Phương pháp nghiên cứu khoa học là môn học trang bị cho người học những quan điểm, phương pháp và công cụ cần thiết để tiên hành một nghiên cứu. Trong tập bài giảng này, chúng tôi sẽ cung cấp cho học viên cao học có những kiến thức cơ bản về phương pháp nghiên cứu khoa học nhằm giúp học viên hiểu được: nghiên cứu khoa học có vai trò như thế nào trong đời sống kinh tế xã hội; khoa học là gì, nghiên cứu khoa học là gì; cách thức tiến hành một nghiên cứu khoa học. Mặt khác tập bài giảng này cũng giúp sinh viên hiểu được bản chất của nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định lượng, cách tiến hành thu thập và phân tích dữ liệu trong nghiên cứu định tính và định lượng. Kết cấu của tập bài giảng này bao gồm ba chương.Chương I: Khái quát về phương pháp nghiên cứu khoa họcChương II: Nghiên cứu định tínhChương III: Nghiên cứu định lượng
Trang 1Lời nói đầu
Phương pháp nghiên cứu khoa học là môn học trang bị cho người học những quan điểm, phương pháp và công cụ cần thiết để tiên hành một nghiên cứu Trong tập bài giảng này, chúng tôi sẽ cung cấp cho học viên cao học có những kiến thức cơ bản về phương pháp nghiên cứu khoa học nhằm giúp học viên hiểu được: nghiên cứu khoa học có vai trò như thế nào trong đời sống kinh tế xã hội; khoa học là gì, nghiên cứu khoa học là gì; cách thức tiến hành một nghiên cứu khoa học Mặt khác tập bài giảng này cũng giúp sinh viên hiểu được bản chất của nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định lượng, cách tiến hành thu thập và phân tích dữ liệu trong nghiên cứu định tính và định lượng Kết cấu của tập bài giảng này bao gồm ba chương.
Chương I: Khái quát về phương pháp nghiên cứu khoa học
Chương II: Nghiên cứu định tính
Chương III: Nghiên cứu định lượng
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng trong việc biên soạn, tuy nhiên sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong quý bạn đọc đóng góp thêm ý kiến để chúng tôi hoàn thiện.
Mọi ý kiến đóng góp xin vui lòng liên hệ đến: Bộ môn Kinh tế Cơ sở, khoa quản lý kinh doanh, Trường đại học Công Nghiệp Hà Nội
Trang 2CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
I.1 VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
Khoa học và công nghệ (KHCN) giai đoạn mới hiện nay bắt đầu phát triển mạnh từ những năm
40 thế kỷ trước và đặc trưng rõ nét nhất từ khi vệ tinh nhân tạo đầu tiên chinh phục không gian vũtrụ (1957) tiếp đó là con người bay vào vũ trụ, đặt chân lên mặt trăng, cũng như các công trìnhnghiên cứu vũ trụ khác đến nay hầu như là chuyện “hàng ngày” Được sự kích thích và sự hỗ trợcủa công nghệ vũ trụ, các ngành công nghệ mới, có tầm cao mới liên tiếp ra đời, đặc biệt là côngnghệ thông tin, viễn thông, công nghệ năng lượng tái tạo,… với những phát minh kỳ diệu nhưlade (1967), truyền hình qua vệ tinh nhân tạo (1964), tổng hợp gien (1973), mạch tổ hợp cho(1965), máy tính điện tử, máy tính điện tử sinh học dựa trên cấu tạo bộ óc con người (1994), bộ vi
xử lý (1971), rệp điện tử, máy gia tốc, v.v… Có thể nói từ nửa cuổi thế kỷ XX, con người đã mởrộng thêm tầm nhìn, thực sự nối thêm cánh để bay và làm việc trong không gian bao la, đã làmcho không gian thu hẹp khoảng cách, con người xích lại gần gũi nhau hơn, cuộc sống tốt đẹp, sôinổi hơn, khối óc, sâu rộng hơn, hiểu biết thế giới khách quan khám phá quá khứ lịch sử cũng như
dự đoán tương lai xác thực hơn…
Đến cuối thế kỷ XX, có thể khẳng định rằng nền sản xuất xã hội đang biến đổi sâu sắc, mạnh
mẽ cả về cơ cấu, chức năng và phương thức hoạt động tạo nên một sự phát triển nhảy vọt, mộtbước ngoặt lịch sử có ý nghĩa trọng đại sang một thời đại kinh tế mới (thường gọi là thời đạikinh tế tri thức) quá độ sang một nền văn minh mới (thường gọi là nền văn minh trí tuệ) mànguyên nhân và động lực chính là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ mới hình thành từmấy chục năm qua
Nói kinh tế tri thức tức là nói nền “kinh tế trong đó sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thứcđóng vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượngcuộc sống” Đặc điểm của kinh tế tri thức là vai trò ngày càng to lớn của những đổi mới liêntục về khoa học và công nghệ trong sản xuất và vai trò chủ đạo của thông tin và tri thức với tưcách là nguồn lực cơ bản tạo nên sự tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế
Các nhà nghiên cứu còn chỉ rõ, theo cấp độ tiến hóa của các nền văn minh nhân loại, có thểthấy quyền lực đang dịch chuyển từ sức mạnh của bạo lực, vũ khí, tiền bạc (thuộc hai nền vănminh nông nghiệp, công nghiệp, sang sức mạnh của tri thức, trí tuệ Trong nền văn minh mớinày, quyền lực không còn phụ thuộc vào sức mạnh vật chất và của cải sẵn có trong tay mà chủ
Trang 3yếu phụ thuộc vào những nguồn tri thức nắm được Tài nguyên tri thức - trí tuệ cơ bản khácvới tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động ở chỗ khi sử dụng hoặc trao đổi đã không mất đi màcòn được bảo tồn hoặc có bổ sung phong phú thêm, trái lại chi phí cho việc sử dụng, trao đổi,phổ biến hầu như không đáng kể Tri thức còn là thứ “của cải” mà bất cứ người nào, dân tộcnào, dù là yếu, nghèo nhất, nếu có quyết tâm học hỏi cũng đều có thể giành được, chiếm đoạtđược.
Như vậy, khoa học và công nghệ đóng vai trò thúc đẩy sự gia tăng của cải vật chất, nâng caochất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của con người Khoa học vàcông nghệ đã trực tiếp tác động nâng cao năng suất lao động, giảm nhẹ cường độ lao động,giảm chi phí, giá thành sản xuất, giảm rõ rệt tỷ lệ tiêu hao vật chất, tăng tỷ lệ chất xám trongcấu tạo sản phẩm,… Nhiều sản phẩm mới ra đời phong phú, đa dạng, đa năng, mẫu mã đẹp,kích thước nhỏ nhẹ hơn Chu kỳ sản xuất cũng được rút ngắn đáng kể
I.2 KHOA HỌC VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
I.2.1 Khoa học
Khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới, học thuyết mới,…
về tự nhiên và xã hội Những kiến thức hay học thuyết mới này có thể thay thế dần nhữngkiến thức, học thuyết cũ không còn phù hợp với bối cảnh thực tiễn, nhằm mục đích nâng caochất lượng cuộc sống, cải thiện môi trường tự nhiên và xã hội theo hướng có lợi nhất cho conngười Khoa học bao gồm một hệ thống tri thức phản ánh bản chất, quy luật của các sự vậthiện tượng xuất hiện trong đời sống tự nhiên và xã hội Trong đó, hệ thống tri thức được hìnhthành chủ yếu từ tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học
Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động sống hàng ngày trong
mối quan hệ giữa con người với con người, và giữa con người với thiên nhiên Quá trình nàygiúp con người hiểu biết về sự vật, về cách quản lý thiên nhiên, và quá trình hình thành mốiquan hệ giữa những con người trong xã hội Tri thức kinh nghiệm được con người khôngngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chưathật sự đi sâu vào bản chất, chưa thấy được hết các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bêntrong giữa sự vật và con người Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biếtgiới hạn nhất định, nhưng tri thức kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học
Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống nhờ hoạt động nghiên
cứu khoa học, các hoạt động này có mục tiêu xác định và sử dụng phương pháp khoa học.Không giống như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên kết quả của việc quan sát, thu
Trang 4thập được qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong tự nhiên và trongđời sống kinh tế xã hội Tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ mônkhoa học như: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học,…
I.2.2 Nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học là các thức mà con người tìm hiểu các hiện tượng khoa học một cách có hệthống (Babbie, 1969; Nguyễn Đình Thọ, 2011) Nghiên cứu khoa học bao gồm một chuỗi cáchoạt động liên tiếp bắt đầu từ việc quan sát, tổng hợp, phân tích, đánh giá, đúc rút ra một cách cócăn cứ về bản chất, quy luật của các hiện tượng xuất hiện trong tự nhiên và đời sống kinh tế xãhội Trong nghiên cứu khoa học, dựa vào mục đích của vấn đề nghiên cứu người ta có phươngpháp tiếp cận khác nhau Do đó, các nhà nghiên cứu cần xem xét mục đích nghiên cứu của mình
để lựa chọn cách tiếp cận phù hợp
I.3 TƯ DUY NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN
I.3.1 Tư duy nghiên cứu
Mặc dù có nhiều hệ tư duy trong nghiên cứu khoa học, tuy nhiên có hai phương pháp tư duykhoa học phổ biến nhất là phương pháp tư duy theo lối diễn dịch và phương pháp tư duy theolối quy nạp Trong đó;
Phương pháp tư duy theo lối quy nạp: là phương pháp mà các nhà nghiên cứu quan sát các hiện
tượng xuất hiện trong đời sống xã hội, sau đó tìm kiếm một mẫu điển hình để quan sát và kháiquát chúng thành các giả thuyết hay mô hình lý thuyết mới
Phương pháp tư duy theo lối diễn dịch: là phương pháp mà các nhà nghiên cứu dựa vào giả
thuyết cũ hay mô hình lý thuyết cũ, sau đó tiến hành thu thập dữ liệu để kiểm định giả thiết hay
mô hình lý thuyết đó và đưa ra quyết định chấp nhận hay bác bỏ giả thiết, mô hình nghiên cứutrước
I.3.2 Phương pháp tiếp cận
Hiện tượng
(2)
Khái quát (4)
Lý thuyết (5)
Tổng hợp (3)
Lý thuyết
(2)
Phân tích (4)
Kết luận (5) Tổng hợp
(3)
Trang 5Dựa vào lối tư duy nghiên cứu mà các nhà nghiên cứu có hai phương pháp tiếp cận chủ yếu
đó là phương pháp tiếp cận định tính và phương pháp tiếp cận định lượng Trong đó;
Phương pháp tiếp cận định tính: là một phương pháp tiếp cận nhằm tìm cách mô tả và phân
tích đặc điểm, tính chất của các hiện tượng tự nhiên và xã hội như: gió, mưa, động đất, sóngthần, đặc điểm của vật chất, văn hóa và hành vi của con người, từ quan điểm của nhà nghiêncứu Nó có thể cung cấp thông tin về đặc tính của đời sống tự nhiên và xã hội nơi nghiên cứuđược tiến hành, cũng như luận giải các mối quan hệ biện chứng dựa vào những thông tin vềđặc điểm, tính chất của sự vật hiện tượng mà nhà nghiên cứu quan sát được Ở đây, đời sống
xã hội được nhìn nhận như một chuỗi các sự kiện liên kết chặt chẽ với nhau được mô tả đểphản ánh một cách đầy đủ đời sống thực tế xã hội đang diễn ra hàng ngày Nghiên cứu địnhtính dựa trên một chiến lược nghiên cứu linh hoạt và có tính biện chứng, nó cho phép pháthiện những chủ đề, sự kiện quan trọng mà các nhà nghiên cứu có thể chưa bao quát đượctrước đó
Trong đời sống kinh tế xã hội, nghiên cứu định tính nhằm mục đích nâng cao sự hiểu biết củachúng ta về hành vi con người và lý do ảnh hưởng đến hành vi này Nghiên cứu định tínhnhằm xem xét lý do tại sao và làm thế nào để đưa ra các quyết định thông qua việc trả lời cáccâu hỏi cái gì, ở đâu, khi nào mang tính chất tổng quát Do đó, nghiên cứu định tính chỉ cungcấp thông tin mang tính chất chung như các mệnh đề, giả thuyết hay chỉ là sự xác nhận thôngtin
Phương pháp tiếp cận định lượng: là phương pháp điều tra thực nghiệm có hệ thống về các hiện
tượng quan sát được dựa vào số liệu thống kê và công cụ toán học Mục tiêu của nghiên cứu địnhlượng là chỉ ra một cách chi tiết cụ thể những thông tin đã được cung cấp từ nghiên cứu định tính.Quá trình đo lường là trung tâm của nghiên cứu định lượng, bởi vì nó cung cấp các kết nối cơ bảngiữa số liệu thực nghiệm và các đặc tính của sự vật hiện tượng được quan sát trong đời sống tựnhiên và xã hội Trong đó, số liệu định lượng là bất kỳ dữ liệu ở dạng số như số liệu thống kê, tỷ
lệ phần trăm, v.v Thông thường, nghiên cứu định lượng giúp các nhà khoa học đưa ra một câutrả lời cụ thể thông qua việc thu thập một mẫu dữ liệu số từ hiện tượng quan sát hay từ việc phỏngvấn điều tra Các nhà nghiên cứu phân tích các dữ liệu với sự giúp đỡ của các con số, với hy vọngcon số sẽ mang lại một kết quả không thiên vị và có thể được khái quát hóa cho một số lượngquần thể lớn hơn thông qua các kỹ thuật kiểm định Mặt khác nghiên cứu định lượng giúp các nhàkhoa học xem xét được mức độ quan hệ giữa các sự vật hiện tượng một cách chi tiết, cụ thể thôngqua việc đo lường các mối quan hệ dựa vào công cụ toán học và số liệu đã được thu thập trongquá trình khảo sát, điều tra
Trang 6Như vậy, nghiên cứu định lượng có thể được xem như là bước tiếp theo của nghiên cứu định tính.
Nó đóng vai trò kiểm định, đo lường một cách cụ thể những phát hiện mà nghiên cứu định tính đãđưa ra Do đó khi tiến hành thiết kế một nghiên cứu định lượng, chúng ta cần phải tiến hànhnghiên cứu định tính để đưa ra những phát hiện ban đầu Những phát hiện ban đầu này, sẽ trởthành cơ sở để chúng ta tiến hành nghiên cứu định lượng
I.4 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
I.4.1 Dữ liệu sơ cấp
Dữ liệu sơ cấp là dữ liệu do nhà nghiên cứu trực tiếp điều tra thông qua phỏng vấn, quan sát Dữliệu sơ cấp giúp nhà nghiên cứu đi sâu vào đối tượng nghiên cứu từ đó có thể nắm bắt được bảnchất và quy luật vận động và mối quan hệ tương tác của đối tượng nghiên cứu Dữ liệu sơ cấp là
dữ liệu được thu thập trực tiếp nên độ chính xác cao, đảm bảo tính cập nhật của thông tin nhưnglại mất thời gian và tốn kém trong việc thu thập Đối với phương pháp điều tra phỏng vấn cónhiêu phương pháp tiếp cận như; phỏng vấn trực tiếp thông qua bản hỏi, phỏng vấn qua điệnthoại, email, vvv
Dữ liệu thứ cấp bên trong: là dữ liệu mà các nhà nghiên cứu được cung cấp bởi bên trong của
tổ chức Hầu hết các tổ chức đều có những nguồn thông tin rất phong phú, vì vậy có những dữliệu có thể sử dụng ngay lập tức Chẳng hạn như dữ liệu về doanh thu bán hàng và chi phí bánhàng hay các chi phí khác sẽ được cung cấp đầy đủ thông qua các bảng báo cáo thu nhập củadoanh nghiệp Có hai thuận lợi chính khi sử dụng dữ liệu thứ cấp bên trong là thu thập đượcmột cách dễ dàng và có thể không tốn kém chi phí Tuy nhiên dữ liệu thứ cấp bên trong rấtkhó tiếp cận do tính bảo mật của thông tin mà tổ chức không muốn công bố
Trang 7Dữ liệu thứ cấp bên ngoài: là các tài liệu đã được xuất bản có được từ các nghiệp đoàn, chính
phủ, chính quyền địa phương, các tổ chức phi chính phủ (NGO), các hiệp hội thương mại, các
tổ chức chuyên môn, các ấn phẩm thương mại, các tổ chức nghiên cứu Marketing chuyênnghiệp… Sự phát triển của mạng thông tin toàn cầu đã tạo nên một nguồn dữ liệu vô cùngphong phú và đa dạng, đó là các dữ liệu thu thập từ internet Trong thực tế, có rất nhiều dữ liệuthứ cấp có thể sử dụng được và có thể tìm kiếm từ nhiều nguồn khác nhau Vì vậy, điều quantrọng là phải phân loại nguồn dữ liệu để có một phương thức tìm kiếm thích hợp Các tiêuchuẩn đánh giá dữ liệu thứ cấp Tính cụ thể Dữ liệu thứ cấp phải đảm bảo tính cụ thể, có nghĩa
nó phải rõ ràng, phù hợp mục tiêu nghiên cứu, có thể hỗ trợ cho việc phân tích nhận diện vấn đềhay mô tả vấn đề nghiên cứu Tính cụ thể còn đòi hỏi sự rõ ràng về nguồn dữ liệu thu thập cũngnhư hiệu quả của dữ liệu (so sánh lợi ích của dữ liệu với chi phí thu thập) Tính chính xác của
dữ liệu Người nghiên cứu phải xác định dữ liệu có đủ chính xác phục vụ cho mục đích nghiêncứu hay không Dữ liệu thứ cấp có thể có sai số (hay không chính xác), điều này phụ thuộc vàonguồn cung cấp dữ liệu Vì vậy, uy tín của nhà cung cấp và độ tin cậy của nguồn dữ liệu nhữngtiêu chuẩn cần xem xét khi thu thập dữ liệu thứ cấp
1.5 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU
Quy trình nghiên cứu bao gồm một loạt các bước cần thiết để thực hiện một nghiên cứu Cácbước trong quy trình nghiên cứu luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau phản ánh một cáchlogic về trình tự các bước trong nghiên cứu khoa học, và được thể hiện theo sơ đồ sau:
Trang 8Bước 1: Xác định chủ đề nghiên cứu
Xác định chủ đề nghiên cứu là bước đầu tiên trong quá trình nghiên cứu giúp các nhà nghiêncứu có thể xác định được mục đích và phạm vi nghiên cứu Thông thường việc xác định chủ
đề nghiên cứu được bắt nguồn từ câu hỏi nghiên cứu mà các nhà nghiên muốn tìm hiểu vàgiải thích Câu hỏi nghiên cứu là cơ sở đầu tiên để hình thành nên một nghiên cứu Câu hỏinghiên cứu có thể được hình thành từ quá trình giải quyết công việc hàng ngày, từ các cuộctranh luận chưa đến hồi kết thúc, từ quá trình đọc sách báo mà các nhà nghiên cứu phát hiện
ra vấn đề chưa được giải quyết, hay từ việc quan sát ngẫu nhiên một hiện tượng phát sinhtrong đời sống kinh tế xã hội mà chúng ta muốn tìm hiểu và giải thích Cho ví dụ: khi đọc bảntin về kinh tế, chúng ta thấy rằng giá mặt hàng coffee ở địa bàn Hà Nội đang có xu hướng giatăng Điều này sẽ khiến chúng ta đặt ra một loạt các câu hỏi tại sao tại giá coffee đang có xuhướng gia tăng?, yếu tố nào làm cho giá coffee gia tăng?, và có giải pháp nào có thể làm chogiá coffee giảm xuống hay không? Trong ví dụ này, nhà nghiên cứu có thể xác định đượcphạm vi nghiên cứu là giá coffee trên địa bàn Hà Nội và mục đích nghiên cứu ban đầu mà nhà
Bước 1: Xác định chủ đề nghiên cứu
Bước 2: Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Bước 3: Xây dựng giả thiết nghiên cứu
Bước 4: Các bước tiến hành thiết kế
Trang 9nghiên cứu muốn tìm kiếm là yếu tố nào làm cho giá coffee tăng và có những giải pháp nào
có thể làm cho giá coffee giảm hay không? Như vậy việc xác định chủ đề nghiên cứu có thểxác định được phạm vi và mục đích chung trước khi tiến hành một nghiên cứu
Chủ đề nghiên cứu có thể được chia thành hai loại là; chủ đề nghiên cứu lý thuyết và chủ đềnghiên cứu thực nghiệm Trong đó; chủ đề nghiên cứu lý thuyết là chủ đề được xây dựng trên cơ
sở các câu hỏi liên quan đến quy luật quy luật của hiện tương như; yếu tố nào ảnh hưởng đếnhành vi người tiêu dùng, tôn giáo có ảnh hưởng như thế nào đến độ tuổi kết hôn, hay giới tính cóảnh hưởng như thế nào đến việc tiêu thụ sản phẩm điện tử Còn chủ đề nghiên cứu thực nghiệmđược xây dựng trên cơ sở các câu hỏi mang tính chất phản ánh hiện tượng như; tốc động tăngtrưởng GDP Việt Nam năm 2016 tăng hay giảm, lượng tiêu thụ coffee tháng tới sẽ tăng hay giảm
Bước 2: Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Tổng quan nghiên cứu là bước thứ hai trong quá trình nghiên cứu Nó là một phần công việc quantrọng mà bất kỳ một nhà nghiên cứu (khoa học xã hội) thực hiện khi tiến hành nghiên cứu Về cơbản có thể hiểu tổng quan là quá trình tìm kiếm, phân tích thông tin (thông tin, số liệu, khái niệm,học thuyết, lý thuyết, kết quả, kết luận) đã được thực hiện có liên quan đến chủ đề nghiên cứu.Tổng quan nghiên cứu giúp các nhà nghiên cứu có thể sàng lọc được câu hỏi nghiên cứu ban đầu,giới hạn được nội dung nghiên cứu cũng như xác định được những khuyết điểm đang tồn tại trongcác nghiên cứu trước từ đó xây đựng những giả thuyết nghiên cứu mới Tổng quan tài liệu khôngnhất thiết phải đề cập tới tất cả các thông tin, tài liệu và nghiên cứu có liên quan, song phải đề cậpđược các nghiên cứu quan trọng và cập nhật các thông tin quan trọng mới theo xu hướng pháttriển và luôn gắn liền với một chủ đề nghiên cứu cụ thể và không thể tách rời chủ đề nghiên cứu
Tổng quan nghiên cứu được chi thành hai loại dựa vào chủ đề nghiên cứu Nếu như chủ đề nghiêncứu liên quan đến việc giải quyết các vấn đề lý thuyết thì các nhà nghiên cứu có thể tổng quan cáckhái niệm, các giả thuyết để trả lời cho những câu hỏi lý thuyết Ngược lại, nếu chủ đề nghiên cứu
là chủ đề nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến các câu hỏi phản ánh hiện tượng thì các nhànghiên cứu có thể tổng quan các những phát hiện từ nghiên cứu trước Như vậy, tổng quan tài liệunghiên cứu phải dựa vào loại chủ đề nghiên cứu từ đó xác định được mục tiêu nghiên cứu cụ thểcũng như xây dựng các giả thuyết mới
Bước 3: Xây dựng giả thiết nghiên cứu
Sau khi tổng quan các tài liệu nghiên cứu, các nhà nghiên cứu tiên hành xây dựng giả thuyếtnghiên cứu Xây dựng giả thiết nghiên cứu là trung tâm của một nghiên cứu, nó quyết định sự
Trang 10thành công hay thất bại trong việc đạt được mục đích của nhà nghiên cứu Xây dựng giả thiếtnghiên cứu được tiến hành theo hai giai đoạn
Trong giai đoạn thứ nhất, nhà nghiên cứu phải xây dựng khung lý thuyết trước khi tiến hành các giảđịnh nghiên cứu Khung lý thuyết được xây dựng dựa vào việc tổng quan nghiên tài liệu nghiên cứu
và mục tiêu nghiên cứu cụ thể Khung lý thuyết đóng một vai trò là căn cứ khoa học mang tính lýthuyết giúp các nhà nghiên cứu có thể luận giải được bản chất và quy luật của các hiện tượng màcác nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu và giải thích Khung lý thuyết bao gồm các khái niệm, các quanđiểm, các phát hiện từ nghiên cứu cũ liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Trong giai đoạn thứ hai, sau khi xác định được khung lý thuyết các nhà nghiên cứu có thể đưa ramột số giả định để xây dựng mô hình phân tích thực nghiệm Thông thường mô hình phân tíchthực nghiệm là các mô hình toán học, mô hình thống kê, hoặc mô hình kinh tế lượng Các môhình này có hai chức năng chính là phân tích các số liệu và kiểm định các giả định nghiên cứu đãđưa ra ở trên
Cho ví dụ: khi nhà nghiên cứu lựa chọn chủ đề “phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến cầu
coffee trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2015” với mục đích đưa ra giải pháp nhằm kíchthích tiêu thụ coffee trên thị trường Hà Nội
Giai đoạn 1: Xây dựng mô hình lý thuyết hay khung lý thuyết
Để xây dựng mô hình lý thuyết hay khung lý thuyết Trước hết nhà nghiên cứu phải tổng quancác khái niêm chung liên quan đến cầu, quy luật của cầu, đặc điểm của cầu và các yếu tố ảnhhưởng đến cầu Sau đó nhà nghiên cứu tổng quan các phát hiện từ nghiên cứu trước về cầucoffee như; cầu về tiêu thụ coffee là gì?, đặc điểm của cầu tiêu thụ coffee?, các yếu tố nào ảnhhưởng đến cầu coffee? Sau khi đã tổng quan, nhà nghiên cứu tổng hợp một cách có hệ thống đểxây dựng khung lý thuyết hay mô hình lý thuyết Giả sử sau khi tổng quan các nghiên cứutrước, nhà nghiên cứu tổng hợp được có 05 yếu tố ảnh hưởng đến cầu tiêu thụ coffee; giới tính,
độ tuổi, trình độ học vấn, thu nhập, và giá coffee có ảnh hưởng đến cầu tiêu dùng coffee Môhình lý thuyết được xây dựng như sau;
Trang 11Giai đoạn 2: Xây dựng mô hình phân tích thực nghiệm
Để xây dựng mô hình phân tích thực nghiệm, nhà nghiên cứu phải đưa ra một số giả định như
sau: Ví dụ: Giả định 1: Gọi các yếu tố độ tuổi là X1, giới tính là X2, trình độ học vấn là X3, thu nhập
là X4, và giá coffee là X5, cầu tiêu thụ coffee là Y, và mối quan hệ của chúng được phải ánh bằng một
hàm số y = f(X1, X2, X3, X4, X5) Giả định 2: Giả định mối quan hệ của chúng là một hàm
tuyến tính Y = β1.X1 + β2.X2 + β3.X3+ β4.X4+ β5.X5 + α Trong đó, β là hệ số phản ánh mức
độ ảnh hưởng của độ tuổi (X1), giới tính (X2), trình độ học vấn (X3), thu nhập (X4), và giácoffee (X5) vào cầu tiêu thụ coffee Y α là số dư phản các mức độ ảnh hưởng của các yếu tốkhác không có trong mô hình nghiên cứu
Bước 4: Thiết kê nghiên cứu
Sau khi xây dựng được giả thiết nghiên cứu, nhà nghiên cứu tiến hành thiết kế một nghiên cứu.Thiết kế nghiên cứu bao gồm một loạt các giai hoạt động như; Xác định nội dung nghiên cứu, Xácđịnh loại dữ liệu nghiên cứu, Xác định phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu, Xác định mẫu dữliệu nghiên cứu
Xác định nội dung nghiên cứu phải xuất phát từ mục đích nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu cóliên quan đến chủ đề nghiên cứu Nội dung nghiên cứu phải trả lời được câu hỏi nghiên cứu.Cho ví dụ; khi nhà nghiên cứu lựa chọn chủ đề “phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến cầu coffee trênđịa bàn thành phố Hà Nội năm 2015” với mục đích đưa ra giải pháp nhằm kích thích tiêu thụ coffeetrên thị trường Hà Nội Trước hết nhà nghiên cứu phải biết được đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hộicủa địa bàn nghiên cứu có thuận lợi và khó khăn gì cho việc tiêu thụ coffee Thứ 2, đánh giá thựctrạng việc tiêu thụ coffee trên thị trường thành phố Hà Nội Thứ 3 phân tích các yếu tố ảnh hưởngđến việc tiêu thụ coffee
Cầu coffee
Sơ đồ 1: Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu coffee
Trang 12Sau khi xác định được nội dung nghiên cứu, nhà nghiên cứu phải xác định các loại dữ liệu cần thuthập dựa vào nội dung nghiên cứu Cho ví dụ: Để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến cầu tiêu thụcoffee, trong mô hình phân tích chúng ta đã đưa ra các loại dữ liệu mà chúng ta phải thu thập là:giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, thu nhập, giá coffee và lượng coffee đã tiêu thụ trên thịtrường Hà Nội.
Sau khi xác định được nội dung nghiên cứu và các loại dữ liệu nghiên cứu, nhà nghiên cứu tiếnhành lựa chọn phương pháp phân tích Việc lựa chọn phương pháp phân tích phải căn cứ vàonội dung, mục đích nghiên cứu và loại dữ liệu nghiên cứu Cho ví dụ: Trong nội dung thứ 2mục đích của nhà nghiên cứu muốn biết thực trạng tiêu thụ coffee trên thị trường Hà Nội tănghay giảm, có những phân khúc thị trường nào vvv Chúng ta có thể thấy trong nội dung thứ 2này để đạt được mục đích nghiên cứu nhà nghiên cứu có thể lựa chọn phương pháp phân tích làmưu tả thống kê Đối với nội dung thứ 3 mục đích của nhà nghiên cứu là muốn biết yếu tố nào
có tác động đến việc tiêu thu coffee, và mức độ ảnh hưởng của chúng là bao nhiêu, và mối quan
hệ giữa chúng có thể suy luận được cho tổng thể hay không Trong trường hợp này, nhà nghiêncứu có thể sử dung phương pháp phân tích thống kê, phương pháp tương quan, phương tíchphân tích hồi quy bội, hay phương pháp phân tích phương sai để trả lời cho câu hỏi yếu tố nào
có tác động đến việc tiêu thu coffee, và mức độ ảnh hưởng của chúng là bao nhiêu Đồng thờinhà nghiên cứu phải lựa chọn phương pháp kiểm định phù hợp với mỗi phương pháp phân tích
và dữ liệu lựa chọn để trả lời câu hỏi mối quan hệ giữa chúng có thể suy luận được cho tổng thểhay không, ví dụ; nếu nhà nghiên cứu sử dung phương pháp phân tích tương quan để xem xétmối quan hệ giữa giới tính và cầu tiêu thụ coffee với giới tính là biến rời rạc được mã hóa bằng
1 cho nữ, 2 cho nam và cầu tiêu thu coffee là biến liên tục (được đo bằng kg) thì nhà nghiên cứuphải sử dụng phương pháp kiểm định Spearman Bởi vì phương pháp kiểm định Spearman chophép kiểm định một biến liên tục và một biến rời rạc Mặt khác nếu nhà nhiên cứu muốn xemxét mối quan hệ giữa giá coffee và cầu tiêu thụ coffee, thì nhà nghiên cứu có thể lựa chọnphương pháp kiểm định Pearson, vì phương pháp kiểm định Pearson cho phép kiểm định mốiquan hệ tương quan giữa hai biến liên tục
Sau khi xác định được phương pháp phân tích dữ liệu, nhà nghiên cứu tiến hành xác định kíchthước mẫu số liệu được sử dụng trong nghiên cứu Một câu hỏi luôn đặt ra với nhà nghiên cứu
là cần phải điều tra bao nhiêu đơn vị mẫu để nó đại diện và có thể suy rộng cho tổng thể, đểphân tích có ý nghĩa và kết quả nghiên cứu có giá trị về mặt khoa học? Một cách đơn giản và
dễ nhất là dựa vào các nghiên cứu có cùng nội dung đã được thực hiện trước đó để lấy mẫu Cóthể hỏi ý kiến các chuyên gia, những người có kinh nghiệm thực hiện các dự án điều tra khảosát hoặc có thể tính toán theo công thức tính mẫu sau:
Trang 13• Với trường hợp cỡ mẫu lớn và không biết tổng thể.
2
e
q p z
n=
Trong đó: n là cỡ mẫu, z là giá trị phân phối tương ứng với độ tin cậy lựa chọn (nếu độ tin cậy 95%thì giá trị z là 1,96…), p là ước tính tỷ lệ % của tổng thể, q = 1-p thường tỷ lệ p và q được ước tính50%/50% đó là khả năng lớn nhất có thể xảy ra của tổng thể và e là sai số cho phép (+-3%, +-4%,+-5% )
Ví dụ: Tính cỡ mẫu của một cuộc trưng cầu ý kiến trước một cuộc bầu cử với độ tin cậy là 95%
với giá trị z tương ứng là 1.96, sai số cho phép là nằm trong khoảng +5% Giả định p*q lớn nhất
có thể xảy ra là 0.5*0.5 Cỡ mẫu sẽ được tính là:
38505
.0
)5.0
*5.0(96.1
• Nếu tổng thể nhỏ và biết được tổng thể thì dùng công thức sau:
Trong đó; n là cỡ mẫu, N là số lượng tổng thể, e là sai số tiêu chuẩn
Ví dụ: Tính cỡ mẫu của một cuộc điều tra với tổng thể là N= 2000, độ chính xác là 95%, sai số
tiêu chuân là +- 5% thì cỡ mẫu sẽ được tính là:
Bước 5: Tiến hành thu thập dữ liệu nghiên cứu
Như đã đề cập ở phần trên, có nhiều phương pháp thu thập dữ liệu được sử dụng trong nghiêncứu phụ thuộc vào đặc điểm của loại dữ liệu nghiên cứu sau khi đã được xác định trong các nộidung nghiên cứu cụ thể Tuy nhiên trong khuôn khổ của chương trình này chúng tôi chỉ nêu ramột vài phương pháp thu thập dữ liệu được sử dụng phổ biến nhất dựa vào loại thông tin; thôngtin sơ cấp và thông tin thứ cấp
Các phương pháp thu thập dữ liệu dạng sơ cấp
a) Phương pháp quan sát (observation):
Trang 14Nội dung: Phương pháp quan sát là phương pháp ghi lại có kiểm soát các sự kiện hoặc các hành
vi ứng xử của con người Phương pháp này thường được dùng kết hợp với các phương phápkhác để kiểm tra chéo độ chính xác của dữ liệu thu thập
• Phân loại theo hình thức tiếp cận chúng ta có quan sát trực tiếp và quan sát gián tiếp;
Quan sát trực tiếp: là tiến hành quan sát khi sự kiện đang diễn ra; ví dụ: Quan sát thái độcủa khách hàng khi thưởng thức các món ăn của một nhà hàng Quan sát gián tiếp: là tiếnhành quan sát kết quả hay tác động của hành vi, chứ không trực tiếp quan sát hành vi Vídụ: Nghiên cứu hồ sơ về doanh số bán trong từng ngày của một siêu thị để có thể thấyđược xu hướng tiêu dùng của khách hàng trong từng thời kỳ hay nghiên cứu về hồ sơ ghilại hàng tồn kho có thể thấy được xu hướng chuyển dịch của thị trường
• Phân loại theo cách thức quan sách chúng ta có quan sát ngụy trang và quan sát công khai Quan sát ngụy trang: là đối tượng được nghiên cứu không hề biết họ đang bị quan
sát Ví dụ: Bí mật quan sát mức độ phục vụ và thái độ đối xử của nhân viên Quan sátcông khai: là đối tượng được nghiên cứu biết họ đang bị quan sát Ví dụ: Đơn vị nghiêncứu sử dụng thiết bị điện tử gắn vào ti vi để ghi nhận xem khách hàng xem những đàinào, chương trình nào, thời gian nào
• Phân loại theo công cụ quan sát chúng ta có quan sát do con người và quan sát bằng thiết bị Quan sát do con người: là phương pháp dùng giác quan con người để quan sát
đối tượng nghiên cứu Ví dụ: Kiểm kê hàng hóa; quan sát số người ra vào ở các trungtâm thương mại Quan sát bằng thiết bị: là phương pháp dùng thiết bị để quan sát đốitượng nghiên cứu Chẳng hạn dùng máy đếm số người ra vào các cửa hàng, dùng máyđọc quét để ghi lại hành vi người tiêu dùng khi mua sản phẩm tại các cửa hàng bán lẻ;hay dùng máy đo có đếm số để ghi lại các hành vi của người xem ti vi…
b) Phương pháp phỏng vấn bằng thư hoặc email:
Nội dung: Gởi bảng câu hỏi đã soạn sẵn, kèm phong bì đã dán tem đến người muốn điều tra
qua đường bưu điện Nếu mọi việc trôi chảy, đối tượng điều tra sẽ trả lời và gởi lại bảng câuhỏi cho cơ quan điều tra cũng qua đường bưu điện
Ưu nhược điểm: Có thể điều tra với số lượng lớn đơn vị, có thể đề cập đến nhiều vấn đề riêng
tư tế nhị, có thể dùng hình ảnh minh hoạ kèm với bảng câu hỏi Thuận lợi cho người trả lời vì
họ có thời gian để suy nghĩ kỹ câu trả lời, họ có thể trả lời vào lúc rảnh rỗi Chi phí điều trathấp; chi phí tăng thêm thấp, vì chỉ tốn thêm tiền gởi thư, chứ không tốn kém tiền thù lao chophỏng vấn viên Tuy nhiên tỷ lệ trả lời thường thấp, mất nhiều thời gian chờ đợi thư đi và thưhồi âm, không kiểm soát được người trả lời, người trả lời thư có thể không đúng đối tượng mà
ta nhắm tới…
Trang 15c) Phương pháp phỏng vấn bằng điện thoại:
Nội dung: Nhân viên điều tra tiến hành việc phỏng vấn đối tượng được điều tra bằng điện
thoại theo một bảng câu hỏi được soạn sẵn Áp dụng khi mẫu nghiên cứu gồm nhiều đốitượng là cơ quan xí nghiệp, hay những người có thu nhập cao (vì họ đều có điện thoại); hoặcđối tượng nghiên cứu phân bố phân tán trên nhiều địa bàn thì phỏng vấn bằng điện thoại cóchi phí thấp hơn phỏng vấn bằng thư Nên sử dụng kết hợp phỏng vấn bằng điện thoại vớiphương pháp thu thập dữ liệu khác để tăng thêm hiệu quả của phương pháp
Ưu nhược điểm: Dễ thiết lập quan hệ với đối tượng (vì nghe điện thoại reo, đối tượng có sự
thôi thúc phải trả lời) Có thể kiểm soát được vấn viên do đó nâng cao được chất lượng phỏngvấn Dễ chọn mẫu (vì công ty xí nghiệp nào cũng có điện thoại, nên dựa vào niên giám điệnthoại sẽ dễ dàng chọn mẫu) Tỷ lệ trả lời cao (có thể lên đến 80%) Nhanh và tiết kiệm chi phí
Có thể cải tiến bảng câu hỏi trong quá trình phỏng vấn (có thể cải tiến để bảng câu hỏi hoànthiện hơn, hoặc có thể thay đổi thứ tự câu hỏi) Tuy nhiên thời gian phỏng vấn bị hạn chế vìngười trả lời thường không sẵn lòng nói chuyện lâu qua điện thoại, nhiều khi người cần hỏi từchối trả lời hay không có ở nhà…Không thể trình bày các mẫu minh hoạ về mẫu quảng cáo,tài liệu… để thăm dò ý kiến
d) Phương pháp phỏng vấn cá nhân trực tiếp
Nội dung: Nhân viên điều tra đến gặp trực tiếp đối tượng được điều tra để phỏng vấn theo một
bảng câu hỏi đã soạn sẵn Áp dụng khi hiện tượng nghiên cứu phức tạp, cần phải thu thập nhiều
dữ liệu; khi muốn thăm dò ý kiến đối tượng qua các câu hỏi ngắn gọn và có thể trả lời nhanhđược,…
Ưu nhược điểm: Do gặp mặt trực tiếp nên nhân viên điều tra có thể thuyết phục đối tượng trả
lời, có thể giải thích rõ cho đối tượng về các câu hỏi, có thể dùng hình ảnh kết hợp với lời nói đểgiải thích, có thể kiểm tra dữ liệu tại chỗ trước khi ghi vào phiếu điều tra Tuy nhiên chi phí cao,mất nhiều thời gian và công sức
e) Phương pháp điều tra nhóm cố định
Nội dung: Nhóm cố định là một mẫu nghiên cứu cố định gồm các con người, các hộ gia đình,
các doanh nghiệp được thành lập để điều tra định kỳ trả lời các bảng câu hỏi qua hình thức phỏngvấn bằng điện thoại, bằng thư hay phỏng vấn cá nhân Mỗi thành viên trong nhóm cố định đượcgiao một cuốn nhật ký để tự ghi chép các mục liên hệ (thu nhập, chi tiêu, giải trí,…) hoặc được
Trang 16giao một thiết bị điện tử gắn với ti vi để tự động ghi lại các thông tin về việc xem ti vi như chươngtrình nào, kênh nào, bao lâu, ngày nào,…Nếu thành viên nhóm cố định là cửa hàng, siêu thị haytrung tâm thương mại thì sẽ được giao các thiết bị quét đọc điện tử (scanner) để ghi lại chi tiết về
số hàng hoá bán ra như: số lượng, chủng loại, giá cả…Một số công ty nghiên cứu dùng nhóm cốđịnh để thu thập thông tin liên tục từ tháng này qua tháng khác, rồi đem bán lại cho những nơicần sử dụng Có công ty lập nhóm cố định quy mô khổng lồ với một triệu đối tượng, bao gồm đủmọi thành phần khách hàng cư trú trên khắp các địa bàn, để có thể phục vụ cho nhiều ngành tiếpthi khác nhau
Ưu nhược điểm: Chi phí rẻ do lặp lại nhiều lần một bảng câu hỏi theo mẫu lập sẵn Giúp cho
việc phân tích được tiến hành lâu dài và liên tục Ví dụ: Nhờ theo dõi phản ứng của mộtngười, một hộ hay một doanh nghiệp qua một thời gian dài; giúp cho việc đo lường được tácđộng của một số nhân tố đối với hành vi mua sắm của người tiêu dùng, từ đó giúp ta dễ tìm ratính quy luật trong tiêu dùng Tuy nhiên kinh nghiệm cho thấy tỷ lệ tham gia nhóm cố địnhchỉ đạt dưới 50% Hạn chế do biến động trong nhóm (Do tự rút lui, do bị phá sản, ngưng hoạtđộng, do chuyển ngành, do qua đời, chuyển chỗ ở, …) Hạn chế về thái độ của nhóm cố định.Nếu ta cứ liên tục nghiên cứu về một số yếu tố cố định (như hỏi họ mua hàng hoá nhãn hiệugì) thì sẽ gây tác động đến tác phong của họ làm sai lệch kết quả nghiên cứu
f) Phương pháp điều tra nhóm chuyên đề:
Nội dung: Nhân viên điều tra tiến hành đặt câu hỏi phỏng vấn từng nhóm, thường từ 7 đến
12 người có am hiểu và kinh nghiệm về một vấn đề nào đó, để thông qua thảo luận tự dotrong nhóm nhằm làm bật lên vấn đề ở nhiều khía cạnh sâu sắc, từ đó giúp cho nhà nghiêncứu có thể nhìn nhận vấn đề một cách thấu đáo và toàn diện
Ưu nhược điểm: Thu thập dữ liệu đa dạng, khách quan và khoa học Tuy nhiên kết quả thu
được không có tính đại diện cho tổng thể chung, chất lượng dữ liệu thu được hoàn toàn phụthuộc vào kỹ năng của người điều khiển thảo luận, các câu hỏi thường không theo một cấutrúc có sẵn nên khó phân tích xử lý
g) Phương pháp nghiên cứu tại bàn
Phương pháp này là dựa trên nguồn thông tin thứ cấp thu thập được từ những tài liệu nghiêncứu trước đây để xây dựng cơ sở luận cứ hay chứng minh giả thuyết Dữ liệu thứ cấp đượcchia thành hai loại là dữ liệu thứ cấp bên trong hoặc dữ liệu thứ cấp bên ngoài
Trang 17Dữ liệu thứ cấp bên trong: Khi tìm kiếm dữ liệu thứ cấp nên bắt đầu từ các nguồn bên trong
tổ chức Hầu hết các tổ chức đều có những nguồn thông tin rất phong phú, vì vậy có những dữliệu có thể sử dụng ngay lập tức Chẳng hạn như dữ liệu về doanh thu bán hàng và chi phí bánhàng hay các chi phí khác sẽ được cung cấp đầy đủ thông qua các bảng báo cáo thu nhập củadoanh nghiệp Những thông tin khác có thể tìm kiếm lâu hơn nhưng thật sự không khó khănkhi thu thập loại dữ liệu này Có hai thuận lợi chính khi sử dụng dữ liệu thứ cấp bên trongdoanh nghiệp là thu thập được một cách dễ dàng và có thể không tốn kém chi phí Để tạo ra
cơ sở dữ liệu thứ cấp bên trong, doanh nghiệp cần tổ tức cơ sở dữ liệu marketing (DataMarketing) Đó là việc sử dụng máy tính để nắm bắt và theo dõi các hồ sơ khách hàng và chitiết mua hàng Thông tin thứ cấp này phục vụ như một nền tảng cho các chương trình nghiêncứu marketing hoặc như là nguồn thông tin nội bộ liên quan đến hành vi khách hàng trongnhiều doanh nghiệp
Dữ liệu thứ cấp bên ngoài: Những nguồn dữ liệu thứ cấp bên ngoài là các tài liệu đã được xuất
bản có được từ các nghiệp đoàn, chính phủ, chính quyền địa phương, các tổ chức phi chính phủ(NGO), các hiệp hội thương mại, các tổ chức chuyên môn, các ấn phẩm thương mại, các tổchức nghiên cứu Marketing chuyên nghiệp… Sự phát triển của mạng thông tin toàn cầu đã tạonên một nguồn dữ liệu vô cùng phong phú và đa dạng, đó là các dữ liệu thu thập từ internet.Trong thực tế, có rất nhiều dữ liệu thứ cấp có thể sử dụng được và có thể tìm kiếm từ nhiềunguồn khác nhau Vì vậy, điều quan trọng là phải phân loại nguồn dữ liệu để có một phươngthức tìm kiếm thích hợp Các tiêu chuẩn đánh giá dữ liệu thứ cấp Tính cụ thể Dữ liệu thứ cấpphải đảm bảo tính cụ thể, có nghĩa nó phải rõ ràng, phù hợp mục tiêu nghiên cứu, có thể hỗ trợcho việc phân tích nhận diện vấn đề hay mô tả vấn đề nghiên cứu Tính cụ thể còn đòi hỏi sự rõràng về nguồn dữ liệu thu thập cũng như hiệu quả của dữ liệu (so sánh lợi ích của dữ liệu vớichi phí thu thập) Tính chính xác của dữ liệu Người nghiên cứu phải xác định dữ liệu có đủchính xác phục vụ cho mục đích nghiên cứu hay không Dữ liệu thứ cấp có thể có sai số (haykhông chính xác), điều này phụ thuộc vào nguồn cung cấp dữ liệu Vì vậy, uy tín của nhà cungcấp và độ tin cậy của nguồn dữ liệu những tiêu chuẩn cần xem xét khi thu thập dữ liệu thứ cấp.Tính thời sự Nghiên cứu marketing đòi hỏi dữ liệu có tính chất thời sự (dữ liệu mới) vì giá trịcủa dữ liệu sẽ bị giảm qua thời gian Đó cũng là lý do vì sao các doanh nghiệp nghiên cứumarketing luôn cập nhật thông tin định kỳ, tạo ra nguồn thông tin có giá trị cao Mục đích của
dữ liệu được thu thập: Dữ liệu thu thập nhằm đáp ứng cho một số mục tiêu nghiên cứu đã xácđịnh và giải đáp câu hỏi "Dữ liệu cần được thu thập để làm gì?" Dữ liệu được thu thập phục vụcho một mục tiêu nghiên cứu cụ thể, vì vậy các dữ liệu có thể phù hợp cho mục tiêu nghiên cứunày nhưng lại có thể không phù hợp trong trường hợp khác
Trang 18Bước 6: Tiến hành phân tích dữ liệu nghiên cứu và diễn giải kết quả nghiên cứu
Sau khi thu thập được số liệu điều tra, nhà nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu đã lựachọn để tiên hành phân tích Khi có kết quả phân tích nhà nghiên cứu, nhà nghiên cứu tiến hànhthảo luận kết quả nghiên cứu thông qua việc kết nối, đối chiếu với giả thuyết nghiên cứu đã đưa ra
từ trước để đưa ra các kết luận riêng cho mỗi nội dung nghiên cứu Sau đó tổng hợp lại các kếtluận riêng để đưa ra kết luận chung cho vấn đề nghiên cứ
Bước 7: Trình bầy kết quả nghiên cứu
Một công việc quan trọng nhất của người nghiên cứu là tóm tắt và trình bày số liệu, kết quảnghiên cứu Mục đích công việc là trình bày kết quả làm sao cho người đọc dễ hiểu Trình bàycác kết quả chính của mục tiêu nghiên cứu đã tìm hay phát hiện ra trong nghiên cứu theo trình
Khi đưa ra giả thuyết và giả thuyết đó đã được thử nghiệm kiểm chứng, theo dõi quan sát, thuthập số liệu và phân tích, đây được xem như là kết quả trả lời câu hỏi nghiên cứu
Trình bày dạng văn viết
Không phải tất cả các số liệu phân tích hay kết quả đều phải trình bày ở dạng bảng và hình.Những số liệu đơn giản, tốt nhất nên trình bày, giải thích ở dạng câu văn viết và các số liệuđược cho vào trong ngoặc đơn Ví dụ: Tuổi trung bình của nhóm nữ cao hơn so với nhóm nam(65,3 ± 6,8 so với 54,7 ± 3,2; p<0,01)
Giá bình quân
Phương sai giá
Độ lệch tiêu chuẩn
Trang 19Ví dụ:
Trình bày phần kết luận
Trình bày kết quả nghiên cứu là một phần rất quan trọng của một đề tài nghiên cứu Để ngườiđọc dễ theo dõi, việc trình bày kết quả cần phải bám sát vào mục tiêu của nghiên cứu Có thểchọn một trong các cách trình bày kết quả đã nêu trên sao cho người đọc dễ hiểu, dễ nắm bắtđược các thông tin, số liệu mà người nghiên cứu cần chuyển tải Thường trong phần trình bàykết quả, các nhà nghiên cứu chọn nhiều cách trình bày khác nhau cho phù hợp với từng nộidung, đồng thời tránh sự đơn điệu dễ gây nhàm chán cho người đọc
Trình bày tài liệu tham khảo
Trong mục tài liệu tham khảo, nhà nghiên cứu thường trình bày theo tên tác giả, năm công bố,tên tiêu đề, nhà pháp hành Thứ tự tài liệu tham khảo được trình bày theo alpha B Lưu ý: Đối
Đồ thị 1: Tình hình giá cà phê thế giới giai
đoạn 1980 - 2004
Biểu đồ 1: Tình hình tiêu thụ thị lợn địa bàn
Hà Nội giai đoạn 2000- 2008
Trang 20với các tài liệu tham khảo là báo khoa học, thì tên nhà phát hành được in nghiêng, ngược lạicác tài liệu khác thì tên tiêu được in nghiêng, tên nhà phát hành không in nghiêng.
CHƯƠNG II NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH
2.1 VAI TRÒ CỦA NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Nghiên cứu định tính đóng một vai trò quan trọng trong nghiên cứu xã hội Nó cho phép tìmhiểu những vấn đề khó và nhạy cảm trong đời sống xã hội, phát hiện những quần thể cần đượcchú trọng, thăm dò tính khả thi, mức độ chấp nhận và sự phù hợp của chính sách/chương trìnhmới, chỉ ra những hạn chế của các chính sách/can thiệp đang triển khai và đưa ra giải phápđiều chỉnh, giúp thiết kế các công cụ điều tra chính xác hơn bằng cách phát hiện chủ đềnghiên cứu thích hợp và xác định các câu hỏi thích hợp Mặt khác nghiên cứu định tính cònđóng vai trò là cơ sở nền móng trong việc xây dựng những lý thuyết mới, khái niệm mới, gópphần nâng cao nhận thức của con người về thế giới quan, và là nền tảng cho nghiên cứu địnhlượng
2.2 ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH
Trang 212.1.1 Ưu điểm của phương pháp nghiên cứu định tính
• Thuận lợi cho những nghiên cứu một số trường hợp chuyên sâu
• Thuận lợi cho việc mưu tả các trường hợp phức tạp
• Cung cấp những thông tin tình huống mang tính cá nhân
• Có thể tiến hành phân tích và so sánh ngang dọc các tính huống
• Cung cấp sự hiểu biết và mưu tả kinh nghiệm cá nhân về các hiện tượng đã trải qua
• Mô tả các hiện tượng một cách phong phú
• Nhà nghiên cứu có thể xác định được các bối cảnh và xây dựng được các yếu tố,những yếu tố có liên quan đến hiện tượng đang quan tâm
• Nhà nghiên cứu có thể nghiên cứu quá trình động
• Dữ liệu định tính bằng chữ có khám phá hiện tượng xuất nhiện như thế nào và tại sao
• Có thể sử dụng một tình huống quan trọng để chứng minh một hiện tượng
2.1.2 Nhược điểm của phương pháp nghiên cứu lượng
• Không trả lời được câu hỏi cụ thể là bao nhiêu
• Khó kiểm định các giả định và lý thuyết
• Độ tin cậy thấp hơn so với nghiên cứu định lượng
• Mất nhiều thời gian thu thập dữ liệu hơn so với nghiên cứu định lượng
• Mất nhiều thời gian trong việc phân tích dữ liệu
• Kết quả nghiên cứu hay bị thiên lệch do thành kiến chủ quan của nhà nghiên cứu
2.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Câu hỏi nghiên cứu đóng một vai trò quan trọng bởi vì chúng có thể hướng dẫn một quá trìnhnghiên cứu Một chủ đề nghiên cứu luôn bắt đầu bằng một lĩnh vực khám phá chung Cho vídụ; lý do tại sao chất lượng cuộc sống của Việt Nam đứng thứ 116/182 trên thế giới Tại saogiáo dục Việt Nam vẫn đứng ở vị trí thấp trên thế giới Tất cả những câu hỏi này có thể liênquan đến việc xác định những gì đang và đã xẩy ra hơn là việc cân đo đong đếm chúng, haytập trung vào việc thay đổi nó để tạo ra một sự thay đổi khác Điều này để nói lên tại saonghiên cứu định tính lại phù hợp hơn với những loại câu hỏi này
Tuy nhiên những câu hỏi trên luôn là một cái gì đó rất mơ hồ, nhưng nó là quan trọng để tìmkiếm những câu hỏi chính xác hơn cho các nghiên cứu Do đó, từ những câu hỏi này mànhững câu hỏi nghiên cứu tiếp theo chính xác hơn có thể được phát triển như; chất lượng giáodục đứng ở vị trí thấp có phải là do trình độ của giáo viên?, hay phương pháp giáo dục chưaphù hợp?, hay những khuyết tật đang tồn tại trong sâu thẳm của người học bắt nguồn bởi một
ý thức hệ lệch lạc được tích lũy theo thời gian?, hay cả ba cùng tồn tại song hành? Mỗi mộtcâu hỏi này là đủ chính xác cho mỗi nhóm nghiên cứu có thể quyết định họ sẽ thực hiện như
Trang 22thế nào để trả lời câu hỏi đó Điều này có nghĩa là nhà nghiên cứu sẽ lựa chọn phương phápthu thập và phân tích dữ liệu phù hợp để trả lời cho từng loại câu hỏi mà họ đã đưa ra
2.4 DỮ LIỆU VÀ THU THẬP DỮ LIỆU TRONG NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH
Nghiên cứu định tính là một dạng nghiên cứu khám phá trong đó dữ liệu được thu thập ở dạngđịnh tính Công cụ chính của việc thu thập dữ liệu định tính là quan sát, thảo luận giữa cácnhà nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu; thảo luận tay đôi và thảo luận nhóm
2.4.1 Phương pháp quan sát
Quan sát là một công cụ rất thường dùng để thu thập dữ liệu trong nghiên cứu định tính và cónhiều dạng khác nhau như:
i Tham gia như một thành viên: Nhà nghiên cứu tham gia như một đối tượng thành viên
và không cho các đối tượng nghiên cứu nhận ra mình là nhà nghiên cứu Trong quá trìnhtham gia, nhà nghiên cứu chủ động quan sát hành vi, thái độ, vvv, của các đối tượngnghiên cứu
ii Tham gia chủ động để quan sát: Nhà nghiên cứu tham gia như một đối tượng nghiên
cứu nhưng cho các thành viên khác biết mình là nhà nghiên cứu
iii Chỉ quan sát: Nhà nghiên cứu là một quan sát, không tham gia như một thành viên, dù
là chủ động hay thụ động
Quan sát giúp chúng ta thu nhận được kiến thức đầu tiên về vấn đề nghiên cứu Hơn nữa, chúng ta
có thể nhận dạng được thực tế về bối cảnh, thời gian Tuy nhiên nó cũng có một số nhược điểmnhư khó khăn trong quan hệ để được tham gia quan sát, sắp xếp phù hợp thời gian để tham giacũng là một vấn đề cần được quan tâm Hơn nữa, trong nhiều tình huống tế nhị chúng ta khôngthể quan sát được
2.4.2 Phương pháp thảo luận tay đôi
Thảo luận tay đôi là kỹ thuật thu thập dữ liệu thông qua việc thảo luận giữa hai người; nhànghiên cứu và đối tượng thu thập dữ liệu Thảo luận tay đôi thường được nhà nghiên cứu sửdụng trong các trường hợp sau
i Chủ đề nghiên cứu mang tính cá nhân cao, không phù hợp cho việc thảo luận trong
môi trường tập thể
ii Do vị trí xã hội, nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu nên rất khó mời họ tham gia
nhóm