1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC CHỦ NGHĨA DUY VẬT NHÂN BẢN PHOIƠBẮC &VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC

20 902 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 219,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC CHỦ NGHĨA DUY VẬT NHÂN BẢN PHOIƠBẮC &VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC Nhắc đến Triết học thì có thể nói ngay đến Triết học Mác- Lênin với Chủ nghĩa duy vật hiện đại. Song mỗi một tư tưởng, một vấn đề thành công luôn cần có một quá trình phát triển lâu dài và những giai đoạn chuyển giao để hoàn thiện chúng.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC



TRIẾT HỌC

ĐỀ TÀI :

CHỦ NGHĨA DUY VẬT NHÂN BẢN PHOIƠBẮC &VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ

RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC

Học viên thực hiện: HỒ THỊ ĐOAN TRANG STT: 70 Nhóm:8

Lớp: Ngày 4 Khóa: 22 MSHV: 7701221238 Giảng viên phụ trách: TS.Bùi Văn Mưa

Trang 2

TP.HCM, tháng 12/2012.

LỜI MỞ ĐẦU

Nhắc đến Triết học thì có thể nói ngay đến Triết học Mác- Lênin với Chủ nghĩa duy vật hiện đại Song mỗi một tư tưởng, một vấn đề thành công luôn cần

có một quá trình phát triển lâu dài và những giai đoạn chuyển giao để hoàn thiện chúng Thì giai đoạn chuyển giao để đi tới thành công của Triết học Mác như ngày nay là Triết học cổ điển Đức.Tuy nó chỉlà một giai đoạn lịch sử tương đối ngắn song đã tạo ra những thành quả kỳ diệu trong lịch sử triết học Nó đã từng bước khắc phục những hạn chế siêu hình của triết học duy vật thế kỷ XVII, XVIII Và người đã viết chương cuối cùng hùng tráng trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật và vô thần để kết thúc bản giao hưởng “Triết học cổ điển Đức” – Bậc thầy vĩ đại mà C Mac và Ăngghen công nhận – Không ai khác chính là PHOIƠBẮC

Triết học của Phoiơbắc đóng vai trò quan trọng trong việc khôi phục và phát triển chủ nghĩa duy vật truyền thống; phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa duy tâm, đạo Cơ đốc giáo và biết đặt con người vào tâm điểm của phân tích triết học Triết học của Phoiơbắc cùng với Hêghen, là tiền đề lý luận của triết học Mác Mặc dù

có nhiều đóng góp như vậy, nhưng triết học của Ông vẫn còn nhiều hạn chế như Chủ nghĩa duy vật không triệt để, ảo mộng trong tình yêu, nhân đạo chung chung trừu tượng, kiên quyết trong tự nhiên…Và với việc khắc phục những hạn chế này cùng việc tiếp thu những tư tưởng có giá trị đã nâng Triết học lên một tầm cao mới – Triết học Mác với Chủ nghĩa duy vật hiện đại

Với Đề tài: “Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc & vai trò của

nó đối với sự ra đời của triết học Mác.”, bài viết sẽ đi sâu vào nghiên cứu

những hạn chế trong Chủ nghĩa nhân bản của Phoiơbắc và Mác – Ăngghen đã khắc phục những hạn chế đó như thế nào để tạo nên thành công vang dội của Chủ nghĩa duy vật hiện đại như ngày này Bên cạnh đó, sau khi nghiên cứu, bài

Trang 3

viết còn muốn đưa ra những bài học mà bản thân tự nhận thấy và muốn áp dụng vào cuộc sống hiện tại

CHƯƠNG 1: CHỦ NGHĨA DUY VẬT NHÂN BẢN PHOI-Ơ-BẮC

1.1 Lutvích Phoiơbắc (1804-1872):

Lútvích Phoiơbắc là một đại biểu lỗi lạc của nền triết học cổ điển Đức, nhà duy vật lớn nhất của triết học thời kỳ trước Mác, nhà vô thần, bậc tiền bối của triết học Mác Ông sinh năm 1804 trong một gia đình luật sư nổi tiếng ở Đức Ông đã theo học ở trường đại học tổng hợp Beclin, tham gia phái Hêghen trẻ Về sau chịu ảnh hưởng của các nhà khai sáng pháp TK XVIII, phê phán người thầy

Hêghen của mình, xây dựng hệ thống triết học duy vật riêng của mình – Chủ

nghĩa duy vật nhân bản.

Các tác phẩm triết học lớn của ông là "Những nguyên lý cơ bản của triết học tương lai" (l843); "Bản chất của cơ đốc giáo", "lịch sử triết học" Trong các tác phẩm này Phoiơbắc luận chứng cho những quan điểm duy vật của ông

1.2 Chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc:

1.2.1 Tổng quan:

Vấn đề con người đã phát sinh và tồn tại từ khi triết học mới hình thành, nhưng phải đến cuối thế kỷ XIX, khi xuất hiện hệ thống triết học của I.Cantơ, các

Trang 4

quan niệm về con người mới được trình bày dưới dạng một học thuyết triết học với tên gọi nhân học (anthropology) Tiếp thu những giá trị tư tưởng của I.Cantơ

và dựa trên những thành tựu khoa học tự nhiên đương thời, Phoiơbắc có tham vọng thiết lập một nền triết học mới – triết học về chính con người - nghiên cứu các vấn đề về con người để làm sáng tỏ bản chất con người đang tồn tại và giải

quyết vấn đề về mối quan hệ giữa “giới tự nhiên và con người”, giữa “tư duy và

tồn tại” và tạo cho con người một cuộc sống thật sự hạnh phúc trên trần gian.

Coi con người là đối tượng nghiên cứu của triết học và do khoa học nghiên cứu về bản chất của con người là nhân bản học nên triết học mới đó – triết

học trong tương lai phải là Triết học duy vật nhân bản

1.2.2 Những quan điểm của Phoiơbắc:

1.2.2.1 Con người thống nhất với giới tự nhiên:

Chân lý, theo Phoiơbắc, không phải là Chủ nghĩa duy vật hay duy tâm

mà chân lý chỉ có thể là nhân bản học, tức là học thuyết về con người

Vậy con người là gì? Phoiơbắc cho rằng đó là những con người bằng xương, bằng thịt đang sống và làm việc, là chính bản thân chúng ta chứ không phải là con người trong trí tưởng tượng Hơn tất cả các sự vật hiện tượng khác trong giới tự nhiên, con người là một thực thể sinh vật có cảm giác, biết tư duy,

có ham muốn, có hoài bão, khát vọng, là một bộ phận của tự nhiên mà xét theo bản chất là có tình thương yêu

Con người là sản phẩm tất yếu cao nhất của giới tự nhiên; giới tự nhiên là

cơ thể vô cơ của con người Con người dựa vào giới tự nhiên để thỏa mọi nhu cầu; giới tự nhiên đã ảnh hưởng đến mọi tâm tư, tình cảm, hiểu biết của con người, làm cho con người này khác con người kia Bằng cảm giác, tư duy conngười nhận thức giới tự nhiên

Con người mang bản tính vừa cá nhân vừa cộng đồng có bản chất là yêu.Bản chất con người bộc lộ trong con người hạnh phúc – con người đang sống trong sự thỏa mãn nhu cầu tự nhiên và sự chan hòa với cộng đồng xã hội; tự do hành động theo tình cảm, khát vọng, nhu cầu… của mình Muốn sống hạnh phúc, con người cần phải cải tạo điều kiện sống sao cho phù hợp với bản tính của mình

Trang 5

Quan niệm về con người trong triết học L.Phoiơbắc như đã trình bày ở trên, theo đánh giá của A.G.Spirkin, “chính là điểm xuất phát cho những lập luận của Mác về con người và bản chất con người” Bởi vì, bằng những quan niệm đó, người mở đường cho Chủ nghĩa duy vật nhân bản đã giáng một đòn phá tan mâu thuẫn giữa chủ nghĩa duy vật và duy tâm khách quan, “đưa một cách không úp

mở chủ nghĩa duy vật trở lại ngôi vua” và khẳng định một cách dứt khoát rằng,

“tự nhiên tồn tại độc lập đối với mọi triết học Nó là cơ sở trên đó con người chúng ta – bản thân chúng ta cũng là sản phẩm của tự nhiên - đã sinh trưởng”

1.2.2.2 Tồn tại và tư duy:

Từ việc quan sát hình thể bên ngoài cũng như mọi hoạt động lao động sản xuất, hoạt động tinh thần của con người, Phoiơbắc cho rằng: bản chất con người

là một cái gì đó thống nhất toàn vẹn giữa hai phương diện thể xác (tồn tại) và tinh thần (tư duy) Sự thống nhất này đảm bảo cho sự sống của con người có thể tồn tại và phát triển như một sinh vật cao nhất, hoàn thiện nhất trong mọi sinh vật

Phê phán những quan điểm sai lầm của chủ nghĩa duy tâm cũng như của nhị nguyên luận trong việc tách đôi thể xác và tinh thần, tồn tại và tư duy, Phoiơbắc khẳng định rằng, “quan hệ thực sự của tồn tại đối với tư duy là: tồn tại – chủ thể (sujective), tư duy – thuộc tính (prelicate) Tư duy xuất phát từ tồn tại, chứ không phải tồn tại xuất phát từ tư duy…, cơ sở của tồn tại nằm ngay trong tồn tại, tồn tại chính là cảm tính, là nguyên lý, trí tuệ, là sự tất yếu và chân lý… bản chất của tồn tại với tư cách một tồn tại chính là bản chất của giới tự nhiên

1.2.2.3 Tình yêu:

Tình yêu vừa là phương tiện vừa là mục đích của sự hòa hợp xã hội, là động lực tiến bộ xã hội; con người và tình yêu chỉ là một Bản chất của con người

là tình yêu và Ông cho rằng: “Chúng ta sẽ không thể là con người nếu không biết yêu; đứa trẻ chỉ trở thành người lớn khi nó biết yêu; tình yêu phụ nữ là tình yêu phổ quát, ai không yêu phụ nữ người đó không yêu con người”, “Tình yêu của đàn ông dành cho đàn bà là tình yêu đích thực”

Trang 6

Tôn giáo cũng là một tình yêu Do vậy, thay thế cho thứ tôn giáo tôn sùng một vị thượng đế siêu nhiên cần xây dựng một thứ tôn giáo mới phù hợp với tình yêu của con người Ông cho rằng cần phải biến tình yêu thương giữa con người thành mối quan hệ chi phối mọi mối quan hệ xã hội khác, thành lý tưởng xã hội Ông khuyên mọi người rằng : “Hãy yêu nhau đi, hãy ôm lấy nhau mà hôn đi”

1.2.2.4 Tôn giáo:

Tôn giáo là sản phẩm tất yếu của tâm lý cá nhân và bản chất con người Người ta ai cũng sợ chết, cần có niềm tin, và an ủi Bản chất của thần học, do vậy, chứa đựng trong nhân bản học, là sản phẩm của sự tưởng tượng phong phú

và thể hiện sự mềm yếu, bất lực của con người đối với các vấn đề xã hội

Nguyên lý nhân bản của triết học Phoiơbắc là xoá bỏ sự tách rời giữa tinh thần và thể xác do triết học duy tâm và triết học nhị nguyên tao ra Ông đấu tranh chống các quan niệm tôn giáo chính thống của đạo thiên chúa, đặc biệt là quan niệm về Thượng đế Trái với các quan niệm tôn giáo và thần học cho rằng Thượng đế tạo ra con người, ông khẳng định chính con người tạo ra Thượng đế Ông nói: "Tư tưởng và dụng ý của con người như thế nào thì chúa của con người như thế Giá trị của Chúa không vượt quá giá trị con người Ý thức của Chúa là

tự ý thức của con người, nhận thức của chúa là tự nhận thức của con người"

Tôn giáo vừa là ảo tưởng vừa là mơ ước, khát vọng đời thường của con người; là sự tha hóa bản chất của con người Phải lựa chọn: hoặc là tôn giáo – tín ngưỡng – Thượng đế, hoặc là khoa học nhân bản – tình yêu – Con người

Ông không xóa bỏ hoàn toàn tôn giáo mà Ông cho rằng: “Con người cần niềm tin để an ủi mình trong cuộc sống đau khổ là Thay Cơ đốc giáo bằng tôn giáo mới - tôn giáo của tình yêu vĩnh cữu - phổ quát giữa con người dựa trên tính nhân bản mà trong đó vai trò Thượng đế được giao cho chính con người”

1.2.2.5 Nhận thức:

Khách thể của nhận thức là giới tự nhiên và con người chứ không phải lý tính logic trừu tượng hay thượng đế Chủ thể của nhận thức là Con người đang tồn tại có cảm giác và lý trí

Trang 7

Cảm tính trực quan là nguồn gốc của tư duy lý luận Tư duy lý luận xử lý tài liệu cảm tính để khám phá ra chân lý Chân lý là sự phù hợp của tư tưởng trong chủ thể với đối tượng được tư tưởng – khách thể

Nhờ vào năng lực của cảm giác và lý trí mà con người có thể nhận thức đầy đủ giới tự nhiên; đó là một quá trình lâu dài, thông qua các cá nhân và các thế hệ khác nhau Nếu một người không thể nhận thức được thế giới thì tất cả mọi thế hệ nối tiếp có thể nhận thức được thế giới quan vô tận

1.3 Những giá trị và hạn chế của Chủ nghĩa duy vật nhân bản:

1.3.1 Những giá trị:

Phần này đi sâu nghiên cứu những hạn chế và việc đánh giá vai trò của Chủ nghĩa nhân bản sẽ trình bày rõ hơn ở Chương 2

1.3.2 Những hạn chế:

1.3.2.1 Không triệt để trong Chủ nghĩa duy vật:

Hạn chế cơ bản, bao trùm toàn bộ Triết học nhân bản là việc tách rời lịch

sử khỏi chủ nghĩa duy vật Chủ nghĩa duy vật còn mang tính máy móc, có đặc trưng siêu hình, có nghĩa là không biện chứng Và chủ nghĩa duy vật đó không triệt để, duy tâm trong cách hiểu về các hiện tượng xã hội:

Đánh giá thấp vai trò của ý thức do thiếu quan điểm thực tiễn:

Phoiơbắc tuy có đề cập đến thực tiễn, nhưng ông không thấy được thực tiễn như là hoạt động vật chất cảm tính, có tính năng động của con người Do đó

Trang 8

ông đã coi thường hoạt động thực tiễn, xem thực tiễn là cái gì có tính chất "con buôn bẩn thỉu" Chỉ có hoạt động lý luận mới là quan trọng, mới là hoạt động đích thực của con người

Do chịu ảnh hưởng của quan điểm siêu hình và do thiếu quan điểm thực tiễn nên Ông coi nhận thức là một quá trình tĩnh tại, thụ động của chủ thể tiếp nhận hình ảnh của khách thể; coi thực tiễn mang tính thấp hèn, cần được loại ra khỏi nhận thức, trục xuất ra khỏi hệ thống triết học; không hiểu hoạt động khoa học cũng là hoạt động thực tiễn; không thấy được vai trò to lớn của thực tiễn đối trong quá trình hoàn thiện nhân cách chủ nghĩa, thúc đẩy phát triển sản xuất nói riêng, xã hội nói chung.Và do không nhìn thấy mối quan hệ biện chứng giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, nên ông không thể lý giải được một cách duy vật quá trình bộ óc của con người sản sinh ra ý thức và tư duy như thế nào

Nếu như chủ nghĩa duy tâm cường điệu vai trò của ý thức, tư tưởng đến mức coi ý sinh ra vật chất thì trái lại, chủ nghĩa duy vật trước Mác lại hạ thấp hoặc phủ nhận vai trò của ý thức, không thấy được sự tác động vô cùng quan trọng của ý thức đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người

Xem xét Con người một cách trừu tượng:

Quan niệm về con người rất trừu tượng, phi lịch sử (giai cấp, dân tộc); chỉ quan tâm đến mặt tự nhiên siêu hình mà không chú ý mặt xã hội và điều kiện chính trị xã hội của con người; xem xét con người với tư cách một cá nhân thuần tuý, biệt lập, tách khỏi cơ sở tồn tại hiện thực của nó – phương thức sản xuất Con người chỉ là một thực thể trừu tượng, bất biến, nghĩa là con người ở bên ngoài lịch sử, đứng trên giai cấp, dân tộc và thời đại Ông không xem xét con người trong mối quan hệ xã hội nhất định, trong những điều kiện sinh hoạt hiện

có của họ, những điều kiện làm cho họ trở thành những con người đúng như họ đang tồn tại trong thực tế Tức là, Ông không bao giờ tới được những con người hành động đang tồn tại thực sự, mà ông vẫn cứ dừng lại ở một sự trừu tượng

Thực tế, Phoiơbắc đã không phê phán những điều kiện sinh hoạt hiện tại

và cũng “không bao giờ hiểu được rằng, thế giới cảm giác được là tổng số những hoạt động sống và cảm giác được của những cá nhân họp thành thế giới ấy” Mác

Trang 9

và Ăngghen đã đưa ra kết luận rằng, “Khi Phoiơbắc là nhà duy vật thì ông không bao giờ đề cập tới lịch sử; còn khi ông xem xét đến lịch sử thì ông không phải là nhà duy vật ỞPhoiơbắc, lịch sử và chủ nghĩa duy vật hoàn toàn tách rời nhau.”

Chỉ nhìn thấy sự khác biệt cơ bản giữa con người và các loài động vật khác về phương diện nhận thức mà không thấy rằng, sự khác biệt đó được bắt đầu từ hành vi sản xuất vật chất:

Sự khác biệt giữa con người và con vật về phương diện tư duy như quan niệm của Phoiơbắc chỉ là sự khác biệt mang tính phái sinh mà thôi, còn nguyên nhân cơ bản của sự khác biệt đó nằm ngay trong đời sống vật chất của con người

Hoà tan bản chất tôn giáo vào bản chất con người:

Dành chỗ cho chủ nghĩa duy tâm và thần học khi cho rằng: động lực của lịch sử là sự thực hiện những khát vọng cá nhân và lịch sử nhân loại là sự thay thế lẫn nhau của các hình thức tôn giáo

1.3.2.2 Ảo mộng trong tình yêu:

Ở Ông, con người “hiện thực, cá thể, bằng xương, bằng thịt” chỉ đóng khung trong tình cảm thôi và hoàn toàn không biết đến những “quan hệ con người” nào khác, ngoài tình yêu và tình bạn được lý tưởng hoá Ông đã tuyệt đối hóa tình yêu và coi tình yêu là bản chất của con người

Tôn giáo cũng là một tình yêu, là mối quan hệ thương yêu giữa người với người; mối quan hệ này, cho đến nay, vẫn đi tìm chân lý của nó ở sự phản ánh huyền ảo của hiện thực - ở sự trung gian của một ông thần hay nhiều ông thần, tức là những hình ảnh huyền ảo của các thuộc tính của con người - nhưng ngày nay đã tìm thấy chân lý ấy, một cách trực tiếp không cần có trung gian, trong tình thương yêu giữa “Tôi” và “Anh” Và chính vì thế mà theo Phoiơbắc thì cuối cùng tình yêu nam nữ là một trong những hình thức cao nhất, nếu không phải là hình thức cao nhất, của việc thực hành tôn giáo mới của ông

Trong điều kiện của xã hội tư sản Đức thời đó, với sự phân chia giai cấp thì chủ nghĩa nhân đạo về tình yêu thương con người trở thành chủ nghĩa nhân đạo trừu tượng, duy tâm

1.1.1.1 Kiên quyết duy vật trong tự nhiên:

Trang 10

Khi Ông đòi hỏi triết học mới - triết học nhân bản - phải gắn liền với tự nhiên thì đồng thời đã đứng luôn trên lập trường của chủ nghĩa tự nhiên mà không chú ý đến mặt xã hội và điều kiện kinh tế xã hội để xem xét mọi hiện tượng thuộc về con người và xã hội

1.3.3 Nguyên nhân của hạn chế:

Ăng-ghen đã chỉ ra nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trên: “Đó là lỗi tại những điều kiện thảm hại ở Đức hồi đó, những điều kiện đã khiến cho những ghế giáo sư triết học đều do bọn chiết trung chủ nghĩa chuyên giết rệp chiếm đoạt hết, còn Phoiơbắc, người vượt tất cả những bọn đó một trời một vực, lại buộc phải nông dân hoá và rầu rĩ trong một làng nhỏ Nếu như Phoiơbắc vẫn không tiếp thu được quan điểm lịch sử về tự nhiên… và đã trút bỏ được tất cả cái gì là phiến diện trong chủ nghĩa duy vật Pháp, thì đó không phải là lỗi tại ông”

Chính trong điều kiện xã hội và điều kiện sống như thế, nên chủ nghĩa duy vật của Ông là không biện chứng và về xã hội cũng không thoát khỏi chủ nghĩa duy tâm cổ truyền Ăngghen đã trích lời của Phoiơbắc như sau: “Đi lùi lại đằng sau tôi hoàn toàn nhất trí với các nhà duy vật chủ nghĩa, nhưng khi tiến lên phía trước, tôi không nhất trí với họ”

Nhân đạo chung chung trừu tượng

Ngày đăng: 18/11/2014, 18:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w