1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tài liệu ôn thi môn Dân vận lớp Trung cấp lý luận chính trị

17 2,3K 17

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 39,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề 1: Mặt trận tổ quốc Việt Nam Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị của nước ta hiện nay. Sự qui định này là do yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng, là xuất phát tư thể chế chính trị: nước ta là nước dân chủ, mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Đây là vấn đề lịch sử, vấn đề truyền thống. Vai trò của Mặt trận không phải tự Mặt trận đặt ra mà là do chính nhân dân, chính lịch sử thừa nhận.

Trang 1

Vấn đề 1: Mặt trận tổ quốc Việt Nam

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị của nước ta hiện nay Sự qui định này là do yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng, là xuất phát tư thể chế chính trị: nước ta là nước dân chủ, mọi quyền lực thuộc về nhân dân Đây là vấn đề lịch

sử, vấn đề truyền thống Vai trò của Mặt trận không phải tự Mặt trận đặt ra mà là do chính nhân dân, chính lịch sử thừa nhận

Từ khi có Đảng là có Mặt trận, ngay sau khi nhân dân giành được chính quyền, Mặt trận

đã trở thành một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị Tuy vai trò, vị trí, chức năng và phương thức hoạt động của từng bộ phận cấu thành trong hệ thống chính trị có khác nhau nhưng đều là công cụ thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân nhằm một mục đích chung là: Phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh, có vị trí xứng đáng trên trường quốc tế Hiến pháp năm 2013 đã xác định:

"Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân ” điều đó càng khẳng định Mặt trận Tổ quốcViệt nam là một bộ phận không thể thiếu được của hệ thống chính trị nước ta

* Nhiệm vụ của Mặt trận tổ quốc Việt Nam:

Điều 2 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là:

- Tập hợp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân

- Tuyên truyền, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật

- Giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước

- Tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước

- Tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân cùng Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân

- Tham gia phát triển tình hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới

* Chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Để phát huy vai trò của MTTQ Việt Nam, các đoàn thể nhân dân trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước, Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã đề ra một nhiệm

vụ mới cho Mặt trận và các đoàn thể nhân dân là: "Nhà nước ban hành cơ chế để Mặt trận và các đoàn thể thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội."

Giám sát và phản biện xã hội là một trong những chức năng, nhiệm vụ cơ bản, quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, được quy định rõ trong Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị, theo đó:

“Giám sát” là việc theo dõi, phát hiện, xem xét; đánh giá kiến nghị nhằm tác động đối với cơ quan, tổ chức và cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhà nước

về việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Giám sát nhằm góp phần xây dựng và thực hiện đúng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại; kịp thời phát hiện những sai sót, khuyết điểm, yếu kém và kiến

Trang 2

nghị sửa đổi, bổ sung các chính sách cho phù hợp; phát hiện, phổ biến những nhân tố mới, những mặt tích cực; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh

“Phản biện xã hội” là việc nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước Phản biện xã hội nhằm phát hiện những nội dung còn thiếu, chưa sát, chưa đúng, chưa phù hợp trong các văn bản dự thảo của các cơ quan Đảng, Nhà nước; kiến nghị những nội dung thiết thực, góp phần bảo đảm tính đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội và tính hiệu quả trong việc hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân; phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội

Giám sát và phản biện xã hội mang tính nhân dân, tính dân chủ xã hội chủ nghĩa, tính xây dựng, tính khoa học và thực tiễn Phản biện xã hội là một hoạt động rộng rãi mang tính nhân dân và có tổ chức, là việc một tổ chức đưa ra những chứng lý, lý lẽ, căn cứ khoa học để làm rõ bản chất của một vấn đề, một sự kiện nào đó, là cơ sở để đưa ra một một chủ trương, chính sách, quyết định hợp lý, hợp pháp

Phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam là nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân tham gia xây dựng chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật và chính sách cụ thể của nhà nước, góp phần hoàn thiện các chủ trương, chính sách, pháp luật sát hợp với thực tiễn của đời sống xã hội, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng và thể hiện được ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân Đồng thời, thông qua hoạt động phản biện xã hội, sẽ góp phần nâng cao vai trò của MTTQ Việt Nam trong việc xây dựng, tập hợp khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nâng cao năng lực, sức chiến đấu của Đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ngày càng trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả

Nguyên tắc giám sát và phản biện xã hội

1- Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật, Điều lệ Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam và Điều lệ các đoàn thể chính trị - xã hội

2- Có sự phối hợp chặt chẽ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị

- xã hội với các cơ quan, tổ chức có liên quan; không làm trở ngại các hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân được giám sát và phản biện xã hội

3- Bảo đảm dân chủ, công khai, khách quan và mang tính xây dựng

4- Tôn trọng các ý kiến khác nhau, nhưng không trái với quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, đoàn viên, hội viên, lợi ích quốc gia, dân tộc

Trang 3

II Bài tập tình huống 1: Giải thích “Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” (Hồ Chí Minh)

Dân vận là một trong những công tác cơ bản của Đảng ta, có ý nghĩa chiến lược trong mọi thời kỳ cách mạng Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, gắn liền với từng bước trưởng thành của Đảng, công tác dân vận về thực chất là xây dựng, củng cố, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân và đã trở thành một truyền thống cực kỳ quý báu

và tốt đẹp của Đảng ta Như vậy, công tác dân vận là toàn bộ hoạt động của Đảng nhằm tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân, được thể hiện bằng việc vận động nhân dân thực hiện đg lối, chính sách của Đảng, pháp luật của NN thông qua nhà nước XHCN, các tổ chức Đảng, tổ chức chính trị - xã hội và vai trò tiên phong gương mẫu của đội ngũ cán

bộ, đảng viên

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định công tác vận động quần chúng là một nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa quyết định cho sự thành bại của cách mạng trong bất cứ điều kiện và hoàn cảnh nào Tư tưởng đó đã được Người thể hiện sinh động trong bài báo

"Dân vận" đăng trên Báo Sự thật số 120, ra ngày 15/10/1949 Mở đầu bài báo, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: Vấn đề dân vận nói đã nhiều, bàn đã kỹ nhưng vì nhiều địa phương, nhiều cán bộ chưa hiểu thấu, làm chưa đúng, cho nên cần phải nhắc lại Bác chỉ rõ: “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và đoàn thể đã giao cho”; “Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân (Liên Việt, Việt Minh, v.v…) đều phải phụ trách dân vận” Và Người kết luận: “Lực lượng của dân rất to Việc dân vận rất quan trọng Dân vận kém thì việc gì cũng kém Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”

Sự nghiệp cách mạng của Đảng là lãnh đạo nhân dân đứng lên đấu tranh giành độc lập Dân tộc, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân Đó là một nhà nước tốt đẹp, trong đó người dân thực sự làm chủ

Cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, thực hành dân chủ là mục tiêu động lực của công tác quần chúng, là cái “chìa khóa vạn năng” có thể giải quyết được mọi khó khăn

Xuất phát từ quan điểm "cách mạng là sự nghiệp của quần chúng", Hồ Chí Minh luôn nhìn nhận và đánh giá đúng lực lượng to lớn của dân Người cho rằng, dù là việc lớn hay việc nhỏ đều phải bàn bạc, lấy ý kiến của nhân dân, rồi vận động nhân dân thực hiện, có như thế thì công việc mới thành công “Trong mọi việc đều phải dựa vào quần chúng… Lấy sức quần chúng mà vượt khó khăn…” “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong”, lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết; Không ai chiến thắng được lực lượng đó Xuất phát từ quan điểm ấy, Bác đã tha thiết kêu gọi tất cả mọi người dân yêu nước, không phân biệt tầng lớp nào, tín ngưỡng nào; chúng ta hãy thật thà cộng tác vì dân vì nước Người căn dặn: Cần xóa bỏ hết thành kiến, cần phải thật thà đoàn kết với nhau, giúp

đỡ nhau cùng tiến bộ để phục vụ nhân dân Như vậy, lực lượng làm nên thành bại của cách mạng, thành công của công cuộc kiến thiết nước nhà đi tới ấm no, hạnh phúc và bảo vệ vững chắc chủ quyền, độc lập, thống nhất Tổ quốc, toàn vẹn lãnh thổ trong mọi thời đại, mọi hoàn cảnh chính là dân, nhân dân

Cũng trong tư tưởng của Người về “ Dân vận khéo”, tiêu chí để đánh giá dân vận khéo là hiệu quả của công tác dân vận và “thành công” là tiêu chí cũng là dấu hiệu đúng đắn duy nhất cho biết một hoạt động dân vận là “khéo”

Khi nói “Dân vận khéo”, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, trong từng thời kỳ cách mạng, cũng như trong từng thời gian cụ thể, việc xác định mục tiêu, nội dung dân vận đúng hay không

Trang 4

đúng sẽ quyết định đến việc thành công hay không thành công của cách mạng “Dân vận khéo” như Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu, thì điều có ý nghĩa quyết định là phải xác định đúng đắn mục tiêu và nội dung của công tác này, và bằng mọi cách biến mục tiêu, nội dung

đó thành sự thật

Khéo: là sự tinh tế, khéo nắm bắt, đánh trúng tâm lý, suy nghỉ của người nghe, tùy từng đối tượng, độ tuổi, trình độ mà có sự tinh tế trong cách vận động, đó là một nghệ thuật Dân vận khéo là dân vận sát dân Bác nói : "cách làm việc, cách tổ chức, nói chuyện, tuyên truyền, khẩu hiệu, viết báo " của chúng ta đều phải lấy câu này làm khuôn phép "Từ trong quần chúng mà ra Về sâu trong quần chúng" Nghĩa là "Bất cứ việc to, việc nhỏ, chúng ta phải xét rõ và làm cho phù hợp với trình độ văn hóa, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh nghiệm tranh đấu, lòng ham ý muốn, tình hình thực tế của quần chúng Do đó

mà định ra cách làm việc, cách tổ chức Có như thế mới có thể lôi kéo được quần chúng" Người cũng chỉ ra rằng chỉ có làm tốt công tác dân vận thì mới huy động được sức mạnh

vô địch của quần chúng nhân dân Người nói: "Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân"(8) Do đó cách mạng muốn thành công, đạt được nhiều thành tựu lớn lao thì phải xây dựng nền tảng từ nhân dân:"Gốc có vững, cây mới bền, Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân"(9) Hồ Chí Minh đã kết luận: "kinh nghiệm trong nước và các nước cho chúng ta biết: có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy cũng làm được Không có, thì việc gì làm cũng không xong"(10) Do đó, cần phải nhận thức rõ công tác vận động, giác ngộ quần chúng là công tác quan trọng quyết định thành bại của cách mạng Với nhận định ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa vị trí của nhân dân lên hàng tối thượng, khẳng định sức mạnh vô địch của quần chúng nhân dân trong lịch sử cách mạng Việt nam

Tư tưởng dân vận của Bác đã được khẳng định trong thực tiễn suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam: Trong hoạt động cách mạng, làm tốt công tác dân vận sẽ được nhân dân nuôi dưỡng, che chở, giúp đỡ để hoàn thành mọi nhiệm vụ; trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm tốt công tác dân vận sẽ phát huy được sáng kiến, kinh nghiệm, nguồn lực và sự ủng hộ của nhân dân để công tác đạt hiệu quả cao; trong xây dựng nông thôn mới, làm tốt công tác dân vận sẽ huy động được nội lực, nhân dân tự nguyện hiến đất, đóng góp ngày công làm các công trình phúc lợi phục vụ cộng đồng; biết lắng nghe ý kiến nhân dân để xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch vững mạnh… Hiệu quả của việc làm tốt công tác dân vận là nhân dân được hưởng lợi, cán bộ được trưởng thành, tổ chức không ngừng phát triển, mối quan hệ Đảng – Dân ngày càng gắn bó mật thiết, khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và phát huy

Về phương pháp dân vận: Cán bộ dân vận “Phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm” Người đặc biệt chú ý đến tầm cao trí tuệ của người làm công tác dân vận (óc nghĩ); mục thị được sự việc liên quan đến chức năng nhiệm vụ công tác dân vận (mắt trông); nghe được dân nói, nhưng không rơi vào tình trạng theo đuôi quần chúng mà phải biểu thị được thái độ vừa cầu thị vừa định hướng dẫn dắt được quần chúng (tai nghe); khảo sát tình hình thực tế (chân đi); tuyên truyền, cổ động nhân dân phải đúng và khéo thực hiện các nhiệm vụ cách mạng; giáo dục bằng tấm gương sống và làm việc của mình (tay làm) Tất cả phải được phối hợp một cách nhịp nhàng ở người cán bộ dân vận.

Quy trình của công tác dân vận được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra từ năm 1949, như sau: 1 Giải trình cho dân hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ của họ (dân biết); 2 Bàn bạc với dân, hỏi ý kiến, kinh nghiệm của dân (dân bàn); 3 động viên và tổ chức toàn dân thi hành

Trang 5

(dân làm); 4 Cùng với dân kiểm thảo, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng (dân kiểm tra).

Việc quán triệt và thực hiện tốt các quan điểm về công tác dân vận, nhất là quan điểm

“Dân vận khéo” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần quan trọng trong vận động, tập hợp, tạo ra sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc - nhân tố cơ bản để giành thắng lợi trong đấu tranh giải phóng dân tộc Hiện nay, việc vận dụng quan điểm “Dân vận khéo” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tiến hành công tác dân vận ở chính quyền cơ sở thực sự mang tính bức thiết Muốn vậy, cần chú ý thực hiện tốt các nội dung sau:

Một là, quán triệt, giáo dục quan điểm “Dân vận khéo” của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng về công tác dân vận.

Việc quán triệt, giáo dục quan điểm “Dân vận khéo” của Chủ tịch Hồ Chí Minh phải được tiến hành bài bản, cụ thể và phù hợp với thực tiễn của từng địa phương, như phải gắn với chương trình học tập, bồi dưỡng của cán bộ, đảng viên; tập huấn nghiệp vụ; sinh hoạt, nói chuyện chuyên đề; sơ, tổng kết về công tác dân vận… Quá trình đó đồng thời gắn với quán triệt, thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng về công tác dân vận, đặc biệt là thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 7 (khóa XI) về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”.

Hai là, thường xuyên bồi dưỡng phương pháp “Dân vận khéo” cho đội ngũ cán bộ, công chức.

Xây dựng cho cán bộ, công chức tinh thần tôn trọng và phục vụ nhân dân vô điều kiện; xây dựng và thực hành phong cách “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân” Rèn luyện cho cán bộ, công chức biết cách vận dụng thành thạo các bước công tác: Điều tra, nghiên cứu, khảo sát nắm chắc tình hình nhân dân trên địa bàn thông qua các kênh thông tin khác nhau, các hoạt động của các tổ chức đoàn thể ; tuyên truyền, giáo dục nhân dân về chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định ở địa phương; vận động, thuyết phục nhân dân hưởng ứng, tham gia phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, quốc phòng, phong trào “xóa đói, giảm nghèo”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; hướng dẫn nhân dân thực hiện nếp sống văn minh, phát triển sản xuất, ứng dụng khoa học - kỹ thuật để nâng cao năng suất lao động…

Ba là, phát huy vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở tiến hành công tác dân vận.

Tổ chức cơ sở đảng là hạt nhân trực tiếp lãnh đạo tiến hành công tác dân vận Do vậy, cấp ủy đảng ở cơ sở phải đề ra chủ trương, biện pháp cụ thể cho từng thời gian nhất định; giao trách nhiệm dân vận cho từng cán bộ, đảng viên; lãnh đạo chính quyền, mặt trận Tổ quốc, đoàn thanh niên, hội nông dân, hội phụ nữ, hội chiến binh cùng tiến hành công tác dân vận Đặc biệt, phải xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức trong hệ thống chính trị và lãnh đạo, chỉ đạo việc kiểm tra, đôn đốc, phối hợp giữa các tổ chức trong công tác dân vận phải nhịp nhàng, đồng bộ.

Bốn là, xây dựng và nhân rộng mô hình “dân vận khéo”.

Để xây dựng được mô hình "dân vận khéo" đòi hỏi cấp ủy mỗi địa phương phải có chủ trương, kế hoạch sát thực tế và thực hiện chặt chẽ các khâu: Lựa chọn mô hình; dự kiến nhân sự; bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, phương pháp dân vận; xây dựng cơ sở vật chất và điều kiện cần thiết cho công tác dân vận; thử nghiệm mô hình và tổ chức rút kinh nghiệm;

học tập, vận dụng để nhân rộng mô hình

Trang 6

Vấn đề 2:

I Hoạt động chủ yếu của hội ND VN ở cơ sở:

* Khái niệm hội ND:

Nông dân là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp.

Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai Tùy từng quốc gia, từng thời kì lịch sử, người nông dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất Họ hình thành nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội

Hội Nông dân Việt Nam là đoàn thể chính trị - xã hội của giai cấp nông dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; cơ sở chính trị của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hội Nông dân Việt Nam tiền thân là Nông hội đỏ, thành lập ngày 14/10/1930, trải qua các thời kỳ cách mạng luôn trung thành với Đảng và dân tộc Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam là trung tâm, nòng cốt cho phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới

Mục đích của Hội là tập hợp đoàn kết nông dân, xây dựng giai cấp nông dân vững mạnh

về mọi mặt, xứng đáng là lực lượng tin cậy trong khối liên minh vững chắc công, nông, trí, bảo đảm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn

* Hoạt động chủ yếu của hội ND VN ở cơ sở gồm các nội dung chính sau:

- Đẩy mạnh các phong trào nông dân, trực tiếp thực hiện một số chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng nông thôn mới: tổ chức các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, dạy nghề, hỗ trợ việc làm, các dịch vụ về vốn, giống, nông nghiệp, tiêu thụ nông sản, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, chuyển giao tiến bộ khoa học, kỷ thuật, công nghệ mới để có năng suất chất lượng sản phẩm hàng hóa cao, khai thác tiềm năng, phát huy nội lực, cần kiệm phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại, kinh tế hợp tác

- Tổ chức, hướng dẫn nông dân chuyển dịch cơ cấu nông ngiệp, phát triển ngành nghề, khai thác và sử dụng có hiệu quả đất trống, đồi núi trọc, mặt nước ao hồ, đầm phá ven biển, phát triển các hình thức kinh tế hợp tác trong nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề, dịch vụ

- Chủ động tham gia vào chương trình quốc tế về xóa đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu bằng việc hướng đẫn người nghèo cách làm ăn về khuyến nông, khuyến lâm theo phương thức "cầm tay chỉ việc", giúp đỡ nhau tiêu thụ sản phẩm, xây dựng tổ hội nghề nghiệp, tổ đoàn kết, tổ hợp tác, HTX, tổ tương trợ, tổ liên doanh liên kết, giúp các hộ nghèo đói vươn lên

- Phát huy vai trò làm chủ của nông dân tham gia xây dựng hương ước, quy ước làng,

xã, thực hiện quy chế dân chủ ở nông thôn Xây dựng Đ, xây dựng chính quyền vững mạnh, thực hiện "Dân biết dân làm dân bàn dân kiểm tra" Những việc chung và những việc có liên quan đến quyền lợi và ghĩa vụ của ND làm tốt công tác hoàn giải và các mâu thuẩn trong nội

bộ của nông dân được giải quyết tốt ở cơ sở, xây dựng VH tinh thần, nếp sống lành mạnh, tiết kiệm trong việc ma chay, cưới xin, lễ hội; tích cực phòng chóng các tệ nạn xã hội, giữ gìn vệ sinh môi trường ở nông thôn

- Đổi mới phương thức hoạt động theo hướng đa dạng, thiết thực để thu hút và tập hợp đông đảo nông dân tham gia hoạt động hội:

Trang 7

+ Tăng cường các hoạt động dịch vụ hỗ trợ ND về vốn, kỷ thuật, công nghệ, tiêu thụ sp, thông tin thị trường, nhằm phục vụ cho sx, kinh doanh và tổ chức đời sống Chú trọng phương thức chỉ đạo điểm, xây dựng mô hình trình diễn, xây dựng các chi hội, tổ hội, hội viên thành những điển hình tiên tiến, tổng kết rút kinh nghiệm và nhân ra diện rộng để nhiều người học tập và làm theo

+ Tổ chức các hội thi "kiến thức nhà nông", "nhà nông đua tài", "chi hội trưởng giỏi",

"chủ nhiệm câu lạc bộ ND giỏi", thi tìm hiểu PL bằng hình thức sân khấu hóa, hội nghị chuyên đề, hội nghị đầu bờ về phát triển kinh tế hộ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phổ biến khoa học-kỷ thuật, thông qua VH văn nghệ, gương "người tốt, việc tốt" để tuyên truyền giáo dục hội viên hội ND

+ Các chi, tổ hội động viên ND, góp công, góp của phù hợp xây dựng đường làng, ngõ xóm, trường học, trạm xá, đồng thời kiểm tra, dân chủ công khai thu, chi, xd cơ sở hạ tầng

ở nông thôn

- Chăm lo lợi ích chính đáng của ND Chăm lo lợi ích của ND vừa là mục đích yêu cầu, vừa là động lực của công tác vận động ND Nhiệm vụ quan trọng trước hết trong công tác vận động nd là phải nắm được tình hình đời sống tâm tư, nguyện vọng của nd để chủ trương giải quyết kịp thời các yêu cầu, nguyện vọng của họ Lợi ích của nd rất đa dạng, pphú, song

có thể tập trung vào 3 mặt chính là: dân sinh, dân trí, dân chủ

+ Cải thiện dân sinh: cải thiện nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nd, trc hết là đời sống vât chất là yêu cầu, là mong muốn hàng đầu của nd hiện nay và cũng là mong muốn của Đ ta Vì vậy, phải khuyến khích giúp đỡ nd phát triển kinh tế, làm giàu chính đáng, đẩy mạnh chương trình xóa đói, giảm nghèo, giải quyết tốt các vấn đề xh

+ Nâng cao dân trí: cùng với cải thiện đời sống vật chất, nâng cao dân trí là 1 đòi hỏi trong cuộc sống của nd, một yêu cầu cấp bách của sự nghiệp cnh, hđh, hội nhập quốc tế Đ ta xác định, đảm bảo công bằng xh trong giáo dục, mọi người nông dân, con em nd đều đc đi học, nhất là đv những gia đình nghèo, gđ chính sách Phát triển và tăng cường mạng lưới văn hóa, thông tin tuyên truyền ở cơ sở để nâng cao mức hiểu biết, hưởng thụ, sáng tạo văn hóa của nông dân ở mọi miền đnước

+ Thực hiện dân chủ: cương lĩnh xd đất nước trong thời kì quá độ lên cnxh của Đ đã xác định: " dân chủ XHCN là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đnước Xd và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xhcn, đảm bảo dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực" vì vậy tổ chức cơ sở hội nd phải làm tốt việc vận động nd làm tốt việc thực hiện quyên dân chủ của mình để phát huy tính tích cực tự giác, sáng tạo của nd trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị, mọi việc thực hiện đúng nguyên tắc "dân biết dân bàn dân làm dân kiểm tra" Chống mọi biểu hiện quan liêu coi thường dân

* Những thách thức của hội nông dân VN hiện nay là:

Trong những năm sắp tới, nước ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức lớn trong phát triển kinh tế - xã hội và còn nhiều vấn đề xã hội bức xúc ở nông thôn cần phải giải quyết Các giá trị văn hoá truyền thống đứng trước thách thức bị mai một; ô nhiễm môi trường nông thôn, tệ nạn xã hội gia tăng, an ninh trật tự trên địa bàn nông thôn còn diễn biến phức tạp Nông nghiệp nước ta tiếp tục chịu áp lực cạnh tranh rất lớn do sản xuất nhỏ, phân tán, lạc hậu, năng suất và chất lượng sản phẩm thấp, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm chưa đáp ứng yêu cầu Kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp còn yếu kém Trình độ văn hoá, tay nghề, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp Tăng

Trang 8

trưởng nông nghiệp mới chỉ tạo ra khối lượng nhiều, nhưng giá trị thấp; hiệu quả sử dụng đất đai, tài nguyên chưa cao

Do tác động của quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá nông thôn và chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, nông dân sẽ ngày càng giảm đi về số lượng, nhưng chất lượng ngày càng tăng lên Theo dự báo, lao động nông nghiệp nước ta sẽ còn khoảng 40% lao động xã hội vào năm 2015 và 30% vào năm 2020 Một bộ phận nông dân thiếu đất, thiếu việc làm cùng với ảnh hưởng của thiên tai, bão lụt, dịch bệnh, cạnh tranh của cơ chế thị trường… làm cho phân hoá giàu, nghèo diễn ra nhanh hơn, tác động sâu sắc đến sản xuất, đời sống của một bộ phận nông dân và nảy sinh những vấn đề xã hội bức xúc ở nông thôn

Tình hình trên, sẽ tạo ra cả những cơ hội và thách thức đối với sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn, của giai cấp nông dân và tổ chức Hội Nông dân trong thời gian tới Đòi hỏi tổ chức Hội Nông dân các cấp phải vươn lên ngang tầm với nhiệm vụ, đáp ứng những yêu cầu mới của thực tiễn đặt ra về nâng cao nhận thức chính trị, trình độ sản xuất, quản lý, kinh doanh và ý thức trách nhiệm của cán bộ, hội viên, nông dân trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân

Trang 9

II Bài tập tình huống: Phong cách làm công tác dân vận của Hồ Chí Minh.

Dân vận là một trong những công tác cơ bản của Đảng ta, có ý nghĩa chiến lược trong mọi thời kỳ cách mạng Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, gắn liền với từng bước trưởng thành của Đảng, công tác dân vận về thực chất là xây dựng, củng cố, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân và đã trở thành một truyền thống cực kỳ quý báu

và tốt đẹp của Đảng ta Như vậy, Công tác dân vận là công việc của toàn bộ hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng tiến hành tập hợp vận động, đoàn kết nhân dân, đưa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh vào cuộc sống, góp phần xây dựng sự đồng thuận xã hội, thực hiện thắng lợi đường lối cách mạng của Đảng Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định công tác vận động quần chúng là một nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa quyết định cho sự thành bại của cách mạng trong bất cứ điều kiện và hoàn cảnh nào Người chỉ ra rằng: “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho”

Công tác dân vận luôn luôn gắn liền với những chặng đường lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam, và đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp giành độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc

Trong bài báo "Dân vận" đăng trên Báo Sự thật số 120, ra ngày 15/10/1949 Bác Hồ đã chỉ rõ: “Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân (Liên Việt, Việt Minh, v.v…) đều phải phụ trách dân vận” và Người kết

luận:“Dân vận kém thì việc gì cũng kém Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”.

Người cán bộ dân vận không ngừng bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, phẩm chất, trình độ năng lực nghiệp vụ, nắm vững những quan điểm, mục tiêu, nội dung, quy trình, phương thức công tác dân vận, mà còn phải ra sức rèn luyện tác phong người cán bộ dân vận Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người cán bộ dân vận phải có tác phong làm việc “đúng” và “khéo” Đây

là vấn đề có ý nghĩa hết sức cơ bản và thời sự đối với người làm công tác dân vận

Cán bộ “dân vận khéo”, theo Hồ Chí Minh, đó phải là những người có kỹ năng nghiệp

vụ Kỹ năng ấy bao gồm: “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm” Nghĩa

là phải vận dụng “ngũ quan”, hiểu rõ thực tế, nói phải đi đôi với làm Phải có óc nghiên cứu

để nắm vững bản chất của con người, của sự việc Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nhắc nhở: “Dân vận khéo” là phải tránh bệnh chủ quan, phải phát huy dân chủ Bởi theo Người: “Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến” và “Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên”

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người cán bộ dân vận phải có tác phong làm việc “đúng”

và “khéo” Đây là vấn đề có ý nghĩa hết sức cơ bản và đến nay vẫn còn mang tính thời sự đối với người làm công tác dân vận

Một là, người cán bộ làm công tác dân vận nhất thiết phải có tác phong quần chúng Tác

phong này bắt nguồn từ sự thấm nhuần sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin: quần chúng là người sáng tạo ra lịch sử, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Có lòng tin vô tận đối với quần chúng, chăm lo tăng cường mối liên hệ với quần chúng, coi đó là nguồn sức mạnh tạo nên mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Theo Bác, “nước lấy dân làm gốc”,

“gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” Các tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên phải thể hiện tinh thần phụ trách trước nhân dân Bao nhiêu cách tổ chức và cách làm việc đều vì lợi ích của quần chúng Vì vậy, cách tổ chức và cách làm việc nào không phù

Trang 10

hợp với quần chúng thì ta phải bỏ đi hoặc sửa lại; việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm; việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh; phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: “Trước nhất là phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được” Bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành

Trước lúc thi hành phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân Khi thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng”

“Giải thích cho dân hiểu - bàn bạc với dân - tổ chức toàn dân thực hiện - kiểm tra, kiểm điểm rút kinh nghiệm - phê bình, khen thưởng” là quy trình làm công tác dân vận mà Người

đã tổng kết, được Đại hội VI của Đảng quán triệt và nêu thành phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

Với lòng nhân ái bao la, Người đã thâm nhập vào quần chúng bằng phong cách thật sự của người cán bộ với nụ cười hiền hậu, giọng nói ấm áp và vòng tay rộng mở

Hai là, người cán bộ dân vận cần có tác phong làm việc khoa học, mà trước hết, phải “óc

nghĩ, mắt trông, tai nghe”

Theo Bác Hồ, “gặp mỗi vấn đề, phải suy tính kỹ lưỡng, chớ hấp tấp, chớ làm bừa, chớ làm liều, chớ gặp sao làm vậy” Muốn quyết định đúng một vấn đề, trước hết phải “điều tra, nghiên cứu rõ ràng” Có nắm chắc tình hình thì đề ra chính sách mới đúng Và mỗi khi làm xong một công việc, dù thành công hay thất bại, phải biết tổng kết, rút kinh nghiệm để làm

“khuôn phép” cho những công việc khác, coi đó là “chìa khoá phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới”

Làm việc gì cũng có mục đích rõ ràng, có chương trình, kế hoạch khả thi, và biết tổ chức thực hiện có hiệu quả nhất

Ba là, người cán bộ dân vận phải có tác phong làm việc thiết thực, cụ thể Bác Hồ

nghiêm khắc lên án bệnh “hữu danh vô thực”, bệnh hình thức, khi ra chỉ thị, nghị quyết thì không gắn với điều kiện thực tế, không gắn với quần chúng và cơ sở Trong chỉ đạo thực hiện thì không có kế hoạch và biện pháp cụ thể, không kiểm tra, kiểm soát, không tổng kết đúc rút kinh nghiệm Bác còn chỉ rõ: Khi ra quyết định công tác, hay định ra cách tổ chức thực hiện, không được ngồi trên bàn giấy, nghe người dân báo cáo rồi vẽ vời, do chủ quan tưởng tượng mà không đi sâu đi sát thực tế Người kịch liệt phê phán những lối làm việc không thiết thực, làm cho có chuyện, làm được ít suýt ra nhiều, “để làm một bản báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ lại rỗng tuyếch”

Bốn là, người cán bộ dân vận phải có tác phong “miệng nói, tay làm”, là nói và làm

thống nhất, nói và làm đi liền với nhau Đối lập với tác phong “miệng nói, tay làm” là lối

“chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh”, tức là nói mà không làm của những người hứa suông, hoặc “nói một đàng, làm một nẻo” của những kẻ cơ hội Người cán bộ dân vận phải

“thật thà nhúng tay vào việc”, phải làm việc một cách thật sự, cùng lao động, cùng chiến đấu, lăn vào cuộc sống hằng ngày của quần chúng để thực hiện mục đích của công tác dân vận

“Miệng nói, tay làm”, nhưng là làm có hiệu quả vì lợi ích của nhân dân, là một nội dung đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam

Điều tối kỵ đối với cán bộ dân vận là “nói nhiều làm ít”, hoặc làm ngược điều mình nói, hoặc nói cho người khác làm, còn bản thân mình thì “đánh trống, bỏ dùi”, hứa hươu, hứa vượn, vô cảm trước những bức xúc của người khác

Ngày đăng: 06/04/2016, 11:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w