1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TL CNXh những vấn đề kinh tế ở việt nam trong thời kỳ quá độ lên CNXH

25 214 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 43,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Đối với nước ta, quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, được bắt đầu từ Đại hội Đảng VI (Năm 1986) và ngày càng được hoàn thiện. Trong giai đoạn đầu của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nền kinh tế nước ta nằm trong tình trạng trì trệ và tăng trưởng thấp, sản xuất không đủ cho tiêu dùng, tích luỹ phần lớn là phụ thuộc vào vay mượn từ bên ngoài. Phát triển thị trường hàng hoá thiếu thốn nghiêm trọng, nhất là lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng thiết yếu. Cơ sở vật chất kĩ thuật của các ngành kinh tế xã hội phần lớn đã xuống cấp và lạc hậu, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Trước tình hình đó, Đảng ta đã đề xướng và lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế xã hội của đất nước. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI được đánh dấu là một bước ngoặt lịch sử đổi mới tư duy và đường lối phát triển đất nước trong thời kì mới: phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp; thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; đồng thời, xác định ngày càng rõ quan điểm chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Làm tốt những nhiệm vụ căn bản đó của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Việt Nam sẽ thực hiện được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Đối với nước ta, quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấpsang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thịtrường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất làxây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, được bắt đầu từ Đạihội Đảng VI (Năm 1986) và ngày càng được hoàn thiện

Trong giai đoạn đầu của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nền kinh tế nước

ta nằm trong tình trạng trì trệ và tăng trưởng thấp, sản xuất không đủ cho tiêu dùng,tích luỹ phần lớn là phụ thuộc vào vay mượn từ bên ngoài Phát triển thị trườnghàng hoá thiếu thốn nghiêm trọng, nhất là lương thực, thực phẩm và hàng tiêudùng thiết yếu Cơ sở vật chất - kĩ thuật của các ngành kinh tế - xã hội phần lớn đãxuống cấp và lạc hậu, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn

Trước tình hình đó, Đảng ta đã đề xướng và lãnh đạo thực hiện công cuộc đổimới kinh tế - xã hội của đất nước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI được đánhdấu là một bước ngoặt lịch sử đổi mới tư duy và đường lối phát triển đất nướctrong thời kì mới: phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, xoá bỏ cơ chế tậptrung quan liêu bao cấp; thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước; đồng thời, xác định ngày càng rõ quan điểm chủ động hội nhập kinh tế quốctế

Làm tốt những nhiệm vụ căn bản đó của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội,Việt Nam sẽ thực hiện được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dânchủ, văn minh”

Trang 2

NỘI DUNG

Chương 1 THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

1.1 Khái niệm thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kì cải biến cách mạng sâu sắc, triệt

để, toàn diện, từ xã hội cũ sang xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa Nó diễn ra từkhi cách mạng vô sản thắng lợi, giai cấp vô sản giành được chính quyền, bắt tayvào việc xây dựng xã hội mới và kết thúc khi xây dựng thành công các cơ sở của

xã hội xã hội chủ nghĩa về vật chất - kĩ thuật, kinh tế, văn hóa, tư tưởng

1.2 Tính tất yếu khách quan của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Nam bắt đầu vào năm 1954 ở miền Bắc

và năm 1975 trên phạm vi cả nước

Đối với nước ta, quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa làmột tất yếu khách quan, vì:

- Thời kì quá độ là thời kì lịch sử mà bất cứ một quốc gia nào đi lên chủ nghĩa xãhội cũng đều phải trải qua, ngay cả những nước có nền kinh tế phát triển

- Toàn thế giới đã bước vào thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xãhội Thực tiễn đã khẳng định chủ nghĩa tư bản là chế độ xã hội đã lỗi thời về mặtlịch sử, sớm hay muộn cũng phải được thay bằng hình thái kinh tế - xã hội cộngsản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là giai đoạn xã hội xã hội chủ nghĩa

Trang 3

- Như vậy, sự lựa chọn con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta

là phù hợp với xu thế của thời đại Điều đó thể hiện sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội

ở nước ta là một tất yếu khách quan

1.3 Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam

1.3.1 Khả năng về quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam

a Khả năng khách quan:

- Lúc này xu thế quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới Nókhông những đóng vai trò tích cực làm thức tỉnh các quốc gia mà còn mở ra nhữngđiều kiện thuận lợi và yếu tố khách quan cho sự quá độ này

- Xu thế toàn cầu hóa và sự hợp tác giữa các nước ngày càng tăng lên, cũngnhư sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ về khách quan đã tạo

ra những khả năng để các nước kém phát triển đi sau có thể tiếp thu và học tậpnhững quốc gia phát triển hơn

b Khả năng chủ quan:

- Nhân dân ta đã lập nên chính quyền nhà nước dân chủ nhân dân, cách mạngViệt Nam do Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo - một Đảng giàu tinh thần cáchmạng, có đường lối đúng đắn và gắn bó với quần chúng

- Nhân dân Việt Nam có một lòng quyết tâm sâu sắc, sẵn sàng chiến đấu, hisinh vì độc lập dân tộc và vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc Điều đó sẽ trởthành lực lượng vật chất đủ sức vượt qua mọi khó khăn và xây dựng thành côngchủ nghĩa xã hội

1.3.2 Nhận thức về thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủnghĩa

Đây chính là nhận thức về con đường phát triển “rút ngắn” lên chủ nghĩa xã hội

ở nước ta

Trang 4

Về kinh tế bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua sự thống trị của quan hệsản xuất tư bản chủ nghĩa

Ta cần phải biết tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt đượcdưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triểnnhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại

Trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xãhội”, Đảng ta đã khẳng định: “Mô hình xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng

là một xã hội:

- Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

- Do nhân dân lao động làm chủ

- Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độcông hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu

- Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực,hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển

cá nhân

- Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ

- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới”.Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở nước ta là: xây dựng một xã hội dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Trang 5

Chương 2:

NHỮNG NHIỆM VỤ KINH TẾ CƠ BẢN TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ

LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

2.1.Phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

2.1.1 Phát triển lực lượng sản xuất

Phát triển lực lượng sản xuất, cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội trên

cơ sở thực hiện cơ khí hóa nền sản xuất xã hội và áp dụng những thành tựu khoahọc công nghệ hiện đại

Trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, lực lượng sản xuất không chỉphải nâng cao trình độ văn hóa và khoa học công nghệ mà còn phải trang bị cơ sởvật chất kỹ thuật tiên tiến Họ vừa là kết quả của sự phát triên của lực lượng sảnxuất đồng thời là người tạo ra sự phát triển đó

2.1.2 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kì quá

độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

a Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác

định: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện

các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”.

b Đặc điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta

Trang 6

- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiệnmục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".

- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức

- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện cơ chế thị trường có sự điều tiếtcủa Nhà nước

- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế và ViệtNam tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

c Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hóa, hiện đại hóa

chất của lực lượng sản xuất xã hội, phù hợp với trình độ kỹ thuật (công nghệ)tương ứng mà lực lượng lao động xã hội sử dụng để sản xuất ra của cải vật chấtđáp ứng nhu cầu xã hội

- Đối với các nước có nền kinh tế kém phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hộinhư nước ta, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội phải thực hiện

từ đầu, từ không đến có, từ gốc đến ngọn thông qua công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Mỗi bước tiến của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một bước tăng cường

cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, phát triển mạnh mẽ lực lượng sảnxuất và góp phần hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa

d Tác dụng của công nghiệp hóa

- Tạo điều kiện thay đổi về chất nền sản xuất xã hội, tăng năng suất lao động,giảm sức lao động bằng tay chân, tăng trưởng và phát triển kinh tế, nâng cao đờisống nhân dân, ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, góp phần quyết định sựthắng lợi của chủ nghĩa xã hội.

- Tạo điều kiện vật chất cho việc củng cố, tăng cường vai trò kinh tế của Nhànước, nâng cao năng lực quản lý, khả năng tích luỹ và phát triển sản xuất, tạo ra

Trang 7

nhiều việc làm, nâng cao thu nhập, giúp cho sự phát triển tự do toàn diện của conngười trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội.

- Tạo điều kiện thuận lợi cho khoa học và công nghệ phát triển nhanh đạt trình

độ tiên tiến hiện đại Tăng cường lực lượng vật chất - kỹ thuật cho quốc phòng, anninh; bảo đảm đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước ngày càng được cảithiện Tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đủ sứcthực hiện sự phân công và hợp tác quốc tế

e Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta là: Xây dựng nước tathành nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý,quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đờisống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Phấn đấu để đến năm 2020 nước ta cơbản trở thành một nước công nghiệp hoá theo hướng hiện đại

2.2 Xây dựng quan hệ sản xuất mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là cơcấu kinh tế trong đó các thành thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển nhưmột tổng thể, giữa chúng có quan hệ vừa hợp tác, vừa cạnh tranh với nhau Sự tồntại cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là đặc trưng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội

2.2.1 Nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ởViệt Nam

Trang 8

a Tính tất yếu khách quan của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần.Trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta còn tồn tại cơ cấu kinh tếnhiều thành phần.

- Bước vào thời kì quá độ, nền kinh tế nước ta còn ở trình độ kém phát triển,lực lượng sản xuất tồn tại ở nhiều trình độ khác nhau, do đó chế độ sở hữu về tưliệu sản xuất sẽ có nhiều hình thức, tức là nền kinh tế sẽ có nhiều thành phần

- Một số thành phần kinh tế do xã hội cũ để lại: các thành phần kinh tế này vẫn

có vai trò quan trọng để phát triển kinh tế, có lợi cho đất nước trong việc giải quyếtviệc làm, tăng sản phẩm, huy động các nguồn vốn…( thành phần kinh tế tư nhân)

- Một số thành phần kinh tế mới xuất hiện trong quá trình cải tạo và xây dựngchủ nghĩa xã hội như kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể và kinh tế tư bản nhà nước

- Các thành phần kinh tế cũ và các thành phần kinh tế mới tồn tại khách quan

và có quan hệ với nhau, tạo thành cơ cấu kinh tế trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa

xã hội ở nước ta

b Vai trò của cơ cấu nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội ở Việt Nam

Sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta không chỉ là một tất yếukhách quan mà còn có vai trò to lớn, vì:

- Nền kinh tế tôn tại nhiều thành phần, có nghĩa là tồn tại nhiều hình thức quan

hệ sản xuất, sẽ phù hợp với thức trạng thấp kém và không đồng đều của lực lượngsản xuất ở nước ta hiện nay Sự phù hợp này, đến lượt nó, lại có tác dụng thúc đẩytăng năng suất lao động, tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện năng cao hiệu quả kinh

tế trong các thành phần kinh tế và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân ở nước ta

Trang 9

- Nền kinh tế nhiều thành phần thúc đẩy phát triển kinh tế hàng hoá, góp phầnthúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân,phát triển các mặt của đời sống kinh tế - xã hội.

- Cho phép khai thác và sử dụng có hiệu quả sức mạnh tổng hợp của các thànhphần kinh tế trong nước như: vốn, lao động, tài nguyên, kinh nghiệm tổ chức quản

lý, khoa học và công nghệ mới trên thế giới…

- Tạo điều kiện thực hiện và mở rộng các hình thức kinh tế quá độ, trong đó cóhình thức kinh tế tư bản nhà nước, nó như những “cầu nối” trạm “trung gian” cầnthiêt để đưa nước ta từ sản xuất nhỏ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủnghĩa

- Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần tạo tiền đề khắc phục tình trạng độc quyền,tạo ra quan hệ cạnh tranh, động lực quan trọng thúc đẩy cải tiến kỹ thuật, phát triểnlực lượng sản xuất

c Các thành phần kinh tế ở nước ta hiện nay

 Thành phần kinh tế nhà nước

Kinh tế nhà nước là thành phần kinh tế dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sảnxuất Kinh tế nhà nước bao gồm các doanh nhiệp Nhà nước, các quỹ dự trữ quốcgia, các quỹ bảo hiểm nhà nước và các tài sản thuộc sở hữu nhà nước có thể đưavào vòng chu chuyển kinh tế “Kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo trong nềnkinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng vàđiều tiết vĩ mô nền kinh tế”

 Kinh tế tập thể

Kinh tế tập thể là thành phần kinh tế bao gồm những cơ sở kinh tế do người laođộng tự nguyện góp vốn, cùng kinh doanh, tự quản lí theo nguyên tắc tập trung,bình đẳng, cùng có lợi

Trang 10

 Kinh tế tư nhân

Thành phần kinh tế tư nhân bao gồm:

- Kinh tế cá thể là hình thức kinh tế dựa trên tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất vàkhả năng lao động của bản thân người lao động và gia đình

- Kinh tế tiểu chủ cũng là hình thức kinh tế dựa trên tư hữu nhỏ về tư liệu sảnxuất nhưng có thuê mướn lao động, tuy nhiên, thu nhập vẫn chủ yếu dựa vào sứclao động và vốn của bản thân và gia đình người lao động

- Kinh tế tư bản tư nhân là hình thức kinh tế mà sản xuất, kinh doanh dựa trên

cơ sở chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột sức laođộng làm thuê

 Kinh tế tư bản nhà nước

Kinh tế tư bản nhà nước là thành phần kinh tế bao gồm các hình thức liêndoanh liên kết giữa kinh tế nhà nước với tư bản tư nhân trong nước và ngoài nước,mang lại lợi ích thiết thực cho các bên đầu tư kinh doanh

 Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm các doanh nghiệp có thể 100% vốnnước ngoài có thể liên kết, liên doanh với doanh nghiệp nhà nứơc hoặc doanhnghiệp tư nhân của nước ta

2.2.2 Từng bước xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới theo định hướng

xã hội chủ nghĩa

Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với lựclượng sản xuất Nghĩa là phải xác định rõ lực lượng sản xuất cụ thể sau đó mới cóthể nói đến có quan hệ sản xuất phù hợp với nó Điều này cho thấy chúng ta phảinhanh chóng phát triển lực lượng sản xuất với nền cơ giới hóa, tự động hóa hay tin

Trang 11

học hóa ngang tầm thời đại (trong khu vực và trên thế giới), cùng với đó là conngười được đào tạo đáp ứng ngang tầm khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại.Củng cố hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội cho phù hợp trên ba lĩnh vực cơbản như: quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất, quan hệ về điều hành quản lý sản xuất

và quan hệ về phân phối và trao đổi sản phẩm trong guồng máy sản xuất hiện nay.Hoàn thiện hệ thống điều hành và quản lý sản xuất Quan hệ điều hành quản lýsản xuất hiện nay trong các thành phần kinh tế được luật pháp bảo vệ và theohướng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, hai bên cùng có lợi Đặc biệt, với chủ trươngcạnh tranh lành mạnh trong sản xuất - kinh doanh giữa các thành phần kinh tế cũngnhư thực hiện thi đua yêu nước trong hoạt động kinh tế đã làm cho tính ưu việt củalĩnh vực kinh tế xã hội hiện nay ngày một phát huy hiệu quả

Quan hệ về phân phối và trao đổi sản phẩm trong quan hệ sản xuất ở nước tacũng đang được hình thành và phát triển theo hướng tiến bộ và phù hợp Chúng ta

đã nhanh chóng chuyển hướng từ cơ chế bao cấp sang cơ chế phân phối sản phẩmtheo lao động và kết hợp các cách phân phối khác (phân phối lại) cũng như thựchiện trao đổi sản phẩm ngang bằng theo cơ chế cung cầu của nền kinh tế thị trường

có định hướng xã hội chủ nghĩa Nếu như trước kia cơ chế bao cấp chúng ta thựchiện “ngăn sông cấm chợ” thì nay chúng ta đã mở rộng và thực hiện trao đổi thôngthoáng có sự tác động phù hợp của nhà nước

2.3 Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại

2.3.1 Vai trò to lớn của kinh tế đối ngoại

- Góp phần nối liền sản xuất và trao đổi trong nước với sãn xuất và trao đổiquốc tế; nối liền thị trường trong nước với thị trường thế giới và khu vực

Trang 12

- Góp phần thu hút vốn đầu tư trực tiếp và vốn viện trợ chính thức từ các chínhphủ và tổ chức tiền tệ quốc tế; thu hút khoa học, kĩ thuật, công nghệ, khai thác vàứng dụng những kinh nghiệm xây dựng và quản lí nền kinh tế hiện đại vào nước ta.

- Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra nhiều công ăn việc làm, giảm tỉ

lệ thất nghiệp, tăng thu nhập, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân theo mục tiêudân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

2.3.2 Những hình thức chủ yếu của kinh tế đối ngoại

a Ngoại thương

- Trong các hoạt động kinh tế đối ngoại, ngoại thương giữ vị trí trung tâm và cótác dụng to lớn: góp phần làm tăng sức mạnh tổng hợp, tăng tích lũy của mỗi nướcnhờ sử dụng có hiệu quả lợi thế so sánh giữa các quốc gia trong trao đổi quốc tế; làđộng lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

b Hợp tác trong lĩnh vực sản xuất

- Giúp tận dụng nguồn dự trữ lao động, tạo nhiều việc làm và tận dụng côngsuất máy móc, dây truyền hiện có

- Xây dựng những xí nghiệp chung với sự hùn vốn và công nghệ từ nước ngoài

- Hợp tác sản xuất quốc tế trên cơ sở chuyên môn hóa

c Hợp tác khoa học - kĩ thuật

- Hợp tác khoa học - kĩ thuật được thực hiện dưới nhiều hình thức như trao đổitài liệu, kĩ thuật và thiết kế, mua bán giấy phép, trao đổi kinh nghiệm, chuyển giaocông nghệ, phối hợp nghiên cứu khoa học - kĩ thuật…

d Đầu tư quốc tế

Nhà nước đã ban hành những chính sách nhằm khuyến khích, tạo điều kiệncho các doanh nghiệp trong nước đầu tư ra nước ngoài Cần tạo thuận lợi và tăngsức mạnh cho doanh nghiệp nội địa trước ngưỡng cửa hội nhập

Ngày đăng: 05/07/2018, 15:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w