Chuyên đề: KỸ THUẬT TRỒNG, CHĂM SÓC VÀ THU HOẠCH CÂY TIÊU MỤC LỤC ĐỀ MỤC TRANG Giới thiệu chung về cây tiêu 1 I.Nguồn gốc và tiềm năng phát triển 2 II.Tình hình sản xuất và tiêu thụ tiêu ở Việt Nam và trên thế giới 3 2.1. Trên thế giới 3 2.2. Ở Việt Nam 3 III. Đặc tính thực vật học 4 3.1. Hệ thống rễ 4 3.2. Thân, lá, cành 5 3.3. Hoa và quả 6 VI.Các yêu cầu ngoại cảnh 7 4.1: Khí hậu 7 4.2: Đất đai và địa hình 7 4.3: Dinh dưỡng 7 V. Giống và kĩ thuật nhân giống 8 5.1. Giống tiêu 8 5.2. Kĩ thuật nhân giống 9 5.3. Chuẩn bị vườn ươm 12 5.4. Nhân giống bằng chiết, ghép cành 12 5.5.Nhân giống bằng nuôi cấy mô 13 VI. Kĩ thuật trồng và chăm sóc cây tiêu 14 6.1. Kĩ thuật trồng tiêu 14 6.2. Chăm sóc cây tiêu 17 VII.Phòng trị sâu bệnh 34 7.1. Sâu hại: 34 7.2.Bệnh hại: 36 VIII. Thu hoạch và sơ chế 43 8.1. Sơ chế tiêu đen 43 8.2. Sơ chế tiêu trắng 43 8.3. Tiêu chuẩn xuất khẩu 44 Kết luận và kiến nghị 45 Tài liệu tham khảo 46 Giới thiệu chung về cây tiêu Phân loại khoa học Giới (regnum) Plantae (không phân hạng): Angiospermae (không phân hạng): Magnoliidae Bộ (ordo): Piperales Họ (familia): Piperaceae Chi (genus): Piper Loài (species): P. nigrum Hồ tiêu còn gọi là cổ nguyệt, hắc cổ nguyệt, bạch cổ nguyệt (danh pháp hoa học: Piper nigrum) là một loài cây leo có hoa thuộc họ Hồ tiêu (Piperaceae), trồng chủ yếu để lấy quả và hạt, thường dùng làm gia vị dưới dạng khô hoặc tươi. Hoa hồ tiêu là quốc hoa của đất nước Liberia. Tiêu là loại cây trồng có thể sống lâu năm và có giá trị kinh tế cao. Ngoài việc được sử dụng làm gia vị tiêu còn được người ta sử dụng trong y dược, trong công nghiệp hương liệu và làm chất trừ côn trùng. + Chất gia vị: Hạt tiêu có vị nóng, cay, có mùi thơm hấp dẫn nên rất thích hợp cho việc chế biến các món ăn. Vì vậy mà tiêu đã trở thành gia vị được dùng rất phổ biến trên thế giới. Trong y dược: Do có sự hiện diện của chất piperin, tinh dầu và nhựa có mùi thơm, cay, nóng đặc biệt, tiêu có tác dụng kích thích tiêu hóa, làm cho ăn ngon miệng. Ngoài ra, tiêu còn có tác dụng làm cho ấm bụng, thường dùng chung với gừng để chữa chứng tiêu chảy, ói mửa khi ăn nhằm món ăn lạ, dùng chung với hành lá trong tô cháo giải cảm…Tuy nhiên, khi dùng quá nhiều, tiêu có thể gây táo bón, kích thích niêm mạc dạ dày, gây sốt, viêm đường tiểu và có khi gây tiểu ra máu. + Trong công nghiệp hương liệu: Chất piperin trong hạt tiêu được thủy phân thành piperidin và acid piperic. Oxy hóa acid piperic bằng permanganate kali (KMnO4), ta thu được piperonal (heliotropin nhân tạo) có mùi hương tương tự như heliotropin và coumarin, dùng để thay thế các hương liệu này trong kỹ nghệ làm nước hoa.Tinh dầu tiêu với mùi thơm đặc biệt được sử dụng trong công nghiệp hương liệu và hóa dược. + Trừ côn trùng: Trước kia, người ta dùng dung dịch chiết xuất từ hạt tiêu xay tẩm vào da trong khi thuộc để ngừa côn trùng phá hoại, nhưng từ khi xuất hiện các loại thuốc hóa học công dụng và rẻ tiền hơn thì tiêu không còn được sử dụng trong lĩnh vực này nữa.
Trang 1Chuyên đề:
KỸ THUẬT TRỒNG, CHĂM SÓC VÀ THU HOẠCH CÂY TIÊU
MỤC LỤC
Giới thiệu chung về cây tiêu 1
I.Nguồn gốc và tiềm năng phát triển 2
II.Tình hình sản xuất và tiêu thụ tiêu ở Việt Nam và trên thế giới 3
2.1 Trên thế giới 3
2.2 Ở Việt Nam 3
III Đặc tính thực vật học 4
3.1 Hệ thống rễ 4
3.2 Thân, lá, cành 5
3.3 Hoa và quả 6
VI.Các yêu cầu ngoại cảnh 7
4.1: Khí hậu 7
4.2: Đất đai và địa hình 7
4.3: Dinh dưỡng 7
V Giống và kĩ thuật nhân giống 8
5.1 Giống tiêu 8
5.2 Kĩ thuật nhân giống 9
5.3 Chuẩn bị vườn ươm 12
5.4 Nhân giống bằng chiết, ghép cành 12
5.5.Nhân giống bằng nuôi cấy mô 13
VI Kĩ thuật trồng và chăm sóc cây tiêu 14
6.1 Kĩ thuật trồng tiêu 14
6.2 Chăm sóc cây tiêu 17
VII.Phòng trị sâu bệnh 34
7.1 Sâu hại: 34
7.2.Bệnh hại: 36
VIII Thu hoạch và sơ chế 43
8.1 Sơ chế tiêu đen 43
8.2 Sơ chế tiêu trắng 43
8.3 Tiêu chuẩn xuất khẩu 44
Kết luận và kiến nghị 45
Tài liệu tham khảo 46
Trang 2Giới thiệu chung về cây tiêu
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng): Angiospermae
(không phân hạng): Magnoliidae
Bộ (ordo): Piperales
Họ (familia): Piperaceae
Chi (genus): Piper
Loài (species): P nigrum
- Hồ tiêu còn gọi là cổ nguyệt, hắc cổ nguyệt, bạch
cổ nguyệt (danh pháp hoa học: Piper nigrum) là một loài
cây leo có hoa thuộc họ Hồ tiêu (Piperaceae), trồng chủ
yếu để lấy quả và hạt, thường dùng làm gia vị dưới dạng
khô hoặc tươi Hoa hồ tiêu là quốc hoa của đất nước Liberia
- Tiêu là loại cây trồng có thể sống lâu năm và có giá trị kinh tế cao Ngoài việc được sử dụng làm gia vị tiêu còn được người ta sử dụng trong y dược, trong công nghiệp hương liệu và làm chất trừ côn trùng
+ Chất gia vị: Hạt tiêu có vị nóng, cay, có mùi thơm hấp dẫn nên rất thích hợp cho việc chế biến các món ăn Vì vậy mà tiêu đã trở thành gia vị được dùng rất phổ biến trên thế giới
Trong y dược: Do có sự hiện diện của chất piperin, tinh dầu và nhựa có mùi
thơm, cay, nóng đặc biệt, tiêu có tác dụng kích thích tiêu hóa, làm cho ăn ngon miệng Ngoài ra, tiêu còn có tác dụng làm cho ấm bụng, thường dùng chung với gừng để chữa chứng tiêu chảy, ói mửa khi ăn nhằm món ăn lạ, dùng chung với hành lá trong tô cháo giải cảm…Tuy nhiên, khi dùng quá nhiều, tiêu có thể gây táo bón, kích thích niêm mạc dạ dày, gây sốt, viêm đường tiểu và có khi gây tiểu ra máu
+ Trong công nghiệp hương liệu: Chất piperin trong hạt tiêu được thủy phân thành piperidin và acid piperic Oxy hóa acid piperic bằng permanganate kali
(KMnO4), ta thu được piperonal (heliotropin nhân tạo) có mùi hương tương tự như heliotropin và coumarin, dùng để thay thế các hương liệu này trong kỹ nghệ làm nước hoa.Tinh dầu tiêu với mùi thơm đặc biệt được sử dụng trong công nghiệp hương liệu
và hóa dược
+ Trừ côn trùng: Trước kia, người ta dùng dung dịch chiết xuất từ hạt tiêu xay tẩm vào da trong khi thuộc để ngừa côn trùng phá hoại, nhưng từ khi xuất hiện các loại thuốc hóa học công dụng và rẻ tiền hơn thì tiêu không còn được sử dụng trong lĩnh vực này nữa
I Nguồn gốc và sự phát triển của cây tiêu
Cây tiêu được xem là cây gia vị thông dụng nhất trên thế giới hiện nay
Nguồn gốc: Tây Nam Ấn Độ nằm ở vùng Ghats và Assam, mọc hoang trong rừng (đây là vùng nhiệt đới ẩm) được người Ấn Độ phát hiện, sử dụng đầu tiên và cho
Trang 3rằng việc phát hiện này là rất quý giá vì hạt tiêu có thể dùng làm lễ vật triều cống hoặc bồi thường chiến tranh Đến đầu thế kỷ 13 cây tiêu mới được trồng rộng rãi và sử dụng trong bữa ăn hàng ngày.
Từ Ấn Độ sau đó được trồng lan rộng các nước vùng Nam Á, Đông Nam Á (Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Srilanka, Campuchia, Việt Nam, Lào …)
Đến thế kỷ 19 mới đưa sang trồng ở châu Phi và châu Mỹ, nhiều nhất là ở Madagasca
và Brazil
Hiện nay tiêu được trồng nhiều ở các nước nằm trong vùng xích đạo khoảng
15o vĩ Bắc và 15o vĩ Nam (vì do xuất xứ từ vùng nhiệt đới ẩm) Ở Việt Nam có thể trồng ở vĩ độ 17
Tiêu chỉ thích hợp ở độ cao dưới 800m, lên cao lạnh tiêu phát triển kém
Các vùng có tiềm năng phát triển tiêu ở Việt Nam:
+ Đông nam bộ: tốt nhất là vùng đất đỏ bazan: Lộc Ninh, Bình Long (Bình Phước), Bà Rịa, Xuân Lộc (Long Khánh) Do đất đỏ có cơ cấu cụm, thông thoáng, dinh dưỡng cao, năng suất ở đất đỏ 2 - 3 hoặc đến 8 - 10 - 12 kg/nọc
Đất xám miền Đông thường phải tưới nhiều nước hoặc chọn nơi có mực thủy cấp cao
+ Tây nguyên: Lâm Đồng (Di Linh, Bảo Lộc, Đa Hoai), Đăk lăk, Pleiku, Buôn
Ma Thuột Khả năng phát triển tiêu lớn nhờ đất đỏ, đất vàng đỏ nhưng hiện đang tranh chấp với cà phê, cao su
+ Miền Trung: Khe Sanh (Quảng Trị), Tiên Phước (đang tranh chấp với dâu tằm)…
+ Kiên Giang: Hà Tiên (vùng khởi đầu: Tô Châu, Thạch Động), Phú Quốc … nếu bón nhiều phân hữu cơ có thể đạt 10 - 15 kg/nọc/năm
+ Đồng bằng sông Cửu Long: phát triển từ năm 1984 - 1985 trở lại đây, chủ yếu vườn nhà (nọc sống) mang tính chất gia đình, phải bồi mương cao trắc diện ở nơi trồng tiêu
II.Tình hình sản xuất và tiêu thụ Hồ tiêu trên thế giới và ở Việt Nam
2.1 Trên thế giới
- Trên thế giới có khoảng 70 nước trồng tiêu, với diện tích khoảng 550.000
ha (năm 2010) Trong đó có 7 nước sản xuất lớn gồm Ấn Độ khoảng 230.000 ha, Indonexia 170.000 ha, Việt Nam 50.000 ha, Braxin 45.000 ha, Sri Lanka 32.000 ha, Trung Quốc 18.000 ha và Malayxia 13.000 ha Các nước này chiếm 98% diện tích trồng tiêu toàn thế giới
- Năng suất bình quân còn thấp: 500 – 550 kg/ha
- Sản lượng tiêu thế thế giới năm 2009: 318.000 tấn, năm 2010: 316.000 tấn
- Tiêu được xuất khẩu dưới 2 dạng chủ yếu là tiêu đen và tiêu trắng (chiếm 85%) còn lại là tiêu xanh và dầu nhựa tiêu
- Lượng hồ tiêu nhập khẩu hàng năm trên thế giới vào khoảng 120.000 –
130.000 tấn tiêu hạt, 2000 tấn tiêu xanh và 4000 tấn dầu nhựa tiêu
- Có trên 80 nước nhập khẩu tiêu đứng đầu là Mỹ, Đức, Pháp, Trung Quốc…
2.2 Ở Việt Nam
Trang 4- Hồ tiêu được trồng vào khoảng thế kỷ 17 ở vùng Hà Tiên, Phú Quốc…
- Năm 1990, Việt Nam tham gia vào thị trường xuất khẩu hồ tiêu thế giới
- Diện tích trồng tiêu cả nước đến năm 2010 khoảng 50.000 ha và sản lượng thu hoạch vụ 2010 đạt 110.000 tấn
- Các vùng trồng hồ tiêu chủ yếu ở Việt Nam: Bắc Trung Bộ khoảng 3.700 ha, Duyên hải Nam Trung Bộ 1.300 ha, Tây Nguyên 17.500 ha, Đông Nam Bộ 27.500 ha
- Năng suất hồ tiêu ở Việt Nam cao nhất thế giới, năng suất thu hoạch bình quân đạt 24,46 tạ/ha, có nhiều hộ đạt 60 -70 tạ/ha, cá biệt có hộ đạt trên 100 tạ/ha
- Hồ tiêu của Việt Nam được xuất khẩu chủ yếu dưới dạng tiêu đen, tiêu trắng
và được xuất khẩu sang hơn 80 nước
III Đặc điểm thực vật học của cây Hồ tiêu
3.1 Hệ thống rễ
a Rễ cái: ăn sâu, có từ 2 - 3 cái, làm nhiệm vụ chính là hút nước, đối với cây
tiêu trồng bằng hình thức giâm cành, sau khi trồng ra ngoài vườn được 1 năm, bộ rễ có thể ăn sâu 2 m
Rễ cái của cây tiêu khi còn nhỏ
b.Rễ phụ: mọc thành chùm, tập trung chủ yếu ở tầng đất từ 15 – 40 cm, có
nhiệm vụ hút nước và dinh dưỡng
Rễ cây hồ tiêu có đặc tính háo khí, không chịu được ngập úng, chỉ cần ngập úng trong một thời gian ngắn từ 12 – 24 giờ cũng đã gây tổn thương bộ rễ cây tiêu
và có thể dẫn tới việc hư thối dây tiêu
c Rễ bám (rễ thằn lằn): làm nhiệm vụ chính là giúp cây bám vào trụ để vươn
cao Khả năng hút nước và dinh dưỡng của rễ bám rất hạn chế
Trang 5Dây thân bám vào trụ Một loại dây thân khác yếu hơn, không có rễ bám vào trụ mọc rũ từ đỉnh trụ xuống hoặc từ tán cây tiêu, dây này cũng có thể dùng để giâm cành nhân giống.
Trang 6Dây thân mọc ngoài tán cây
b Dây lươn:
+ Mọc từ các mầm nách của các đốt gần sát gốc của cây tiêu
+ Cành lươn thường có lóng dài và bò sát đất Cành lươn cũng được dùng để nhân giống bằng hình thức giâm cành hoặc chiết
+ Cây tiêu được trồng từ dây thân mọc rũ từ đỉnh trụ xuống hoặc từ tán, không
có rễ bám vào trụ hoặc từ dây lươn ở phía dưới gốc ra hoa quả chậm, khoảng 4 năm sau khi trồng, nhưng sinh trưởng khỏe và có thời gian khai thác dài hơn
Dây lươn bò trên mặt đất
c Cành quả (cành ác):
+ Phát sinh từ các mầm nách trên dây thân chính của cây tiêu Mỗi nách chỉ
có một mầm ngủ, có khả năng phát triển thành cành quả Từ cành quả cấp một mọc
từ thân chính có thể phát sinh ra cành quả cấp hai, cấp ba, cấp bốn
Trang 7Cành quả cấp 1,2,3+ Nếu dùng cành quả để giâm cành nhân giống thì:
.Cây tiêu ra hoa quả rất sớm (một năm sau khi trồng)
.Cây phát triển rất chậm
.Cây không leo cao trên trụ mà mọc thành bụi vì ở các đốt lóng, thường không có hoặc có rất ít rễ bám
.Năng suất thấp
.Cây mau cỗi (6-8 năm)
Trong thực tế sản xuất bà con nông dân thường không dùng cành quả để nhân giống
3.3 Hoa và quả
- Tùy theo điều kiện sinh thái của từng vùng mà thời gian ra hoa của hồ tiêu có khác nhau:
+ Ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ cây tiêu thường ra hoa vào tháng 5-6
+ Các tỉnh Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền trung cây tiêu ra hoa vào tháng 8-9
- Hoa hồ tiêu không ra tập trung mà ra làm nhiều đợt
- Mỗi gié tiêu có thể cho từ 50 – 60 quả, quả hồ tiêu thuộc loại quả hạch, mỗi quả chứa một hạt
Trang 8VI Các điều kiện ngoại cảnh
a Đối với cây tiêu chưa cho trái ( tiêu kiến thiết cơ bản):
- Đối với vườn tiêu từ sau khi trồng đến dưới 3 năm tuổi ,cây tiêu chủ yếu phát triển
thân lá và bộ rễ do vậy nhu cầu về đạm, lân là cao hơn so với kali Mặc dù sang năm thứ 2 và năm thứ 3 cây đã cho trái nhưng chưa nhiều, cây tiêu chưa hoàn toàn trưởng thành do vậy có cách bón như sau:
+ Bón lót hàng năm: Phân hữu cơ, kết hợp với bón phân khoáng lần 1, hạn chế làm đứt rễ tránh sự phá hoại của tuyến trùng
+ Bón thúc: Dùng phân hỗn hợp NPK 20-20-15 Đất Xanh, lượng dùng từ 0,1-0,2 kg/ nọc/ lần bón, một năm bón từ 3 - 6 lần, thông thường các đợt bón như sau: đầu mùa mưa, giữa mùa mưa, cuối mùa mưa
b Đối với cây tiêu đang cho trái ổn định ( trên 3 năm tuổi- tiêu kinh doanh): Cây tiêu là loại cây cho thu hoạch trái một lần/một năm Từ khi thu hoạch trái vụ
trước để khi cho thu hoạch trái vụ sau cây tiêu trải qua nhiều qúa trình biến đổi về sinh
lý, sinh hóa rất phức tạp Cùng với qúa trình chuyển biến đó là sự thay đổi về nhu cầu các chất dinh dưỡng khác nhau Có 2 cách bón phân như sau:
- Cách bón 1: Sử dụng loại phân hỗn hợp NPK 15-10-15- TVL Loại phân này có
Trang 9các thành phần dinh dưỡng đa lượng tương đối phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của cây tiêu Một năm bón từ 4-5 lần, mỗi lần bón từ 0,4-0,5 kg/nọc vào các thời kỳ chính sau: Sau khi thu hoạch trái lần cuối, trước khi tiêu ra bông, sau khi tượng hạt và khi trái đang lớn
- Cách bón 2: Sử dụng phân bón NPK chuyên dùng bón cho cây tiêu: Đất Xanh CT1,
CT2, CT3 + bón phân hữu cơ các loại một lần/năm ngay sau khi thu hoạch trái lần
cuối, lượng bón từ 15-20 kg/nọc Ngoài phân hữu cơ nếu có điều kiện hàng năm cần bón bổ sung thêm vôi bột từ 1-2 tấn/ha kết hợp với cuốc nền cho vườn tiêu tơi xốp đồng thời sửa lại bồn và dọn vệ sinh vườn tiêu
V GIỐNG VÀ KĨ THUẬT NHÂN GIỐNG
5.1 GIỐNG TIÊU
*Các giống tiêu hiện nay có thể chia thành 3 nhóm:
-Nhóm lá nhỏ: lá dài 10-20 cm, lá màu xanh đậm, lóng ngắn, tán lá hẹp và hơi rủ, mau
ra hoa, lâu già cỗi và không kén đất, năng suất tương đối ổn định và ít sâu bệnh
-Nhóm lá lớn:kích thước lá lớn, lóng dài, tán lá rộng, chậm ra hoa, mau già cỗi, rất kén đất, dễ nhiễm bệnh, năng suất không ổn định
-Nhóm lá trung: có đặc tính trung gian của 2 nhóm trên
*Các giống tiêu phổ biến ở nước ta hiện nay là:
-Tiêu sẻ: lá nhỏ, trồng phổ biến ở miền Đông Nam Bộ.Thích nghi với điều kiện khí hậu, đất đai, chịu hạn tốt, năng suất khá cao Nhược điểm: chống chịu yếu, bệnh chết nhanh và thối rể tuyến trùng
-Tiêu trâu: thuộc nhóm lá lớn, năng suất trung bình, tương đối ổn định, kháng bệnh tốt,
ra quả rải rác, giống này có tên gọi khác là tiêu ta, tiêu lộc ninh
- Giống trung: tương đối kén đất, đòi hỏi phải thâm canh mới cho năng suất cao, thích hợp với vùng đất đỏ Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, kháng bệnh tốt
- Giống nhập nội chủ yếu là giống Lada Belangtoeng: đây là giống Indonesia được nhập vào Việt Nam từ năm 1947 Lá trung, hơi bầu ở phía cuống, dây lá xanh tốt, cành quả khỏe, quả nhỏ
- Giống tiêu ấn Độ(karimunda, Panniyur và Kuching): sinh trưởng khỏe, đọt tím, lá trung bình, mép gợn sóng
Trang 10-Tùy theo kinh nghiệm và tập quán của từng vùng miền mà chọn trồng tiêu thích hợp.-Nguyên tắc: Chọn giống ở những nơi có cây tốt, năng suất cao, không bị sâu bệnh, nhất là do vi rút.
5.2 KĨ THUẬT NHÂN GIỐNG
5.2.1 Nhân giống bằng hạt
-Cây có rễ cọc dài, ăn sâu nên chịu hạn tốt, tuổi thọ cao
-Hiệu số nhân cao, cây con không đồng điều, chậm cho trái, thường sử dụng trong lai tạo, nghiên cứu, thí nghiệm
-Bóc sạch lớp vỏ ngoài, hong khô trong mát, lên líp gieo hạt sau 2-2,5 tháng nhổ cây con cho vào bầu, khi cây 6-7 lá thật đem trồng
5.2.2.Nhân giống bằng kĩ thuật giâm cành
-Nhánh ác( cành trái): sản xuất cây non từ nhánh ác thì cây sớm cho trái Tuy nhiên, cây chậm phát triển, tuổi thọ không cao nên chỉ sủ dụng trồng trong hộ gia đình, ít trồng đại trà
Trang 11-Cành thân: hom lấy từ cành thân rất phổ biến, cây non phát triển nhanh từ thân cho nhiều nhánh ác, cho trái sớm sau 2-3 năm trồng Năng suất, tuổi thọ cao, thích hợp trồng xuất khẩu.
+Hom lấy từ thân phải khỏe, có 4-6 đốt, có rể bám tốt, lấy từ vườn 12-18 tháng hoặc
từ các vườn nhân giống tiêu
-Cành lươn: hom lấy từ dây lươn, cây cho trái chậm nhưng cho năng suất, tuổi thọ cao, thích hợp cho chuyên canh, hom lấy từ dây lương rẻ, dồi dào
+Hom lấy từ dây lươn phải tốt, bánh tẻ có 3-4 đốt, dây lươn không sâu bệnh, lấy ở vườn lớn hơn 4 năm tuổi thọ
Cành lươn
5.2.3.Ươm trồng hom tiêu
a Chuẩn bị vườn ươm
Trang 12- Vườn ươm cần có lưới che phía trên và xung quanh để ánh sáng chiếu khoảng 60 - 70%.
- Vườn ươm phải có vị trí bằng phẳng không bị úng nước
- Vườn ươm phải đặt ở nơi tránh được các yếu tố thời tiết bất thuận như: Giá rét sương muối hoặc nhiệt độ quá cao
- Thiết kế vườn ươm: Luống rộng 1-1,2m Chiều dài phụ thuộc vào kích thuocs vườn ươm nhưng tốt nhất dưới 10m để tiện chăm sóc Thiết kế lối đi khoảng 0,5m Xung quanh luống có rảnh thoát nước
- Làm giàn che tạm thời và rào bảo vệ
b Chuẩn bị đất ươm tiêu
Đất ươm tiêu phải chọn đất tốt, không lấy đất ở những vùng trồng cây đã bị tuyến trùng, nấm bệnh gây hại Đất phải được phơi nắng trước khi ươm tối thiểu 1 tháng Trộn kỹ với phân chuồng ủ hoai mục, phân lân và tro trấu hoặc dừa để tạo độ tơi xốp cần thiết Bổ sung thêm chế phầm Trichoderma hoặc Pseudomonas theo hướng dẫn trên bao bì
Tỉ lệ đất ươm hom:
- Đất tốt lớp mặt: 80%
- Phân chuồng hoai mục: 17%
- Phân lân vi sinh, Văn Điển hoặc tro: 3%
c Ươm trên luống đất
- Phương pháp này chỉ nên áp dụng đối với dây thân
- Luống ươm cần được che nắng Với cách làm này có thể loại bỏ bớt một số hom yếu xấu, bộ rễ không đạt yêu cầu Cắm hom tiêu xiên 45 độ, khoảng cách giữa các hom là
Trang 13e Ươm trong bầu
- Phương pháp ươm trên bầu áp dụng cả đối với dây thân và dây lươn Hàng lỗ thoát nước dưới cùng cách đáy bầu 2cm để thoát nước tốt
- Bầu ươm dây lươn: Kích thước bầu đất: 12 x 22cm Hom lươn do có tỷ lệ sống thấp nên ươm 2-3 hom/ bầu Dây lươn được cắt 2-3 mắt Khi ươm hom lươn cắm 2 đốt vào bầu đất, 1 đốt trên mặt đất Cây được ươm từ 4 - 5 tháng trong vườn ươm, có ít nhất 1 chồi mang 5 - 6 lá trở lên mới đem trồng
- Đối với nhánh lươn, nếu hom được xử lý với NAA ở nồng độ từ 500 - 1000 mg/lít hay IBA ở nồng độ từ 50 - 55 mg/lít theo phương pháp nhúng nhanh trong 5 giây thì hom cho ra rễ rất tốt Sau 4 tuần hom ra rễ đạt tỉ lệ cao từ 90 - 100 % Sau khi hom ra
rễ và bung cựa thì ta tiến hành dưỡng cây con, khoảng 3 tháng nữa trước khi đem trồng
Trang 14- Điểm cần lưu ý khi lấy nhánh lươn bò trên mặt đất để làm hom, không nên lấy các dây còn quá non, thân còn mềm, lá và đốt có màu tím nhạt vì các dây này khi làm hom rất dễ bị thối, tỉ lệ ra rễ thấp, sẽ cho trái muộn.
- Để già hoá dây lươn gốc trước khi cắt làm hom: trong vườn tiêu nên cắm các nọc tạm giữa các nọc chính, xong hướng cho tất cả các dây lươn bò trên các nọc tạm bằng cách buộc vào nọc, không để cho nhánh lươn bò lan trên mặt đất Sau 4 - 6 tháng dây lươn hoá già, mập mạnh, ở mặt đốt rễ bắt đầu lún phún ra, nên khi cắt làm hom thì hom ra rễ nhanh, tỉ lệ hom ra rễ cao, sau lại cho trái sớm không thua cây lấy từ nhánh thân là mấy
5.4 Nhân giống bằng chiết, ghép cành
-Chiết cành: kéo cành tiêu gần mặt đất lấp đất xuống hoặc bó đất vào đoạn cành để rể mọc Chỉ áp dụng trong hộ gia đình, tỉ lệ sống cao nhưng hệ số nhân giống thấp
-Ghép cành: gốc ghép thường được chọn là gốc tiêu rừng, ít áp dụng
5.5.Nhân giống bằng nuôi cấy mô
-Phương pháp này ít được áp dụng trong sản xuất vì cần 1 thời gian huống luyện cây
con dài và trong quá trình nhân giống khả năng biến dị có thể xảy ra
-Theo trường đai học Calicu Ấn Độ thì mẫu cây được nuôi cấy mô là đỉnh sinh
trưởng.Sau 4 tháng, cây có chiều cao 4-5 cm, được tạo rễ và huống luyện trong vườn ươm
-Cây con phát triển tốt nhưng chậm ra hoa, quả
Trang 15VI KĨ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY TIÊU
-Tầng đất dày tơi xốp, độ sâu 50-100 cm có nhiều mùn
-Đất có khả năng giữ nước cao và thoát nước tốt
-Độ pH 5,5-7 nếu đất chua phải bón vôi để cải tạo,ở các nơi có gió lớn phải trồng cây che chắn gió
6.1.2 Cách chọn nọc tiêu (Cây choái)
a Cây làm choái:Chóai tiêu giữ một vai trò quan trọng đối với đời sống cây tiêu, vì
đời sống cây tiêu kéo dài 20-25năm Tùy theo điều kiện cụ thể có thể dùng các cây choái khác nhau
b.Cây chóai sống
Cây mít, cây vông, cây long mức khi trồng cây choái sống nên đào hố sâu hạn chế rễ
Trang 16ăn ngang sau này nổi lên mặt đất tranh chấp dinh dưỡng cây hồ tiêu.
Choái sống phải trồng trước 1 vài năm
*Cây choái chết bằng gỗ
Các loại cây căm xe, cà chắc, làu táu thường đốt xém xung quanh thành gờ để giúp
rễ tiêu bám dễ dàng, cây thẳng cao 4-5m
c Choái cây bằng gach
Dùng gạch đá xây trụ khép kín dày có đường kính 0,7-0,8m
* Mật độ khoảng cách:
– Trụ gỗ, trụ đúc bê tông trồng với khoảng cách 2 x 2,5 m hoặc 2,5 x 2,5 m, mật độ từ
1600 – 2000 trụ/ha tuỳ theo giống tiêu có tán rộng hay hẹp
– Trụ gạch xây cao 3,5m có đường kính gốc trụ 70 – 100cm và đường kính đỉnh trụ 40 – 60cm: trồng với khoảng cách 3 x 3m, mật độ 1110 trụ/ha
Trang 17– Trụ sống như lồng mức, vông, keo dậu, gạo, cóc rừng ….trồng với khoảng cách 2,5
x 2,5m, mật độ 1600 trụ/ha Trụ sống cây muồng đen trồng với khoảng cách rộng hơn: 3m x3m, mật độ 1100 trụ/ha
* Kỹ thuật trồng tiêu trên cây trụ chết:
– Đối với trụ đúc hoặc trụ gạch xây, việc dựng trụ thực hiện trước khi trồng tiêu
khoảng 1 – 1,5 tháng để được các trận mưa to rửa sạch bớt hồ, vữa
1 trong các loại thuốc như Confidor 100 SL 0,1%, 0,5 lít/hố hoặc Basudin 10 H, 20 –
30 g/hố Việc trộn phân lấp hố và xử lý đất trong hố được thực hiện trước khi trồng tiêu trồng tiêu ít nhất là 15 ngày
Trang 18– Làm giàn che nắng và chắn gió: Trước khi trồng tiêu, làm giàn che phía trên và xung quanh bằng các vật liệu như lưới ni lông, lá dừa, cỏ v.v sao cho 70 – 80% ánh sáng tự nhiên đi qua.
– Kỹ thuật trồng:
* Nếu trồng bằng bầu, xé bầu tiêu nhẹ nhàng tránh vỡ bầu rồi móc hố trồng, đặt bầu vào giữa hố, đặt bầu hơi nghiêng, hướng chồi tiêu về phía trụ, mặt bầu ngang với mặt đất, không trồng âm Lấp đất, dậm chặt đất chung quanh bầu
* Trồng bằng hom dùng hom thân 5 mắt đã ươm ra rễ, đặt hom xiên với đất mặt 450, đầu hom hướng về phía trụ, chôn 3 mắt vào đất, chừa trên mặt đất 2 mắt, dậm chặt đất quanh hom Trồng tiêu xong phải dùng vật liệu phù hợp như lá dừa, líp cỏ che bổ sung cho hom tiêu mới trồng
* Sau 7 – 10 ngày trồng tiêu bằng bầu, 2 – 3 ngày trồng tiêu bằng hom thân nếu trời không mưa phải tưới nước cho dây tiêu
* Trồng dặm kịp thời những dây tiêu bị chết và chấm dứt trồng dặm trước khi dứt mưa 1,5 – 2 tháng
* Kỹ thuật trồng tiêu trên cây trụ sống
– Cây trụ sống được trồng ngay vào đầu mùa mưa, làm cỏ bón phân thúc cẩn thận Có thể trồng cây trụ sống 1 – 2 năm trước khi trồng tiêu
– Trồng cây trụ tạm: trồng tiêu cùng năm với cây trụ sống bắt buộc phải trồng trụ tạm Sau khi trồng trụ sống 2 – 3 tháng thì trồng tiêu Cây trụ tạm được trồng cách cây trụ sống 15 – 20cm Trụ tạm có đường kính 10 – 15cm, chiều cao tính từ mặt đất hơn 3m, chất lượng cây trụ tạm tương đối tốt để tiêu có thể leo bám trong vòng 2 – 3 năm trước khi cây trụ sống đủ lớn cho tiêu leo bám
– Làm dàn che nắng và chắn gió: do cây trụ sống còn nhỏ, chưa có tác dụng che bóng, cần làm dàn che nắng và chắn gió tương tự tiêu trồng với cây trụ chết
- Đào hố trồng tiêu: đào 1 hố hoặc 2 hố 2 bên cây trụ tạm, ở phía xa cây trụ sống, mép
hố cách trụ tạm 10 – 15 cm, sao cho tâm hố là vị trí đặt bầu tiêu hay dây tiêu cách cây trụ sống từ 40 – 50cm Các kỹ thuật về trộn phân lấp hố và trồng tiêu tương tự như tiêu trồng với cây trụ chết
6.2 Chăm sóc cây tiêu
6.2.1 Trồng dặm
a Lý do phải trồng dặm
Trang 19- Cây giống chất lượng kém, không thích nghi với điều kiện ngoại cảnh.
- Đối với vườn tiêu từ năm thứ hai trở đi, xử lý hố vào mùa khô, đến đầu mùa mưa khi đất đủ ẩm cần trồng dặm những cây chết, cây còi cọc, sinh trưởng kém
- Với vườn tiêu kinh doanh, nếu cần phải trồng dặm bà con nông dân thường dùng dây lươn ươm trong túi bầu để dặm
- Trường hợp những cây bị chết do nấm bệnh, phải nhổ tận rễ và tiêu hủy Sau
đó xử lý đất và phơi ải để diệt trừ mầm mống sâu bệnh Sau khi xử lý ít nhất 6 tháng, mới trồng dặm lại
c Kỹ thuật trồng dặm
- Chuẩn bị cây dự trữ để dặm
- Chọn cây cùng giống để dặm
Trang 20- Nếu trồng dặm trong năm trồng mới thì chỉ cần móc lỗ và trồng dặm lại trên những hố có cây chết, các năm sau thực hiện các công việc đào hố, bón lót, trộn phân, đắp mô như trồng mới.
- Chăm sóc tốt để cây trồng dặm sinh trưởng khỏe đuổi kịp các cây khác, làm cho vườn cây mau đồng đều
6.2.2 Buộc dây
a Tác dụng:
+ Giúp cho rễ tiêu bám chắc vào trụ
+ Rễ bám chắc vào trụ thì mới cho ra các cành quả, vì nếu không buộc kịp thời cành tược buông thõng ra ngoài, dây sẽ ốm yếu không ra cành quả được
+ Các dây thân chính phân bố đều quanh trụ
b.Vật liệu buộc: dây nilon mềm
c Kỹ thuật buộc:
+ Dây thân lên đến đâu phải buộc đến đó
+ Thường 7 ngày phải buộc 1 lần
Trang 216.2.3 Làm cỏ
a.Một số loài cỏ dại phổ biến trên vườn tiêu
- Các loài cỏ hàng năm như cỏ mực, cỏ xước, cỏ bợ, cỏ ngọt, cỏ hôi, cỏsữa…
- Các loài cỏ lâu năm như cỏ tranh, cỏ gấu, cỏ gừng, cỏ gà…những loài cỏnày có đặc tính sinh sản vô tính nên rất khó tiêu diệt
b Tác hại của cỏ dại
Cạnh tranh về dinh dưỡng, ánh sáng, nước đối với cây tiêu, làm cho cây tiêu sinh trưởng phát triển kém
c Các biện pháp phòng trừ cỏ dại
- Các biện pháp hạn chế cỏ dại
+ Trước khi trồng, đất cần được khai hoang cày bừa kỹ, sau đó tiến hành xử lý, thu gom dọn sạch cỏ dại cũng như các cơ quan sinh sản của cỏ như thân ngầm, cành, thân phơi khô rồi đốt
+ Dùng rơm rạ, thân lá thực vật che phủ mặt đất
+ Trồng xen, trồng cây phủ đất để hạn chế cỏ dại
+ Hạn chế sự xâm nhập cơ giới của cỏ dại vào vườn tiêu:
Trang 22+ Không dùng các loại cỏ có khả năng sinh sản vô tính để làm vật liệu tủ
gốc
+ Không sử dụng các loại cỏ sinh sản vô tính, các loại cỏ đã ra hoa làm chất độn chuồng và bón cho vườn tiêu
d) Các biện pháp diệt trừ cỏ dại
* Diệt trừ bằng biện pháp thủ công
- Dùng cuốc xới xáo, số lần xới nhiều hay ít tùy thuộc vào lượng cỏ dại nhiều hay ít và mức độ sinh trưởng của cỏ dại mạnh hay yếu
Làm cỏ
- Nhổ cỏ bằng tay
- Dùng máy cắt cỏ hoặc phát cỏ: vào mùa mưa, với những vườn tiêu trồng trên đất dốc, tiến hành cắt hoặc phát cỏ thấp trên hàng, cách mặt đất 5 – 7 cm để tạo thành thảm phủ, hạn chế xói mòn rửa trôi Cỏ gần gốc tiêu phải nhổ bằng tay
Trang 23Làm sạch cỏ trong gốc và để cỏ trên băng trong mùa mưa
Lưu ý: Khi xới xáo, làm cỏ cho vườn tiêu không được làm ảnh hưởng đến
bộ rễ của cây tiêu
* Diệt trừ bằng thuốc hóa học
- Có thể dùng một số loại thuốc có gốc Glyphosat như Glyphosan, Helosat, Roundup, clean-up, Viphosat… để diệt trừ một số loài cỏ khó diệt, sinh sản vô tính như cỏ tranh, cỏ gấu…
- Đây là những loại thuốc có tác động lưu dẫn, do vậy sau khi phun thuốc sẽ xâm nhập vào bên trong thân qua bộ lá rồi di chuyển đến tất cả các bộ phận của cây
kể cả hệ thống thân ngầm dưới đất nên hiệu quả diệt trừ rất cao
- Loại thuốc trừ cỏ có thể diệt trừ được rất nhiều loại cỏ, kể cả các loại cây trồng nếu trong quá trình phun để dung dịch thuốc bám dính vào các bộ phận xanh của cây
- Nên phun thuốc vào thời điểm cỏ sinh trưởng mạnh, có nhiều lá xanh, chồi non (cỏ tranh cao 25 – 30 cm, cỏ gấu cao 10 – 15 cm)
- Không nên phun thuốc trong điều kiện khô hạn, đất ngập nước, cỏ đã ra hoa
- Trong thực tế người trồng tiêu thường chỉ sử dụng thuốc trừ cỏ để phun trước khi trồng, nếu khu đất có quá nhiều cỏ khó diệt
- Sau khi đã trồng tiêu thì việc sử dụng thuốc diệt cỏ cần hết sức cẩn thận, tuyệt đối không được để dung dịch thuốc bám dính gây hại cho cây tiêu, nên:
+ Che chắn cây tiêu khi phun thuốc
+ Sử dụng áp lực phun thấp
+ Không phun khi có gió lớn
e Thu gom và xử lý cỏ dại:
Cỏ dại sau khi làm xong bằng các biện pháp thủ công:
- Không để thành đống, không để trong gốc tiêu, không để khô rồi đốt
- Rải mỏng cỏ trên hàng hoặc trên băng trong vườn tiêu
6.2.4 Bón phân
a Các loại phân thường sử dụng cho cây Hồ tiêu
- Phân hữu cơ: Phân chuồng ủ hoai mục, phân hữu cơ vi sinh, vỏ quả cà phê ủ với nấm Trichoderma…
- Phân hóa học(Phân đơn):
+ Phân đạm: Urê (46%N),
Trang 24+ Phân lân: Lân nung chảy (14-16% P2O5), Lân super (16-18% P2O5)
+ Phân kali: Kali clorua (60% K2O)
+ Định lượng phân bón hóa học cho hồ tiêu (kg/ha/năm)
Năm Phân NPK(kg/ha/năm) Phân đơn (kg/ha/năm)
Loại Liều lượng Urê Lân nung chảy
hoặc lân Super
400-5001000-12001600-1800
150350550
100010001000
35170500+ Định lượng phân bón hóa học cho hồ tiêu (g/trụ/năm)
Năm Phân NPK(g/trụ/năm) Phân đơn (g/trụ/năm)
Loại Liều lượng Urê Lân nung chảy
hoặc lân Super
Kcl
Trang 2575175275325
500500500500
17,585250300
(Trường THNN&PTNT Quảng Trị- Bài giảng Kỹ thuật trồng Hồ tiêu)
c Cách bón
- Bón phân hữu cơ:
+ Phân hữu cơ được rải trên mặt đất, xung quanh gốc rối dùng cỏ rác tủ lên Hoặc rạch nhẹ rãnh, sâu 5 – 10 cm, xung quanh tán tiêu, rải phân và lấp đất
+ Không được đào rãnh sâu quanh gốc để bón phân làm tổn thương bộ rễtiêu
- Bón vôi: rải đều vôi trên mặt đất, xung quanh tán tiêu hoặc ủ chung với phân chuồng rồi mới đem bón
- Bón lân: rải đều lân trên mặt đất, xung quanh tán tiêu
Phân hữu cơ, phân lân, vôi được bón toàn bộ một lần vào đầu mùa mưa