Mắt là cơ quan của động vật, giúp động vật cảm nhận các bức xạ điện từ, thường thuộc vùng phổ hồng ngoại gần đến tử ngoại gần, đến từ môi trường chung quanh; giúp cho động vật định hướng trong môi trường và phản ứng lại các tác động từ môi trường. Đa số động vật có hai mắt nằm ở phần trên của đầu.tài liệu thường thức về nhãn khoa giúp cho bạn đọc có thể hiểu biết về việc điều trị các bệnh về mắttài liệu chỉ mang tính chất tham khảo và nhận được sự góp ý từ quý bạn đọc.
Trang 1Điều trị học trong nhãn khoa
Bs Nguyễn Kiên Trung
Trang 2Đặc tính dược học và sự vận chuyển
thuốc trong mắt
• Mục đích sử dụng: Khám bệnh, chẩn đoán và điều
trị
• BN có thể dùng nhiều loại thuốc: cần nắm được
dược học, trị liệu, cấp thuốc, cấu tạo và hoạt động của thuốc, tương tác thuốc và những tác dụng phụ của thuốc
• Tăng tối đa hiệu quả của thuốc và giảm thiểu các
tác dụng phụ
• Đặc tính dược học: độ pH, tính thẩm thấu, độ ổn
định và sự vô trùng
Trang 3Đặc tính dược học và sự vận chuyển
thuốc trong mắt
• Độ pH: chỉ số đánh giá tính axit hay kiềm
• pH trong phim nước mắt: 7.4
• 6.6 < pH hoặc >7.8 gây khó chịu khi tra
• Thay đổi độ pH sẽ ảnh hưởng tới tác dụng
của thuốc: nếu tăng độ pH sẽ có khả năng xuyên qua giác mạc dễ dàng hơn nhưng lại giảm độ ổn định và dễ nhiễm khuẩn
• Để duy trì độ pH trong khoảng từ 6 đến 8 phải dùng đến chất đệm
Trang 4Đặc tính dược học và sự vận chuyển
thuốc trong mắt
• Sự thẩm thấu: Quá trình dịch chuyển chất
lỏng để tạo cân bằng về nồng độ
• Tính thẩm thấu: là sự đo lường liên quan đến
áp lực thẩm thấu giữa 2 dung dịch
• Đa số thuốc điều trị là dung dịch đẳng
trương→ Không có thẩm thấu
• Có sự thẩm thấu → Kích thích mắt
• Một số trường hợp cần đến sự thẩm thâu tại
mắt: Điều trị phù giác mạc
Trang 5Đặc tính dược học và sự vận chuyển
thuốc trong mắt
• Sự ổn định thuốc: là sự duy trì được hoạt tính
của thuốc theo thời hạn nhất định
• Thuốc có tính acid bền vững hơn thuốc trung
tính hay kiềm
• Yếu tố phụ thuộc: Nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm
• Khi mở lọ→ Dễ oxi hoá, biến chất, cần sử
dụng thêm chất bảo quản
Trang 6Đặc tính dược học và sự vận chuyển
thuốc trong mắt
acanthamoeba có trong dung dịch muối
khuẩn
thimerosol, sodium perborate, purite, Polyquaternium… với cơ chế tác dụng khác nhau và độc tính với tế bào mô bệnh cũng ở mức độ khác nhau
những thuốc không có chất bảo quản với dạng dùng 1 lần hoặc những chất bảo quản ít độc cho tế bào mà vẫn giữ được tính
Trang 7Đặc tính dược học và sự vận chuyển
thuốc trong mắt
• Chất vận chuyển: những chất trơ (không có hoạt
tính) có tác dụng hỗ trợ hoặc hòa tan thuốc hoạt tính
Có thể được sử dụng như chất đệm nên chức năng chủ yếu là để điều chỉnh độ nhớt của dung dịch, tăng thời gian tiếp xúc của thuốc với mô đích
• Chất thường dùng: povidone (PVP) polyvinyl alcohol
và carboxymethylcellulose Để tăng thêm thời gian tiếp xúc của thuốc còn sử dụng các cấu trúc gel hay mỡ
để làm hệ đệm cho thuốc
• Tá dược: cũng là những chất trơ được thêm vào tạo
cấu trúc hoặc độ chắc cho thuốc Nhóm này gồm
những chất như đường, muối, chất keo, chất bôi trơn, chất tạo màu hoặc hương vị… Ít dùng trong nhãnkhoa
Trang 8Sự hấp thu thuốc tại mắt
• Yêu cầu hấp thu: Vượt qua hàng rào mắt
nhưng không gây tổn thương cho mắt
• Nghiên cứu hiện nay: Đưa thuốc vào bán
phần sau
• 2 đường hấp thu tại chỗ chính: Kết mạc và
giác mạc
• Đường kết mạc: Qua hệ mao mạch tại túi kết
mạc (Vd: Timolol, gentamycin)
Trang 9Sự hấp thu thuốc tại mắt
• Đường giác mạc:
1 Biểu mô: Khó ngấm thuốc nếu TBBM nguyên vẹn,
còn các liên kết
2 Nhu mô: các lá collagen ưa nước, cản trở thẩm
thấu các thuốc có tính ưa mỡ, không co liên kết
chặt chẽ nên thuốc vận chuyển dễ hơn
3 Nội mô: lớp tế bào đơn hàng, có cấu trúc ưa mỡ, ít
ngăn cản sự thẩm thấu của hầu hết các thuốc, chỉ tuỳ thuộc vào trọng lượng phân tử thuốc chứ không phải do tính ưa nước của hợp chất thuốc
Trang 10Các quá trình vận chuyển thuốc
• Các yếu tố hạn chế: sự chế tiết nước mắt liên
tục, sự toàn vẹn bề mặt biểu mô giác mạc và hàng rào máu- mắt
• Phương pháp điều trị thuốc hiệu quả nhất là
phối hợp:
1 Đường đưa thuốc hiệu quả với tình trạng bệnh và
mô bị bệnh
2 Phương thức dùng thuốc dễ dàng nhất cho bệnh
nhân
3 Thuốc và đường dùng ít tác dụng phụ nhất
Trang 11Điều trị học trong nhãn khoa
• Thời gian thuốc lưu trên bề mặt quyết định tính sinh khả
dụng của thuốc (thường khoảng 5 phút)
• Một giọt thuốc: 30µL, phần lớn qua đường mũi ngay khi
tra→ Hấp thụ thuốc toàn thân qua đường mũi họng và đường tiêu hóa Hấp thu vào cơ thể bằng việc thẩm thấu
từ túi cùng kết mạc và đưa vào hệ tuần hoàn tại chỗ
• Chỉ một lượng nhỏ trong số này có thể tiếp tục đến được
các mô nội nhãn Các thuốc đã được hấp thụ thoát ra khỏi mắt qua ống Schlemm hoặc thấm qua thể mi vào khoang thượng củng mạc
• Thuốc tra mắt tác dụng tốt nhất khi đich đến là kết- giác
mạc, thể mi hoặc các cấu trúc khác của tiền phòng
Trang 12Điều trị học trong nhãn khoa
1 Dung dịch: Các phân tử thuốc hòa tan trong nước
2 Dịch treo: Các thành phần thuốc tách biệt với dung
môi lỏng, dễ lắng xuống dưới→ khi sử dụng phải lắc đều lọ thuốc để bảo đảm rằng các thành phần thuốc
sẽ được đưa vào mắt
3 Thuốc mỡ: Dạng thuốc khá phổ biến, thành phần
thuốc chính được phối hợp với một loại chất vận
chuyển có thể tan chảy khi tiếp xúc với mắt Thuốc
mỡ dàn trải chậm, được ngấm từ từ nhờ vậy thời
gian tiếp xúc với thuốc kéo dài hơn, thường được chỉ định tra vào những lúc không cần dùng mắt (trước khi ngủ)
Trang 13Điều trị học trong nhãn khoa
4 Gel: Gel: dạng nhày trong, giảm bớt số lần phải tra thuốc mà vẫn đạt hiệu quả điều trị do gel giải phóng
thuốc từ từ, kéo dài tác dụng thuốc và cũng giống như thuốc mỡ, gel cũng gây cảm giác mờ khi mới tra
5 Các dạng khác: kính tiếp xúc hoặc màng collagen có tẩm thuốc (với mục đích kéo dài thời gian lưu thuốc tại mắt), giấy tẩm thuốc nhuộm màu dùng trong khám
bệnh (băng giấy thấm fluorescein, rose bengal, lissamin green…), thuốc dạng xịt qua da mi (spray) dùng cho trẻ
em khi không mở được mắt
Trang 14Điều trị học trong nhãn khoa
• Thuốc tiêm tại chỗ:
• Áp dụng: bệnh lý của mi, hốc mắt hoặc phần sau
nhãn cầu, để tập trung thuốc vào mô đích khi việc tra thuốc không đủ, có thể tập trung thuốc tại một vùng rộng quanh chỗ tiêm và thuốc vào mô đích bằng tỏa lan thuốc qua các mô xung quanh hoặc qua hệ thống mao mạch tại chỗ
• Các dạng tiêm: dưới kết mạc, dưới bao Tenon, cạnh
nhãn cầu, tiền phòng hay tiêm nội nhãn.
Trang 15Điều trị học trong nhãn khoa
• Tiêm dưới kết mạc hoặc tiêm dưới bao Tenon: áp
dụng để đưa kháng sinh, corticoid vào mắt
• Tiêm cạnh nhãn cầu hoặc hậu nhãn cầu dùng để gây
tê
• Tiêm tiền phòng hoặc tiêm vào buồng dịch kính được
áp dụng cho những trường hợp viêm nội nhãn, điều trị các tổn thương bán phần sau: tân mạch, phù
hoàng điểm, viêm dịch kính,…
• Tác dụng thuốc hiệu quả hơn tra, nhưng nguy cơ
biến chứng hơn
Trang 16Điều trị học trong nhãn khoa
• Thuốc dùng đường toàn thân: có một số loại thuốc
chỉ có thể dùng theo đường toàn thân và vì có những
mô ở mắt giàu mạch máu nuôi dưỡng (như mi, hốc mắt hoặc phần sau nhãn cầu)
• Các đường dùng: Uống, tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch
(Vd: thuốc chụp mạch, thuốc hạ nhãn áp)