kiến thức cơ bản khi muốn tìm hiểu về phương thức thành lập, tổ chức và hoạt động cùng với những quan hệ được thiết lập giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước Vì vậy, khi nghiên cứu về c
Trang 1bài tập lớn chế định chủ tịch nước
Mục Lục
A - Phần Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
2 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài
3 Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu
4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
5 Kết cấu của đề tài
B - Nội Dung
Chương I: Cơ sở lý luận về chế định của chủ tịch nước trong lịch sử lập hiến Việt Nam
1.1 Khái quát chung về chế định chủ tịch nước
1.2 Vai trò chế định chủ tịch nước trong lich sử lập hiến Việt Nam
1.2.1 Vai trò chế định chủ tịch nước trong hiến pháp năm 1946
1.2.2 Vai trò chế định chủ tịch nước trong hiến pháp năm 1959
1.2.3 Vai trò chế định chủ tịch nước trong hiến pháp năm 1980
1.2.4 Vai trò chế định chủ tich nước trong hiến pháp năm 1992
Chương II: Các chế định của chủ tịch nước trong lịch sử lập hiến Việt Nam
1.1: Chế định chủ tịch nước trong hiến pháp năm 1946
1.2: Chế định chủ tịch nước trong hiến pháp năm 1959
1.3: Chế định chủ tịch nước trong hiến pháp năm 1980
1.4: Chế định chủ tịch nước trong hiến pháp năm 1992
1.5: Quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan Nhà nước khác
C - Kết Luận
D - Tài liệu tham khảo
A – Phần Mở Đầu
1 Lý do chọn đề tài
Chế định của chủ tịch nước là mảng đề tài được rất nhiều người qua
tâm và nghiên cứu Là một sinh viên luật tôi thấy đây là một vấn đề đòi hỏi các sinh viên trong ngành cần phải trang bị
Các chế định của chủ tịch nước nó sẽ cung cấp cho chúng ta một số
Trang 2kiến thức cơ bản khi muốn tìm hiểu về phương thức thành lập, tổ chức
và hoạt động cùng với những quan hệ được thiết lập giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước Vì vậy, khi nghiên cứu về các chế định của chủ tịch nước phải gắn với những điều kiện lịch sử nhất định việc trình bày các chế định của chủ tịch nước có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn to lớn bên cạnh đó, tôi muốn cung cấp một số đặc điểm cơ bản về các chế định của chủ tịch nước qua các bản hiến pháp của Việt Nam nhằm trang bị những kiến thức bổ ích cho những ai muốn tìm hiểu, muốn lý giải những hiện tượng liên quan đến chủ tịch nước trong bộ máy nhà nước Việt Nam
2 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài
Các chế định của các cơ quan trong bộ máy nhà nước Việt Nam là một
đề tài có phạm vi nghiên cứu tương đối rộng Vì thế, trong bài tiểu luận này tôi không đi sâu vào nghiên cứu chi tiết tất cả các chế định của các
cơ quan trong bộ máy nhà nước mà chỉ tìm hiểu một số vấn đề như:
- Phân tích cơ sơ lý luận của các chế định chủ tịch nước để qua đó thấy
rõ tầm quan trọng của việc nghiên cứu đề tài này Mặt khác, qua phân tích để thấy chế định của chủ tịch nước có ý nghĩa rất lớn cả về lý luận
và thực tiễn
- Tìn hiểu phương thức thành lập tổ chức và hoạt động cùng với mối quan hệ qua lại giữa các cơ quan nhà nước ở Việt Nam
3 Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về dân tộc và các quan điểm của Đảng về đổi mới nhà nước và pháp luật
Phương pháp nghiên cứu là các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác – Lênin trên cơ sở quán triệt nguyên tắc thống nhất kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp kết hợp logic và lịch sử, so sánh, phân tích, tổng hợp, phương pháp xã hội học và luật học so sánh để phuc vụ cho nghiên cứu
Trang 34 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích: tìm hiểu các chế định của chủ tịch nước trong lịch sử lập hiến Việt Nam
Nhiệm vụ: để thực hiện được mục đích đó, bài tiểu luận trình bày những vấn đề sau:
- Trình bày cơ sở lý luận của các chế định chủ tịch nước qua đó phân tích chứng minh nó có ý nghĩa to lớn cả về lý luận và thực tiễn
- Trình bày các chế định chủ tịch nước thông qua các bản hiến pháp của nước Việt Nam và mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan Nhà nước khác trong bộ máy nhà nước Việt Nam
5 Kết cấu của đề tài
Bài tiểu luận gồm có 4 phần:
A - Phần mở đầu
B - Nội dung: gồm 2 chương
* Chương I: Cơ sở lý luận về chế định của chủ tịch nước trong lịch sử lập hiến Việt Nam
*Chương II: Các chế định của chủ tịch nước trong lịch sử lập hiến Việt Nam
C - Kết Luận
D - Tài liệu tham khảo
B – Nội Dung
Trang 4Chương 1: Cơ sở lý luận về chế định của chủ tịch nước trong lịch sử lập hiến Việt Nam
1.1 Khái quát chung về chế định chủ tịch nước
Chế định nguyên thủ quốc gia là một chế định quan trọng trong thể chế chính trị Nhưng mỗi nước nguyên thủ quốc gia có tên gọi (vua, Hoàng
đế, Tổng thống, Đoàn Chủ tịch hội đồng liên bang, Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch nước), vị trí, chức năng khác nhau tuỳ thuộc vào thể chế chính trị và cách thức tổ chức nhà nước Nhưng có một điểm chung là đều là người đứng đầu Nhà nước, đại diện cho Nhà nước về đối nội và đối ngoại Ở nước ta, nguyên thủ quốc gia tồn tại dưới hình thức Chủ tịch nước theo Hiến pháp 1946, 1959, 1992, riêng Hiến pháp năm 1980 Chủ tịch nước tồn tại dưới hình thức là Hội đồng Nhà nước, là một chế định nguyên thủ quốc gia tập thể
Về mặt bản chất, nguyên thủ quốc gia là một chế định thuần tuý của bộ máy Nhà nước tư sản Khi cách mạng tư sản diễn ra và dành thắng lợi, giai cấp tư sản chiến thắng giai cấp phong kiến và lập ra bộ máy cai trị mới Trong bộ máy đó có sự xuất hiện của một thể chế mới, đó là thể chế nguyên thủ quốc gia Như vậy, về cơ bản thiết chế nguyên thủ quốc gia của các nước trên thế giới hiện nay đều được xây dựng dựa trên thiết chế của nhà nước tư sản Nhìn chung sự hiện diện của nguyên thủ quốc gia ở các nước tư bản với nhiều vẻ khác nhau song cũng đóng một vai trò nhất định trong việc tổ chức quyền lực nhà nước Đặc biệt là vai trò biểu tượng cho dân tộc, liên kết phối hợp các nhánh quyền lực thể hiện quan điểm thỏa hiệp giai cấp tại các nước tư bản
Đến nhà nước xã hội chủ nghĩa, bộ máy nhà nước được tổ chức theo chế
độ tập quyền, thì về nguyên tắc thiết chế nguyên thủ quốc gia riêng là không cần thiết, nếu không muốn nói là không dung hợp Tại một số nước XHCN khác do truyền thống lịch sử của mình, còn lưu giữ thiết chế chủ tịch nước, thì chủ tịch nước tuy được coi là nguyên thủ quốc gia
Trang 5đứng đầu nhà nước, song phái sinh từ cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và cùng cơ quan này thực hiện các chức năng nguyên thủ Sự hiện diện các biểu hiện “nguyên thủ quốc gia” trong cơ chế nhà nước XHCN phần nhiều là do thông lệ quốc tế - để thuận lợi trong việc thực hiện một
số hoạt động nhà nước có tính chất long trọng, hình thức và chừng mực nhất định, để phối hợp hoạt động của các cơ quan trong cơ chế nhà
nước Vị trí thứ hai này của “nguyên thủ quốc gia” xã hội chủ nghĩa khá khác nhau, tùy thuộc vào từng nước
Trong cơ chế nhà nước ta như đã đinhnói ở trên, thiết chế nguyên thủ quốc gia được tổ chức khác nhau qua các bản Hiến pháp Ở Hiến pháp năm 1946 và 1959 là Chủ tịch nước Đến Hiến pháp năm 1980 là Hội đồng nhà nước, và hiện nay, tại Hiến pháp năm 1992 trở lại hình thức Chủ tịch nước Vị trí, tính chất, chức năng quyền hạn và mối quan hệ của thiết chế này đối với các cơ quan khác cũng khác nhau theo từng giai đoạn phát triển của tổ chức nhà nước Trong từng hiến pháp có sự
kế thừa và phát triển những nguyên tắc căn bản của tổ chức bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa nói chung và chế định nguyên thủ quốc gia nói riêng
1.2 Vai trò chế định chủ tịch nước trong lich sử lập hiến Việt Nam
1.2.1 Vai trò chế định chủ tịch nước trong hiến pháp năm 1946
Sau cách mạng tháng Tám, nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà ra đời
là nhà nước dân chủ nhân dân Sau tám mươi năm tranh đấu, dân tộc Việt Nam đã thoát khỏi vòng áp bức của chính sách thực dân, đồng thời
đã gạt bỏ chế độ vua quan Nước nhà đã bước sang một quãng đường mới Nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ.Với bản Hiến pháp 1946, bộ máy Nhà nước đã bước đầu được tổ chức theo nguyên tắc tập quyền song vẫn còn mang nhiều cách tổ chức theo kiểu đại nghị, thể hiện ở Nghị viện nhân dân và chính phủ liên hiệp với sự đoàn kết rộng rãi ở các lực lượng, giai cấp, đảng phái
Sự ra đời của chế định Chủ tịch nước trong hiến pháp 1946 có thể nói bắt đầu từ chủ trương thành lập một chính phủ nhân dân cách mạng theo tinh thần đoàn kết rộng rãi tất cả các tầng lớp nhân dân
1.2.2 Vai trò chế định chủ tịch nước trong hiến pháp năm 1959
Trang 6Hiến pháp năm 1959 được Quốc hội Khoá I, kì họp thứ 11 thông qua trong bối cảnh lịch sử Cách mạng Việt Nam chuyển sang thời kì mới Nhà nước đứng trước hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiếp tục đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà
Những quy định của Hiến pháp năm 1946 về tổ chức bộ máy Nhà nước
là không còn phù hợp trong thời kì mới của Cách mạng Việt Nam Cho nên, bản Hiến pháp mới, Hiến pháp năm 1959 đã được thông qua Đây
là bản Hiến pháp thể hiện sự vận dụng mạnh mẽ nguyên tắc tập quyền XHCN trong tổ chức bộ máy Nhà nước, tất cả quyền lực tập trung vào Quốc hội
Trong bản Hiến pháp này, chế định nguyên thủ quốc gia vẫn là Chủ tịch nước, nhưng đã có những điểm thay đổi về căn bản so với chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp năm 1946
Hiến pháp năm 1959 ghi nhận chế định nguyên thủ quốc gia tại chương
V, gồm 10 điều (từ Điều 61 đến Điều 70) Việc ghi nhận chế định Chủ tịch nước thành một chương riêng biệt trong Hiến pháp chứng tỏ Hiến pháp năm
1959 có sự đổi mới rõ rệt so với Hiến pháp năm 1946
1.2.3 Vai trò chế định chủ tịch nước trong hiến pháp năm 1980
Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân đã hoàn thành trong phạm vi cả nước Đất nước ta chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn cả nước cùng xây dựng CNXH và bảo
vệ tổ quốc Vì vậy, tổ chức và hoạt động Nhà nước cũng phải thay đổi cho phù hợp với tình hình, nhiệm vụ và quan điểm về “quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động” mà đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đã xác định
Cuộc tổng tuyển cử ngày 25/4/1976 cử tri cả nước đã bầu ra Quốc hội thống nhất, Quốc hội khoá VI Và ngày 18/12/1980 tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa VI đã chính thức thông qua Hiến pháp mới đó là Hiến pháp 1980 Chủ tịch nước, theo quy định của Hiến pháp năm 1980, nằm trong hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước ở trung ương với tên gọi là
Trang 7Hội đồng Nhà nước Hiến pháp năm1980 đã “sát nhập” hai chức năng của Ủy ban thường vụ quốc hội với chức năng của Chủ tịch nước là cá nhân trong Hiến pháp 1959 vào một cơ quan duy nhất là Hội đồng Nhà nước.
1.2.4 Vai trò chế định chủ tịch nước trong hiến pháp năm 1992
Chế định Hội đồng Nhà nước (nguyên thủ quốc gia tập thể) ngày càng
bộ lộ rõ những hạn chế trong quá trình hoạt động Bên cạnh đó, trên thế giới diễn ra rất nhiều biến động lớn, mà tiêu biểu là hệ thống Xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu tan rã Đất nước ta bước vào thời kỉ khủng hoảng trầm trọng bởi cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp và phổ biến quan điểm giáo điều, giản đơn về CNXH Một yêu cầu bức thiết được đặt ra, đó là phải đổi mới, đổi mới trong bộ máy Nhà nước và
trong đời sống xã hội Hiến pháp năm 1980 đã tỏ ra không còn phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới của đất nước
Ngày 15 tháng 4 năm 1992 tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa VIII đã thông qua Hiến pháp mới thay thế Hiến pháp 1980, đó là Hiến pháp năm
1992 Tổ chức bộ máy Nhà nước có nhiều thay đổi căn bản so với bộ máy Nhà nước theo quy định của Hiến pháp năm 1980, trong đó có chế định Chủ tịch nước
Thiết chế nguyên thủ quốc gia được tổ chức khác nhau qua các Hiến pháp Ở Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959 là Chủ tịch nước, đến Hiến pháp năm 1980 là Hội đồng Nhà nước và tại Hiến pháp năm 1992, thiết chế Chủ tịch nước được xây dựng lại Mô hình lần này vừa tiếp thu
những ưu điểm của mô hình Chủ tịch nước của Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959, vừa giữ được sự gắn bó giữa Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước trong việc thực hiện các chức năng nguyên thủ quốc gia trong thể chế Hội đồng Nhà nước Đồng thời cũng có thêm những đặc điểm mới
Trang 8Chương 2 Chế định Chủ tịch nước trong lịch sử lập hiến Việt Nam
2.1 Chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp năm 1946
2.1.1 Vị trí, tính chất, trật tự hình thành
Về vị trí, tính chất của Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 1946, từ
những quy định về cách thức thành lập và thẩm quyền của Chủ tịch
nước thì Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước đồng thời là người đứng đầu Chính phủ
Tính chất đứng đầu Nhà nước (nguyên thủ quốc gia) của Chủ tịch nước thể hiện ở chỗ: Chủ tịch nước thay mặt cho nước, giữ quyền tổng chỉ huy quân đội toàn quốc, bổ nhiệm thủ tướng, Nội các, ban bố các đạo luật đã được Nghị viện quyết nghị, thưởng huy chương và bằng cấp
danh dự, đặc xá, kí hiệp ước với các nước, phái đại biểu Việt Nam đến nước ngoài và tiếp nhận đại biểu ngoại giao của các nước, tuyên chiến hay đình chiến.Vị trí đứng đầu Nhà nước này cũng giống như ở các
nước dân chủ, là có sự phân công phối hợp giữa Nghị viện, Ban thường
vụ và Chủ tịch nước
Tính chất đứng đầu Chính phủ thể hiện ở chỗ Chủ tịch nước Chủ toạ Hội đồng Chính phủ, cùng với Chính phủ ban hành các sắc lệnh quy định các chính sách thi hành các đạo luật và quyết định của Nghị viện
Về trật tự hình thành, Hiến pháp năm 1946 quy định tại Điều 45: "Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà chọn trong Nghị viện nhân dân và phải được hai phần ba tổng số nghị viên bỏ phiếu thuận Nếu bỏ phiếu lần đầu mà không đủ số phiếu ấy, thì lần thứ nhì sẽ theo đa số tương đối Chủ tịch nước Việt Nam được bầu trong thời hạn 5 năm và có thể được bầu lại Trong vòng một tháng trước khi hết nhiệm kỳ của Chủ tịch, Ban thường vụ phải triệu tập Nghị viện để bầu Chủ tịch mới."
2.1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước
* Thẩm quyền đối với quốc gia
Thay mặt cho nước (Điểm a Điều 49); tổng chỉ huy quân đội và các lực
Trang 9lượng vũ trang (Điểm b Điều 49); tặng thưởng huy chương và các bằng cấp danh dự (Điểm e Điều 49); kí hiệp ước với các nước (Điểm h Điều 49); tuyên bố đình chiến hay tuyên chiến theo quy định của Nghị viện (Điểm k Điều 49).
* Thẩm quyền đối với các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp
- Đối với quyền lập pháp: Chủ tịch nước là thành viên của Nghị viện, có quyền ban bố các Đạo luật đã được Nghị viện quyết nghị (Điểm đ Điều 49); có quyền yêu cầu Nghị viện về sự tín nhiệm Nội các; có quyền triệu tập phiên họp bất thường; và quyền phủ quyết tương đối các dự án luật (có quyền yêu cầu Nghị viện thảo luận lại các đạo luật trước khi ban bố)
- Đối với quyền hành pháp: Chủ tịch nước là thành viên Chính phủ, trực tiếp điều hành Chính phủ bằng cách chủ toạ các phiên họp Chính phủ; Chủ tịch nước kí sắc lệnh bổ nhiệm Thủ tướng Chính phủ, nhân viên Nội các và nhân viên cao cấp thuộc các cơ quan Chính phủ (Điểm c Điều 49), các đại sứ (Điểm i Điều 49); kí các sắc lệnh của Chính phủ; yêu cầu Nghị viện thảo luận lại vấn đề tín nhiệm Nội các
- Đối với quyền tư pháp: Chủ tịch nước có quyền đặc xá (Điểm g Điều 49) và công bố đại xá
2.1.3 Quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan Nhà nước khác
* Mối quan hệ với Nghị viện
Chủ tịch nước có những quyền hạn lớn đối với Nghị viện như: yêu cầu Nghị viện thảo luận lại những luật mà Chủ tịch nước không đồng ý
(Điều 31); Chủ tịch nước không phải chịu một trách nhiệm nào trừ khi phản bội Tổ quốc (Điều 50) Tuy vậy Nghị viện cũng có khả năng hạn chế quyền của Chủ tịch nước, để đảm bảo cho Nghị viện là cơ quan có quyền cao nhất: Chủ tịch nước được Nghị viện chọn trong số các nghị viên và phải được hai phần ba tổng số nghị viên bỏ phiếu thuận, Chủ tịch nước có thể được bầu lại (Điều 45); Những luật mà Chủ tịch nước yêu cầu thảo luận lại nếu vẫn được Nghị viện ưng chuẩn thì bắt buộc Chủ tịch nước phải ban bố (Điều 31); Chủ tịch nước sẽ bị một tòa án đặc biệt của Nghị viện xét xử nếu phản bội Tổ quốc (Điều 51)
* Mối quan hệ với Chính phủ
Trang 10Chủ tịch nước là người đứng đầu Chính phủ Chủ tịch nước chọn Thủ tướng chính phủ trong Nghị viện; kí sắc lệnh bổ nhiệm Thứ trưởng và các nhân viên cao cấp khác thuộc cơ quan chính phủ (Điều 47, 48); mỗi sắc lệnh của Chính phủ phải có chữ kí của Chủ tịch nước, và phải có một hay nhiều Bộ trưởng thuộc lĩnh vực đó tiếp ký (Điều 53)
* Mối quan hệ với cơ quan tư pháp
Hiến pháp 1946 chưa quy định rõ về mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan tư pháp mà chỉ nói rằng các viên Thẩm phán đều do Chính phủ bổ nhiệm Có thể thấy rằng, quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan Nhà nước khác được thiết lập theo hướng tăng cường quyền lực cho Chủ tịch nước, bảo đảm điều hoà và phối hợp các hoạt động lập pháp và hành pháp trong điều kiện các cơ quan này độc lập tương đối với nhau
Như vậy, có thể thấy Chủ tịch nước theo quy định của Hiến pháp năm
1946 có vị trí tương tự như Tổng thống ở chế độ Cộng hoà Tổng thống hay Cộng hoà lưỡng tính tư sản Đó là: Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà không những là người đứng đầu Nhà nước mà còn là người trực tiếp điều hành bộ máy hành pháp Điểm d, Điều 49, Hiến pháp năm
1946 quy định: Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà có quyền chủ toạ Hội đồng Chính phủ Nhưng lại khác với chính thể Cộng hoà Tổng thống ở chỗ: Chủ tịch nước không do nhân dân trực tiếp bầu ra hay gián tiếp bầu ra mà do Nghị viện bầu và phải là thành viên của Nghị viện Một điểm khác với Chính thể Cộng hoà Tổng thống nữa, đó là bên cạnh người đứng đầu bộ máy hành pháp còn có một bộ máy có tính Hiến
định, bảo đảm việc thực thi quyền lực hành pháp ở Nội các, bao gồm Thủ tướng, các Bộ trưởng và Thứ trưởng Điều 47 Hiến pháp 1946 quy định: "Chủ tịch nước Việt Nam chọn Thủ tướng trong Nghị viện và đưa
ra Nghị viện biểu quyết Nếu được Nghị viện tín nhiệm, Thủ tưóng chọn các Bộ trưởng trong Nghị viện và đưa ra Nghị viện biểu quyết toàn thể danh sách Thứ trưởng có thể chọn ngoài Nghị viện và do Thư tướng đề
cử ra hội đồng Chính phủ duyệt, nhân viên ban thường vụ Nghị viện không được tham gia vào Chính phủ"
Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà giống Tổng thống Mỹ ở chỗ
Trang 11được quyền phủ quyết các dự án luật đã được Nghị viện thông qua,
nhưng lại khác với quyền phủ quyết của Tổng thống Mỹ ở chỗ Nghị viện chỉ cần biểu quyết lại, không cần phải biểu quyết mạnh mẽ hơn là 2/3 như ở Mỹ, thì Chủ tịch nước buộc phải công bố thành luật có hiệu lực thi hành
Nếu như ở Chính thể Cộng hoà Tổng thống, Tổng thống phải chịu trách nhiệm về mọi hành vi của mình, có thể bị Nghị viện luận tội theo thủ tục đàn hạch, thì Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà giống như
nguyên thủ quốc gia của mô hình Cộng hoà đại nghị là không phải chịu trách nhiệm nào, trừ khi phản bội Tổ quốc
Tuy Chủ tịch nước được quy định thực hiện các quyền hạn lớn hơn cả về lập pháp lẫn hành pháp, song Hiến pháp cũng quy định những hạn chế đối với Chủ tịch nước, bảo đảm tính cơ quan có quyền lực cao nhất của Nghị viện Đó là Nghị viện bầu ra Chủ tịch nước trong số nghị sĩ, chuẩn
y các hiệp ước do Chính phủ kí với nước ngoài
Những luật mà Chủ tịch nước yêu cầu thảo luận lại nếu vẫn được Nghị viện ưng chuẩn thì bắt buộc Chủ tịch nước phải ban bố Khi Nghị viện không họp được, Ban thường vụ cùng với Chính phủ quyết định nên tuyên chiến hay đình chiến, Chủ tịch nước tuyên chiến hay đình chiến theo quyết định đó Và đặc biệt, Nghị viện nhân dân không bị giải tán (như ở các nước tư bản)
Tóm lại chế định Chủ tịch nước - Nguyên thủ quốc gia được Hiến pháp năm 1946 xây dựng khá độc đáo Nó vừa đảm bảo được quyền lực Nhà nước thống nhất vào cơ quan đại diện quyền lực Nhà nước cao nhất của nhân dân, vừa đảm bảo tăng cường quyền hạn cho Chính phủ điều hành công việc quốc gia mạnh mẽ và hiệu quả phù hợp với yêu cầu kháng chiến kiến quốc lúc bấy giờ
2.2 Chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp 1959
2.2.1 Vị trí, tính chất, trật tự hình thành
Thiết chế Chủ tịch nước phái sinh từ Quốc hội - cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, thống nhất các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, cùng Quốc hội thực hiện các chức năng nguyên thủ, điều phối các cơ quan cấp cao trong Bộ máy Nhà nước
Trang 12Chủ tịch nước được xác định là người đứng đầu Nhà nước nhưng không còn là người đứng đầu Chính phủ như trong Hiến pháp năm 1946 Chủ tịch nước thay mặt Nhà nước thực hiện các chức năng thuộc về đối nội, đối ngoại (Điều 61 Hiến pháp 1959) Sự phân định chức năng nguyên thủ giữa Chủ tịch nước, Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chuyển sang hướng mới Mọi quyền hạn quan trong đều thuộc về Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội Chủ tịch nước chủ yếu thực hiện các công việc có tính đại diện cá nhân và tham gia nhất định vào các hoạt động của Nhà nước như lập pháp, thành lập các cơ quan Nhà nước, tặng thưởng huân chương, tuyên bố chiến tranh… nhưng đều dựa trên quy định của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Trật tự hình thành của Chủ tịch nước theo Hiến pháp được quy định trong Điều 62 Hiến pháp năm 1959: "Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bầu ra Công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà từ ba mươi lăm tuổi trở lên có quyền ứng cử Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà theo nhiệm kỳ của Quốc hội"
2.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước
Theo quy định của Hiến pháp năm 1959, Chủ tịch nước chỉ đảm nhiệm chức năng nguyên thủ quốc gia trong lĩnh vực đối nội, đối ngoại Quyền lực có nhiều thay đổi so với chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp
1946 với mục đích đề cao vai trò tập thể nên đã chuyển một số quyền hạn của Chủ tịch nước được ghi nhận tại Hiến pháp năm 1946 sang cho
Uỷ ban thường vụ Quốc hội, bên cạnh đó lại quy định những quyền hạn khác của Chủ tịch nước mang tính chất thủ tục
Chức năng của Chủ tịch nước được thể hiện rõ ở những nhiệm vụ và quyền hạn sau: (được quy định từ Điều 63 đến Điều 67 Hiến pháp năm 1959)
* Nhóm các nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến chức năng đại diện, thay mặt Nhà nước về đối nội, đối ngoại
Tiếp nhận đại diện toàn quyền ngoại giao của nước ngoài cử đến; cử, triệu hồi đại diện toàn quyền ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài