Bài viết trình bày đánh giá tình hình kê đơn NSAIDs điều trị cho BN nội trú tại Khoa Khớp - Bệnh viện Quân y 103. Phương pháp: Hồi cứu việc kê đơn NSAIDs điều trị các bệnh xương khớp trong các bệnh án của BN nội trú tại Khoa Khớp - Bệnh viện Quân y 103 năm 2019.
Trang 1Thực trạng sử dụng thuốc giảm đau,
chống viêm không steroid (NSAIDs)
trên bệnh nhân điều trị nội trú tại Khoa Khớp -
Bệnh viện Quân y 103 năm 2019
Nguyễn Minh Tuấn 1 , Đào Duy Anh 1 , Đỗ Thế Khánh 1
Nguyễn Tuấn Quang 1 , Nguyễn Cẩm Vân 1 , Nguyễn Lê Thanh Thư 2
1 Viện Đào tạo Dược - Học viện Quân y
2 Bệnh viện Quân y 103
Ngày nhận bài: 10/09/2020 Ngày phản biện: 15/10/2020 Ngày chấp nhận đăng: 21/10/2020
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá tình hình kê đơn NSAIDs
điều trị cho BN nội trú tại Khoa Khớp - Bệnh viện
Quân y 103
Phương pháp: Hồi cứu việc kê đơn NSAIDs
điều trị các bệnh xương khớp trong các bệnh án của
BN nội trú tại Khoa Khớp - Bệnh viện Quân y 103
năm 2019
Kết quả: Số NSAIDs trung bình trong 1 bệnh
án là 1,7 thuốc, số bệnh án kê 2 NSAIDs chiếm tỷ
lệ cao nhất (69,83%); thuốc ức chế COX - 2 được
kê đơn phổ biến trong điều trị bệnh xương khớp
(66,36%); nhóm thuốc ức chế bơm proton (PPI
) có tỷ lệ cao nhất (88,66%) trong các thuốc hạn
chế tác dụng không mong muốn của NSAIDs;
NSAIDs được dùng chủ yếu ở dạng viên nén bao
phim (83,18%)
Kết luận: NSAIDs là nhóm thuốc được kê đơn
nhiều nhất trong điều trị bệnh xương khớp cho
BN nội trú tại Khoa Khớp - Bệnh viện Quân y 103
trong năm 2019
Từ khóa: NSAIDs; điều trị nội trú; bệnh xương
khớp
ĐẶT VẤN ĐỀ
NSAIDs được sử dụng rộng rãi trong hầu hết các bệnh về cơ xương khớp với nhiều dẫn chất khác nhau, nhưng đều có tác dụng hạ sốt, giảm đau, chống viêm trên hầu hết các loại viêm xương khớp không do nhiễm khuẩn (trừ paracetamol chỉ có tác dụng hạ sốt, giảm đau) Việc sử dụng NSAIDs trong điều trị như thế nào để đạt hiệu quả điều trị tốt nhất
và hạn chế TDKMM của thuốc là một vấn đề luôn được quan tâm, nhằm thực hiện tốt việc kê đơn thuốc hợp lý, an toàn hiệu quả và chủ động trong hoạt động cung ứng thuốc tại bệnh viện
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIẾN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Toàn bộ 458 Bệnh án của BN nội trú tại Khoa Khớp - Bệnh viện Quân y 103 từ ngày 01/01/2019 đến ngày 31/12/2019 có chỉ định NSAIDs điều trị
Trang 2các bệnh xương khớp.
Phương pháp nghiên cứu
Hồi cứu các bệnh án có kê đơn NSAIDs và các
thuốc phối hợp điều trị trong các bệnh xương khớp:
Tuổi, giới tính, thời gian bị bệnh, các bệnh mắc
kèm; số thuốc trung bình trong một đơn thuốc;
số NSAIDs trung bình trong một đơn thuốc; các
thuốc làm giảm TDKMM của NSAIDs; dạng thuốc
thường gặp trong kê đơn; hiệu quả điều trị
Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 1/2019 đến hết tháng 12/2019; số liệu
nghiên cứu được xử lý bằng phần mềm excel 2010
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
Đặc điểm bệnh nhân điều trị nội trú các bệnh
xương khớp tại Khoa Khớp - Bệnh viện Quân y
103
* Giới tính: Tổng số 458 BN, trong đó nam
45,41% (208), nữ 54,59% (250), khác kết quả
nghiên cứu trước đó (Nam: 38%; Nữ: 62%) [1]
* Độ tuổi mắc bệnh xương khớp: Thường gặp BN
trên 60 tuổi (293; 63,97%), dưới 40 tuổi ít gặp (55;
12,01%), phù hợp kết quả nghiên cứu trước đó (TB: 68,8 ± 15,1) [1]
* Cơ cấu bệnh tật: Có 17 nhóm bệnh liên quan
đến xương khớp, trong đó bệnh thoái hóa khớp có
tỷ lệ cao nhất (32,97%), loãng xương cao thứ hai (25,11%), khác kết quả nghiên cứu trước đó (có 7 bệnh theo phân loại ICD) [1]
* Các bệnh lý mắc kèm: Có 17 nhóm bệnh mắc
kèm, trong đó bệnh tim mạch (TM) chiếm tỷ lệ cao nhất (30,57%); bệnh rối loạn đường huyết (RLĐH) chiếm 15,94%; bệnh dạ dày tá tràng (DDTT) chiếm 14,41%; hội chứng tiền đình chiếm tỷ lệ thấp nhất (1,31%), nhiều hơn kết quả nghiên cứu trước đó
về cơ cấu bệnh mắc kèm và khác biệt về tỷ lệ mắc (THA: 67,3%; ĐTĐ: 27,1%; DDTT: 29,7%) [1]
* Thời gian đợt điều trị trung bình: 8,7 ± 5,3 ngày,
phù hợp với kết quả nghiên cứu trước đó (8,8 ± 5,1 ngày) [1]
Tình hình kê đơn NSAIDs điều trị các bệnh xương khớp cho BN nội trú tại Khoa Khớp - Bệnh viện Quân y 103
* Số thuốc trung bình trong 1 bệnh án Bảng 1 Số thuốc trong 1 bệnh án điều trị bệnh xương khớp tại Khoa Khớp - Bệnh viện Quân y 103 (2019)
Số thuốc trung bình trong một đơn thuốc: 8,3 ± 2,9
Trang 3Số thuốc trung bình trong 1 bệnh án của BN
là 8,3 thuốc Bệnh án có 10 thuốc trở lên có tỷ lệ cao nhất (31,22%), bệnh án kê 2 thuốc có tỷ lệ thấp nhất (1,31%) và không có bệnh án nào kê 1 thuốc Người mắc bệnh xương khớp đa số tuổi cao nên có nhiều bệnh mắc kèm (tăng huyết áp, đái tháo đường týp 2, dạ dày tá tràng, gout, rối loạn
lipid máu, huyết áp, rối loạn tuần hoàn não,…) thường được điều trị nhiều kết hợp cùng lúc, nên ngoài việc điều trị các bệnh xương khớp (chủ yếu
là kê đơn NSAIDs), có nhiều nhóm thuốc khác đã được phối hợp để điều trị các bệnh mắc kèm gặp
ở BN [2], [5]
* Số NSAIDs trung bình trong 1 bệnh án Bảng 2 Số NSAIDs trong 1 bệnh án điều trị bệnh xương khớp
Số NSAIDs trung bình trong 1 bệnh án là 1,7 thuốc Bệnh án được kê 2 NSAIDs chiếm tỷ lệ cao nhất (69,83%); không có bệnh án nào kê đơn từ
4 NSAIDs trở lên Đây là sự thay đổi các NSAIDs
trong kê đơn của các thầy thuốc nhằm đạt được hiệu quả tối đa trong điều trị và phù hợp theo sơ đồ bậc thang chỉ định theo khuyến cáo của WHO [3]
* Số hoạt chất NSAIDs được kê trong các bệnh án Bảng 3 Số hoạt chất NSAIDs được kê trong các bệnh án
Trang 4Ghi chú: ƯC: Ức chế; ƯCCB: Ức chế chuyên
biệt; ƯCCL: Ức chế chọn lọc; ƯCKCL: Ức chế
không chọn lọc
Có 9 hoạt chất NSAIDs khác nhau được kê
trong bệnh án của BN điều trị bệnh xương khớp,
trong đó các thuốc ƯC COX - 2 (Etoricoxib,
Meloxicam, Celecoxib) chiếm tỷ lệ cao nhất với
517 lượt (66,36%) và có sự khác biệt với các kết
quả nghiên cứu trước đó (34,85% [2]; 41,74%
[4]), đã cho thấy các thuốc ƯC COX - 2 là lựa
chọn hàng đầu của các thầy thuốc khi điều trị
các bệnh xương khớp tại BVQY 103 [5] Do vậy,
các NSAIDs ƯCKCL COX thuộc dẫn xuất của các nhóm phenylacetic (Diclofenac), propionic (Dexibuprofen, loxoprofen), acid acetysalicylic chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ so với các thuốc ƯC COX - 2 (16,44%) [5] Paracetamol có cơ chế tác dụng trung ương đối với tác dụng giảm đau và hạ sốt, được dùng phối hợp với các không phải để tăng hiệu quả chống viêm, mà chủ yếu là tác dụng hạ sốt, giảm đau cho BN có liên quan hoặc không liên quan đến đau xương khớp [5]
* Các nhóm thuốc không phải là NSAIDs kê đơn trong bệnh án
Bảng 4 Các nhóm thuốc khác có trong bệnh án
Có 15 nhóm thuốc được kê đơn điều trị phối
hợp cùng các NSAIDs, trong đó, nhóm thuốc điều
trị rối loạn đường huyết cao nhất (16,48%), tiếp
theo là các thuốc điều trị gout (12,29%), các thuốc
tác dụng trên đường hô hấp, mắt, tai mũi họng có tỷ
lệ thấp (0,46% - 0,56%) Đây đều là các nhóm thuốc được dùng phối hợp điều trị các bệnh mắc kèm hoặc làm giảm TDKMM của NSAIDs [2], [4] BN mắc các bệnh về xương khớp phần lớn đã có tuổi, thường
bị mắc thêm các bệnh mạn tính như gout, rối loạn
Trang 5đường huyết, tim mạch, nên được các thầy thuốc kê đơn điều trị không chỉ có bệnh xương khớp, mà còn được điều trị cả các bệnh mắc kèm kết hợp nhiều bệnh một lúc, mặt khác cũng có liên quan đến các bệnh nên có sự phối hợp của các thuốc thuộc các
nhóm như ở bảng 5 là hoàn toàn phù hợp Thuốc hướng tâm thần được kê đơn là hoạt chất diazepam
có tác dụng an thần, gây ngủ để giúp BN có cảm giác dễ chịu trong những ngày đầu các triệu chứng viêm của xương khớp chưa giảm hoặc đỡ
Bảng 5 Các nhóm thuốc làm giảm tác dụng không mong muốn của NSAIDs
Có 2 nhóm thuốc làm giảm TDKMM của NSAIDs trên đường tiêu hóa, trong đó chủ yếu là nhóm thuốc ức chế bơm proton (PPI) (88,66%) với thuốc Lansoprazol được sử dụng nhiều nhất (19%) là do khả năng hấp thu nhanh sau khi uống (khoảng một giờ và đạt nồng độ đỉnh cao trong huyết tương sau 1,7 giờ), ức chế khoảng 80% lượng acid dạ dày được tạo ra và cải thiện các triệu chứng đau dạ dày, nhất là khi có sử dụng
NSAIDs [4] Có 33 trường hợp phải dùng thuốc bao phủ niêm mạc dạ dày, hành tá tràng (7%) khi
kê đơn NSAIDs, thấp hơn các kết quả nghiên cứu trước đó là 25,15% [2] và 21,19% [4], có thể là
do số trường hợp bị bệnh về dạ dày, hành tá tràng trước khi điều trị bệnh xương khớp thấp hơn các
cơ sở y tế khác nên nhóm thuốc này có tỷ lệ kê đơn không cao
* Dạng bào chế của Kê NSAIDs trong bệnh án theo Bảng 6 Tỷ lệ kê NSAIDs trong bệnh án theo dạng bào chế
Trang 6Về giảm triệu chứng đau: Số BN đỡ đau nhiều
chiếm tỷ lệ cao nhất (96,29%) với 441 BN, cao hơn
các kết quả trước đó (78,15% [2] và 80,91 % [4]);
đỡ đau ít chỉ có 2,40% (11BN), hết đau chỉ có 1 BN
Về khả năng phục hồi cơ năng sau điều trị: Đa
số BN có cải thiện (77,51%), cao hơn các kết quả
trước đó (71,23% [2] và 67,59 % [4]) và phục hồi
khả năng lao động (22,49%) tương đương các kết
quả nghiên cứu trước đó (23,06% [2]; 22,97% [4])
KẾT LUẬN
- BN điều trị bệnh xương khớp độ tuổi từ 60
trở lên chiếm đa số, nữ giới chiếm tỷ lệ (54,59%)
cao hơn nam giới (45,41%); bệnh thoái hóa khớp
là bệnh chính có tỷ lệ cao nhất (32,97%); bệnh tăng huyết áp là bệnh mắc kèm chiếm tỷ lệ cao nhất (30,57%)
- Tình hình kê đơn NSAIDs điều trị các bệnh xương khớp tại Khoa khớp BVQY 103: Số thuốc trung bình trong 1 bệnh án là 8,3 thuốc; NSAIDs trung bình là 1,7 thuốc Có 16 nhóm thuốc khác được sử dụng phối hợp với NSAIDs, trong đó nhóm thuốc điều trị các bệnh tim mạch chiếm tỷ lệ cao nhất (16,48%)
- Các NSAIDs thường được dùng trong điều trị bệnh xương khớp là ƯCKCL COX và thuốc ƯC COX-2,trong đó thuốc ƯC COX-2 chiếm tỷ lệ cao hơn (66,36%)
NSAIDs được kê trong các bệnh án có thuốc
uống, thuốc tiêm và dùng ngoài, trong đó đường
uống (viên nén bao phim, viên nang cứng, viên sủi,
bột pha dung dịch uống) là chủ yếu (96,14%), trong
đó viên nén bao phim chiếm tỷ lệ cao nhất (83,18%)
Dạng thuốc uống luôn giúp BN dễ sử dụng và viên
nén bao phim là dạng bào chế được nghiên cứu có
một lớp màng mỏng bao bọc bên ngoài viên thuốc,
có đặc tính không thấm nước trong giai đoạn đầu và
giảm được ma sát trong quá trình thuốc di chuyển từ miệng xuống dạ dày, do đó khi uống hạn chế kích ứng đường tiêu hóa [6] Dạng thuốc tiêm chiếm tỷ
lệ thấp (2,70%) do chỉ chỉ định hạn chế cho những
BN đang trong giai đoạn đau, viêm mạnh, cần được giảm đau, chống viêm nhanh Dạng gel được kê với
tỷ lệ thấp nhất (0,26%), chủ yếu điều trị giảm đau
và viêm tại chỗ, không điều trị toàn thân
* Kết quả điều trị Bảng 7 Kết quả điều trị
Trang 7Subject: Evaluate the situation of NSAIDs prescribing treatment for inpatients at the Department of
Arthritis - Military Hospital 103
Method: Retrospective and description of the prescription of NSAIDs for the treatment of osteoarthritis
in inpatient patient records at the Department of Arthritis - 103 Military Hospital, 2019
Results: The average number of NSAIDs in a medical record was 1.7 drugs; Number of medical records
changed 2 NSAIDs, accounting for the highest percentage (69.83%); COX-2 inhibitors are commonly prescribed in the treatment of osteoarthritis (66.36%); proton pump inhibitors (PPI) had the highest proportion (88.66%) among NSAIDs ADR limits; NSAIDs are mainly used in the form of film-coated tablets (83.18%)
Conclusion: NSAIDs are the most commonly prescribed group of drugs in the treatment of
osteoarthritis patients in the Department of Arthritis - 103 Military Hospital in 2019
Keywords: NSAIDs; Inpatient treatment; osteoarthritis.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Đức Công và cộng sự (2013), Khảo sát mô hình bệnh tật tại Khoa nội cơ xương Khớp - Bệnh viện
Thống Nhất năm 2012-2013, Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, phụ bản số 3-2013.
2 Nông Thị Len (2013), Khảo sát tình hình sử dụng thuốc giảm đau chống viêm không Steroid tại Bệnh viện
Điều dưỡng và Phục hồi chức năng Thái Nguyên, Luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp I, Trường Đại học Dược
Hà Nội
3 Bộ Y tế (2006), Dược lâm sàng, Nxb Y học, Hà Nội.
4 Quách Văn Bình (2018), Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs) và các
thuốc hỗ trợ trên BN có các yếu tố nguy cơ tiêu hóa và tim mạch tại Khoa khám bệnh - Trung tâm Y tế huyện Châu Phú, Sở Y tế An Giang, An Giang.
5 Wikipedia, Thuốc chống viêm không steroid.
6 Trường Đại học Dược Hà Nội (2004), Kỹ thuật bào chế và sinh dược học các dạng thuốc, tập 2, Nxb Y
học, Hà Nội
- Dạng bào chế phổ biến nhất được dùng là viên nén bao phim (83,18%) Bệnh nhân trong và sau điều trị đều giảm các triệu chứng đau (96,29%) và cải thiện tốt cơ năng (77,51%) Không phát hiện
bệnh nhân gặp TDKMM trong quá trình điều trị
- Đa số bệnh nhân giảm triệu chứng đau (96,29%) và phục hồi cơ năng sau điều trị (77,51%)