Qua sự tìm hiểu cũng như sự chia sẻ của cán bộ xã thì một trong những hộ khó thoát nghèo nhất chính là những hộ do phụ nữ làm chủ; do vậy vấn đề này đã gây sự chú ý đặc biệt đối với tôi.
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực tế môn học “Thực hành công tác xã hội với cá nhân”, bên cạnh sự nỗi lực, cố gắng của bản thân, tôi nhận được sự giúp đỡ động viên chia sẻ của gia đình, thầy cô, bạn bè và lãnh đạo Uỷ ban nhân dân xã Lũng Phìn.
Để hoàn thành đợt thực tế chuyên môn I này, trước hết tôi xin gửi tới ban lãnh đạo xã Lũng Phìn đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt nhất đợt thưc tế, đặc biệt là Kiểm huấn viên chị Giàng Thị Mỷ - Cán bộ Hội phụ nữ xã, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình tiếp cận và làm việc với thân chủ.
Đồng thời tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong khoa và các thầy cô phụ trách bộ môn “Công tác xã hội với cá nhân” đã tạo điêu kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành đợt thực tế lần này một cách tốt nhất.
Ngoài ra, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới thân chủ là chị Vàng Thị Ly đã tin tưởng và chia sẻ một cánh chân thật, cung cấp những thông tin hữu ích để tôi hoàn thành tốt bài báo cáo.
Tuy nhiên do kinh nghiện thực tế còn hạn chế, chưa thể vận dụng một cách tốt nhất, triệt để nhất các kĩ năng vào thực hành nên trong quá trình thực tế không tránh khỏi những thiếu sót, do vậy rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô và các bạn để tôi có thể làm tốt hơn các lần thực hành về sau Xin chân trành cảm ơn!
Trang 2DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Bảng kế hoạch thực hành
21 Bảng 2.2 Bảng kế hoạch trợ giúp thân chủ
33 MỤC LỤC Mục lục
1 PHẦN MỞ ĐẦU
3 • Lý do chọn vấn đề can thiệp
• Lịch sử vấn đề can thiệp
• Mục tiêu và nhiện vụ can thiệp
• Mục tiêu can thiệp
• Nhiện vụ can thiệp
• Đối tượng và phạm vi can thiệp
• Đối tượng can thiệp
• Phạm vi can thiệp
• Phương pháp can thiệp
• Phương pháp luận
• Phương pháp phân tích tài liệu có sẵn
• Phương pháp quan sát
• Phương pháp vấn đàm
Trang 3• Phương pháp thực hành
• Bố cục báo cáo
• PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
• Cơ sở lý luận
• Các khái niệm
• Phụ nữ nghèo đơn thân
• Nghèo đói
• Công tác xã hội cá nhân
• Lý thuyết ứng dụng trong can thiệp
• Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow
• Lý thuyết phân tầng xã hội của Karl Marx
• Lý thuyết phân tầng xã hội của Marx Weber
• Cơ sở pháp lý
• Vài nét về xã Lũng Phìn – huyện Đồng Văn – Hà Giang
• Khái quát về xã Lũng Phìn
• Khó khăn thuận lợi của xã trong quá trình thực tế
CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG CAN THIỆP
2.1 Kế hoạnh thực hành
2.2 Khái quát về thân chủ
2.3 Tiến trình CTXH với phụ nữ nghèo đơn thân tại xã Lũng Phìn – huyện Đồng Văn – tỉnh Hà Giang
2.4 Đánh giá khả năng vận dụng kiến thức đã học vào quá trình thực tế
Trang 42.4.1 Môn nhập môn công tác xã hội
2.4.2 Môn công tác xã hội với cá nhân
2.4.3 Tâm lí học xã hội và tâm lí học phát tâm lí học phát triển
2.4.4 An sinh xã hội
2.4.5 Hành vi con người và môi trường xã hội
PHẦN KẾT LUẬN
PHỤ LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU • Lý do chọn vấn đề can thiệp Nghèo đói là một trong những vấn đê lớn của thế giơi hiện nay Nghèo đói là một vấn đề mới xuất hiện mà là vấn đề đã xuất hiện từ khi có con người,có giai cấp nhà nước Do vậy khi xã hội càng phát triển vấn đề xóa đói giảm nghèo ngày càng được chú trọng và làm đau đầu các nhà chức trách, đòi hỏi phải được giải quyết để phát triển xã hội, phát triển đất nước Nghèo đói không chỉ tồn tại ở một hay một só quốc gia mà tồn tại ở hầu hết tất cả các quốc gia, ngay cả các nước phát triển bậc nhất trên thế giới như Anh, Mỹ, Trung Quốc hay Pháp
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, nhiều loại địa hình cấu thành và đang trên đàng phát triển do vậy đói nghèo là không tránh khỏi Do vậy XĐGN là một trong những vấn đề được Đảng và Nhà nước ta quan tâm hàng đầu nhằn cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người dân.
Mặc dù Đảng ta đã thực hiện nhiều biện pháp để XĐGN và đưa nhiều chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN vào thực thi trong các giai đoạn
Trang 5khác nhau nhưng tỉ lệ nghèo đói vẫn ở mức cao Theo số liệu năm 2014 thì tỉ
lệ nghèo vẫn còn ở con số 5,8 – 6% và năm 2015 đang hướng tới tới giảm xuống còn 5% Tỉ lệ nghèo đói còn ở mức cao là do công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, trình độ dân trí thấp đặc biệt là ở nông thôn, vùng sâu vùng xa… XĐNG còn chưa bền vững.
Một trong những đối tượng dễ rơi vào hoàn cảnh nghèo đói đó phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ ở vùng nông thôn vùng sâu vùng xa vùng đặc biệt khó khăn Phụ nữ nghèo là những đối tượng dễ tổn thương và chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống, phụ nữ nghèo ở nông thôn cũng là nhóm xã hội có học vấn thấp, nhận thức còn hạn chế, gặp nhiều trở ngại trong đời sống vật chất
và tinh thần Ở vùng nông thôn phụ nữ nghèo chủ yếu là lao động chân tay, ít
có cơ hội tiếp cận với khoa học kĩ thuật; trong gia đình phụ nữ là người thiếu quyền quyết định, do vậy những người phụ nữ làm chủ sẽ thiếu lập trường và sự kiên quyết Phụ nữ nghèo không chỉ thiếu thốn về mặt vật chất
mà còn thiếu thốn về mặt tinh thần Sự nghèo đói đã khiến họ không có đủ điều kiện để chăn sóc bản thân, gia đình; không thể thăm gia vào các họa động chính trị xã hội Đó là những lí do khiến xã hội quan tâm và tìm cách khắc phụ.
Với tôi là một sinh viên ngành CTXH sự quan tâm tìm hiểu với vấn đề này là cần thiết Tôi là người con của đất nghèo vùng sâu vùng xa nên tôi cũng phần nào thấu hiểu được cuộc sống của người dân nơi đây Xã Lũng Phìn của huyện Đồng Văn – tỉnh Hà Giang cũng thuộc một xã nghèo có nhiều khó khan; do vậy cuộc sống của người dân nơi đây luôn gặp nhiều chắc trở, đặc biệt là phụ nữ, những hộ do phụ nữ làm chủ Chính quyền địa phương đã thực hiện nhiều chính sách XĐGN tích cực nhưng tỉ lệ hộ thoát nghèo còn ở mức rất thấp Qua sự tìm hiểu cũng như sự chia sẻ của cán bộ xã thì một trong những hộ khó thoát nghèo nhất chính là những hộ do phụ nữ làm chủ;
do vậy vấn đề này đã gây sự chú ý đặc biệt đối với tôi Với mong muốn có thể tìm ra giải pháp để nâng cao đời sống cho phụ nữ nghéo ở xã Lũng Phìn nên
tôi quyết định chọn vấn đề “Công tác xã hội với phụ nữ nghèo đơn thân tại xã Lũng Phìn – huyện Đồng Văn – tỉnh Hà Giang”.
• Lịch sử vấn đề can thiệp
XĐGN là một trongn những vấn đề đang được toàn thế giới quan tâm từ
Trang 6các tổ chức chính phủ đến các tổ chức phi chính phủ và các liên nghành khác nhau… Trên bình diện toàn cầu, Liên hợp quốc xác định XĐGN là một trong những nhiện vụ trọng yếu trong các mục tiêu phát triển thiện niên kỉ Trong phạm vi quốc gia, Đảng và Nhà nước ta cũng xác định XĐGN là một trong những hành động được ưu ái nhất Đồng thời chủ đề nghèo đói cũng trở thành một chủ đề nghiên cứu gây được nhiều sự chú ý trong xã hội.
Nói đến XĐGN Việt Nam đã có rất công trình nghiên cứu, luận văn….như: Nghiên cứu “ Giảm nghèo trong nông thôn hiện nay” của tác giả Nguyễn Văn Tiến nội dung của nghiên cứu chú trọng đến những cách thức, những mô hình xóa đói giảm nghèo ở vùng nông thôn Việt Nam giai đoạn 2010-2015 Nghiên cứu “ Đói nghèo ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Hằng, tác giả
đã nêu lên thực trạng đói nghèo ở Việt Nam, nguyên nhân và một số giải pháp
cụ thể cho xóa đói giảm nghèo.
Các công trình nghiên cứu vĩ mô đề cập khá chi tiết đến yếu tố phân tầng
xã hội ở Việt Nam như “ Báo cáo tình trạng nghèo đói và công bằng ở Việt Nam” của tổ chức Oxfam năm 1999 Nghiên cứu này đề cập đến tình trạng đói nghèo ở Việt Nam với số liệu thống kê cụ thể và sự phân hóa giàu nghèo ở các khu vực Luận văn chuyên ngành xã hội học của tác giả Đặng Đỗ Quyên với đề tài “ Đặc trưng kinh tế và xã hội của hộ nghèo tại tĩnh Bắc Cạn” năm 2006 với những nội dung chủ yếu là phân tích các đặc trưng kinh tế và xã hội của hộ nghèo nhằm nhận diện hộ nghèo theo chuẩn mới, chỉ ra mối liên hệ của các đặc trưng kinh tế- xã hội với tình trạng và mức độ nghèo đói của họ đồng thời tìm hiểu những kiến thức và nhu cầu cần được trợ giúp của hộ nghèo Từ đó đưa ra những dự báo về xu hướng biến đổi đặc trưng kinh tế và xã hội của hộ nghèo và bước đầu đề xuất một số kiến nghị
Nói về vấn đề nghèo đói ở phụ nữ có các công trình nghiên cứu như:
Một đề tài khác thuộc nhóm này là “Vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế ở đồng bằng sông Hồng”do trung tâm nghiên cứu khoa học về Phụ nữ và Gia đình cũng đã tiến hành năm 2006 Bên cạnh vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế XĐGN nghiên cứu cũng đã đề cập đến vai trò của các đoàn thể chính trị - xã hội như Hội LHPN, Hội nông dân,… trong phát triển kinh tế - xã hội, nói chung và phong trào giảm nghèo nói riêng.
Luận văn thạc sỹ chuyên ngành xã hội học của tác giả Đặng Đỗ Quyên về
đề tài: “Đặc trưng kinh tế và xã hội của hộ nghèo tại tỉnh Bắc Cạn” năm 2006 với
Trang 7những nội dung chủ yếu là: phân tích các đặc trưng kinh tế và xã hội cả hộ nghèo nhằm nhận diện hộ nghèo theo chuẩn mới; chỉ ra mối liên hệ của các đặc trưng kinh tế xã hội với tình trạng và mức độ nghèo đói của họ đồng thời tìm hiểu những khó khăn và nhu cầu cần được trợ giúp của hộ nghèo Từ đó, đưa ra những dự báo
về xu hướng biến đổi đặc trưng kinh tế - xã hội của hộ nghèo và bước đầu đề xuất một số kiến nghị và giải pháp.
Luận văn thạc sĩ của tác giả Hà Thị Thu Hòa vơi đề tài“ Hoạt động giảm nghèo đối với phụ nữ nghèo tại ngoại thành Hà Nội ( Nghiên cứu tại thôn Cổ Nhuế và Xuân Phương huyện từ Liêm thành phố Hà Nội)” Nghiên cứu làm rõ nguyên nhân dẫn đến hiện tượng nghèo đói của nhóm phụ nữ nghèo và các chiến lược hiện đang được sử dụng với tư cách là tác nhân đầy tích cực để thoát nghèo Làm rõ xu hướng hành vi tìm cơ hội thoát nghèo của họ và khẳng đinh vai trò của hội phụ nữ trong việc triển khai các chính sách xóa đói giảm nghèo Ngoài ra còn có rất nhiều công trình nguyên cứu khác nói về vấn đề đói nghèo của nhân dân cũng như về vấn đề đói nghèo của phụ nữ ở khắp cả nước Tuy nhiên, ở quê hương tôi chưa có một công trình nào được các nhà nghiên cứu thực hiện trong khi đó đây lại là một vùng vô cùng khó khăn, chính vì vậy
tôi đã quyết định chọn đề tài “ Công tác xã hội với phụ nữ nghèo đơn thân
tại xã Lũng Phìn – huyện Đồng Văn – tỉnh Hà Giang”.
• Mục tiêu và nhiện vụ can thiệp
• Mục tiêu can thiệp
• Tiếp cận được với đối tượng cần làm việc.
• Tìm hiểu thông tin về TC, tìm hiểu về hoàn cảnh gia đình, tâm tư tình cảm của TC.
• Cùng TC tìm ra những vấn đề mà TC đang gặp phải để cùng TC lập kế hoạch, tìm phương pháp giải quyết.
• Hỗ trợ TC nâng cao khả năng đối mặt với các vấn đề xấu trong cuộc sống.
• Cùng TC tìm ra năng lực tiềm ẩn của họ, phát huy điểm mạnh, hạn chế mặt yếu.
• Giúp TC đương đầu với những khó khăn mà họ đang gặp phải.
Trang 8• Hướng dẫn TC thực hiện những kế hoạch mà NVXH và TC vừa lập ra.
3.2 Nhiện vụ can thiệp
- Thực hiện đúng quy điều đạo đức trong nghề CTXH, làm việc đúng nguyên tắc.
- Chấp hành tốt quy định của nhà trường của khoa chủ quản đối với sinh viên, chấp hành tốt quy định tại cơ sở thực tế.
- Tiếp cận thân chủ tạo mối quan hệ thân thiện với TC và cán bộ cơ sở.
- Tích cực quan tâm giúp đỡ TC; lôi kéo TC vào quá trình tìm hiểu vấn đề và giải quyết vấn đề của TC.
- Hoàn thành báo cáo và nộp đúng thời hạn.
4 Đối tượng và phạm vi can thiệp
4.1 Đối tượng can thiệp
- Đối tượng: Tiến trình CTXHCN lập kế hoạch hộ trợ một phụ nữ nghèo đơn than ở xã Lũng Phìn – huyện Đồng Văn – tỉnh Hà Giang.
- Khách thể: Chị Vàng Thị L – một phụ nữ nghèo đơn than ở xóm Tống – xã Lũng Phìn - huyện Đồng Văn - tinh Hà Giang.
4.2 Phạm vi can thiệp
- Không gian: Được tiến hành tại xóm Tống – xã Lũng Phìn - huyện Đồng Văn - tinh Hà Giang.
- Thời gian: Ngày 25/6 – 24/7/2015.
5 Phương pháp can thiệp
Trang 9cộng đồng Đặc biệt, trong bối cảnh thực tế hoạt động giảm nghèo cho phụ nữ tại xã Lũng Phìn cần phải được xem xét nghiên cứu và thực hiện trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay đang có nhiều biến chuyển hết sức phức tạp và những sự biến động đó đã tác động ở những mức độ khác nhau đến hoạt động này.
5.2 Phương pháp phân tích tài liệu có sẵn
Nghiên cứu có sử dụng những thông tin từ những nguồn tài liệu có sẵn dựa trên nguồn số liệu của cuộc khảo sát xác định hộ nghèo theo chuẩn mới (Danh sách hộ nghèo năm 2014, danh sách các khẩu được hưởng chính sách hỗ trợ trực tiếp… lập ngày 3/12/2014 của UBND xã Lũng Phìn), các báo cáo kinh
tế chính trị của xã năm 2014…để làm tư liệu trong quá trình thực tế
5.3 Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát được sử dụng nhằm mục đích thu thập những thông tin thực nghiệm cho nghiên cứu Thông qua quan sát, NVXH có thể thấy được những khó khăn trong cuộc sống của phụ nữ nghèo để có những định hướng chính xác hơn trong việc hỗ trợ họ Cụ thể, tôi đã tiến hành quan sát một
số khía cạnh sau:
• Quan sát hoàn cảnh gia đình: cơ sở vật chất như nhà ở, các vật dụng trong nhà, chuồng trại…
• Quan sát thái độ của thân chủ thông qua giao tiếp.
• Quan sát hành vi của thân chủ thông qua chăm sóc con cái và qua những công việc mà thân chủ thực hiện.
5.4 Phương pháp vấn đàm
Trong quá trình thực tế tôi đã sử dụng phương pháp vấn đàm nhằm mục đích tìm hiểu sâu hơn về vấn đề, nhu cầu của thân chủ, thăm dò, phát hiện tìm hiểu những chính sách và biện pháp mà chính quyền đã triển khai trong hỗ trợ phụ nữ nghèo tại địa phương.
Trong quá trình thực tế tôi đã tiến hành 3 lần vấn đàm với thân chủ Mục đích của các cuộc vấn đàm nhằm thu thập những thông tin về những thực trạng, nguyên nhân nghèo hiện tại, nhận thức của họ về cách thức vươn lên thoát nghèo, những khó khăn của họ trong quá trình giảm nghèo, những nguyện vọng và mong muốn của họ… những thông tin này sẽ là căn cứ
để xác định vấn đề của thân chủ và tìm hướng khắc phục.
5.5 Phương pháp thực hành: phương pháp CTXH cá nhân
Tiến trình công tác xã hội cá nhân.
Tiến trình CTXH Cá nhân là một chuỗi hoạt động tương tác giữa NVXH với
Trang 10thân chủ để giải quyết vấn đề Trong quá trình này, thông qua mối quan hệ tương giao giữa NVXH với thân chủ, NVXH dùng chính các quan điểm, giá trị, kiến thức chuyên môn và kĩ năng của mình để giúp thân chủ hiểu rõ vấn đề của mình đồng thời khích lệ họ biểu đạt tâm tư, nhu cầu, phát huy tiềm năng, tham gia tích cực vào quá trình giải quyết vấn đề, cải thiện điều kiện sống của mình.
Tiến trình CTXHCN là quá trình bao gồm các bước của các hoạt động do NVXH và đối tượng thực hiện để giải quyết vấn đề Đây là những bước chuyển tiếp theo thứ tự logic, nhưng trong quá trình giúp đỡ có những bước kéo dài suốt quá trình như thu thập dữ liệu, thẩm định và lượng giá Tiến trình CTXHCN gồm 7 bước như sau:
Bước 1: Tiếp cận đối tượng
Bước 7: Lượng giá và kết thúc
Tuy nhiên theo yêu cầu của bộ môn nên sinh viên chỉ dừng lại ở bước 4 là lập kế hoạch trợ giúp và hướng dẫn thân chủ thực hiện kế hoạch mà NVXH cùng thân chủ lập ra.
6 Bố cục bài báo cáo
Nộng dung bài báo cáo ngoài lời nói đầu, mục lục và phụ lục ra gồm ba phần chích như sau:
• Phần mở đầu
• Phần nội dung chính:
• Chương I: cơ sở lý luận thực tiễn
• Chương II: hoạt đông can thiệp
• Phần kết luận
Trang 11PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC TIỄN
• Cơ sở lý luận
• Các khái niệm
• Phụ nữ nghèo đơn thân
Phụ nữ nghèo đơn thân là những người có điều kiện kinh tế khó khăn, nuôi con một mình, không có chồng do mất hoặc ly hôn… Họ chủ yếu là những người lao động chân tay, có trình độ tay nghề thấp Họ là những người ít có cơ hội tiếp xúc với khoa học kĩ thuật, ngoài ra phụ nữ đơn thân còn là những người gặp khó khăn trong cuộc sống gia đình nhất là khi phải tự quyết trọng công việc Về mặt xã hội, họ là những người dễ bị tổn thương, chịu nhiều thiệt thòi, ít có cơ hội tham gia các hoạt động chính trị xã hội.
Chính vì vậy phự nữ nghèo đơn thân là những người gặp nhiều khó khăn trong xã hội cả về vật chất lẫn tinh thần; họ là những người ít hoặc không được tiếp xúc với các dịch vụ kinh tế - xã hội Do vậy đậy là một đối tượng đang cần đến sự giúp sức của xã hội.
• Nghèo đói
Xung quanh khái niệm nghèo đói vẫn còn nhiều luồng ý kiến khác nhau nói
về khá niệm này Trong mỗi quốc gia, mỗi vùng đều có những khái niệm khác nhau nhưng ở các khái niện đó có một số chỉ tiêu gần going nhau nói về nghèo
đó và dó là những chỉ tiêu chính để xác định.
Để giúp các nước chống lại sự đói nghèo, từ ngày 15 đến ngày 17/9/1993 tại Băng Cốc (Thái Lan) đã diễn ra hội nghị giảm nghèo đói ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức, các nhà nghiên cứu và chuyên gia hoạch định chính sách đã đưa ra khái niệm, định nghĩa đói nghèo như sau:
“Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà nhưng nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương”.
Đây được cho là khái niệm chung nhất và được nhiều quốc gia sử dụng nhất.
Khái niệm liên quan:
Xóa đói giảm nghèo là tổng thể các biện pháp chính sách của nhà nước và
xã hội hoặc của chính những đối tượng thuộc diện nghèo đói nhằn tạo điều kiện
Trang 12để họ có thể tăng thu nhập, thoát khỏi tình trạng thu nhập không đáp ứng được nhu cầu tối thiểu trên cơ sở chuẩn nghèo được quy định theo từng địa phương, từng khu vực của quốc gia.
• Công tác xã hội cá nhân
CTXHCN là phương pháp can thiệp đầu tiên của CTXH, bắt đầu hình thành vào cuối những năm 1800 Nó là một cách thức, quá trình nghiệp vụ mà NVXH sử dụng các kỹ năng, kiến thức chuyên môn để giúp đối tượng phát huy tiềm năng, tham gia tích cực vào quá trình giải quyết vấn đề, cải thiện điều kiện sống của mình.
CTXHCN là phương pháp giúp đỡ từng cá nhân con người thông qua mối quan hệ với NVXH CTXHCN được các NVXH chuyên nghiệp sử dụng trong các
cơ sở xã hội hoặc trong các tổ chức CTXH để giúp những người có vấn đề về thực hiện các chức năng xã hội Công cụ chủ yếu trong CTXHCN là mối tương giao giữa NVXH và cá nhân để giúp họ hiểu rõ vấn đề của chính mình Đồng thời khích lệ họ biểu đạt tâm tư, nhu cầu để qua đó NVXH hiểu được vấn đề của đối tượng và tiến hành các hoạt động giúp đỡ.
Nói cách khác, CTXHCN nhằm phục hồi, củng cố và phát triển sự thực thi bình thường của các chức năng xã hội của cá nhân và gia đình trong bối cảnh
xã hội mà vấn đề của họ đang diễn ra và bị tác động Trong phương pháp này đối tượng tác động là bản thân người được giúp đỡ còn công cụ tác động là mối quan hệ giữa NVXH và đối tượng.
• Lý thuyết ứng dụng trong can thiệp
• Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow
Abraham Maslow (1908 - 1970) là nhà tâm lý học người Mỹ Ông được thế giới biết đến như là người tiên phong cho trường phái tâm lý học nhân văn (Humanistic psychology) - một trường phái nhấn mạnh những giá trị, sự tự do, sáng tạo, khuynh hướng tự chủ, những kinh nghiệm của con người - bởi hệ thống lý thuyết về “thang bậc nhu cầu” (Hierarchy of Needs) của con người Ông cho rằng, con người cần được đáp ứng những nhu cầu cơ bản để tồn tại và phát triển đó là nhu cầu thể chất, nhu cầu an toàn, nhu cầu tình cảm xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu được hoàn thiện Các nhu cầu này được sắp xếp theo thứ tự thang bậc từ nhu cầu cơ bản nhất, có vị trí nền tảng nhất đến nhu cầu cao hơn Vì vậy, lý thuyết nhu cầu còn được gọi là bậc thang nhu cầu Trong cách tiếp cận của ông con người thường có xu hướng thỏa mãn
Trang 13trước tiên những nhu cầu quan trọng nhất ở vị trí bậc thang đầu tiên rồi sau đó mới hướng tới thỏa mãn những nhu cầu cao hơn.
Có thể mô hình hóa bậc thang nhu cầu của A Maslow như sau:
Nhu cầu thể chất sinh lý:
Đó là nhu cầu về thức ăn, nước uống, không khí, tình dục… Ông cho rằng đây là những nhu cầu cơ bản nhất để con người có thể tồn tại và duy trì sự sống của bản thân vì vậy nó là một nhu cầu cần được đáp ứng trước tiên
Nhu cầu về an toàn:
Con người cần có một môi trường sống an toàn, đảm bảo về an ninh để tính mạng của họ được đảm bảo Họ có nhu cầu tránh sự nguy hiểm, đe dọa từ môi trường không ổn định và đầy nỗi sợ hãi
Nhu cầu tình cảm xã hội:
Đây là nhu cầu thuộc về nhóm xã hội của con người, là sự mong muốn nhận được sự quan tâm của các thành viên trong nhóm xã hội Con người cần có gia đình, cần tới trường để học tập và vui chơi trong nhóm bạn bè cùng lớp, cần được tham gia vào nhiều nhóm trong xã hội Trong các nhóm xã hội thì gia đình
là nhóm xã hội đặc thù, cơ bản nhất của con người
Nhu cầu được tôn trọng
Khi con người bắt đầu thỏa mãn nhu cầu được chấp nhận là thành viên trong xã hội thì họ có xu thế tự trọng và muốn được người khác tôn trọng, họ cần được bình đẳng, được lắng nghe và không bị coi thường, dù họ là ai, trẻ em hay người tàn tật, người giàu hay người nghèo.
Nhu cầu hoàn thiện
Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp của ông Đó là nhu cầu được đến trường, được nghiên cứu, lao động sáng tạo…để phát triển một cách toàn diện
Dựa trên thang nhu cầu của Maslow, NVCTXH áp dụng vào đề tài nhằm xác định, đánh giá những nhu cầu thực tế của thân chủ, để xem họ đang ở bậc thang nhu cầu nào từ đó có biện pháp can thiệp phù hợp, kịp thời, mang lại hiệu quả cao.
• Lý thuyết phân tầng xã hội của Karl Marx (1818- 1883)
Karl Marx là nhà triết học và kinh tế học Đức, nhà lý luận của phong
trào công nhân thế giới, nhà sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa cộng sản khoa học.
Theo tập thể các tác giả cuốn Nhập môn xã hội học (Tony Bilton và
Trang 14cộng sự) - một cuốn sách giáo khoa tốt nhất, tổng hợp nhất và có giá trị nổi bật, thì “Marx đã cung cấp cho xã hội học và chính trị học hiện đại một trong những tiếp cận lý thuyết phân tầng bao quát mạnh mẽ nhất Cũng lúc đó, cách giải thích về xã hội của ông là một cách giải thích bị tranh luận gay gắt nhất trong mọi học thuyết xã hội, bởi vì nó không chỉ là lý thuyết xã hội học, mà cũng là một triết lý về con người và mộ cương lĩnh cho sự thay đổi cách mạng trong xã hội…Các nhà xã hội học khác nhau đã chấp nhận những quan điểm khác nhau
đó, những người khác thì ở lưng chừng, nhưng điều chắc chắn là bất cứ lý thuyết phân tầng nào đều vay mượn của Marx cách lý giải về giai cấp… Với Marx mối quan hệ giai cấp là chìa khóa mọi mặt của xã hội”[43,56].
Marx cho rằng, sản xuất của cải vật chất là hoạt động trước tiên của con người và nó phải đến trước mọi hoạt động khác Chừng nào mà xã hội có thể sản xuất nhiều hơn nhu cầu tối thiểu để sinh sống thì giai cấp mới có thể xuất hiện Bất cứ xã hội có giai cấp nào đều xây dựng trên mối quan hệ giữa những người bóc lột - kẻ bị bóc lột.
Lịch sử xã hội “văn minh” theo Marx là lịch sử của những hình thức khác nhau về sự bóc lột và thống trị giai cấp Theo ông: “Mọi xã hội đều bao hàm sự bóc lột giai cấp trên cơ sở những quan hệ sản xuất, chính cái này mà Marx gọi là phương thức sản xuất Chìa khóa để tìm hiểu một xã hội nhất định
là khám phá ra trong đó phương thức sản xuất nào chiếm ưu thế Tiếp đó chúng ta biết được mô hình cơ bản của những mối quan hệ xã hội và chính trị
và có thể đánh ra xung đột và những tiềm năng thay đổi nào đã được gắn bó với xã hội” [43,57].
Thật ra, Marx không đưa ra một chỉ dẫn riêng về các nhân tố dẫn đến phân tầng xã hội, nhưng qua tác phẩm tiêu biểu của ông - từ Bản thảo kinh tế- triết học 1844 đến Tuyên ngôn Cộng sản, từ Phê phán khoa học chính trị kinh tế đến bộ Tư bản đồ sộ, ta có thể thấy trong quan niệm của Marx, sự phân chia cốt
yếu giữa các giai cấp trong một xã hội nhất định đều bắt nguồn từ quyền sở hữu tài sản đối với các phương tiện sản xuất
Trong xã hội phong kiến, lãnh chúa có quyền thu lấy toàn bộ tài sản thặng dư do nông dân sản xuất ra trên mảnh đất thuộc quyền sở hữu của lãnh chúa Trong xã hội tư bản, nhà tư bản có quyền chỉ huy lao động và chiếm hữu phần thặng dư do công nhân tạo ra Theo Marx, nhà tư sản có quyền đó “Không
Trang 15phải nhờ những phẩm chất cá nhân hay những phẩm chất con người của hắn,
mà chỉ có được với tư cách là người sở hữu tư bản [14, 89]
Như vậy, nêu bật nhân tố hàng đầu của phân tầng xã hội là quyền sở hữu tài sản Marx (và cả F Engel) còn lưu ý đến yếu tố phân công lao động xã hội
mà bản thân nhân tố này lại có mối quan hệ tác động qua lại với lực lượng sản xuất xã hội và do đó với quyền sở hữu tài sản.
Điều đó giải thích tại sao trong khi phân tích hai giai cấp chủ yếu trong
xã hội là tư sản vô sản vào thời đại của mình, ông không hề bỏ qua các giai tầng
xã hội khác như: giai cấp nông dân, giai cấp địa chủ, những người sản xuất nhỏ, tầng lớp tăng lữ, tầng lớp tri thức xuất thân từ các giai cấp khác nhau; tầng lớp công nhân “quý tộc”, tầng lớp vô sản “lưu manh” trong bản thân giai cấp công nhân…[43, 108].
• Lý thuyết phân tầng xã hội của Marx Weber (1864- 1992)
Marx Weber là kinh tế học, nhà sử học đặc biệt ông còn được tôn vinh
là một nhà xã hội học bách khoa toàn thư.
Marx Weber cũng là một người Đức nhưng thuộc thế hệ hậu sinh của Marx, ông đã đưa ra lý thuyết phân tầng của mình, trong đó vừa có điểm “vay mượn” của Marx vừa có những điểm phát triển thêm.
Ý kiến của Weber khác với Marx theo nhiều cách Ông bác bỏ mục đích
và chính sách của các nhà xã hội chủ nghĩa Đức vì coi chủ nghĩa cộng sản là một Utopia không thể đạt tới Bao quát hơn, ông bác bỏ ý kiến cho rằng các nhà xã hội học có thể khái quát hóa các cấu trúc xã hội bằng cách sử dụng sự phân tích các phương thức sản xuất Với Weber, mỗi xã hội về mặt lịch sử, đều độc nhất và phức tạp
Mặc dù không tán thành mục tiêu chính trị của Marx, hơn nữa ông còn phê phán, bác bỏ quan niệm của Marx cho rằng những quan hệ kinh tế luôn luôn là yếu tố giải thích cấu trúc xã hội và động lực đầu tiên của sự thay đổi xã hội Ông tin rằng những tư tưởng tôn giáo có một ảnh hưởng độc về mặt lịch sử
và rằng lĩnh vực chính trị thường là lực lượng kiểm soát cốt yếu trong những thay đổi xã hội song khi bàn đến cơ cấu xã hội dưới chủ nghĩa tư bản, Weber cũng phải thừa nhận rằng chính những quan hệ kinh tế đã tạo nên cơ sở của sự bất bình đẳng, tức là tạo tiền đề và điều kiện cho sự phân chia xã hội thành các giai cấp khác nhau Chỉ có điều “Weber nhấn mạnh tầm quan trọng của thị trường như là cơ sở kinh tế cho giai cấp hơn là tài sản Với ông nguyên nhân
Trang 16đầu tiên của bất bình đẳng trong chủ nghĩa tư bản là khả năng thị trường - đấy
là những kỹ năng mà người làm thuê mang ra thị trường lao động Những khác biệt trong phần thưởng giữa các nghề nghiệp kết quả từ kỹ năng hiếm hoi mà nhóm nghề nghiệp cần giữ Nếu kỹ năng được quá cầu thì tiền thưởng sẽ cao” [43, 65] Và người có điều kiện để thuê những kỹ năng ấy không ai khác ngoài những người nắm giữ, sở hữu tài sản trong tay.
Weber còn đưa ra khái niệm “cơ may đời sống”, thuật ngữ này dùng để chỉ tất cả các phần thưởng và lợi thế nào do khả năng thị trường đem đến Những cơ may đời sống bao gồm thu nhập, bảo hiểm, phụ cấp,… Bởi vậy, chúng
ta có thể phân biệt những nhóm có khả năng thị trường tương tự và những nhóm này có thể gọi là giai cấp.
Như vậy, chúng ta có thể thấy chúng ta có thể thấy rằng Weber đồng ý với Marx là những nét kinh tế cốt yếu của chủ nghĩa tư bản là quyền sở hữu các phương tiện sản xuất và những thị trường cho hàng hóa và lao động Sự khác biệt cốt yếu là Marx nhấn mạnh yếu tố kinh tế còn Weber nhấn mạnh yếu tố phi kinh tế
Nếu có những điểm mới trong lý thuyết phân tầng của Weber thì những điểm đó được thể hiện chủ yếu trong tiểu luận “Giai cấp, địa vị và đảng” Ở tác phẩm này, Weber cho rằng sự bất bình đẳng trong xã hội có thể không dựa trên
cơ sở những mối quan hệ kinh tế, nhưng lại dựa trên uy tín hay quyền lực chính trực được huy động thông qua một đảng Ngoài ra, theo Weber, trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, giai cấp lao động có thể phân chia thành từng tầng lớp: có kỹ năng, bán kỹ năng và không có kỹ năng, mà các kỹ năng này thực chất
là trình độ học vấn và tay nghề - lại đưa đến sự khác biệt về cơ may đời sống thể hiện ở mức thu nhập, phụ cấp, tiền thưởng…
Tuy nhiên, khi đánh giá học thuyết của Weber thì có một số vấn đề trong sự giải thích của ông: không thể có tiêu chuẩn để phân chia lực lượng – lao động thành giai cấp và phân tầng Nói một cách khác, sự phân tích của Weber về khả năng thị trường sẽ đặt mỗi cá nhân vào một giai cấp riêng rẽ Một cách quan trọng hơn, những tiếp cận của Weber có xu hướng tập trung vào công việc, coi nhẹ của cải như một yếu tố cốt yếu trong cấu trúc giai cấp.
Từ các lý thuyết phân tầng của Marx và Weber, xã hội học hiện đại đã rút ra ba nhân tố cơ bản dẫn đến sự phân chia xã hội thành các giai cấp và tầng lớp là: Sở hữu tài sản; trí tuệ; quyền lực
Như vậy, cả Marx và Weber đều coi xã hội phương Tây là xã hội tư bản
và cả hai đều thống nhất là những nét phân biệt cốt yếu của điều đó là sự sở hữu
Trang 17tư nhân về các tài sản sản xuất và một thị trường lao động Chính vì lẽ đó mà tập thể tác giả cuốn nhập môn xã hội học đã đưa ra kết luận rằng những tư tưởng của Marx và Weber có thể phối hợp một phần để tạo nên mô hình ba giai cấp chính trong xã hội tư bản hiện đại Tầng lớp trên ít ỏi gồm những ai nắm được tư liệu sản xuất Giai cấp này trùng với giai cấp tư sản của Marx Tuy nhiên, những người không sở hữu các tài sản sản xuất không thể được mô tả tất thảy như là vô sản Người nghèo theo lý thuyết phân tầng không chỉ bị rơi xuống tầng đáy của thang bậc phân tầng xã hội mà gần như ở ngoài lề của hệ thống thứ bậc đó Lớp nghèo bị coi là giai cấp dưới trong hệ thống phân tầng, có địa vị xã hội thấp kém, không có quyền lực, uy tín, không sở hữu của cải và ở bên lề thị trường lao động
Trong phạm vi nghiên cứu này sẽ vận dụng lý thuyết phân tầng của K Marx và M.Weber về quyền sở hữu tài sản, phân công lao động, khả năng thị trường lao động, cơ may đời sống, uy tín xã hội… để phân tích và thấy rõ những đặc trưng của người nghèo từ đó đưa ra các giải pháp tích cực để xây dụng mô hình giảm nghèo hiệu quả, nhanh chóng rút ngắn ranh giới của sự giàu - nghèo trong xã hội, hạn chế sự bất bình đẳng trong xã hội bởi mỗi người trong xã hội đều có những vai trò, những vị thế nhất định.
• Cở sở pháp lý
Ngay từ khi nước ta mới dành được độc lập (1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã dành sự quan tâm sâu sắc đến việc chăm lo đời sống cho những người lao động nghèo khổ Người coi đói nghèo là một thứ “giặc” và đặt nó lên hàng đầu Người kêu gọi Chính phủ và toàn dân chống lại giặc đói với lý do: “Chúng ta dành được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì độc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ…” Tư tưởng của Hồ Chí Minh là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta về XĐGN nhất là trong thời kỳ mới.
Qua các kì Đại hội Đảng và nhà nước đều có nhưng phương hướng để giải quyết
và khắc phụ như : Nghị quyết về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo năm 2008; Nghị quyết về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo thời kì 2011 – 2020…
Trong xã hội ngày nay nhóm xã hội phải chịu cảnh nghèo đói cũng như thiệt thòi nhiều nhất là trẻ em và phụ nữ, trong đói phụ nữ không chỉ dễ rơi vào nhóm yếu thế mà còn chịu nhiều thiệt thòi Để đảm bảo quyền lợi của người phụ
nữ Đảng và Nhà nước đã ban hành các luật như: Luât hôn nhân gia đình, Luật bình đẳng giới, Luật lao động, Luật bảo hiểm xã hội…
Từ khi đất nước mới giành độc lập Hồ Chủ tịch đã chú trong đến quyền con
Trang 18người, đòi hỏi mọi người phải có quyền ngang nhau, do vậy nước ta đã lập
ra Hiếm pháp và pháp luật để đảm bảo cho quyền con người Trong đó có quyền của phụ nữ như Hiếm pháp năm 1946; Hiến pháp năm 1959 Điều 24 quy định: “Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia
đình’’…. Còn về chính sách hỗ trợ Nghị định 67/CP năm 2007,của thủ tướng chính phủ “về chính sách trợ giúp các đói tượng bảo trợ xã hội “trong đó có đốitượng là người phụ nữ nghèo đơn thân, trợ cấp cho con dưới 18 tuổi
140.000đ/người/tháng”
Đây là một trong những quyền lợi của người phụ nữ nhưng có nhiều người còn chưa được biết đến nên rất cần đến sự quan tâm của người có trach nhiện và NVXH cũng là một trong những người có thể mang tới để phổ biến cho họ.
Địa hình của xã chủ yếu là đồi núi đá, chỉ có ít đất xen kẽ các khe núi tạo thành các thung lũng nhỏ để có thể trồng ngô Điều kiện giao thông đi lại khó khăn Đời sống kinh tế của người dân ở đây gặp rất nhiều khó khăn do địa hình chia cắt, đất đai kém dinh dưỡng, không phù hợp cho phát triển dịch vụ kinh tế giao thông.
Xã lũng phìn chỉ có dân tộc Mông và Dao là hai dân tộc bản địa trong đó dân tộc Mông chiến đa số Còn các dân tộc khác như Hoa, tày, kinh là những dân tộc di cư từ nơi khác đến với số lượng ít hơn.
Về cơ sở hạ tầng: xã có 11 xóm, 3 trường học (1 trường mầ non, 1 tiểu học
cơ sở, 1 trung học cơ sở), 1 trạm xá.
Về chính trị: đây là một xã ổn định về chính trị, không xảy ra các vụ lừa gạt, trộn cướp Vì vậy nhân dân yên tâm làm ăn sinh sống.
Trang 19Trong những năm gần đây xã đã có nhiều chích sách quan tâm và cải thiện đời sống các hộ nghèo ở đây nhưng kết qua chưa được như mong muốn Xã cần
có những chính sách phát triển bền vững hơn nữa trong việc XĐGN tại địa phương.
• Khó khăn thuận lợi của xã
• Đối với thân chủ:
Khó khăn: Khí hậu hai mùa mưa và khô rõ rệt nên khó khăn trong việc trồng trọt, chỉ được một vụ ngô do vậy không đủ ăn quanh năm mà thân chủ phải đi làm thuê nơi khác Giao thông đi lại khó khăn nên việc đi lại để mua bán cũng gặp nhiều trắc trở Cán bộ địa phương chưa thực sự quan tâm đến việc giúp đỡ thân chủ.
Thuận lơi: chính trị ổn định nên chị có thể yên tâm đi lại để làm tìn kiếm thu nhập.
• Đối với sinh viên thực tế:
Khó khăn: giao thông đi lại khó khăn, cán bộ địa phương chưa thực sự quan tâm đến đời sống của nhân dân, thận chí số hộ do phụ nữ làm chủ còn có
sự sai sót Trình độ chuyên môn của cán bộ ở đây còn thấp…
Thuận lợi: cán bộ ở đây nhiệt tình giúp đỡ, tạo thuận lợi tối đa cho tôi trong việc tiếp xúc thân chủ cũng như tìm hiển các chính sách ở đây…
CHƯƠNG II: HOẠT ĐỘNG CAN THIỆP
2.1 Kế hoạt thực hành
Bảng 2.1 bảng kế hoạch thực hành
Thời gian Nội dung cụ thể và mục tiêu công
việc Địa điểm Ghi chú
Buổi 1
Nội dung:
• Giới thiệu bản thân mình với thân chủ(tên, tuổi, trường học, nghành học), mục đích đến đây.
• Làm quen và trò chuyện cùng gia đình thân chủ cũng như
Tại nhà thân chủ
Đi vào thôn
và xin sự chỉ dẫn của cán
bộ thôn
Trang 20cán bộ thôn.
• Nói chuyện với thân chủ, tìm hiểu một số thông tin cá nhân về thân chủ và gia đình thân chủ.
Tại nhà thân chủ
• Giới thiệu với thân chủ một
số chính sách ưu đãi đối với người nghèo.
• Hướng dẫn thân chủ cách thực hiện bảng kế hoạch lập ra.
Mục tiêu:
Giúp thân chủ có sự tự tin vào khả năng của bản thân Giúp thân chủ
tự tìm đến các nguồn lực có thể giúp đỡ bản thân.
Tại nhà thân chủ
2.2 Khái quát về thân chủ
Chị L 40 tuổi sống ở thôn Túng Chúng Phìn – huyện Đồng Văn – Hà Giang.
Trang 21Chị L xây dựng gia đình cùng anh Giàng Sính Thà và sau nhiều năm chị có hai cậu con trai là Giàng Mí Lía sinh năm 2002 và Giàng Mí Chứ sinh năm 2002 Cuộc sống của gia đình rất nghèo khổ, hai vợ chồng chị phải lăn lộn kiến sống và nuôi hai con nhỏ thế nhưng gia đình vẫn hạnh phúc Đến năm 2011, anh Giàng Sính Thà đi làm ăn xa và không may mắn đã bị mất (thông tin từ những người
đi cùng) Chị phải một mình nuôi hai con nhỏ, nhà đã khó khăn nay lại càng thêm khó khăn Nhà chị chỉ trồng hơn 3kg ngô, do vậy không đủ để chị và các con trang trải cuộc sống vì vậy chị phải đi làm thuê kiến tiền để giúp cho cuộc sống gia đình đỡ thiếu thốn hơn Sống cuộc sống thiếu thốn, không đủ tiền lo cho hai con được như những gia đình khác chị rất tủi thân và mặc cảm.
Gia đình nghèo, thiếu thốn về vật chất nên chị không đủ điều kiện tham gia các hoạt động xã hội và chị mong muốn có một công việc ổn định để có thể lo cho hai con tốt hơn và cải thiện được cuộc sống hiện tại.
2.3 Tiến trình CTXH với phụ nữ nghèo đơn thân tại xã Lũng Phìn – huyện Đồng Văn – tỉnh Hà Giang
2.3.1 Bước 1: Tiếp cận thân chủ
Đây là bước rất quan trọng trong quá trình làm việc với thân chủ, mục đích của bước này là tạo lập mối quan hệ thân thiện với thân chủ, tạo sự tin tưởng với NVXH Do phụ nữ nghèo luôn có tâm lí tự mặc cảm, sống khép kím và NVXH là người trẻ tuổi do vậy việc tiếp cận và tạo sự tin tưởng của thân chủ vào NVXH không hề đơn giản, NVXH phải khéo léo thể hiện sự đồng cảm và chân thành mới tạo được sự tin tưởng từ thân chủ.
Một số thông tin về thân chủ:
Họ và tên: V.T.L 40 tuổi
Nghề nghiệp: làm nương
Thu nhập: 260/tháng
Chồng: Giàng Sính Thà (đã mất)
Con trai cả: Giàng Mí Lía 13 tuổi
Con trai thứ: giàng Mí Chứ 11 tuổi
Lần đầu tiên tiếp xúc chị L rất ngại, không muốn chia sẻ với NVXH nhưng qua trình bày về nguyên tắc, mục đích đối với một NVXH với thân chủ và với
Trang 22những kiến thức có được, sự thấu cảm về cuộc sống ở đây NVXH đã tạo cho chị
L sự tin tưởng vào NVXH và hứa sẽ giữ bí mật những thông tin của chị.
Sau đó chị đã dần tin tưởng vào NVXH, bằng chứng là chị đã cởi mở chia
sẻ hơn về hoàn cảnh cuộc sống của mình, cung cấp những thông tin bổ ích cho quá trình làm việc về sau.
Bằng kĩ năng quan sát và lắng nghe chia sẻ NVXH thấy chị là một người hiền lành, yêu thương con nhưng do hoàn cảnh gia đình quá khó khăn nên chị rất tự ti, mặc cảm khi gặp người lạ Nhưng với với tâm lòng chân thành muốn chia sẻ và giúp đỡ chị đã có sự thay đổi thái độ, sẵn sàng chia sẻ về cuộc sống của mình.
2.3.2 Bước 2: Xác định vấn đề
Qua quá trình tiếp xúc với thân chủ và bằng những thông tin thu thập được, những kĩ năng của ngành CTXH như: quan sát, lắng nghe, vấn đàm và một số thông tin từ chi hội phụ nữ trong thôi NVXH đã xác định được các vấn đề chị L đang gặp phải như sau:
• Vấn đề 1: Thân chủ gặp khó khăn về kinh tế.
• Vấn đề 2: Thân chủ luôn mặc cảm, tự ti về bản thân.
• Vấn đề 3: Thân chủ không được đảm bảo về mặt tinh thần.
Đây là những vấn đề mà thân chủ gặp phải, cũng là nguyên nhân dẫn đến
sự nghèo đói cho thân chủ cũng như bao người phụ nữ khác trên địa bàn xã Lũng Phìn Để có thể xác định được nguyên nhân dẫn đến nhưng vấn đề của thân chủ NVXH cần phải tìm hiểu thêm thông tin liên quan để làm rõ hơn.
2.3.3 Bước 3: Thu thập thông tin
Để làm rõ được nguyên nhân dẫn đến các vấn đề của thân chủ cần phải
có được những thông tin chính xác nhất ví đây là cơ sở để đưa ra phương pháp giả quyết tốt nhất các vấn đề Qua các lần trao đổi, nói chuyện cùng thân chủ NVXH hội đã phần nào nhận thấy sự tin tưởng của thân chủ vào mình, thân chủ không còn ngại khi chia sẻ về hoàn cảnh của mình nữa mà cởi mở hơn, sẵn sàng trả lời những câu hỏi mà NVXH đưa ra, sẵn sàng nhận sự giúp đỡ của NVXH trong một số công việc nhà Điều này tạo sự thuận lợi cho việc khai thác thông