Nhiều giáo viên còn lúng túng khi dạy nhất là làm thế nào để các em hiểu văn bản được đọc, làm thế nào để phối hợp đọc thành tiếng và đọc hiểu; làm thế nào để cho những gì đọc được tác đ
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Như chúng ta đã biết, môn Tiếng Việt ở trường phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh Năng lực này được thể
hiện trong bốn dạng hoạt động, tương ứng với chúng là bốn kỹ năng :nghe, nói,
đọc, viết Đọc là một phân môn của chương trình Tiếng Việt bậc tiểu học Đây
là phân môn có vị trí đặc biệt trong chương trình, vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển cho học sinh kỹ năng đọc, một kỹ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở bậc học đầu tiên trong trường phổ thông.
Kỹ năng đọc được rèn luyện tập trung trong tiết tập đọc Giảng dạy phân
môn này, người giáo viên có nhiệm vụ Rèn luyện cho học sinh kỹ năng đọc
ngày càng thành thạo Đây là yêu cầu có tính đặc trưng của phân môn, đòi hỏi
người giáo viên phải chú ý đến nhiều mặt : rèn tốt cả hai hình thức đọc (đọc
thành tiếng và đọc thầm), nâng dần tốc độ đọc và trình độ thông hiểu - cảm
nhận văn bản theo mức độ yêu cầu đề ra ở từng lớp
Vấn đề nêu trên đã khẳng định việc dạy đọc có một ý nghĩa vô cùng to lớn ở tiểu học, bởi đầu tiên, trẻ phải học đọc, sau đó các em phải đọc để học Nếu đọc tốt, các em sẽ dễ dàng chiếm lĩnh được ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập, đây là một công cụ để các em có thể học tốt các môn học khác Đọc tạo ra hứng thú và động cơ học tập, tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời Nó là khả năng không thể thiếu được của con người thời đại văn minh
Kỹ năng đọc là một vấn đề rất phức tạp gồm nhiều mặt, nhiều khía
cạnh Nó không chỉ đơn thuần là sự “ đánh vần “ lên thành tiếng theo đúng các ký hiệu chữ viết (đọc trơn thành tiếng) mà quan trọng hơn, đọc còn là một quá trình nhận thức để có khả năng thông hiểu những gì được đọc (đọc hiểu) Đọc
thành tiếng không thể tách rời với việc hiểu những gì được đọc
Chỉ khi biết cách hiểu, hiểu sâu sắc, thấu đáo các văn bản được đọc thì học sinh mới có công cụ hữu hiệu để lĩnh hội những tri thức, tư tưởng, tình cảm của người khác chứa đựng trong văn bản, có công cụ lĩnh hội tri thức khi học các môn học khác của nhà trường
Chính nhờ biết cách đọc hiểu văn bản mà học sinh dần dần có khả năng đọc rộng để tự học, tự bồi dưỡng kiến thức về cuộc sống, từ đó hình thành thói quen, hứng thú với việc đọc sách, với việc tự học thường xuyên
Đích cuối cùng của việc dạy đọc là dạy cho học sinh có kỹ năng làm việc với văn bản, chiếm lĩnh được văn bản Biết đọc cũng là biết tiếp nhận, xử lý thông tin Chính vì vậy dạy đọc hiểu có vai trò đặc biệt trong dạy đọc nói riêng, trong dạy học ở trường tiểu học nói chung và mỗi giáo viên phải có nhiệm vụ dạy đọc cùng một lúc với cả hai hình thức đọc thành tiếng và đọc hiểu cho học
Trang 2sinh một cách có kế hoạch và hệ thống (đề tài chỉ đề cập đến hình thức đọc
hiểu)
Trong khi đó, việc dạy và học Tập đọc trên cả hai đối tượng giáo viên và học sinh ở một số trường tiểu học, đặc biệt là ở những trường vùng nông thôn sâu trong thời gian vừa qua cho thấy rằng việc dạy - học của cả thầy và trò còn rất nhiều hạn chế:
Đối với giáo viên :
- Việc dạy đọc hiểu cho học sinh bậc tiểu học nói chung hiện nay có thể phác họa như sau : Giáo viên nêu câu hỏi, học sinh trả lời, giáo viên đánh giá câu trả lời của học sinh Thực tế là giáo viên chỉ nêu câu hỏi và chờ đợi những câu trả lời đúng mà không quan tâm đến chuyện quá trình đọc diễn ra như thế nào, học sinh làm gì và cần làm gì để có được câu trả lời Giáo viên chỉ quan tâm đến kết quả - các nội dung, kiến thức bài đọc đem lại - mà không quan tâm đến phương pháp để đạt được kết quả này
- Trong các tiết dạy tập đọc trên lớp, một số giáo viên khi chuẩn bị bài còn phụ thuộc nhiều vào nội dung câu hỏi ở sách giáo khoa, gợi ý của sách giáo viên Nhiều giáo viên còn lúng túng khi dạy nhất là làm thế nào để các em hiểu văn bản được đọc, làm thế nào để phối hợp đọc thành tiếng và đọc hiểu; làm thế nào để cho những gì đọc được tác động vào chính cuộc sống của các
em v.v…
- Dạy đọc hiểu cho các em, nhiều giáo viên chỉ dùng một phương pháp hỏi - đáp và nếu có sử dụng phương pháp này thì chỉ duy nhất là hình thức thầy hỏi - trò đáp với hệ thống câu hỏi mà sách giáo khoa thể hiện Chính vì vậy, bài dạy mang tính áp đặt, đơn điệu, chưa phù hợp với đối tượng học sinh, làm cho học sinh tiếp thu bài một cách thụ động, ghi nhớ máy móc lời giảng của giáo viên
- Quá trình hướng dẫn học sinh luyện đọc hiểu, nhiều giáo viên chưa quán xuyến đến tất cả các loại đối tượng trên lớp, chỉ tập trung chú ý đến các
em khá, giỏi
- Việc chọn từ và giải nghĩa từ trong quá trình dạy đọc hiểu, không ít giáo viên còn lúng túng, chưa phân biệt được từ khó cần cung cấp và từ cần chọn để giảng về nội dung và nghệ thuật Giảng từ chưa kết hợp với giảng ý và gắn với văn cảnh cụ thể
- Một số giáo viên dạy tập đọc theo hai khuynh hướng mà tiết dạy thể hiện rõ nét là : Tách đọc ra khỏi hiểu và đẩy hiểu sang phạm vi văn học
Việc làm này thể hiện ở chỗ khi hướng dẫn học sinh luyện đọc, giáo viên chỉ tập trung ở yêu cầu luyện đọc đúng, phát âm đúng, chỉ dựa vào hướng dẫn đọc ở sách giáo khoa, sách giáo viên là chính mà ít tập trung hướng dẫn các em đọc hiểu, mặc dù có bước yêu cầu đọc thầm Nhưng vấn đề hiểu nội dung toàn văn bản, từng ý, từng đoạn thì các em chưa biết Việc hướng dẫn học sinh hiểu
Trang 3văn bản, giáo viên chưa quan sát hoặc xem đó là phần văn học, họ thường chuyển sang diễn giải nhằm giúp các em hiểu nội dung nghệ thuật của bài, nhưng yêu cầu của việc đọc là phải hiểu vì nếu có hiểu học sinh mới xác định được đại ý của bài đọc Đây là những trăn trở của đa số giáo viên trong mỗi giờ Tập đọc.
Đối với học sinh :
- Kết quả học đọc của các em chưa đáp ứng được yêu cầu của việc hình thành kỹ năng đọc Các em chưa nắm chắc được công cụ hữu hiệu để lĩnh hội tri thức, tư tưởng, tình cảm của người khác chưa đựng trong văn bản được đọc
- Nhìn chung các em ít quan tâm đến việc rèn kỹ năng đọc hiểu, chỉ chú ý việc rèn đọc thành tiếng Nếu có học thì các em cũng chưa biết cách đọc, chỉ đọc bài một cách qua loa, chiếu lệ, chưa có sự chuẩn bị bài chu đáo
- Đến lớp, do phương pháp dạy học của thầy, đa số các em chưa phát huy vai trò của cá nhân trong quá trình luyện đọc nhất là đọc thầm vì đọc thầm đòi hỏi tính tự giác là chủ yếu
Những vấn đề nêu trên cho thấyhọc sinh đọc mà không nắm được điều gì là cốt yếu trong văn bản Kết quả học đọc của các em chưa đáp ứng được yêu cầu của việc hình thành một kỹ năng giao tiếp quan trọng Nguyên nhân chính của hạn chế này là do giáo viên chưa nắm chắc nội dung và phương pháp dạy đọc hiểu
Làm thế nào để tổ chức dạy tốt một tiết tập đọc trên lớp đặc biệt và việc rèn kỹ năng đọc hiểu cho học sinh một cách có hiệu quả nhất ?
Lớp 5 là lớp cuối cùng của bậc tiểu học, để tạo tiền đề tốt cho học sinh tiếp tục học lên những lớp trên một cách có hiệu quả, việc rèn kỹ năng đọc hiểu cho các em là rất quan trọng, người thầy có phương pháp tốt thì trò mới đọc tốt, hiểu tốt những gì mình được đọc
Từ những suy nghĩ trên, bản thân chọn đề tài “Rèn kỹ năng đọc hiểu cho học sinh lớp 5” với dụng ý đề xuất một vài biện pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho bản thân, cho đơn vị trường mình sau này
II MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU :
Đề tài nhằm nâng cao hiệu quả của việc rèn kỹ năng đọc hiểu cho học sinh lớp 5.Để đạt được mục đích này, đề tài đặt ra những nhiệm vụ cần giải quyết sau :
1 Nghiên cứu các cơ sở khoa học mang tính lý luận và thực tiễn trong việc tổ chức rèn kỹ năng đọc hiểu cho học sinh lớp 5
2 Đề xuất các phương pháp tích cực nhằm tổ chức tốt viêïc rèn kỹ năng đọc hiểu cho học sinh lớp 5
Trang 43 Tổ chức thực hiện và kiểm tra tính thực thi cũng như tính hiệu quả của việc rèn kỹ năng đọc hiểu cho học sinh lớp 5 trên cơ sở dựa vào các biện pháp đề xuất.
III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU :
- Các tài liệu có liên quan đến việc rèn kỹ năng đọc hiểu
- Hoạt động dạy - học của giáo viên và học sinh lớp 5 trường tiểu học Hòa Mỹ 2 - Huyện Phụng Hiệp - Tỉnh Hậu Giang trong giờ Tập đọc
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Trong quá trình nghiên cứu, bản thân đã phối hợp vận dụng những phương pháp sau :
- Phương pháp tổng hợp và ứng dụng lý luận qua việc tham khảo các loại sách, báo có liên quan với vấn đề
- Phương pháp khảo sát, thực nghiệm để kiểm tra đối chiếu
- Phương pháp thống kê, phân loại
Trang 5B PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I :
CÁC CƠ SỞ ĐỂ XÁC ĐỊNH NỘI DUNG DẠY ĐỌC HIỂU
I VĂN BẢN VỚI VẤN ĐỀ ĐỌC HIỂU :
1) Đặc điểm của văn bản :
1.1 Để làm rõ dạy đọc hiểu là làm gì, chúng ta cần hiểu rõ đối tượng mà đọc hiểu tác động : văn bản
Văn bản là một sản phẩm của lời nói, một chỉnh thể ngôn ngữ, thường bao gồm một tập hợp các câu và có thể có một đầu đề, nhất quán về chủ đề và trọn vẹn về nội dung, được tổ chức theo một kết cấu chặt chẽ nhằm một mục đích giao tiếp nhất định
1.2 Văn bản có tính chỉnh thể Tính chỉnh thể này thể hiện ở hai phương diện :
+ Về mặt nội dung, nó biểu hiện tính nhất quán về chủ đề, ở sự phát triển mạch lạc, chặt chẽ của nội dung và bộc lộ ở tính nhất quán và rõ rệt ở mục tiêu văn bản
+ Về mặt hình thức, tính chỉnh thể thể hiện ở kết cấu mạch lạc và chặt chẽ, giữa các bộ phận trong văn bản có các hình thức liên kết và toàn văn bản có một tên gọi
Tính nhất quán chủ đề thể hiện ở chỗ toàn văn bản tập trung vào một chủ đề thống nhất, chủ đề này được triển khai qua các chủ đề bộ phận (các tiểu chủ đề) của từng phần, từng chương, từng mục, từng đoạn Ví dụ bài : Tình quê hương (TV5 - Tập 1)
Chủ đề của văn bản này la øtình quê hương Các bộ phận của văn bản đều tập trung vào chủ đề và phát triển qua 3 phần :
Tình cảm về quê hương của anh bộ đội
Những kỷ niệm về quê hương
Mùi vị quê hương
Tất cả những bộ phận này của văn bản cùng cộng hưởng, phát triển làm nổi bậc tình cảm mãnh liệt và sâu sắc của anh bộ đội đối với quê hương mình
Để hiểu văn bản, phải làm rõ được chủ đề này Đây là nhiệm vụ mà trường tiểu học thường gọi là tìm đại ý hay xác định nội dung của bài
Văn bản (bài) được dạy đọc ở tiểu học thường có dung lượng không lớn, nên cấp độ dưới văn bản thường chỉ là đoạn văn, khổ thơ Để xác định được nội dung của bài cần phải tìm được nội dung của đoạn
Trang 6- Tính nhất quán của văn bản thể hiện ở mục tiêu văn bản Văn bản là sản phẩm của quá trình giao tiếp Mục đích của giao tiếp cũng chính là mục đích của văn bản Hoạt động giao tiếp nhằm vào các mục đích : thông tin (thông báo tin tức), tự biểu hiện, giải trí, tạo lập quan hệ và đích hành động Những mục tiêu này được thực hiện đồng thời trong từng văn bản nhưng trong từng phong cách, kiểu loại văn bản, các mục tiêu không được thể hiện đồng đều.
Tất cả các văn bản xét cho cùng đều hướng đến mục đích hành động, vì dù là đích thông tin hay tự biểu hiện, tạo lập quan hệ hay giải trí, thực chất vẫn là nhằm tác động vào lý trí để thuyết phục hoặc là tác động vào tình cảm để truyền cảm, hướng người đọc, người nghe đến một hành động nào đó
Chính mục đích giao tiếp làm cho văn bản luôn chứa đựng nội dung thông tin và nội dung này tạo ra các bình diện ngữ nghĩa của văn bản Có hai nội dung thông tin cần tìm hiểu :
+ Nội dung miêu tả hay còn gọi là nội dung sự vật, là những hiểu biết,
những nhận thức về thế giới xung quanh, về xã hội và về chính bản thân con người Nội dung này tạo thành nghĩa sự vật của văn bản Trong giờ Tập đọc, các câu hỏi: Từ này nghĩa là gì? Câu này nói gì? Bài này nói về điều gì? nhằm hướng đến xác định nội dung sự vật ở từng văn bản
+ Nội dung thông tin về những cảm xúc, tình cảm, thái độ của người viết đối với đối tượng, sự việc được đề cập đến, đối với người tham gia hoạt động giao tiếp Trong giờ Tập đọc có các câu hỏi: “ Cảm xúc, tình cảm của tác giả như thế nào ?”, “ Những câu, từ nào bộc lộ cảm xúc của tác giả ?”, “Bài này được viết với thái độ, tình cảm ra sao?” nhằm hướng đến xác định nội dung liên cá nhân của văn bản
Trong các loại văn bản khác nhau, tỷ lệ hai loại thông tin cũng khác nhau Các văn bản khoa học, hành chính, truyền thông (chương trình 2000 chú trọng đưa vào nhiều hơn) thiên về loại thông tin thứ nhất Các văn bản nghệ thuật mang cả 2 loại thông tin nhưng thông tin về cảm xúc tình cảm là đặc trưng
cơ bản, thông tin này chưa được chú trọng khai thác đúng mức trong giờ Tập đọc ở tiểu học
Xét cách thức biểu hiện các thông tin ngữ nghĩa thì cần phân biệt :
+ Nghĩa tường minh : là các thông tin được biểu hiện bằng các từ ngữ có
mặt trong văn bản, và bằng các cấu trúc ngữ pháp của cụm từ, của câu, của đoạn văn, của văn bản Các thông tin này được biểu hiện trên bề mặt của câu chữ và người đọc tiếp nhận nó thông qua nguyên văn từ ngữ và cấu trúc ngữ pháp
+ Nghĩa hàm ẩn : là các thông tin được suy ra từ thông tin tường minh và
từ hoàn cảnh giao tiếp cụ thể của văn bản Để hiểu được thông tin hàm ẩn của văn bản, người đọc phải tiến hành phân tích và suy ý dựa vào các yếu tố ngôn
Trang 7ngữ hiện diện trong văn bản và hoàn cảnh giao tiếp để rút ra thông tin hàm ẩn Có thể nói đó là phương pháp đọc những gì ẩn dưới các hàng chữ.
2) Bản chất của quá trình đọc hiểu văn bản:
Văn bản có tính chỉnh thể, tính hướng đích và đồng thời với việc chỉ ra tính chỉnh thể, hướng đích của văn bản, người ta đã chỉ ra khả năng phân tích thành các yếu tố nhỏ hơn của văn bản
Đây là những kết luận quan trọng mà giáo viên tiểu học cần phải nắm chắc để dạy tiếp nhận - đọc hiểu - văn bản Việc sản sinh và tiếp nhận văn bản là hai quá trình của một hoạt động giao tiếp
- Trong quá trình sản sinh văn bản, người viết phải có mục đích, động cơ giao tiếp Họ phải lập chương trình giao tiếp và triển khai ý đồ này một cách cặn kẽ, cho đến khi văn bản đó đạt được những mục đích đặt ra trong một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể với những nhân tố giao tiếp cụ thể
- Trong quá trình tiếp nhận, người đọc phải hướng đến lĩnh hội nội dung và đích của văn bản Để đạt được mục tiêu này, họ phải phân tích văn bản trên những gì đã được người viết triển khai : nghĩa của từ, nghĩa miêu tả và nghĩa của câu, của đoạn và nghĩa của toàn bài rồi mới đi đến mục đích thông báo của văn bản Chính vì vậy, đọc hiểu là một cách đọc phân tích
Quá trình phân tích văn bản trong đọc hiểu diễn ra theo hai cách ngược nhau Người đọc chọn cách phân tích nào tùy thuộc vào vốn sống, trình độ văn hóa và kỹ năng đọc
+ Người có trình độ văn hóa cao và có nhiều kinh nghiệm sống thường chọn cách phân tích đi từ nghĩa chung của văn bản đến nghĩa của từng bộ phận trong văn bản từ đó khái quát lên chủ đề, tư tưởng của văn bản
+ Người đọc chưa có kinh nghiệm, vốn sống chưa nhiều thường chọn cách phân tích đi từ nghĩa của bộ phận nhỏ (từ, câu, đoạn) đến nghĩa chung của văn bản (đại ý, chủ đề, đích của văn bản)… Mặc dù vậy, dù chọn cách phân tích nào thì để hiểu văn bản, người đọc vẫn phải biết nghĩa của các bộ phận nhỏ trong văn bản và lấy đó làm căn cứ để xác định chủ đề, đích của văn bản Việc đọc hiểu của người có trình độ cao nhanh hơn người có trình độ thấp là họ đã vượt qua được giai đoạn đọc từng từ, từng chữ
Khả năng đọc và vốn sống của học sinh tiểu học còn bị hạn chế nên về
cơ bản, dạy đọc ở tiểu học nên theo cách phân tích văn bản đi từ hiểu nghĩa của từng bộ phận nhỏ đến hiểu nội dung và đích của toàn bản Song trong một số bài tập đọc, nhất là ở phần cuối lớp 5, cần phối hợp dạy theo cả hai cách phân tích nói trên nhằm giúp học sinh bắt đầu làm quen với kỹ năng quan sát toàn bài để đọc lướt, đọc quét, đọc đoán nghĩa Đây là những kỹ năng mà chương
Trang 8trình 165 tuần chưa có điều kiện rèn luyện Tất nhiên để hình thành những kỹ năng này, cần phải lựa chon những văn bản thích hợp.
Lựa chọn văn bản rất quan trọng trong việc thực hiện chương trình dạy đọc Một bài đọc không thích hợp không những có thể làm cản trở sự hiểu của học sinh mà còn có thể làm các em mất hứng thú đọc Không chọn được văn bản thích hợp thì chúng ta cũng không thể hình thành được cho học sinh những kỹ năng đọc mong muốn
Đọc hiểu là một hoạt động có tính quá trình vì nó gồm 3 hành động được trải ra theo tuyến tính thời gian và Dạy đọc hiểu là hình thành kỹ năng để tiến hành những hành động này:
2.1 Hành động nhận diện ngôn ngữ của văn bản tức là nhận đủ các tín
hiệu ngôn ngữ mà người viết dùng để tạo ra văn bản, gồm những kỹ năng :
+ Nhận diện từ mới và phát hiện các từ quan trọng (từ chìa khóa)trong văn bản
+ Nhận ra các câu khó hiểu, các câu quan trọng
+ Nhận ra các đoạn ý của văn bản : cấu trúc của văn bản, mối quan hệ giữa các bộ phận trong bài, kiểu cấu trúc của đoạn
+ Nhận ra đề tài văn bản: quan sát tên bài, chú ý dựa vào tên bài, các hình vẽ minh họa, sơ đồ (nếu có) để phỏng đoán về nội dung văn bản; phán đoán nội dung bài đọc đựa vào kiến thức vốn có về chủ điểm
2.2 Hành động làm rõ nghĩa nội dung của văn bản và ý đồ tác động của người viết đến người đọc gồm những kỹ năng : Làm rõ nghĩa từ : bằng ngữ cảnh, bằng trực quan bằng đồng nghĩa…; làm rõ nội dung thông báo của câu; làm rõ ý của đoạn; làm rõ ý chính của văn bản : đọc lướt tìm ý chung của bài, của đoạn để có thể xử lý bài đọc như một chỉnh thế trọn vẹn trước khi đi vào chi tiết; khái quát hóa, tóm tắt nội dung đã đọc; làm rõ mục đích của người viết vào văn bản và nhận biết những ẩn ý của tác giả
II TÁC PHẨM VĂN HỌC VỚI VẤN ĐỀ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN NGHỆ THUẬT :
Trong số các văn bản dùng để dạy đọc hiểu ở trường tiểu học, loại văn bản nghệ thuật có một vị trí đặc biệt không những bởi tầm quan trọng của loại văn bản này mà còn do tỉ lệ văn bản nghệ thuật được đưa vào chương trình rất cao và nhiệm vị dạy hiểu loại văn bản này phức tạp hơn
Đọc văn bản nghệ thuật, học sinh không chỉ hiểu nội dung văn bản mà còn phải cảm thụ được một loại hình nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm chất liệu Vì vậy, đọc văn bản nghệ thuật thực hiện một nhiệm vụ kép : dạy một kỹ năng tiếng Việt và dạy văn Từ đây có thể suy ra dạy đọc hiểu văn bản nghệ thuật gồm công việc làm cho học sinh nắm được nội dung của văn bản, mục tiêu của văn bản đồng thời dạy cho học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn từ, hình
Trang 9tượng văn chương làm nên nội dung văn bản Với nghĩa đó, dạy đọc hiểu văn bản nghệ thuật là dạy cảm thụ văn học.
Để dạy đọc hiểu văn bản nghệ thuật, người giáo viên tiểu học phải hiểu rõ đặc trưng văn chương và đặc trưng tiếp nhận văn chương Lý thuyết tiếp nhận văn học đã chỉ ra ba cấp độ trong tiếp nhận văn học của người đọc :
- Tri giác, hiểu ngôn từ, tình tiết, cốt truyện, thể loại để có cảm nhận hình tượng trong sự toàn vẹn của các chi tiết, các liên hệ
- Tiếp xúc với ý đồ sáng tạo của người nghệ sĩ, thâm nhập vào hệ thống hình tượng như là sự kết tinh sâu sắc tư tưởng và tình cảm của tác giả
- Đưa hình tượng vào đời sống và kinh nghiệm riêng của mình để thể nghiệm, đồng cảm Cuối cùng nâng cấp lý giải tác phẩm lên cấp quan niệm và tính hệ thống, hiểu được vị trí tác phẩm trong lịch sử văn hóa, tư tưởng, đời sống và truyền thống nghệ thuật
Ba cấp độ trên có điểm tương đồng với ba bước trong quá trình đọc hiểu văn bản và như vậy hiểu văn bản nghệ thuật là hiểu một kiểu văn bản Tách việc hiểu văn bản nghệ thuật ra khỏi cái chung, khỏi hiểu văn bản là không hợp lý Đồng thời những đặc trưng của văn bản nghệ thuật cũng cho ta thấy muốn hiểu nó, ngoài bước đi chung còn phải nắm bắt được các đặc điểm riêng của loại văn bản này Vậy văn bản nghệ thuật là gì và chúng có những đặc điểm nào ?
Văn bản văn học là một tổ chức nghệ thuật gồm từ, câu, đoạn tạo thành
một thế giới nghệ thuật mang tính khái quát nhằm phản ánh đời sống và biểu hiện sự cảm nhận trước đời sống của tác giả, nhằm thức tỉnh những thái độ, tình cảm nhất định đối với thực tại đời sống thông qua việc xây dựng nhân vật, không gian, thời gian, qua việc sắp xếp các chi tiết để tạo thành bức tranh đời sống sinh động nhằm biểu hiện quan niệm nghệ thuật về con người của tác giả
Giữa văn bản nghệ thuật và văn bản có những điểm giống nhau: cả hai cùng có tính hoàn chỉnh trên cơ sở liên kết nội dung và hình thức; cùng nhằm mục đích thông tin, cùng dùng ngôn ngữ làm phương tiện biểu đạt Nhưng trên cả ba điểm giống nhau này, giữa hai loại văn bản cũng có chỗ khác nhau:
- Về nội dung thông tin :
+ Thông tin trong các văn bản nói chung là thông tin sự vật, hiển ngôn.+ Thông tin trong văn bản nghệ thuật, tác giả phải tổ chức ngôn ngữ và gửi gắm thái độ của mình để tạo ra thông tin liên cá nhân và hàm ẩn
- Về kết cấu :
+ Ở văn bản thông thường, kết cấu theo mẫu quy phạm và công thức.+ Ở văn bản nghệ thuật vô cùng đa dạng, tùy theo loại thể và sự sáng tạo của từng tác giả
- Về ngôn ngữ :
Trang 10+ Trong các văn bản khác, ngôn ngữ thường mang tính khái niệm, tính khoa học, tính chính xác và vì thế từ thường được dùng đơn nghĩa.
+ Trong văn bản nghệ thuật, ngôn ngữ mang tính đa nghĩa, tính biểu tượng, tượng trưng, gợi cảm
1 Các đặc trưng cơ bản của văn học :
1.1 Tính nhân văn của văn bản nghệ thuật :
Nội dung văn bản nghệ thuật chủ yếu nói về con người, tư tưởng, tình cảm, tâm hồn của con người Dù nhà văn có quan tâm, có miêu tả hiện tượng nào của cuộc sống đi nữa thì điều mà nhà văn tìm hiểu, điều làm họ ngạc nhiên, xúc động như mình không phải là bản thân các hiện tượng đó mà là mối liên hệ của chúng với con ngưòi, ý nghĩa cuộc sống của con người trước những hiện tượng cụ thể và trước cuộc sống
Vì vậy, đoạn văn, câu chuyện, bài thơ dù có nói về con vật, về cây cối… thì cũng nói về con người Mà con người thì giàu xúc động, giàu tình cảm và tình yêu Cũng vì vậy, đích cuối cùng của dạy cảm thụ văn chương không chỉ là cho thấy bài văn đã ghi chép hiện thực gì mà trước hết phải cho thấy bài văn là kết quả của một hành động tự nhận thức, nơi bộc lộ những tình cảm, thái độ của nhà văn trước hiện thực
Không chú ý đến đặc trưng này, nhiều giáo viên đã dạy đọc hiểu văn chương như dạy một bài khoa học thường thức Nhiều giáo viên đem đến cho học sinh cỏ cây, rừng núi, còn nhân vật con người, lòng yêu cỏ cây, vạn vật của họ dường như chẳng bao giờ được động chạm đến Học bài “Hành trình của bầy ong” (TV5 -T1) có giáo viên đã kết luận : “ Bài thơ cho chúng ta biết những con ong rất chăm chỉ, chịu khó làm ra mật ong thơm ngon và bổ để phục vụ con ngươi” Còn những suy nghĩ của Nguyễn Đức Mậu (tác giả) về cuộc đời lao động cần cù lặng lẽ có ích cho con người và có thể liên tưởng mở rộng đến cả lao động sáng tạo không mệt mỏi của người nghệ sĩ chẳng hề được nói đến Thế thì sao gọi là đọc hiểu thơ
1.2 Tính chủ quan của văn bản nghệ thuật :
Tác phẩm nghệ thuật “là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan “, là con đẻ tinh thần của nhà văn, là sự sáng tạo, là bản thông điệp để nhà văn gửi gắm tâm tình của mình đến bạn đọc Không nắm được đặc điểm “chủ quan” trong phản ánh, chúng ta đã có những sai lầm đáng tiếc khi dạy đọc văn
Nhiều giáo viên chúng ta không làm cho học sinh hiểu đằng sau một văn bản, đằng sau những từ ngữ là một con người cụ thể Họ đem đến cho học sinh một văn bản trừu tượng, hoàn toàn đã được khách quan hóa, tách ra khỏi người đã sáng tạo ra nó - tác giả, vì thế không giải đáp được nhiều điều và không làm rõ được những nội dung thông tin liên cá nhân của văn bản
Trang 11Không thấy tính chủ quan này, không hiểu rằng nhà văn đã nhìn thế giới theo lợi ích riêng ,tình cảm riêng của mình, có những giáo viên đã lấy thước đo khoa học khách quan lạnh lùng để rọi vào văn, thậm chí có những nhận xét rất không đúng Ví dụ có giáo viên cho rằng trong câu “ Nhựa ngọt, mùi thơm, khí
ấm tràn trề “(Sau trận mưa rào -TV5, T1), Huygô nói “nhựa ngọt” (ở đây chỉ
nhựa cây)
Chính tính chủ quan, đặc điểm tình cảm, cảm xúc này của tác phẩm nghệ thuật đòi hỏi khi tiếp nhận văn chương, học sinh không chỉ phải hiểu nội dung sự việc của văn bản mà còn phải nắm nội dung liên cá nhân, giá trị biểu hiện, chất trữ tình, tức thái độ, tình cảm, sự đánh giá sự việc của tác giả, cái làm nên chức năng bộc lộ của văn bản Không chú ý điều này chúng ta sẽ không hướng dẫn học sinh hiểu được nghĩa liên cá nhân của tác phẩm nghệ thuật Khi dạy
bài Việt Nam (Lê Anh Xuân - TV5 - T1) nhiều giáo viên đã dạy như một giờ địa
lý tự nhiên giới thiệu về một đất nước nhiệt đới gió mùa lắm mưa nhiều nắng, độ ẩm cao nên cây cối xanh tốt Họ chẳng làm cho học sinh nhận ra được phải có tình yêu với quê hương đất nước như thế nào Lê Anh Xuân mới viết được những lời ngợi ca như vậy
1.3 Tính biểu trưng, hình tượng, độc đáo khác thường của văn bản nghệ
thuật:
Văn chương phản ánh cuộc sống bằng hình tượng, nó đi tìm cho mình một ngôn ngữ riêng, một cách thể hiện riêng Chính vì vậy, khi tiếp nhận văn chương, học sinh phải tiếp nhận khác với logic thông tục của đời thường Đó là năng lực biết nghe được, đọc được những gì ẩn dưới những chuỗi âm thanh, ẩn dưới các dòng chữ
Để hiểu văn chương, phải chú trọng các đặc điểm diễn đạt hàm ẩn, cách nói biểu trưng, tính đa nghĩa, những cách nói hướng đến “gây ấn tượng” khác với ngôn ngữ đời thường Nếu chỉ biết tư duy “thật thà” theo lối đời thường, ta không thể hiểu được văn Chẳng hạn, khi đọc hai câu thơ : “Con xót lòng mẹ hái trấi bưởi đào, Con nhạt miệng có canh tôm nấu khế”, có giáo viên và học sinh đã thắc mắc tại sao xót lòng lại cho ăn bưởi, như thế chỉ làm cho càng xót lòng thêm Trong khi đó, lẽ ra cần phải hiểu: mẹ lúc nào cũng sẵn sàng chăm sóc con, lo lắng cho con, sẵn sàng làm tất cả những gì mà con cần
Như vậy, không hiểu được cái nghĩa, cái lý, cái tình của văn chương, không hiểu được đặc điểm phản ánh hình tượng vừa cụ thể, vừa khái quát, vừa
đa nghĩa, vừa mang tính độc đáo, mới mẻ của văn chương, chúng ta sẽ không tìm được chìa khóa mở cửa “văn”, không hướng dẫn học sinh hiểu văn bản văn chương được
1.4 Văn bản nghệ thuật - nghệ thuật của ngôn từ :
Trang 12Một tác phẩm văn học có giá trị phải là sự hài hòa của nội dung và hình thức, tình ý chứa chan mà lời lẽ phải dạt dào Vì vậy, ngoài việc giải mã nghĩa, lý, tình, dạy đọc hiểu văn chương còn phải cho học sinh tiếp nhận được vẻ đẹp của ngôn từ, vẻ đẹp của cách nói văn chương, khả năng phát hiện được tín hiệu nghệ thuật và cao hơn nữa là cho các em đánh giá được giá trị của các tín hiệu nghệ thuật trong việc biểu đạt nội dung Đây cũng chính là nội dung dạy cảm thụ văn học ở trường tiểu học Việc tìm hiểu tác phẩm văn học phải bắt đầu từ việc khám phá văn bản ngôn từ của nó Không có chìa khóa để mở cánh cửa đi vào cấu trúc ngôn từ của tác phẩm thì chúng ta chỉ có thể đứng ngoài ngôi nhà văn chương.
+ Phương diện âm thanh, nhạc tính góp phần tạo ra giọng văn, giọng thơ giúp học sinh có hứng thú khi đọc diễn cảm Trong các bài tập đọc, Khi cảm thụ bằng chính giọng đọc, nhạc thơ của mình, học sinh sẽ nâng cao khả năng cảm xúc thẩm mỹ và kích thích các em khám phá cái hay, cái đẹp của văn chương
+ Phương diện từ vựng tức những từ ngữ trong văn bản, chúng thường mang tính gợi tả, gợi cảm làm cho ý của từng câu văn trong tác phẩm trở nên sinh động, hấp dẫn kích thích khả năng tiếp nhận văn bản của học sinh
+ Phương diện cú pháp, trước hết nhờ từ ngữ mang nghĩa biểu trưng mà tác phẩm văn học thường có những cách kết hợp từ bất thường, gây ấn tượng,
không hề có trong ngôn ngữ đời thường kiểu như “Sắc màu Việt Nam” (Sắc
màu em yêu) “Mùi vị quê hương” (Tình quê hương).
Cấu trúc ngữ pháp thơ không phải lúc nào cũng như cú pháp lời nói thường Lời thơ được nén lại, nên nhiều khi muốn giải mã câu thơ phải thêm từ ngữ để lấp đầy Không hiểu đặc điểm cú pháp của thơ, nhiều giáo viên đã không cắt nghĩa đúng
Về phương diện ngữ pháp của câu văn nghệ thuật, cần phân biệt lời nhân vật và lời tác giả, những nhận điịnh, những lời bàn trực tiếp, những câu trực tiếp bộc lộ cảm xúc, cần phân biệt những câu miêu tả và câu nhận định
Chẳng hạn, nhờ phát hiện những câu đổi vai nói, những câu trực tiếp bộc
lộ cảm xúc như câu “ Người đi hồn vẫn mơ màng đâu đây” của bài Đẹp thay
non nước Nha Trang, ta nhanh chóng xác định được nội dung liên cá nhân - chất
trữ tình cảm xúc của những bài thơ này
Không xác định đúng vai nói, đối tượng nói năng của các câu trong văn bản, nhiều khi ta sẽ bỏ quên những tình cảm, cảm xúc rất đáng yêu của bài
văn, bài thơ Ở bài thơ Chú bé Kô-li-a (TV5), nếu không xác định được các câu hội thoại, câu hỏi của tác giả và lời chú bé Kô-li-a trong đoạn thơ từ Tuổi mười
hai …nướng bánh đưa đường.), thì sẽ không đọc với sự uyển chuyển giọng cần
thiết và chính vì vậy cũng khó hiểu được nội dung đoạn thơ
+ Phương diện bút pháp cũng cần phải quan tâm, điều này sẽ giúp chúng
ta tháo gỡ những vướng mắc khi đọc hiểu một cách dễ dàng hơn Chẳng hạn,
Trang 13chú trọng đến mạch ẩn dụ xuyên suốt từng bài Gửi các vì sao, Hành trình bầy
ong,, ta mới không dạy Gửi các vì sao như một bài tả cảnh trời đêm Bài Hành trình bầy ong không thể chỉ dừng lại ở chuyện những con ong chăm chỉ, có ích.
1.5 Thể loại của tác phẩm văn học và vấn đề dạy đọc hiểu :
Văn bản nghệ thuật và các kiểu văn bản khác đòi hỏi có những cách dạy đọc hiểu khác nhau :
- Để luyện đọc thành tiếng, việc phân biệt tác phẩm theo cách tổ chức phương tiện ngôn ngữ (hình thức tác phẩm) là quan trọng bởi văn vần có tính nhạc, cách đọc khác văn xuôi hoàn toàn dựa vào nghĩa
- Để đọc hiểu, việc phân biệt phương thức tự sự hay trữ tình là quan trọng Thường tác phẩm tự sự có hình thức văn xuôi, tác phẩm trữ tình, có hình thức thơ nhưng cũng có những bài thơ viết theo thể văn xuôi và có những câu chuyện viết theo thể văn vần
2) Đặc điểm của tiếp nhận văn học và dạy đọc hiểu cho học sinh tiểu học :
Văn bản được cụ thể hóa trong tác phẩm văn học Dạy đọc hiểu văn bản văn chương hay dạy tiếp nhận tiếp nhận văn chương là quá trình biến văn bản thành tác phẩm của mỗi học sinh bởi “Mỗi quyển sách đều có số phận riêng của mình trong đầu bạn đọc cuả nó” (L.Tônxtôi) Đây là một qúa trình phức tạp
do tính đa nghĩa, hàm súc, tính đối thoại của ngôn từ, tính không nói hết của hình tượng nghệ thuật cũng như do sự liên tưởng, tưởng tượng, khám phá sáng tạo hết sức phong phú của người đọc Học sinh sẽ bắt đầu đọc tác phẩm, tri giác toàn bộ tác phẩm, từ những yếu tố nhỏ nhất như tiếng, từ, câu đến việc tiếp nhận ý nghĩa của toàn bộ tác phẩm, cụ thể hóa, khái quát hóa nghệ thuật để hiểu giá trị đích thực của tác phẩm, chuyển nội dung văn bản thành tác phẩm của mình Qua trình tiếp nhận văn bản văn chương rất phức tạp bởi :
- Nó phối hợp cả cảm xúc và lý trí, nó thường đi từ những cảm thụ có tính chất trực giác, trực cảm ban đầu đến những tiếp nhận chiều sâu giải nghĩa, phân tích một cách khoa học để học sinh có trong mình một tác phẩm gắn với sản phẩm mà tác giả muốn gửi gắm qua văn bản
- Nó vừa mang tính chủ quan vừa mang tính khách quan Nếu văn bản nghệ thuật có tính chủ quan thì việc tiếp nhận nó cũng mang tính chủ quan vì nó phụ thuộc vào vốn sống, vốn văn chương, tình cảm, thị hiếu tâm lý của người tiếp nhận Điều đó cho phép chủ quan sáng tạo khi tiếp nhận Đặc điểm này đòi hỏi khi dạy đọc văn chương, giáo viên phải tổ chức cho các em nhập thân vào tác phẩm Không có sự nhập thân thật sự thì không thể có hoạt động tiếp nhận văn học Chính tính chủ quan trong tiếp nhận quyết định chuyện một
Trang 14đứa trẻ thích hay không thích một bài tập đọc nào đó trong chương trình Và việc tìm hiểu điều này sẽ giúp chúng ta chọn văn bản dạy đọc cho thích hợp.
Từ đây, giáo viên cần rút ra bài học là trong dạy hiểu văn chương có nhiều phương án và cần chấp nhận sự khác biệt trong tiếp nhận Giáo viên cần tôn trọng những cảm xúc, cảm nhận, suy nghĩ tuy còn thơ ngây, non nớt nhưng rất riêng của học sinh, không gò ép các em hiểu theo cách duy nhất hoặc nói theo lời lẽ của mình Tôn trọng cái riêng của học sinh trong giờ học, ta nên có những bài tập yêu cầu học sinh nêu những từ ngữ, hình ảnh, tình tiết mà mình thích nhất và cho các em tập lý giải vì sao mình lại thích những từ ngữ, hình ảnh, tình tiết đó
Đồng thời với tính chủ quan, tiếp nhận văn học có tính khách quan bởi tác phẩm là sản phẩm tinh thần của một nhà văn, tồn tại độc lập, khách quan với người đọc Nó mang trong mình những nghĩa hiển ngôn và hàm ngôn Việc chỉ
ra tính đa nghĩa của tác phẩm hoàn toàn không cho phép hiểu tác phẩm một cách tùy tiện Nó đòi hỏi tiếp nhận của người đọc, dù chủ quan đến mấy cũng phải căn cứ vào ý nghĩa khách quan của hình tượng trong văn bản Vì vậy trong dạy học lại phải dự tính, điều chỉnh những nhận thức tản mạn không có cơ sở của học sinh khi hiểu tác phẩm
Dạy đọc hiểu tác phẩm văn chương là chuyển hóa từ văn bản của tác giả sang sự tiếp nhận của học sinh Vì vậy, mỗi giáo viên chúng ta không thể làm cho học sinh hiểu tác phẩm nếu không tính đến đặc điểm cá tính của từng học sinh tiểu học
Việc xem xét bình diện ngữ nghĩa của văn bản đã giúp cho chúng ta có căn cứ để dạy nghĩa những từ, ngữ, câu trong văn bản, xác định được ý nghĩa của cả đoạn, cả bài, hình tượng tác phẩm Nói cách khác, nó giúp chúng ta xác định được nội dung dạy đọc hiểu ở tiểu học Trong giáo án, nội dung này tương ứng với mục “hiểu” Những hiểu biết về văn bản, cấu trúc và các bình diện văn bản, các thể loại văn bản, đặc biệt là các đặc trưng của tác phẩm văn chương là những cơ sở khoa học để xác định nội dung dạy đọc hiểu cũng phần nào giúp chúng ta hình dung phương pháp dạy tập đọc nói chung dạy đọc hiểu nói riêng
Trang 15CHƯƠNG II :
NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
I NỘI DUNG DẠY HỌC (Chương trình cải cách giáo dục )
1 Về nội dung các bài tập đọc :
Từ năm học 1994 - 1995 trở về đây, các bài tập đọc được đưa vào phân môn Tập đọc và được trình bày ở đầu sách Tiếng việt mỗi tập Mỗi tuần có hai bài tập đọc cũng là hai tiết Về nội dung, các bài tập đọc lớp 5 xoay quanh 3 trục chủ điểm chính : Măng non: 14 bài ; Đất nước : 52 bài
Ở lớp 5, chủ điểm “Măng non” ( học kì 1) gồm các bài tập đọc về nghĩa vụ của người học sinh, về hình ảnh người thiếu niên dũng cảm trung thực Chủ điểm “Đất nước (học suốt cả hai học kì)”, gồm những bài tập đọc nói về đất nước tươi đẹp, về lòng yêu quê hương đất nước và về những con người chiến đấu, lao động anh dũng, vẻ vang Trong đó ở cuối năm học, học sinh được học 3 bài tập đọc nói về Bác Hồ và hai bài thơ của Bác - Người kết tinh những tinh hoa của dân tộc Việt Nam
2 Về cách trình bày các bài tập đọc :
Các bài tập đọc được trình bày gồm các phần như văn bản (bài văn hoặc bài thơ), chú giải, hướng dẫn đọc : chỉ dẫn cách đọc một số câu khó, đoạn khó về cách ngắt nhịp, nhấn giọng hoặc gợi ra những đặc điểm nội dung, những sắc thái tình cảm được biểu hiện qua giọng đọc Phần tìm hiểu bài gồm những câu hỏi, bài tập giúp học sinh hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật của bài văn, bài thơ Ở những bài còn có thêm yêu cầu học thuộc lòng
Nhận xét chung về nội dung và cách trình bày các bài tập đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt 5 :
Nội dung, chương trình sách giáo khoa dạy tập đọc (Chương trình CCGD), đã thực hiện được mục tiêu trang bị các kiến thức tiếng Việt và phát triển các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm lớn đó, vẫn còn một số hạn chế mà các nhà khoa học giáo dục đã nhìn thấy và đang
Trang 16có hướng khắc phục thông qua Chương trình tiểu học 2000, cụ thể những hạn chế đó là :
- Việc phân chia chủ điểm quá rộng và có sự trùng lắp quá nhiều ở các lớp Cách đặt tên chủ điểm lại khô khan tẻ nhạt Vì vậy tên gọi của các chủ điểm chỉ ràng buộc các tác giả lựa chọn bài tập đọc mà không định hướng được nhiều cho giáo viên và học sinh khai thác, tìm hiểu nội dung bài Trong thực tế, hầu hết giáo viên và học sinh không quan tâm đến việc bài tập đọc nằm trong chủ điểm nào Có những bài lại được chọn không phù hợp với chủ điểm Có những bài tập đọc lại quá khó đối với học sinh, ví dụ bài “Bà cụ bán hàng nước chè”, bài văn giới thiệu một phong tục rất đáng yêu của người dân làng quê Bắc Bộ, nhưng học sinh lớp 5 hiện nay, nhất là học sinh vùng nông thôn Nam bộ khó lòng cảm nhận được
- Nội dung giáo dục đưa vào một số bài còn mang tính gượng ép, thiếu tự nhiên, ví như lấy một đoạn trích của bài “Nhà mẹ Lê” (Cảnh đông con - TV5 trang 27) để giáo dục dân số là không thích hợp
- Hầu hết các bài tập đọc được chọn đưa vào chương trình đều là các đoạn trích hoặc tác phẩm văn học trọn vẹn thuộc thể loại thơ trữ tình, thơ tự sự, đoạn miêu tả, truyện ngắn, truyện danh nhân… mà không có các kiểu văn bản phổ biến thường gặp trong đời thường (văn bản hành chính, khoa học…)
- Nhiều bài tập đọc chưa được lựa chọn xây dựng theo những yêu cầu chặt chẽ của một văn bản về sự liên kết bề mặt cũng như liên kết nội dung, ví như bài “Núi rừng Trường Sơn sau cơn mưa TV5 trang 46” không chia thành đoạn nhỏ, học sinh khó tìm ý chung của bài Vì vậy, có nhiều bài tập đọc chỉ có thể dạy “đọc nhớ”, khó dạy “đọc hiểu”Cũng vì vậy, các bài tập đọc trong sách giáo khoa chưa cung cấp cho học sinh những tri thức phong phú về khoa học, những thông tin về các vấn đề bức xúc của thời đại để học sinh làm giàu vốn hiểu biết, vốn sống của mình qua việc học đọc
- Về kênh hình, rất hạn chế, nếu có thì sách in chưa đep, chỉ có hai màu, có lúc lại minh họa chưa chính xác Các Bà tập đọc lớp 5 như : “Hoa học trò” vẽ những mặt người xấu xí, bài “Tiếng hát mùa gặt” vẽ những người cầm liềm hái gặt lúa nhưng lời bài thơ lại là “Long lanh lưỡi hái liếm ngang chân trời” Vẽ như vậy góp phần tạo ra cái sai trong việc giải nghĩa từ của một số giáo viên thiếu kiến thức thực tế “Hái là tên gọi khác của cái liềm”
- Phần “Hướng dẫn tìm hiểu bài” chủ yếu thông qua hệ thống câu hỏi và bài tập, mức độ chỉ yêu cầu học sinh một phương thức hành động duy nhất : dùng lời Điều này có những hạn chế : số lượng học sinh được làm việc trên lớp
ít, bởi vì người nói phải có người nghe, tại một thời điểm chỉ có một em có thể trả lời, tất cả học sinh trong lớp không thể nói cùng một lúc Khi một em trả lời, những học sinh khác làm gì, giáo viên hầu như không kiểm soát được và chính
vì thế giờ tập đọc không tích cực hóa được hoạt động của học sinh, không gây
Trang 17cho các em hứng thú làm việc Hệ thống câu hỏi còn mang tính áp đặt của bài đọc, chưa tạo tình huống cho học sinh tư duy, sáng tạo trong việc tìm hiểu bài.
3) Về phương pháp dạy học phân môn Tập đọc :
Hiện nay cách dạy tập đọc theo chương trình CCGD còn đơn điệu Nhiều kiến thức giáo viên còn áp đặt, nặng về truyền đạt, ít gợi ý để học hiểu và khám phá Học sinh còn đóng vai trò thụ động trong giờ học Điều này dẫn đến chất lượng dạy - học chưa cao
3.1 Về quy trình giảng dạy :
Một vấn đề có thể dễ thấy nhất là phần hướng dẫn luyện đọc : sau khi giáo viên đọc mẫu xong, chỉ cho 1 - 2 học sinh khá giỏi của lớp đọc lại và tiến hành hướng dẫn cho các em tìm hiểu bài (đọc hiểu) trong khi học sinh của lớp có em chưa đọc đúng từ, đúng đoạn thì làm sao dễ hiểu bài được
+ Việc dạy và học của giáo viên, học sinh trong các giờ tập đọc diễn ra thường là một chiều : thầy - trò chính vì vậy hạn chế rất nhiều việc phát huy năng lực của từng học sinh
Những vấn đề trên, có thể nói nếu người giáo viên không quan tâm thì trong giảng dạy sẽ khó lòng đổi mới được phương pháp dạy học nhất là những giáo viên còn hạn chế về tuổi nghề, hạn chế về năng lực chuyên môn… Còn 2 năm học nữa mới thực hiện được chương trình thay sách lớp 5, các trường tiểu học vẫn phải thực hiện chương trình CCGD này, chính vì vậy, mỗi giáo viên chúng ta hãy tập trung tìm hiểu chương trình tiểu học mới hiện nay (từ lớp 1 đến lớp 3) đặc biệt chú ý đến phân môn Tập đọc để học hỏi đổi mới dạy và học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh
II NHỮNG ĐIỂM CẦN CHÚ Ý KHI THỰC HIỆN VIỆC ĐỔI MỚI CÁCH DẠY VÀ HỌC MÔN TIẾNG VIỆT NÓI CHUNG Ở TIỂU HỌC :
1 Tổ chức để học sinh hoạt động độc lập hoặc hoạt động theo nhóm khi học các bài học khác nhau của môn Tiếng Việt.
Nếu có phiếu bài tập Tiếng Việt, giáo viên có thể giao cho từng học sinh thực hiện các hoạt động học tập khác nhau Cùng một lúc, nhóm thứ nhất có thể đọc thầm bài tập đọc và làm các bài tập có liên quan, nhóm thứ hai tìm hiểu các từ ngữ và làm các bài tập từ ngữ Việc làm này nhằm cá thể hóa việc dạy học, thúc đẩy học sinh hoạt động trí tuệ thực sự Như vậy, phiểu bài tập không chỉ đóng vai trò của một phương tiện giúp học sinh chuẩn bị bài trước ở nhà mà
Trang 18nó trở thành một phương tiện dạy học theo hướng thực hành giao tiếp ngôn ngữ
Sử dụng các từ ngữ liên quan đến bài tập đọc, giáo viên cần nhận rõ trình độ đọc của học sinh được rèn luyện qua hai hình thức đọc: đọc thầm và đọc thành tiếng Đọc thành tiếng (trơn tru, lưu loát) chỉ là một giai đoạn cần phải trải qua tiến tới đọc thầm Đọc thầm càng nhanh, càng thạo càng chính xác, người đọc càng có điều kiện hiểu nội dung bài đọc Đọc diễn cảm và mức độ
am hiểu nội dung bài học là những chỉ số nêu rõ trình độ học của học sinh Song giữa hai chỉ số này, chỉ số thứ hai cần được giáo viên chú ý nhiều hơn nữa Đa số bài tập đọc đều hướng tới rèn luyện cho học sinh ngày càng hiểu đúng, hiểu rõ, hiểu sâu nội dung bài học
2 Kết hợp sử dụng các hình thức trò chơi về tiếng làm phương tiện hỗ trợ cho việc phát triển Tiếng Việt của học sinh
Đối với học sinh tiểu học nói chung, việc sử dụng các trò chơi khá thích hợp với đặc điểm sinh lý, tâm lý của các em, đồng thời giúp các em bộc lộ và rèn luyện một cách tự nhiên các kĩ năng Một số bài tập trong vở BTTV, người biên soạn đã chú ý kết hợp với một vài hình thức trò chơi Vì vậy, giáo viên cần tìm cách phát huy trong tiết dạy của mình, tạo cho học sinh sự hấp dẫn và thoải mái
3 Cải tiến cách đánh giá và cho điểm
Dựa trên các kiểu bài tập, giáo viên ra các đề kiểm tra tương tự để việc đánh giá bài làm của học sinh bảo đảm tính khách quan, chính xác Như vậy, kiểm tra bài tập đọc không phải chỉ có hình thức đọc thành tiếng hoặc đọc diễn cảm Bài tập đọc có thể được kiểm tra qua các bài tập nhằm đo mức độ thông hiểu nội dung của bài, trình độ đọc thầm
Các loại bài tập theo hình thức trắc nghiệm cho ta cách đánh giá chính xác hơn kết quả bài làm của học sinh Nhờ vậy, điểm số mang tính khách quan, đảm bảo sự công bằng và cổ vũ học sinh ham học hơn
III CÁC CÔNG VIỆC CẦN LÀM ĐỂ TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH ĐỌC HIỂU CHO HỌC SINH TIỂU HỌC:
1) Tìm hiểu đề tài của văn bản:
Đề tài là phạm vi hiện thực được đề cập tới trong văn bản Học sinh nhận
ra được đề tài văn bản khi các em trả lời được các câu hỏi: Văn bản nói về cái
gì, về việc gì, về ai ?