quyết định của

Uỷ ban doanh thu quốc gia và Uỷ ban hải quan

1.7.2.5 Toà phúc thẩm

Toà phúc thẩm phúc thẩm các vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án quận, cơ quan, ban, Uỷ ban bán tư pháp Các quyết định của Toà phúc thẩm có thể bị phúc thẩm của Toà

án tối cao

1.7.2.6 Toà tối cao

Toà tối cao có thẩm quyền xét xử cao nhất Toà tối cao phúc thẩm các vụ án của Toà phúc thẩm Toà tối cao có nhiệm vụ hướng dẫn xét xử Toà án Tối cao gồm có Chánh án và 14 Phó Chánh án

1.4.3 Một số đặc điểm

- Hệ thống pháp luật Philippin hình thành bởi quá trình phối kết giữa các tục lệ truyền thống với các quy tắc mới

- Hệ thống pháp luật của Philippines đang ngày càng có xu hướng coi luật thực định

là nguồn cơ bản của hệ thống pháp luật

- Hệ thống pháp luật Philippines gắn liền với sự ra đời của cơ quan lập pháp quốc gia

- Hiến pháp có vai trò quan trọng nhất trong hệ thống pháp luật với hiệu lực trực tiếp, chi phối các hoạt động chính trị vĩ mô

- Hệ thống pháp luật Philippin chịu sự ảnh hưởng của án lệ Toà án (Luật của các quan toà)

Trang 25

Qua việc điểm lại quá trình hình thành, những đặc điểm của hệ thống pháp luật và một số luật cụ thể của Philippines Bước đầu có thể rút ra một số kết luận như sau:

Thứ nhất, hệ thống pháp luật Philippines có nguồn gốc từ sự kết hợp giữa các phong tục tập quán của người bản xứ với các quy định mới Lúc đầu án lệ, luật tục có vai trò chi phối rất lớn trong hoạt động điều chỉnh pháp luật Về sau, khi đã giành được độc lập, do thực hiện chính sách chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang phát triển công nghiệp để tăng trưởng, cùng với nó là sự phát triển các tiến bộ xã hội v.v., các quy định của luật thực định ngày càng nhiều và giữ vai trò chi phối chính hệ thống pháp luật có dáng dấp của dòng hệ thống luật nước Mỹ này

Thứ hai, về hình thức, pháp luật Philippin có khá đa dạng với nhiều nguồn khác nhau theo hệ thống thứ bậc của các loại văn bản, nguồn khác nhau Có thể sơ đồ hoá nguồn luật của hệ thống pháp luật Philippin như sau:

Văn bản Quốc hội

Trang 26

Bản án

(án lệ)

Quyết định

Chỉ thị

Điều ước, hiệp ước, hiệp định, tập quá quốc tế 7

Thứ ba về nội dung, hệ thống pháp luật Philippin có phạm vi điều chỉnh tương đối toàn diện trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Tuy nhiên, do chịu ảnh hưởng của dòng thông luật Mỹ nên các luật gia Philippin không coi trọng việc phân chia các ngành luật trong hệ thống pháp luật mà chỉ xác định một cách tương đối nhóm những luật điều chỉnh các quan hệ xã hội theo từng lĩnh vực Chẳng hạn nhóm những luật điều chỉnh quan hệ về tổ chức nhà nước có Hiến pháp, Luật số 6656 năm 1987 quy định những nguyên tắc cơ bản cho việc tái cấu trúc lại nên hành pháp, Luật về tổ chức ngành Tư pháp năm 1980 v.v Hoặc nhóm các quy định điều chỉnh các quan hệ về đất đai có Luật đất công năm 1906, Luật lĩnh canh nông nghiệp năm 1954 v.v Hay nhóm các luật điều chỉnh

về xuất nhập khẩu có Luật khuyến khích xuất khẩu năm 1970 v.v Nhóm các luật điều chỉnh các quan hệ về tài chính - ngân hàng có Luật cấm cho vay nặng lãi v.v.8

1.8 Quan hệ Việt Nam – Philippines và các hiệp định

1.8.1 Ngày thiết lập ngoại giao với Việt Nam: 12/7/1976

Quan hệ hai nước hiện đang phát triển tốt đẹp trên hầu hết các lĩnh vực chính trị, kinh tế, thương mại-đầu tư, khoa học-kỹ thuật, an ninh-quốc phòng, nông nghiệp, thủy hải sản…

1.8.2 Về chính trị

Hai nước đã ký Tuyên bố chung về "Khuôn khổ Hợp tác song phương trong 25 năm đầu thế kỷ 21 và thời kỳ tiếp theo" (nhân chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Arroyo năm 2002) và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao hai nước đã ký Chương trình Hành động 2007 –

2010 nhằm triển khai Tuyên bố chung nhân chuyến thăm chính thức Philippines của Thủ

7 http://www.kilobooks.com/khung-phap-ly-ve-luat-doanh-nghiep-o-philippines-395817

8 http://thuvien.ued.vn:8080/dspace/bitstream/TVDHSPDN_123456789/12114/1/000000CVv225S122004069.pdf

Trang 27

tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng (8/2007) Hai bên thường xuyên tiến hành các cuộc trao đổi đoàn và tiếp xúc cấp cao Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm Philippines (tháng 8/2007) và có cuộc gặp với Tổng thống Arroyo bên lề Hội nghị cấp cao ASEAN-Hàn Quốc tại Chechu (tháng 6/2009) và Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Gia Khiêm gặp Ngoại trưởng Phi-líp-pin bên lề Hội nghị AMM tại Thái Lan (tháng 7/2009)…

1.8.3 Hợp tác biển

Đây là một trong những trụ cột chính trong quan hệ hợp tác hai nước Trong những năm qua, hợp tác biển giữa Việt Nam và Phi-líp-pin không ngừng được củng cố và mở rộng trên nhiều lĩnh vực: nghiên cứu khoa học biển (JOMSRE), thăm dò địa chấn chung (JMSU), hợp tác hải quân, tìm kiếm cứu nạn, ứng phó sự cố tràn dầu, thủy sản, khí tượng thủy văn biển, phối hợp lập trường trên các diễn đàn quốc tế và khu vực…

1.5.4 Kinh tế, đầu tư, thương mại

- Về thương mại: kim ngạch thương mại hai nước tăng dần đều qua các năm, từ 541 triệu USD năm 2000 lên khoảng 2,2 tỷ USD năm 2008 trong đó ta xuất 1,8 tỷ USD (1,17

tỷ USD là xuất khẩu gạo) và nhập 400 triệu USD, vượt trước mục tiêu đạt 2 tỷ USD cho năm 2010 Do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính, trong 9 tháng đầu năm

2009, kim ngạch hai nước đạt khoảng 1,5 tỷ USD, trong đó ta xuất 1,17 tỉ USD (giảm 25% so với cùng kỳ năm trước) và nhập 310 triệu USD (tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước) Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của ta sang Philippines là gạo, linh kiện điện tử và hàng nông sản, nhập của Philippines chủ yếu là phân bón, máy móc thiết bị phụ tùng, khoáng chất, khí hóa lỏng, xăng dầu, dược phẩm, vật liệu xây dựng

- Gạo là mặt hàng chủ lực của ta xuất sang Philippines trong nhiều năm qua, chiếm

60 – 70% kim ngạch xuất khẩu Trung bình ta xuất khẩu từ 1,5 - 1,7 triệu tấn/năm cho Phi-líp-pin.9

- Về đầu tư: Tính đến năm 2014, Philippines có 70 dự án đầu tư tại Việt Nam với tổng số vốn đầu tư là 294 triệu USD, đứng thứ 31 trong hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, và đứng thứ 6 trong các nước ASEAN,

Trong năm 2014, Philippines có 5 dự án đầu tư vào Việt Nam với tổng số vốn 0,3

9

http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/NuocCHXHCNVietNam/ChiTietVeQuocGia?diplomacyNatio nId=247&diplomacyZoneId=85&vietnam=0

Trang 28

- Các mặt hàng Việt Nam trao đổi chính với Philippines năm 2014

Kim ngạch nhập khẩu từ Philippines Trị giá triệu USD Mức thay đổi % so

Trang 29

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng

khác

Kim ngạch xuất khẩu đi Philippines Trị giá triệu USD Mức thay đổi %

so với 2013 Tổng số: 2,321 triệu USD

Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng

khác

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện 121 22.22

1.5.9 Về nông nghiệp

Quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Viện nghiên cứu lúa quốc tế ở Philippines (IRRI) được thiết lập từ năm 1968 Hiện có khoảng 60-70% diện tích trồng lúa ở Việt Nam đang áp dụng những tiến bộ kỹ thuật về canh tác lúa và các giống lúa mang nguồn gốc IRRI IRRI đã tài trợ cho hơn 600 lượt cán bộ nghiên cứu Việt Nam Hiện bình quân

Trang 30

mỗi năm có khoảng hơn 100 lượt các nhà khoa học và cán bộ nghiên cứu của IRRI sang Việt Nam và 60-70 lượt các nhà khoa học Việt Nam sang IRRI học tập và làm việc Việt Nam đã đóng góp cho IRRI hơn 600.000 USD (thông qua tài trợ của Chính phủ Ôxtrâylia)

1.5.10 Về giáo dục

Đây là lĩnh vực rất tiềm năng giữa hai nước Hiện có khoảng 500 sinh viên Việt Nam đang học đại học, thạc sĩ, tiến sĩ bằng học bổng hoặc từ nhiều nguồn khác nhau tại Philippines và con số này đang tăng nhanh

1.5.8 Các cơ chế hợp tác

- Ủy ban Hỗn hợp về hợp tác song phương Việt Nam – Philippines: Tháng 3/1994, hai nước ký thoả thuận thành lập Ủy ban về hợp tác kinh tế, khoa học và kỹ thuật (Ủy ban Hỗn hợp) giữa hai Chính phủ đến nay đã tiến hành các lần họp: lần thứ 1 tại Manila năm 1995, lần thứ 2 tại Hà Nội năm 1997, lần thứ 3 tại Manila năm 2003, lần thứ 4 tại Hà Nội năm 2005, lần thứ 5 tại Manila năm 2008

- Nhóm công tác chung thường niên về các vấn đề biển và đại dương (JPWG): Bộ Ngoại giao hai nước đã luân phiên tổ chức các Cuộc họp Nhóm Công tác chung thường niên Việt Nam – Philippines về các vấn đề biển và đại dương (lần 1 năm 2004; lần 2 năm 2005; lần 3 năm 2006; lần 4 năm 2007; lần 5 năm 2009) Mục đích là để kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện các thỏa thuận từ các cuộc họp trước và trao đổi phương hướng hợp tác trong một số lĩnh vực (bảo vệ môi trường biển, khí hậu biển, an toàn hàng hải, quản lý thủy sản) cũng như phối hợp tại các diễn đàn quốc tế liên quan đến biển

1.5.9 Các chuyến thăm

a/ Về phía Việt Nam có: Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh (01/1978); Thủ

tướng Phạm Văn Đồng (9/1978); Thủ tướng Võ Văn Kiệt (02/1992); Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh (5/1993); Phó Thủ tướng Trần Đức Lương (12/1993); Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm (02/1995); Chủ tịch nước Lê Đức Anh (12/1995); Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn (6/1998); Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm (7/1998); Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên (6/2000); Chủ tịch Trần Đức Lương thăm chính thức (11/2001); Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên họp Ủy ban Hỗn hợp lần 3 (2/2003); Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An thăm chính thức (12/2003); Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng dự Hội nghị AIPO lần thứ 27 tại Cebu

Trang 31

(9/2006); Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tham dự Hội nghị Cấp cao ASEAN 12 tại Cebu (1/2007); Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm chính thức Phi-líp-pin (8/2007) Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm thăm chính thức và đồng chủ trì Ủy ban hỗn hợp hai nước (02/2008) Bộ trưởng Bộ Công An Lê Hồng Anh thăm chính thức (2/2009)

b/ Về phía Philippines có: Ngoại trưởng R.Manglapus (1988); Chủ tịch Hạ nghị

viện Ramon Mitra (1991); Bộ trưởng Ngoại giao Roberto Romulo (1992); Tổng thống F Ramos (1994); Bộ trưởng Ngoại giao Domingo L Siazon Jr (1997 và 1999); Tổng thống

J Estrada (1998); Cựu Tổng thống Fidel Ramos (1999); Chủ tịch Hạ viện De Venecia (1999 và 2002); Tổng thống Arroyo thăm chính thức (11/2002); cựu Tổng thống A-ki-nô (2/2003); Ngoại trưởng Delia Domingo Albert thăm chính thức (3/2004); Chủ tịch Thượng viện Drilon (4/2004) Tổng thống Arroyo dự ASEM 5 tại Hà Nội (10/2004); Bộ trưởng Nông nghiệp Bộ trưởng Ngoại giao Phi-líp-pin Rô-mu-lô thăm chính thức và đồng chủ trì cuộc họp lần 4 Ủy ban Hỗn hợp (11/2005); Tổng thống Arroyo dự APEC 14 tại Hà Nội (11/2006); Bộ trưởng Nội vụ và Chính quyền địa phương (5/2009); Ngoại trưởng Romulo dự FMM 9 (5/2009)

1.5.10 Các văn kiện ký kết giữa Việt Nam và Philippines

- Hiệp định Hợp tác Kinh tế, Khoa học và Kỹ thuật (1/78)

- Hiệp định Thương mại (1/78); Hiệp định Vận chuyển Hàng không (11/88)

- Nghị định bổ sung danh mục hàng hoá buôn bán (3/1990)

- Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ Đầu tư (2/92)

- Hiệp định Vận tải Hàng hải (2/92);

- Bản ghi nhớ về hợp tác liên doanh trong một số lĩnh vực của nông nghiệp (- 3/92);

- Hiệp định thành lập Uỷ ban hỗn hợp về Thương mại và Kinh tế Việt Nam - Philipines (2/92);

- Hiệp định Hợp tác Văn hoá (3/94);

- Hiệp định Hợp tác Du lịch (3/94);

- Thoả thuận lập Uỷ ban Hỗn hợp (3/94);

- Nghị định thư về danh mục hàng hoá trao đổi giữa hai nước (3/94);

Trang 32

- Bản ghi nhớ về các nguyên tắc hồi hương người Việt nam không phải tỵ nạn ở Philippines (5/2/1995);

- Nghị định thư về du lịch (7/95);

- Bản ghi nhớ về việc ký lại Hiệp định Thương mại mới (11/95);

- Tuyên bố chung về nguyên tắc 9 điểm giải quyết tranh chấp ở Biển Đông (11/95);

- Kế hoạch Hành động về giáo dục nhằm thực hiện Hiệp định Văn hoá (11/95);

- Hiệp định Hợp tác Khoa học Kỹ thuật (4/96);

- MOU về nghiên cứu chung về biển (5/4/1996);

- Bản ghi nhớ về miễn thị thực cho người mang hộ chiếu ngoại giao (1/97);

- Bản ghi nhớ về miễn thị thực cho người mang hộ chiếu công vụ và cấp thị thực nhanh cho người mang hộ chiếu phổ thông (12/98);

- Hiệp định hợp tác giữa hai Chính phủ về phòng và chống các tội phạm hình sự (12/98);

- Thoả thuận về hợp tác Nông nghiệp (10/1999);

- Nghị định thư về Hợp tác Văn hóa (8/2007)

- Bản thỏa thuận về Hợp tác Xúc tiến Thương mại (8/2007); Chương trình hành động giai đoạn 2007-2010 (ký 8/2007).11

11

http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/NuocCHXHCNVietNam/ChiTietVeQuocGia?diplomacyNatio nId=247&diplomacyZoneId=85&vietnam=0

Trang 33

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ KINH DOANH 2.1 Điều kiện đầu tư

Các luật đầu tư nước ngoài của Philippines gần đây cho thấy nước này đã vượt qua một lập trường dân tộc và bây giờ là tuân theo việc mở cửa đất nước để tăng đầu tư nước ngoài Những luật này đã phải chịu đựng qua nhiều chính quyền tổng thống, phục vụ như

là một minh chứng cho sự ủng hộ của họ Tuy nhiên, năm 2004 cuộc khủng hoảng tài chính mà quốc gia này phải đối mặt, và vẫn đang phải đối mặt, chứng tỏ rằng chính phủ Philippine phải làm nhiều hơn để thu hút những khoản đầu tư không thể thiếu cho một nền kinh tế phát triển mạnh

Vào tháng 8 năm 2004, Chính phủ Philipine phải đối mặt với cuộc khủng khoảng tài chính mà chủ yếu là do sự thất bại ttrong việc thu hút đầu tư nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài liên quan đến “toàn bộ hoặc 1 phần quyền sở hữu của một thực thể kinh doanh ở một nước (nước chủ nhà) của cư dân, hoặc một công ty nằm trong, một nước khác (nước nhà)” Đầu tư nước ngoài là không thể thiếu trong nền kinh tế Philippines vì

nó cung cấp cơ hội việc làm cho người dân, giảm nợ của đất nước, và cho phép người Philippines có thể cạnh tranh với các quốc gia khác Đối mặt với sự cạnh tranh từ các nước khác, đặc biệt là Trung Quốc và Việt Nam, đầu tư ròng từ nước ngoài của Philippines giảm từ mức đỉnh cao của $2.2 tỉ trong năm 1998 xuống chỉ còn $318 triệu trong năm 2003 Trong khi con số này đã bắt đầu tăng phần nào trong hai năm qua, rõ ràng Philippines phải làm nhiều hơn để giải quyết vấn đề này

Đây không phải là lần đầu tiên các quốc gia Đông Nam Á quan tâm hơn đến con số đầu tư nước ngoài của mình Năm 1991, Quốc hội Philippines đã thông qua Luật Đầu tư nước ngoài, nhằm cải thiện việc đầu tư của nước ngoài vào Philippines 12

Chính phủ công nhận vai trò quan trọng của đầu tư khu vực tư nhân Do đó, cam kết tiếp tục nâng cao môi trường kinh doanh Đầu tư nước ngoài được khuyến khích để lấp vào những khoảng trống về vốn, giúp cung cấp việc làm, tăng sản lượng và cung cấp một

cơ sở cho sự phát triển chung của nền kinh tế 13

12 Philippines_Bài viết sửa đổi pháp luật quản lý sở hữu tài sản

13 Bài viết về đầu tư nước ngoài_Primer On Foreign Investment In The Philippines

Trang 34

Chính sách đầu tư nước ngoài của Philippines là chính sách của nhà nước để thu hút, cải tiến các cơ hội đầu tư từ các cá nhân, đối tác, công ty, chính phủ nước ngoài kể cả các đơn vị, tổ chức chính trị trong tất cá các lĩnh vực nhằm đóng góp tích cực cho công cuộc công nghiệp và phát triển kinh tế xã hội của đất nước Bên cạnh đó, đầu tư nước ngoài còn cho phép đến các hoạt động mà Hiến pháp và các luật tương ứng quy định Đầu tư nước ngoài sẽ khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng sinh kế và cơ hội việc làm cho người Philippines; tăng cường giá trị kinh tế của các nông sản; thúc đẩy sự thịnh vượng của người dân; mở rộng phạm vi, chất lượng và số lượng xuất khẩu, cách tiếp cận đến thị trường thế giới; và/hoặc chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp, công nghiệp

và dịch vụ Đầu tư nước ngoài được chào đón như là một yếu tố bổ sung cho vốn và công nghệ của người dân Philippines nhằm mục đích chính phục vụ thị trường trong nước

2.1.1 Sự xem xét đầu

Philippines, với vị trí chiến lược của mình, là một cánh cổng để bước vào thị trường Châu Á rộng lớn

Các điểm hấp dẫn khiến nơi này trở thành một điểm đến đầu tư hấp dẫn bao gồm:

- Một khu vực với nhiều người nói tiếng Anh được đánh giá cao khả năng có thể được đào tạo Những khả năng và thành tích của họ như những người công nhân, kỹ thuật viên, chuyên gia và các nhà quản lý đã được khẳng định trong các bài đăng về các công

ty nước ngoài hoạt động tại Philippines và ngoài nước

- Một thị trường đầy tiềm năng đối với những sản phẩm tiêu dùng nhờ vào nguồn dân số phát triển nhanh của mình Sự liên minh ASEAN của Philippines cung cấp các cơ hội để tiếp cận với khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA)

- Hoạt động thể hiện sự thiện chí của chính phủ đối với nhà đầu tư nước ngoài Điều này đã được thể hiện qua các cam kết sẽ tạo điều kiện nhằm thu hút đầu tư nước ngoài

Các chính sách và quy định tự do hóa về đầu tư nước ngoài tiếp tục được ban hành Khả năng sẵn có và tiếp cận được của các khu kinh tế đặc biệt và các hải cảng tự do lưu thông nằm tại các khu vực khác nhau của đất nước, nơi mà việc hỗ trợ cơ sở hạ tầng được cung cấp một cách đầy đủ và những trụ sở được cấp ưu đãi tài chính và phi tài chính

Trang 35

Một lợi thế cạnh tranh trong lĩnh vực công nghệ truyền thông và thông tin (ICT), bao gồm các trung tâm gọi vốn

Tổng diện tích đất của cả nước khoảng 300.000 km vuông, khoảng bằng kích thước của Ý hoặc bang Arizona ở Hoa Kỳ Đất nước có khí hậu nhiệt đới và hai mùa: mùa mưa,

từ tháng sáu đến tháng mười một, và mùa khô, từ tháng Mười Hai và tháng 5 Nó rất giàu tài nguyên thiên nhiên như đất đai rộng lớn cho việc trồng trọt, ngư trường, rừng và trữ lượng khoáng sản phong phú

Từ Bắc vào Nam, nó được chia thành ba nhóm đảo chính gồm Luzon, Visayas và Mindanao và nhằm tạo điều kiện cho việc quản lý, được chia thành 17 khu vực: tám ở Luzon; ba trong Visayas; và sáu ở Mindanao

2.1.3 Môi trường kinh tế

2.1.3.1 Cơ cấu thị trường chung

Philippines tuân thủ các nguyên tắc tự do kinh doanh và công nhận vai trò của khu vực tư nhân trong phát triển kinh tế của đất nước

Trong số các cải cách cơ cấu được thực hiện là tự do hóa nhập khẩu, bãi bỏ quy định của ngành công nghiệp quan trọng, sự nới lỏng trong luật đầu tư, tư nhân hóa các doanh nghiệp do nhà nước kiểm soát hoặc làm chủ,…Sự xuất hiện lại của những quan điểm dân chủ và việc nhận thức được rằng thị trường trong nước cần tính cạnh tranh và hướng ra bên ngoài để tồn tại trước sự tấn công của quá trình toàn cầu hóa thị trường, đã châm ngòi cho sự mở cửa của nền kinh tế

14 Bài viết Làm thế nào để đầu tư vào Philippine_How to invest in the Philippines

Trang 36

Philippines là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và tham gia vào Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN (AFTA) và Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) là những biểu hiện cho thấy cam kết của chính phủ về việc mở cửa thương mại

2.1.3.2 Những chỉ số kinh tế chung

Với sự ủng hộ của người tiêu dùng và sự phát triển của các doanh nghiệp, gắn liền với các khoản chi được duy trì bền vững của chính phủ, nền kinh tế Philippines đã đạt được tốc độ tăng trưởng 7.8% tổng sản phẩm trong nước (GDP) trong quý đầu tiên của năm 2013

GDP đã tăng từ mức 3,6% trong năm 2011 lên 6,5% vào năm 2012 Trên cơ sở được điều chỉnh đúng thời điểm, GDP tiếp tục đà tăng trưởng 2,2% trong quý đầu tiên của năm 2013, nhờ đó, đạt được tốc độ tăng trưởng 7,8% trong cùng thời kỳ

Sự tăng trưởng mạnh mẽ là do sự hoạt động mạnh mẽ của sản xuất và xây dựng, được hỗ trợ bởi trung gian tài chính và thương mại

Dòng chảy liên tục của sự chuyển tiền từ lao động nước ngoài đã làm tăng thu nhập chính của các khu vực khác của thế giới bằng cách thúc đẩy sự phát triển của Tổng thu nhập quốc gia (GNI) từ 3.2% tới 7,1% kể từ quý thứ hai của năm 2010

2.1.3.3 Nông nghiệp

Các sản phẩm nông nghiệp chính của nước này là lúa, ngô, dừa, đường, chuối, xoài, dứa Philippines là một trong những nhà xuất khẩu lớn nhất dầu dừa và đường nhưng lợi thế này đã giảm qua các năm do sự phát triển của các sản phẩm thay thế và sự gia tăng số nước xuất khẩu

2.1.3.4 Khai thác mỏ

Philippines là nước giàu tài nguyên khoáng sản

Vì lý do này, khai thác khoáng sản tiếp tục là một trong những tiềm năng hứa hẹn nhất của đất nước này (đặc biệt là vàng và đồng) Đạo luật khai khoáng tại Philippines năm 1995 đã tự do hóa ngành công nghiệp, mở đường cho sự thâm nhập của các công ty khai thác mỏ nước ngoài với các biện pháp khuyến khích

Trang 37

2.1.3.5 Nhu cầu năng lượng và tài nguyên

Kế hoạch Năng lượng Philippines (PEP) cho 2009-2030 đã được thiết lập để đạt được một mục tiêu 60% mức độ tự cung tự cấp vào năm 2010 bằng những cách thức có hiệu quả theo thời gian, đất nước nên có thể tự cung cấp ba phần năm trên tổng số nguồn cung cấp năng lượng có được các nguồn trong khu vực Nguồn năng lượng của đất nước

là một sự kết hợp của năng lượng nhập khẩu và bản địa Năng lượng bản xứ đến từ các sản phẩm dầu và dầu sản xuất trong nước, khí thiên nhiên, than, năng lượng địa nhiệt, thủy điện, sinh khối, năng lượng mặt trời, và gió Nguồn năng lượng nhập khẩu mặt khác, phần lớn còn đến từ dầu mỏ và than đá, những nhiên liệu mà Philippines chủ yếu phụ thuộc Để bảo vệ đất nước khỏi những tác động bất lợi của dầu nhập khẩu, Chính phủ đã đưa ra kế hoạch PEP nhằm mục đích giúp đất nước chuyển từ sử dụng dầu nhập khẩu và hướng tới sử dụng nhiều hơn nguồn năng lượng bản địa, năng lượng tái tạo, và các nhiên liệu thay thế khác Từ năm 2002, sự tự chủ năng lượng hoặc mức độ tự cung tự cấp của nước này đã tăng dần từ 50,18% đến 55,87% trong năm 2005 Mục tiêu của PEP là đạt mức độ tự túc ở mức 60% vào năm 2010 đã đạt được và được duy trì thường ở mức độ tại thời điểm hiện tại

Đất nước này cũng đã xây dựng được sự liên minh chiến lược với các nước khác nhằm thực hiện chương trình mang tính bảo tồn và có tính hiệu quả cao như là một phương tiện để hoàn thiện mức độ đầy đủ về năng lượng của mình Philippines nhận một PHP180 triệu tài trợ của Liên minh châu Âu (EU) như là một phần của Hợp phần Hỗ trợ Chính sách SWITCH của EU nhằm thúc đẩy hiệu quả năng lượng và các chương trình bảo tồn cũng như năng lượng sạch và các chính sách tăng trưởng xanh ở Philippines

2.1.3.6 Những tiện ích

Điện, nước tăng tới 3,7% trong quý đầu tiên của năm 2010, từ 0,6% trong năm

2009, chủ yếu là do điện Chiếm khoảng 93% trong tổng số ngành, điện tăng 3,5% từ 0,2% được hỗ trợ bởi nhu cầu duy trì từ các ngành công nghiệp và thương mại Tương tự như vậy, các phân ngành nước thông báo một tốc độ tăng trưởng 6,2% so với 6,0% trong năm 2009

Trang 38

2.1.3.7 Chế tạo

Sản xuất tăng lên 5,6% trong quý 4 năm 2012 với mức tăng trưởng 3,3% trong năm

2011 Đài phát thanh, truyền hình, công cụ và thiết bị truyền thông tăng trở lại 17,1% từ mức giảm 16,9%, đóng góp nhiều cho sự tăng trưởng của ngành

2.1.3.8 Xây dựng

Ngành xây dựng là một trong những đóng góp lớn nhất cho sự phát triển của các ngành kinh tế trong quý IV năm 2012 Xây dựng tư nhân đã tăng từ nhu cầu cao hơn đối với nhà ở trung và cao cấp (với sự gia tăng nhu cầu về nhà ở của người lao động Philippines ở nước ngoài) và không gian văn phòng thương mại Việc hoàn thành các dự

án khác nhau chính phủ cũng thúc đẩy chi tiêu trong xây dựng

2.1.3.9 Giao thông vận tải, thông tin liên lạc, và lưu trữ

Được dẫn dắt bởi các phương tiện giao thông, thông tin liên lạc, và khu vực lưu trữ, các ngành dịch vụ vẫn giữ vai trò quan trọng của nền kinh tế

Trong những năm trước, sự tăng trưởng đã bị đẩy lên do tích cực mở rộng và đa dạng hóa sản phẩm của các công ty viễn thông lớn và đầu tư vào các trung tâm cuộc gọi

và quá trình kinh doanh phần mềm Sự gia tăng lớn về số lượng thuê bao và tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ internet và truyền hình cáp đóng góp nhiều cho sự thu được hiệu suất vượt trội Thống kê trong quý IV năm 2012 cho thấy sự tăng trưởng trong giao thông vận tải đường bộ, vận tải đường thủy, các ngành lưu trữ, và lĩnh vực truyền thông

2.1.3.10 Tài chính ngân hàng

Hệ thống ngân hàng bao gồm 37 trụ sở của các ngân hàng thương mại và ngân hàng chung, 70 ngân hàng tiết kiệm, 589 ngân hàng nông thôn và hợp tác xã, và 14 tổ chức phi ngân hàng với hầu như các chức năng của ngân hàng

Trong các danh mục tài sản, các ngân hàng đã phát triển một cách đều đặn và tỷ lệ

nợ xấu đã giảm, trong đó tiếp tục thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển chung của ngành tài chính Lãi suất vẫn ổn định sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997

Theo Bangko Sentral ng Pilipinas (BSP), có một sự hoàn thiện không ngừng về sự phát triển lành mạnh của hệ thống ngân hàng Tóm lại, hệ thống ngân hàng huy động nguồn vốn tốt, với tỷ lệ an toàn vốn cũng ở trên tiêu chuẩn quốc tế Đồng peso đã tiếp tục

Trang 39

tăng trưởng, sau khi được xem là một trong những đơn vị tiền tệ đứng hàng đầu ở châu Á trong năm 2007

Philippines đã thông qua Luật phòng, chống rửa tiền trong năm 2001 Đạo luật này được sửa đổi vào năm 2003 để giải quyết những mối quan tâm của Lực lượng đặc nhiệm tài chính (FATF) về việc Philippines có thể vẫn là nơi được sử dụng cho hoạt động rửa tiền Đạo luật gần đây đã được sửa đổi bởi Đạo luật Cộng hòa số 10365 ngày 13 tháng 2 năm 2013, trong đó mở rộng phạm vi bảo hiểm của cá nhân, hoặc pháp nhân, những người được yêu cầu tuân thủ pháp luật, và các hoạt động được coi là trái pháp luật Philippines hiện đang sử dụng các chính sách và thủ tục chống rửa tiền phù hợp với những tiêu chuẩn của ngân hàng quốc tế

Một số ngân hàng quốc tế lớn có hoạt động chi nhánh tại Philippines, cung cấp đầy

2.1.3.12 Tỉ lệ lương

Tính đến tháng 12 năm 2012, mức lương tối thiểu của lao động Philippines khoảng

từ PHP419 đến PHP456 trên 8 giờ một ngày làm việc trong Vùng Thủ đô Quốc gia (NCR) Tỷ lệ lương bên ngoài NCR là hơi thấp hơn và được xem là một trong những nơi cạnh tranh nhất trong khu vực

2.1.3.13 Lạm phát và tỷ giá hối đoái

Tỷ lệ lạm phát cơ bản năm 2012 là 3,7% trong khi lãi suất tín phiếu kho bạc trung bình 3,06% cho tất cả các giai đoạn từ tháng Giêng đến tháng Mười Hai năm 2012 Giá

Trang 40

trị của đồng peso là PHP41.00 trên một US$ (tính đến ngày 13 tháng 5 năm 2013); do đó,

nó vẫn là một trong những đồng tiền có tỷ giá mạnh nhất châu Á

2.1.3.14 Ngoại thương

Xuất khẩu chính của Philippines bao gồm: (1) những sản phẩm công nghiệp như điện tử, máy móc, thiết bị phương tiện vận tải và phụ tùng; (2) sản phẩm tiêu dùng như may mặc và thực phẩm chế biến; và (3) các sản phẩm từ nguồn tài nguyên như dầu dừa Nhập khẩu chủ yếu của quốc gia là hàng hoá vốn và hàng hóa trung gian như các sản phẩm dầu mỏ và các loại sợi dệt

Trong khi Philippines là một nước nhập khẩu ròng, xuất khẩu vẫn là một nhân tố chính kích thích sự tăng trưởng kinh tế của nước này Ngoài hàng hóa vật chất, việc xuất khẩu những dịch vụ phi vật chất đã góp phần lớn vào việc mở rộng xuất khẩu qua năm Thương mại đã được tự do hóa, trong số đó là việc loại bỏ sự hạn chế về số lượng, đơn giản hóa các bảng cước, và việc loại bỏ các rào cản thương mại Trong mục tiêu của mình để dần dần xóa bỏ thuế quan, Philippines có tham gia vào các hiệp định thương mại khác nhau, cụ thể là: Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA); Khu vực Thương mại ASEAN-Trung Quốc (ACFTA); Khu vực Thương mại tự do ASEAN-Hàn Quốc (AKFTA); Khu vực Thương mại tự do ASEAN-Australia-New Zealand (AANZFTA); ASEAN và Đối tác kinh tế toàn diện Nhật Bản (AJCEPA); và Khu vực Thương mại tự do ASEAN-Ấn Độ (AIFTA)

Sự tiến bộ nhất của AFTA được thực hiện vào ngày 1 tháng Giêng 1993, tiếp tục giảm thuế quan đối với hoạt động thương mại trong khu vực thương mại ASEAN không quá 5% vào năm 2002 Tính đến tháng 1 năm 2008, những quy định về quản lý (EO) 617

và 703 đã được thực hiện, nhờ đó đạt được hiệu quả trong việc làm giảm 80% của tất cả các dòng thuế quan có hiệu lực chung bởi dự án ưu đãi thuế quan (CEPT) đển 0% Mặc

dù việc giảm thuế bởi EO 617 và EO 703 không được tìm thấy trong Hệ thống cân đối (HS) 2007 gần đây vì những quy định EOS đã được công bố sau khi HS ban hành năm

2007, chúng đã được chấp nhận và áp dụng Hơn nữa, tỉ lệ quốc gia được ưu đãi nhất (MFN) về phần lớn những thứ được nhập khẩu hiện đang nằm trong khoảng 0-10% Năm

2010, Philippines thực hiện các cam kết để loại bỏ các mức thuế trên số sản phẩm còn lại trong danh sách tổng kết CEPT cho năm 2010 thông qua EO 850

Ngày đăng: 21/04/2016, 13:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng đánh giá xếp hạng Philippines của các tổ chức quốc tế - CÁC vấn đề về đầu tư KINH DOANH tại PHILIPPINE
ng đánh giá xếp hạng Philippines của các tổ chức quốc tế (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w