1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LỊCH SỬ GIAI CẤP CÔNG NHÂN Ở ĐỒNG NAI

246 1,1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 246
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠNTrong quá trình nghiên cứu biên soạn đề tài Lịch sử giai cấp công nhân ở Đồng Nai, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến bổ ích của Hội đồng Khoa học công nghệ t

Trang 1

LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG TỈNH ĐỒNG NAI

LỊCH SỬ GIAI CẤP CÔNG NHÂN Ở ĐỒNG NAI

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu biên soạn đề tài Lịch sử giai cấp

công nhân ở Đồng Nai, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ và đóng

góp ý kiến bổ ích của Hội đồng Khoa học công nghệ tỉnh Đồng Nai,

Viện Nghiên cứu Công đoàn và Giai cấp công nhân, Trường Đại

học Công đoàn, các nhà khoa học trong và ngoài tỉnh, các đồng chí

cách mạng lão thành, các đồng chí nguyên là cán bộ lãnh đạo phong

trào công nhân của Khu ủy miền Đông Nam bộ, tỉnh Biên Hòa, Bà

Rịa–Vũng Tàu (cũ) và đông đảo cán bộ công đoàn gắn bó với

phong trào công nhân qua các thời kỳ cách mạng Xin chân thành

cám ơn các đồng chí

Liên đoàn Lao động tỉnh Đồng Nai

Trang 3

LỜI GIỚI THIỆU

Giai cấp công nhân ở Đồng Nai là một bộ phận của dân tộc và giai cấp côngnhân Việt Nam Xuất thân từ giai cấp nông dân, giai cấp công nhân ở Đồng Naimanh nha từ những năm cuối thế kỷ XIX, chính thức ra đời khi thực dân Pháp thựchiện công cuộc khai thác thuộc địa ở địa phương những năm đầu thế kỷ XX

Với truyền thống đấu tranh của dân tộc, ngay khi ra đời, giai cấp công nhân

ở Đồng Nai đã liên tục đấu tranh chống áp ức bóc lột của tư bản Khi có ĐảngCộng sản Việt Nam lãnh đạo, công nhân Đồng Nai từ đấu tranh tự phát vươn lênđấu tranh tự giác, trở thành giai cấp tiên tiến, là lực lượng quan trọng trong đấutranh giải phóng dân tộc; đấu tranh chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược,giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, cùng với nhân dân Đồng Nai, giaicấp công nhân ở địa phương với truyền thống yêu nước, gắn bó chặt chẽ với dântộc, nỗ lực và đã giành nhiều thành quả trong việc khắc phục hậu quả chiến tranh,xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa T rong công cuộc đổi mới,giai cấp công nhân ở Đồng Nai tiếp tục phát triển về số lượng và chất lượng, từngbước trở thành giai cấp “công nhân trí thức” góp phần vào việc xây dựng và pháttriển kinh tế địa phương, là nòng cốt xây dựng khối đoàn kết công nhân –nông dân–trí thức trong tỉnh ngày càng bền vững hơn

Được sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai, Liên đoànLao động tỉnh triển khai đề tài nghiên cứu “Lịch sử giai cấp công nhân ở ĐồngNai” nhằm ghi lại quá trình hình thành và phát triển c ủa giai cấp công nhân ở ĐồngNai trải qua những chặng đường lịch sử, qua đó khẳng định vai trò, vị trí và sứmệnh của giai cấp trong sự nghiệp xây dựng tỉnh Đồng Nai giàu mạnh, công bằng,dân chủ, văn minh; giáo dục giai cấp công nhân trong tỉnh phát huy truyền thốngcách mạng trong sự nghiệp công nghiệp hóa–hiện đại hóa tỉnh nhà

Chúng tôi chân thành cám ơn Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Khoa họccông nghệ–Môi trường tỉnh Đồng Nai đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho việchoàn thành đề tài; Hội đồng Kho a học công nghệ tỉnh Đồng Nai đã có những ýkiến đóng góp cụ thể về khoa học để đề tài hoàn thiện hơn Chân thành cám ơn cácđồng chí nguyên là cán bộ lãnh đạo Khu ủy miền Đông, Tỉnh ủy, những đồng chínguyên là cán bộ Ban Công vận, Công đoàn Khu miền Đông và hai tỉnh Biên Hòa,

Bà Rịa–Long Khánh, đã đọc và góp những ý kiến xác thực để bổ sung vào bảnthảo đề tài

Lịch sử giai cấp công nhân ở Đồng Nai là đề tài khoa học lớn có tính lý luận

và thực tiễn Đội ngũ biên soạn tuy có những cố gắng và nỗ lực, nhưng chắc hẳncòn không ít những thiếu sót Ban Chủ nhiệm đề tài mong muốn được đông đảonhững nhà khoa học, nghiên cứu, những nhân chứng lịch sử có thêm ý kiến để đềtài tiếp cận nhiều hơn với sự thật lịch sử

BAN CHỦ NHIỆM

Trang 4

MỞ ĐẦU

ĐỒNG NAI ĐẤT NƯỚC

-CON NGƯỜI - TRUYỀN THỐNG

Đồng Nai, một tỉnh của miền Đông Nam bộ, vùng đất chuyển tiếp giữa cựcNam Trung bộ, Tây nguyên và đồng bằng Nam bộ; phía Đông nam giáp thành phố

Hồ Chí Minh (cách 30 km); tây bắc giáp tỉnh Bình Dương, Bình Phước; đông giáptỉnh Bình Th uận; đông bắc giáp tỉnh Lâm Đồng và nam giáp tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu.Tỉnh Đồng Nai có 8 huyện: Tân Phú, Định Quán, Long Khánh, Xuân Lộc, LongThành, Nhơn Trạch, Thống Nhất, Vĩnh Cửu và thành phố Biên Hòa –trung tâm chínhtrị, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh

Đồng Nai, được Trung ương xác định cùng với thành phố Hồ Chí Minh, cáctỉnh Bình Dương, Bà Rịa –Vũng Tàu hợp thành tứ giác động lực, trọng điểm kinh tếcủa phía Nam, có diện tích 5.864,77km2, chiếm 1,76% diện tích tự nhiên cả nước và25,5% diện tích tự nhiên vùng Đông Nam bộ, dân số 1.989.541 người(1[1]) với 40 dântộc, trong đó người Kinh chiếm tỷ lệ 98% Các dân tộc bản địa được xác định gồm:Ch’ro, S’tiêng, Mạ

Đồng Nai là tỉnh có nhiều tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên, đất đai,khoáng sản(2[2]); thời tiết(3[3]) với hai mùa mưa, nắng thuận lợi cho canh tác nôngnghiệp, nuôi trồng thủy sản, các loại cây công nghiệp có giá trị cao (như cao su, tiêu,điều, cà phê, mía…) Tài nguyên rừng của Đồng Nai khá phong phú với hai loạirừng giồng và rừng ngập mặn Đặc biệt, rừng cấm Nam Cát Tiên được công nhận làvườn quốc gia(4[4]), khu sinh quyển của đất nước

Đồng Nai có hệ thống giao thông thủy, bộ thuận tiện Những quốc lộ quantrọng đều chạy qua tỉnh với tổng chiều dài 244,5 km: quốc lộ 1 nối liền Biên Hòavới thành phố Hồ Chí Minh ra miền Trung; quốc lộ 20 từ ngã ba Dầu Giây lên LâmĐồng, Tây nguyên; quốc lộ 51 (15 cũ) nối Biên Hòa với tỉnh Bà Rịa –VũngTàu…Hệ thống đường bộ trong tỉnh có tổng chiều dài 3.339 km 5[5]

Hệ thống đường sắt quốc gia đi ngang tỉnh Đồng Nai dài 87,5km rất thuận tiệncho vận chuyển hành khách, hàng hóa Sông Đồng Nai bắt nguồn từ cao nguyênLâm Viên (Lâm Đồng), là con sông nội sinh lớn nhất ở Việt Nam, với nhiều chi lưu,

là đường thủy quan trọng từ Đồng Nai về các tỉnh Tây Nam bộ, nối thông với biểnĐông, thuận tiện cho việc giao thông, cung cấp nước sinh hoạt tiêu dùng, đồng thời

là một thắng cảnh Sông có nhiều bậc thềm với nhiều thác có thể xây dựng nhữngcông trình thủy điện(6[6]) phục vụ quốc kế dân sinh Sông Đồng Nai và những chi lưucủa nó, hiện nay được xây dựng những cảng sông quan trọng như cảng Long BìnhTân, Gò Dầu A, Gò Dầu B

(1[1])

Theo kết quả điều tra dân số ngày 1-4-1999

(2[2])

Như kim loại quý (vàng), kim loại màu (bauxit), đá quý, kaolin, vật liệu xây dựng, than bùn, nước khoáng, đất sét…

(3[3]) Nhiệt độ bình quân hàng năm từ 25 –26 o C, giờ nắng trung bình từ 5 -9, 6-8 giờ/ngày.

(4[4]) Diện tích rừng 174.762 ha; trong đó rừng tự nhiên 128.224 ha, rừng trồng 46.538 ha.

Trang 5

Đồng Nai hiện nay là một tỉnh công nghiệp, tỷ trọng công nghiệp chiếm đến54,2% trong tổng GDP của tỉnh (tính đến tháng 12-2000) Từ chỗ chỉ có 1 Khu Kỹnghệ Biên Hòa, nay là Khu Công nghiệp Biên Hòa I được xây dựng từ năm 1963với 335 ha, đến nay tỉnh Đồng Nai đã quy hoạch được 17 khu công nghiệp, trong đó

có 10 khu đã được đưa vào hoạt động(1[7]) Sự xuất hiện của những khu công nghiệpthu hút một lượng lớn vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời là tác nhân để phát triểnnhanh số lượng đội ngũ giai cấp công nhân ở Đồng Nai

* * *

Qua công tác khai quật khảo cổ có thể nói Biên Hòa–Đồng Nai là vùng đất cócon người sinh sống từ lâu đời Những kết quả khai quật khảo cổ cho thấy nhữngngành nghề thủ công từ xưa đã rất phát triển Và đi cùng những ngành nghề thủcông này, một đội ngũ thợ thủ công đã xuất hiện Những người thợ thủ công tài hoanày chính là những tiền đề rất quan trọng cho việc xuất hiện tầng lớp thợ thủ công(chuyên hoặc không chuyên)

Những di chỉ khảo cổ khai quật ở Phước Tân, Trảng Bom, Võ Dõng, SôngRay, Núi Gốm, Hàng Gòn, Suối Linh… cho thấy trên đất Biên Hòa –Đồng Nai xưacách đây hàng ngàn năm đã xuất hiện nhiều cơ sở chế tác đá Các di chỉ thời đại kimkhí tiêu biểu như Dốc Chùa, Long Giao… với những rìu đồng, qua đồng, giáo mác,những khuôn đúc đồng… Di chỉ Suối Chồn, mộ chum Phú Hòa, Hàng Gòn vớinhững lưỡi rìu sắt, dao, kiếm sắt, cuốc, lưỡi cày chứng tỏ cách đây hơn 2.000 nămnghề đúc đồng và những người thợ đúc đồng, đúc gang tài hoa đã từng hiện diện,sinh sống trên mảnh đất này Rồi những hiện vật gốm tìm thấy ở rạch Lò Gốm (HiệpHòa); những phát hiện về kiến trúc thờ bằng đất nung, kiến trúc nhà ở bằng gỗ tìmthấy ở Rạch Đông, gò Chiêu Liêu, Cái Vạn, Cái Lăng, Rạch Lá…là những chứngtích cho thấy dấu vết của các công trường chế tác đá, nghề làm gạch ngói, nghề gỗvới những người thợ thủ công đã xuất hiện khá sớm ở vùng đất này

Qua khảo cổ cho thấy đất Đồng Nai hiện diện các dòng gốm Việt, Chăm, Hoa

và sự dung hợp những dòng gốm này đã tạo thành truyền thống gốm Đồng Nai đểrồi hình thành nên những làng nghề thủ công gốm như Tân Vạn, Bửu Hòa, Cù LaoPhố, Hóa An, Bến đò Trạm…

Hơn 300 năm trước, Đồng Nai đã là vùng đất hội tụ nhân dân từ mọi miền đấtnước về chung tay xây dựng và phát triển cuộc sống: “Nhà Bè nước chảy chia hai

Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về” Để tránh cuộc chiến tranh phi nghĩa của hai tậpđoàn phong kiến Trịnh–Nguyễn, từ thế kỷ 17, những người nông dân nghèo khổ từmiền Ngũ Quảng đã lần hồi theo đường bộ, đường biển vào Nam Đất Biên Hòa –Đồng Nai địa đầu Nam bộ, với thiên thời, địa lợi trở thành nơi dừng chân khai phácủa họ Vùng đất sôi động hơn khi vào cuối thế kỷ 17, những người Hoa “phảnThanh phục Minh” do Trần Thượng Xuyên dẫn đầu được chúa Nguyễn Phúc Tần bốtrí định cư ở Cù Lao Phố Sự cộng cư, giao lưu văn hóa giữa tộc người bản địa,

(1[7])

Các khu công nghiệp: KCN Biên Hòa I 335ha; KCN Biên Hòa II 365ha; KCN Long Bình (AMATA 760ha); KCN Loteco 100ha; KCN Nhơn Trạch 2.700ha; KCN Gò Dầu –Vedan 308ha; KCN Hố Nai 523ha; KCN Sông Mây 471ha; KCN Ông Kèo 800ha; KCN Tam Phước 380ha; KCN An Phước 800ha; KCN Thạnh Phú 186ha; KCN Bàu Xéo 215ha; KCN Long Khánh 100ha; KCN Xuân Lộc 100ha; KCN Định Quán 50ha; KCN Tân Phú 50ha.

Trang 6

người Việt, người Hoa đã tạo nên một sức sống mới cho vùng đất trù phú, màu mỡnày Ngoài truyền thống văn hóa, tín ngưỡng Việt, Hoa, cư dân bản địa còn tiếpnhận những nghề thủ công truyền thống như nghề gốm, ban đầu chỉ làm ra gạchngói, lu, hũ, trã, trách… Đặc biệt, từ thế kỷ thứ XVIII, thương cảng Cù Lao Phốhình thành, là nơi tập trung nhiều ngành nghề thủ công phong phú như: nghề dệtchiếu, dệt tơ lụa, nghề gốm, nghề đúc đồng, nghề nấu đường mía lau, nghề mộc,pháo thăng thiên…Những địa danh “chợ Chiếu, chợ xóm Củi, xóm Lò Đúc, rạch LòGốm…” chính là những dấu ấn xưa còn lại cho thấy sự phát triển của những ngànhnghề thủ công xưa ở Biên Hòa.

Đầu thế kỷ XX, Trường Mỹ nghệ thực hành được thành lập (tháng 3 -1903)

Sự kết hợp hài hòa giữa kỹ thuật gốm truyền thống và công nghệ phương Tây, đặcbiệt với hai nghề gốm và đúc đồng, thợ thủ công địa phương đã làm những sảnphẩm đòi hỏi kỹ thuật, mỹ thuật cao hơn Sản phẩm gốm mỹ thuật trang trí độc đáo

do những người thợ Biên Hòa làm ra với màu men lam nổi tiếng, giành được thứhạng cao trong các cuộc triển lãm trong và ngoài nước Nghề làm đá từ việc khaithác đá ong để xây mộ, làm đườn g, lát vỉa hè…đến khi những người Hoa (Bang Hẹ)vào sinh sống, nghề làm đá phát triển nhanh tập trung ở những vùng như: Bửu Long,Bình Trị, Bửu Hòa…Người thợ thủ công tài hoa ở Biên Hòa đã làm nên những sảnphẩm chạm, điêu khắc đá trang trí, xây dựng ở những cơ sở thờ tự, tín ngưỡng, nhàcửa (như miếu Tiên sư ở Bửu Long, chùa Ông ở Hiệp Hòa…), nghề mộc, chạmkhắc gỗ cũng khá phát triển Những công trình kiến trúc cổ như các đình Phú Mỹ,

An Hòa, những ngôi nhà cổ ở Vĩnh Cửu, Biên Hòa, Nhơn Trạch…chứng tỏ sự tàihoa của lớp thợ thủ công ở Biên Hòa Nghề rèn, đúc đồng, gang (gia dụng và dụng

cụ canh tác) vẫn còn ở khu vực Bình Thạnh, Tân Bình, Hiệp Hòa, Bến Gỗ… chothấy một lớp thợ thủ công khá đông đảo, với trình độ chế tác cao ở Biên Hòa đã hìnhthành, để có thể làm ra những sản phẩm cung ứng yêu cầu về đời sống và sản xuấtkhông chỉ ở địa phương mà cả Nam bộ Biên Hòa còn nổi tiếng với nghề làm đườngthủ công, ép mía lấy mật làm đường (che mía) ở Tân Phong, Vĩnh Cửu… từ đó, mộtlớp thợ thủ công đã được hình t hành Nhiều làng nghề được thành lập (như Tân Vạn,Hiệp Hòa, Bửu Long…)(1[8]) Thợ thủ công tài hoa của địa phương là nguồn lao độngquan trọng, phong phú có thể chuyển hóa khi xã hội phát triển và có sự phân cônglao động trong xã hội ngày một rõ nét hơn

Người Biên Hòa–Đồng Nai vốn mang trong người truyền thống của dân tộcViệt Nam, từ miền Bắc, miền Trung vào sinh sống ở vùng đất mới màu mỡ, đượcgiao lưu tiếp xúc với nền văn hóa bản địa, văn hóa người Hoa…; phải đối phó vớithiên nhiên, thú dữ để sinh tồn nên dễ dàng gắn kết lại với nhau, cảm thông nỗi niềm

xa xứ, giúp nhau trong cuộc sống, lao động…Tất cả đã là tác nhân tạo nên tính cáchcon người Biên Hòa–Đồng Nai với tinh thần yêu nước, ý chí thống nhất dân tộc,sống rất phóng khoáng, cởi mở, trọng chữ tín hơn tiền tài, dũng cảm và đoàn kết

Thực dân Pháp nổ tiếng súng xâm lược Việt Nam (1858), đánh chiếm BiênHòa (tháng 12-1861), đặt ách thống trị nhân dân ta và tiến hành công cuộc khai thác

(1[8])

Tính đến cuối năm 2000, Đồng Nai có 89 doanh nghiệp sản xuất gốm, trong đó có 2 công ty TNHH, 1 công ty cổ phần,

1 hợp tác xã, 37 doanh nghiệp tư nhân, 28 hộ đăng ký kinh doanh, 20 hộ cá thể.

Trang 7

thuộc địa, là tác nhân để thúc đẩy, hình thành một giai cấp cấp mới trong xã hội ViệtNam nói chung, Biên Hòa–Đồng Nai nói riêng: GIAI CẤP CÔNG NHÂN.

Mở đầu công cuộc khai thác thuộc địa ở Việt Nam và Biên Hòa–Đồng Nai,thực dân Pháp tiến hành xây dựng nhiều tuyến đường giao thông bộ, đường sắt,đường dây thép liên lạc hữu tuyến, vô tuyến (nhà dây thép –bưu điện) phục vụ choviệc bóc lột tài nguyên thiên nhiên phong phú trong tỉnh Những quốc lộ 1, 20, 15,liên tỉnh lộ 2, đường sắt Bắc Nam, cầu Gành, cầu Rạch Cát… được mở từ nhữngnăm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, nguồn nhân lực chính là những người nông dânBiên Hòa và miền Đông Nam bộ được thực dân Pháp hợp đồng, bấy giờ gọi là “phumộ” Đây là lực lượng tiền thân của giai cấp công nhân Biên Hòa thuở sơ khai, giữmột vị trí quan trọng trong việc mở mang đường sá, xây dựng hạ tầng ban đầu ở địaphương

Cuối thế kỷ 19, đặc biệt từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ I (1914-1918),thực dân Pháp bắt đầu thực hiện chính sách khai thác thuộc địa ở Biên Hòa Tư bảnthực dân Pháp với chủ trương bóc lột tài nguyên thiên nhiên v à lao động thuộc địa,phát triển công nghiệp thuộc địa phục vụ cho công nghiệp chính quốc, đã hình thànhnên một vùng cây công nghiệp cao su, chuyên sản xuất mủ làm nguyên liệu chocông nghiệp chính quốc

Năm 1906, tư bản Pháp chính thức thành lập Công ty Đồn điền Suzannah ởDầu Giây (Xuân Lộc, nay thuộc huyện Thống Nhất) và sau đó là hàng loạt các công

ty đồn điền khác Để đảm bảo lao động, tư bản Pháp thực hiện chính sách mộ phu từnhững nông dân nghèo khổ bị địa chủ phong kiến áp bức bóc lột nặng nề ở mi ềnTrung, miền Bắc, đưa vào các đồn điền cao su ở miền Đông Từ cuộc sống và laođộng tập thể, đấu tranh chống lại chế độ áp bức, bóc lột của tư bản thực dân, nhữngphu cao su đã dần trở thành công nhân đồn điền

Năm 1907, thực dân Pháp cho xây dựng Công ty Kỹ nghệ và Lâm nghiệpBiên Hòa (Bien Hoa Industrielle et foresière–BIF) trên cơ sở Nhà máy Cưa xẻ gỗTân Mai xây dựng từ năm 1897, mở 1 tuyến đường xe lửa từ Tân Mai lên Cây Gáo,Trảng Bom để vận chuyển cây rừng khai thác về nhà máy Năm 1912, nhà máychính thức đi vào hoạt động Đây là cơ sở công nghiệp đầu tiên được xây dựng ởBiên Hòa Một lớp công nhân công nghiệp đã hình thành ở Biên Hòa

Sự xuất hiện của giai cấp công nhân ở Biên Hòa là một bước ngoặt trongphong trào đấu tranh cách mạng ở tỉnh Đó là giai cấp xuất thân từ giai cấp nôngdân, nhưng môi trường lao động hoàn toàn khác: Lao động với thời gian quy định,với một khuôn khổ kỷ luật nhất định theo dây chuyền sản xuất, thành quả lao độnglàm ra mà người công nhân được hưởng được tính theo lươn g hàng tháng, hoặclương khoán theo sản lượng (phần cây cạo, sản lượng mủ, số mét khối gỗ xẻ…); làmột điều hoàn toàn mới so với người nông dân phần lớn mang tính chất sản xuất tự

do hơn Đặc điểm lao động sản xuất đó góp phần tạo nên tính cách (hoặc đặc đ iểm)của giai cấp công nhân Biên Hòa là tính kỷ luật, tiên tiến và đoàn kết cao

Thời kỳ Mỹ thực hiện chính sách thực dân mới ở miền Nam Việt Nam, BiênHòa với vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên phong phú, là nơi Mỹ –ngụy triển khaichính sách bóc lột mới Khu Kỹ nghệ Biên Hòa ra đời năm 1963, là khu công nghiệphiện đại bấy giờ, cùng một loạt những căn cứ quân sự lớn hình thành đã góp phần

Trang 8

phát triển giai cấp công nhân ở Biên Hòa Đó là đội ngũ công nhân hiện đại, có taynghề cao, trình độ chuyên môn kỹ th uật được đào tạo, có ý thức giác ngộ dân tộc vàgiai cấp.

Giai cấp công nhân ở Biên Hòa là một bộ phận của dân tộc, cùng bị áp bứcbóc lột nên luôn luôn có tinh thần đấu tranh cao Ngay khi hình thành, giai cấp côngnhân ở Biên Hòa trước những sự đàn áp, k ỷ luật lao động khắc nghiệt, những bứcxúc về lao động cực nhọc, đời sống khó khăn, tiền lương thấp kém, đã không ngừngđứng lên đấu tranh một cách tự phát với mục tiêu đòi cải thiện đời sống, lao động vàtiến dần lên đấu tranh tự giác có tổ chức Trong đó tiêu biểu như các cuộc đấu tranhcủa công nhân Đồn điền Cao su Cam Tiêm (1926), Phú Riềng (1928, 1929), Nhàmáy Cưa BIF …gây tiếng vang lớn trong nước và ngoài nước Những cuộc đấutranh đó tuy ban đầu mang tính tự phát, nhưng thể hiện được nguyện vọng, ý chí vàtinh thần đấu tranh của giai cấp công nhân ở Biên Hòa Những cuộc đấu tranh đónhư những tập dượt bước đầu để khi giai cấp công nhân ở Biên Hòa được đội ngũtiên phong, tức Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã tạo ra một phong trào đấutranh rộng lớn hơn

Từ năm 1929, giai cấp công nhân ở Biên Hòa –Đồng Nai khi được Đảng Cộngsản Việt Nam lãnh đạo đã trở thành một lực lượng chính trị quan trọng có nhiềuđóng góp trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Đặc biệt, trong những thờiđoạn lịch sử khó khăn nhất (1931-1932 và 1939-1943), giai cấp công nhân ở BiênHòa–Đồng Nai, nhất là công nhân cao su chính là lực lượng bảo vệ cán bộ cáchmạng, là cơ sở để khôi phục, phát triển lực lượng cách mạng tiến lên dưới ngọn cờcủa Đảng Cộng sản Việt Nam góp phần làm nên thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩagiành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám 1945

Trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược, giai cấp công nhân ở Biên Hòa–Đồng Nai là lực lượng chính để xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, xây dựngcăn cứ địa, cung cấp hậu cần, đội ngũ giao liên, lực lượng đấu tranh chính trị, binhvận góp phần làm nên những chiến công có ý nghĩa lịch sử(1[9]) Đặc biệt là giai cấpcông nhân ở Biên Hòa–Đồng Nai thực hiện cuộc nổi dậy giải phóng hoàn toàn Khu

Kỹ nghệ Biên Hòa–khu công nghiệp lớn nhất ở miền Nam và toàn bộ đồn điền cao

su vào thời điểm mùa xuân năm 1975

Sau ngày miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội,dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và tổ chức công đoàn, giai cấp côngnhân ở Đồng Nai (cả công nhân công nghiệp và công nhân cao su) không ngừngphát triển về số lượng và chất lượng, góp phần to lớn trong việc khôi phục kinh tế,

ổn định đời sống xã hội Tuy nhiên, trong thời kỳ 1975 đến 1985 do bị ràng buộctrong cơ chế bao cấp, lực lượng công nhân ở Biên Hòa phát triển chậm

Từ khi có Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI với đường lối đổimới toàn diện, trong đó có đường lối chiến lược phát triển kinh tế nhiều thành phần

và Luật Đầu tư nước ngoài, giai cấp công nhân Đồ ng Nai có bước phát triển mới:Phát triển nhanh về số lượng, đa dạng về thành phần xuất thân và có mặt trong nhiều

(1[9]) Từ Bàu Cá (14-7-1947), La Ngà (1-3-1948), Trảng Bom (20 -7-1951) trong kháng chiến chống thực dân Pháp cho đến những chiến thắng sân bay Biên Hòa (31-10-1964), La Ngà II (1965), chiến dịch Xuân Mậu Thân (1968), chiến dịch Nguyễn Huệ (1972), đến chiến dịch Xuâ n Lộc giải phóng thị xã Long Khánh (từ 9 đến 21 -4-1975).

Trang 9

hình thức sở hữu(1[10]), góp phần to lớn trong việc chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế ởtỉnh nhà từ cơ cấu nông nghiệp –công nghiệp–dịch vụ thành công nghiệp–dịch vụ–nông nghiệp, với tổng giá trị công nghiệp chiếm 54,2% trong GDP toàn tỉnh.

Có thể nói, sự ra đời và phát triển của giai cấp công nhân ở Biên Hòa –ĐồngNai không chỉ là kết quả tất yếu của con đường phát triển công nghiệp, mà còn là tácnhân mở con đường mới ở vùng này, chuyển từ văn minh nông nghiệp tiến lên nềnvăn minh công nghiệp vào lúc nước Việt Nam tiếp nhận cuộc cách mạng khoa họccông nghệ thế giới và gia nhập toàn cầu hóa để trở thành một nước công nghiệp hiệnđại

Ngày nay, thực hiện đường lối công nghiệp hóa–hiện đại hóa của Đảng, giaicấp công nhân Đồng Nai không ngừng phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn, kỹthuật, trình độ chính trị, tự hoàn thiện mình để trở thành giai cấp tiên tiến, xứng đángvới vai trò, sứ mệnh của mình trong công cuộc xây dựng đất nước “Dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

(1[10])

Tính đến cuối năm 2000, giai cấp công nhân và lao động ở Đồng Nai đã chiếm tỷ lệ gần 10% trong tổng số lao động, trong đó phân ra: Công nhân trong các đơn vị quốc doanh 24.164 người; trong cá c đơn vị có vốn đầu tư nước ngoài 96.783 người; tư nhân 36.097 người Giai cấp công nhân ở Đồng Nai được tập hợp trong các tổ chức công đoàn, được học tập giáo dục về đường lối của Đảng, về chính sách, pháp luật Nhà nước …nên bản lĩnh chính trị, nhận thức cách mạng đều được nâng lên.

Trang 10

CHƯƠNG I

CHÍNH SÁCH KHAI THÁC THUỘC ĐỊA

VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

Ở ĐỒNG NAI

I ÂM MƯU XÂM LƯỢC CỦA THỰC DÂN PHÁP

Chủ nghĩa tư bản châu Âu manh nha ra đời từ thế kỷ XV, ngày càng phát triểnnhanh Giới tư bản công nghiệp và nhà buôn Pháp, Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha, BồĐào Nha, Đức được các chính phủ giúp đỡ tích cực tiến hành thôn tính, xâm lượccác nước ở các châu Á, Phi, Mĩ, Đại Dương để bóc lột tài nguyên, nguyên liệu vànhân công rẻ mạt nhằm cung ứng cho công nghiệp chính quốc, mặt khác tạo ra thịtrường tiêu thụ các hàng hóa sản xuất trong nước để thu lợi nhuận cao

Chủ nghĩa tư bản châu Âu sử dụng giáo sĩ các hội truyền giáo (như hội Thừasai Paris MEP) làm người “tiên khu” để thực hiện chính sách “hạt tiêu và linh hồn”.Một số giám mục, linh mục len lỏi vào các nước còn xa lạ này tìm hiểu kỹ mọi mặt:thể chế chính trị, thực lực quốc phòng, phong tục, tài nguyên, khả năng kinh tế rồigiới thiệu những thông tin quí báu trên cho các công ty thương mại, các chính phủ ởchính quốc và sau này dẫn đường cho kẻ chinh phục thuộc địa khi có điều kiệnthuận lợi

Năm 1749, giáo sĩ (kiêm nhà buôn) Pháp Pie Poavrơ (Pierre Poivre) truyền

đạo ở Đàng Trong nước ta, khi về nước đã báo cáo: “Một công ty muốn đứng được ở Đàng Trong và có thiết bị chắc chắn để buôn bán có lợi thì cần có phương tiện để khiến người ta kiêng nể và kính trọng Ta có thể chuyển người Đàng Trong sang các thuộc địa của ta để là m thợ sản xuất đường, tơ lụa Ta có thể chuyển sang cả thợ cày, thợ mộc”(1[1])

Đây chỉ là một trong nhiều báo cáo của giới tăng lữ châu Âu với chính phủ vàgiới công thương nước họ

Ở Việt Nam, Nguyễn Ánh nhờ giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) kýhiệp ước Vecxay (Versailles) cầu viện chính phủ Pháp giúp binh lính, súng đạn, tàuchiến để chống lại phong trào Tây Sơn, tạo điều kiện mở đường cho tư bản Phápthực hiện lâu dài âm mưu, kế hoạch xâm lược Việt Nam Nước ta đứng trước hiểmhọa khôn lường

Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế sau khi đánh bại nhà Tây Sơn.Ông ta và các vua kế vị thi hành hàng loạt chính sách chuyên chế tập quyền để giữvững quyền lợi dòng Nguyễn Phúc cũng như cả giai cấp địa chủ phong kiến Xã hộiViệt Nam lúc đó chỉ có hai giai cấp chính: địa chủ phong kiến thống trị, đối lập vớiđông đảo nông dân lao động và số thợ thủ công còn rất ít Tập đoàn vua quan nhàNguyễn có thực hiện một số điều thúc đẩy vài mặt kinh tế -xã hội song nhìn chung,người ta thấy nổi bật một số điểm:

– Họ tăng cường đàn áp, bóc lột nhân dân, thi hành chính sách trọng nông ức

(1[1])

Ch.Maybon trích dẫn trong Lịch sử hiện đại An Nam, t.158.

Trang 11

thương, kìm hãm thủ công nghiệp, đẩy nền kinh tế vào tình trạng ngày càng suy

thoái

– Chính sách đối ngoại bế quan tỏa cảng hoàn toàn tự hãm đất nước vào thế côlập (trong khi nước Nh ật nhờ mở cửa mà thực hiện cuộc Minh tân thắng lợi, đưa đấtnước thành giàu mạnh)

– Chính sách cấm đạo Thiên Chúa tạo cớ cho kẻ địch lợi dụng khoét sâu mâuthuẫn khối đoàn kết toàn dân trước nguy cơ đất nước bị xâm lược

Do bị áp bức bóc lột nặng nề, các cuộc nổi dậy của nông dân liên tiếp nổ ra ởnhiều nơi, nhất là ở Bắc kỳ, gây lúng túng cho triều đình Huế tốn công đánh dẹp.Nhà vua và các quan bất lực, đất nước suy yếu, nhân tâm ly tán nên họ phải chịutrách nhiệm về sự thất bại trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược saunày

Ngày 22-4-1857, Napôlêông đệ tam (Napoléon III) dựa vào văn kiện hiệp ướcVecxay kí năm 1787 lập luận rằng việc đánh chiếm Nam kì từ lâu “nằm trong dự

kiến của nước Pháp” , đến nay thi hành chỉ là tiếp tục một “quốc sách” cũ Lấy cớ

triều đình Huế không tiếp nhận quốc thư của Pháp do phái viên chính phủ đi tàu

Catina (Catinat) đưa trình ngày 16-9-1856 là “làm nhục quốc thể Pháp”, mặt khác

lấy cớ “bảo vệ đạo” để tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của dư luận công giáo Pháp vàViệt Nam, tư bản Pháp quyết tâm xâm lược nước ta

Ngày 1-9-1858, Pháp nổ súng đánh Đà Nẵng nhưng không chiếm được cửabiển này (chúng rút bỏ sau đó ít lâu)

Ngày 10-2-1859, chúng quay vào Nam kỳ, hạ pháo đài Phước Thắng

Ngày 17-2-1859, chúng hạ thành Gia Địn h sau khi vất vả đánh chiếm hàngloạt đồn của quân triều đình từ cửa Cần Giờ ngược sông Lòng Tàu trở lên

Ngày 16-12-1861 chúng nống ra chinh phục thành Biên Hòa rồi Định Tường

Kể từ khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp liên tục vấp phải sức kháng cựmãnh liệt của nhân dân Bộ phận đầu não của triều đình Huế phần đông chủ hòa,nhu nhược khiến giặc lấn tới từng bước Kết quả bước đầu của những sai lầm củatriều đình Huế: năm 1862 ba tỉnh miền Đông Nam kỳ rơi vào tay giặc Và cuốicùng, năm 1884, nước ta hoàn toàn bị thực dân Pháp thống trị

II THỰC DÂN PHÁP BƯỚC ĐẦU KHAI THÁC Ở BIÊN HÒA

Chiếm xong ba tỉnh miền Đông Nam kỳ, từ năm 1862, Phó Đô đốc, thiếutướng Hải quân Bôna (Bonard: thiếu tướng hải quân còn gọi là Phó đề đốc) đượcchính phủ Pháp bổ nhiệm đứng đầu bộ máy sĩ quan trực tiếp cai trị cả dân sự lẫnquân sự ở Nam kỳ, mở đầu thời kỳ các đô đốc thống trị khoảng một thập niên Đây

là giai đoạn quân quản trực trị, sách Lịch sử Nam kỳ thuộc Pháp (Histoire de la Cochinchine francaise) giải thích: “Trực trị là điều cần thiết để tự vệ Không thể nào

tổ chức bảo hộ trong một xứ bất khuất, nơi mà hạng người có khả năng cai trị thì hoặc là vắng mặt, hoặc là chống lại”(1[2]).

Pháp xâm lược Nam kỳ đã làm thay đổi mọi mặt: chính trị, kinh tế, văn hóa -xã

(1[2])

Dẫn Trần Văn Giàu và nnk: Lịch sử cận đại Việt Nam, t.1, tr.192, Nxb Giáo dục, H., 1962.

Trang 12

hội nơi đây.

II.1 Chủ trương “dùng người Việt trị người Việt” của thực dân Pháp

Một viên Tham biện (inspecteur: Thanh tra) người Pháp đứng đầu bộ máy caitrị tỉnh Biên Hòa có quyền hạn rộng rãi như lãnh chúa, không cần luật lệ gì, tha hồthu thuế, xử án, bắt dân đi làm xâu, bổ nhiệm nhân viên, càn quét, bắt bớ Chỉ trongvòng 8 năm (1861-1870), có 9 tham biện đều là sĩ quan, cấp thấp nhất là trung úy,cao nhất là đại tá(1[3]) Chính quyền thuộc địa Pháp giữ các đơn vị phủ, huyện, tổng,

xã như cũ Nhảy ra cộng tác làm tay sai đắc lực cho giặc là vài kẻ có học nhưng đạođức suy đồi (kiểu Tôn Thọ Tường), phần lớn là bồi bếp, culi, thông ngôn, ký lục họccấp tốc qua loa ở trường dòng, trường thông ngôn Điều này nằm trong chủ trương

“dùng người Việt trị người Việt” quen thuộc

Thực dân Pháp thực hiện chính sách cổ điển “dùng người Việt đánh người

Việt” Từ năm 1861, Bôna đặt ở mỗi huyện một đội gồm 50 lính mã tà(2[4]) và 100lính tập(3[5]) Tỉnh Biên Hòa có 1 tiểu đoàn gồm 6 đại đội lính tập; mỗi đại đội có 1

hạ sĩ quan Pháp chỉ huy và vài lính Pháp làm nòng cốt Bôna ra nghị định bắt lính ởtừng làng, khi Đờ la Grăngđie (de la Grandière) thay, đặt một sắc thuế đặc biệt đàithọ mọi chi tiêu của đội lính thường trực đông đảo này

Để thủ tiêu ảnh hưởng của giới nho sĩ, có lúc giương cao ngọn cờ khángchiến, thực dân Pháp hạn chế việc cho phép mở lớp dạy chữ Hán, đưa chữ quốc ngữ,nhất là chữ Pháp, thành thứ chữ chính thống Mọi công văn, chỉ thị của nhà cầmquyền chỉ dùng chữ quốc ngữ và chữ Pháp Văn miếu Trấn Biên bị nhà cầm quyền

ra lệnh phá tan ngay sau khi chiếm thành Biên Hòa nhằm thực hiện chủ trương dãman nói trên Vài trường học được mở ở Biên Hòa trước năm 1876 sau tăng dần, lúcđầu đào tạo thông ngôn và nhân viên hành chính cấp thấp

II.2 Chủ trương “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của thực dân Pháp

Thời kỳ “các đô đốc” chinh phục châu Á xa xôi, trong đó có Nam kỳ, kéo dàihàng chục năm, về sau không được giới tư bản chính quốc mặn mà ủng hộ Đôi khicác tướng lĩnh, đô đốc gặp sự lạnh nhạt thậm chí phản đối vì chính phủ và giới tưbản Pháp sợ chưa thu được lợi lộc gì mà phải chi tiêu tốn kém quá khả năng chophép Do đó họ phải tìm cách xoay sở để có tiền thực hiện chinh phạt thuộc địa

Điển hình của chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" được thực hiệnngay từ khi vừa hạ thành Gia Định (16-2-1859), thực dân Pháp thực hiện ngay chủtrương cổ điển “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” bằng biện pháp cho tàu thuyền cácnước tự do ra vào cảng Sài Gòn buôn bán để thu thuế xuất nhập cảng(4[6]) Quân viễn

(1[3])

Đại tá Domenech Diego (từ 22-12-1861), thiếu tá Loubère (từ 26-5-1862), thiếu tá Charlier (từ 1 -9-1866), đại úy Garrido (?-?), thiếu tá hải quân Philastre (từ 9-11-1866), Tham biện Labelleevière (từ 27 -5-1868), thiếu tá Chatelier (từ 22-4-1869), Tham biện Baulinier (từ 5-11-1869), trung úy Salicéti (từ (30-12-1869).

(2[4]) Garde civile locale: cảnh sát trật tự địa phương, từ tiếng Mã Lai mata mata mà ra.

khẩu tăng lên 72 000 tonnô Năm 1865, ba tỉnh miền Đông thất mùa nhưng vẫn xuất khẩu 30.000 tonnô gạo sang Trung

Quốc.

Trang 13

chinh Pháp thu lợi lớn nhờ mở cảng Sài Gòn, bù đắp phần lớn ngân sách chiến tranhxâm lược Nam kỳ.

Chiếm xong ba tỉnh miền Đông, Thống đốc Nam kỳ là Bôna ra nghị định ngày

20-2-1862, tịch thu sung công “toàn bộ ruộng đất vô chủ hoặc đang còn nằm trong tay dân bản xứ chiếm giữ mà không có bằng khoán” Như vậy, tất cả ruộng đất

hoang do chủ chạy loạn cùng số ruộng đất không đủ giấy tờ hợp lệ thì đều thuộcquyền sở hữu nhà nước Với nghị định này, chính quyền thực dân cho phép một sốkiều dân (colons) Pháp chiếm đoạt ruộng đất ở những vùng từng có chiến sự, dânchúng bỏ đi(1[7]) hoặc đất đai, vườn tược của những người kháng chiến tị địa (2[8])

Để tạo nên tầng lớp tư bản kiều dân làm chỗ dựa vững chắc, lâu dài cho chế

độ thực dân, Soái phủ Nam kỳ ban hành quyết định ngày 3-3-1865 nhượng bánruộng đất nhà nước quản lý với giá trung bình 10 fr/ha trả tiền trong hai năm: cuốinăm thứ nhất và cuối năm thứ hai Các chủ điền phải nộp lệ phí 5 fr/ha Mỗi colon

có chưa đến 50 ha chỉ phải nộp thuế từ năm thứ năm trở đi Ruộng đất trên 50 ha thìmiễn thuế ba năm đầu Với đất nhượng lớn hơn thì từ năm thứ bảy, chủ điền mớiphải đóng thuế

Ngày 5-7-1867, Thống đốc Nam kỳ là Đô đốc Đờ la Grăngđie ra nghị định vềviệc bán ruộng đất ở tỉnh lỵ Biên Hòa, giá 1m2 là 5 xu rưỡi Nếu nhiều người muốnmua cùng miếng đất thì bán đấu giá; thuế đất ấn định bằng 2 phần ngàn cho mỗi métvuông và trả ngay khoản này

Việc bán đất đai do nhà nước quản lý mang lại cho chính quyền thuộc địaNam kỳ khoản thu vượt chi, bù đắp sở phí chiến tranh xâm lược; đ ồng thời góp phầnxây dựng một giai cấp tư bản Pháp tay sai làm nền tảng cho chính phủ thuộc địa

II.3 Những cuộc kinh doanh khởi đầu của tư bản Pháp ở Biên Hòa

Ngay sau khi đánh chiếm Gia Định, thực dân Pháp đã lập tức vơ vét thóc gạo

ở Nam kỳ xuất khẩu thu lợi Thế nhưng, khi chiếm được 3 tỉnh miền Đông, trong đó

có Biên Hòa, thực dân Pháp tìm thấy ở đây một vùng đất nhiều tiềm năng:

– Tỉnh Biên Hòa rộng lớn, khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiều vùng thổ nhưỡngthuộc loại đất đỏ bazan (bazalt) phì nhiêu (Xuân Lộc, Long Khánh) thuận lợi choviệc trồng khai thác các loại cây công nghiệp

– Tỉnh Biên Hòa có diện tích rộng lớn (bấy giờ gồm cả Bà Rịa, Bình Phước,một phần tỉnh Bình Dương và thành phố Sài Gòn trên 12.000 km2) Rừng trải rộngvới trữ lượng gỗ dồi dà o nhiều chủng loại có thể khai thác kiếm lời

– Một bộ phận người dân ở Biên Hòa là những người khéo léo trong sản xuất,nhất là sản xuất tiểu thủ công nghiệp với những ngành nghề như gốm, điêu khắc, rènđúc đã hình thành một số làng nghề thủ công truyền thống

– Biên Hòa ở một vị trí thuận lợi trong việc giao lưu, chuyển vận hàng hóatrong nước cũng như ngoài nước: Đường thủy có sông Đồng Nai nối về Nhà Bè SàiGòn ra biển Đông; đường bộ có thể nối thông với khu vực Tây nguyên, ra miền Bắc,

(1[7])Đại Nam thực lục chính biên: “Dân cư ba huyện Nghĩa An, Bình An, Long Thành gần chỗ giặc Pháp đóng, bỏ trốn đến

74 thôn” tr.238, tập XXVI, Nxb KHXH, H., 1974.

(2[8])

Rời bỏ vùng đã bị giặc chiếm, lánh ở vùng còn tự do để biểu thị thái độ bất hợp tác với giặc Pháp của các sĩ phu yêu nước Nam bộ (Bt).

Trang 14

miền Trung phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa (Chính vì thế từ cuối thế

kỷ 19, thực dân bắt đầu mở đường sá, cầu, xây dựng đường sắt ở Biên Hòa)

Chỉ bốn năm sau khi chiếm Nam kỳ, tên thực dân đầu tiên đến làm ăn ở Biên

Hòa là Lơ Phôsơ (Le Faucheur) Trong cuốn Bến Nghé xưa, Sơn Nam cho biết y

“xuất thân lính, từng lập thành tích lúc đánh (thành) Gia Định, (đại đồn Chí Hòa ở Phú Thọ), đã lên Campuchia thám hiểm sông Mêkông, toan qua xứ Lào Rồi (y) khai thác hầm đá, hầm sỏi ở Biên Hòa, nhân công bị đánh đập tàn nhẫn”(1[9])

Từ lâu, người Hoa đã khai thác đá dùng trong xây dựng và đá mỹ nghệ ở núiBửu Phong (tên dân gian: núi Lò Gạch), song họ chỉ là thợ thủ công làm theophường hội Lơ Phôsơ chắc phải sử dụng thợ người Hoa để khai thác đá và sỏi xâydựng cũng chỉ bằng phương pháp thủ công chứ chưa có máy móc Nhưng thợ của

Lơ Phôsơ hoàn toàn bán sức lao động để sống nên có thể nói năm 1865 là mốc đánh dấu công nhân Đồng Nai manh nha ra đời Họ bị đánh đập tàn nhẫn chứng tỏ họ bị

bóc lột sức lao động rẻ mạt, đấu tranh tự phát lẻ tẻ và bị đàn áp tàn nhẫn Địa điểmkhai thác đá của Lơ Phôsơ không được nêu, song chắc cũng ở vùng núi Bửu Phong

để tiện vận chuyển đường thủy đi Sài Gòn hoặc tỉnh lỵ Biên Hòa …

Năm 1866, Misơlê (Michelet) xin khai khẩn 716 ha đất ở Lạc An (tổngChánh Mĩ Hạ, huyện Phước Chánh, nay thuộc huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương).Đây là kiều dân Pháp đầu tiên kinh doanh nông nghiệp trên đất Biên Hòa Nhữngnăm đầu, ông ta khai thác 53 ha ruộng lúa, 4 ha mía, 43 ha cà phê, cacao, vani,tiêu, quế, chuối Dân phu làm trong sở đồn điền này có 53 người Ông ta có 16 conngựa, 22 con trâu kéo cày Misơlê chiếm hữu nhiều đất đai nhưng canh tác manhmún (diện tích trồng từng loại cây nhỏ, trồng nhiều loại cây khác nhau) bằng laođộng thủ công với kỹ thuật lạc hậu nên tất yếu kinh doanh thất bại vì thu không bùđược chi Đồn điền Misơlê phá sản hồi đầu thế kỷ XX Đồn điền của Misơlê là nơi

khai sinh lớp công nhân nông nghiệp đầu tiên ở Biên Hòa vì họ hoàn toàn bán sức lao động cho chủ, không còn là tá điền nộp t ô cho địa chủ.

Năm 1870, nhân lúc bên Pháp khan hiếm đường mía, nhà tư bản Krétxê(Kresser) gọi vốn của ngân hàng Anh ở Hồng Kông, mua máy móc tốn kém, lập nhàmáy đường ở Biên Hòa Quy mô xưởng không lớn, nhưng nhà máy không đủnguyên liệu để sản xuất, diện tích mía tỉnh Biên Hòa lúc ấy không hơn 1500 ha, chỉ

đủ cung ứng cho hơn 1000 lò đường thủ công có sẵn Nhà máy hoạt động khônghiệu quả, các cổ đông rút vốn, kết quả máy móc phải tháo gỡ mang đi nơi khác.Krétxê chuyển sang xin trưng khẩn 25.000 ha đất để trồng mía (chắc để khắc phụcviệc thiếu nguyên liệu) Ông ta nhờ các hương chức hội tề làm trung gian cho ngườitrồng mía vay vốn, nhưng cuối cùng cũng bị phá sản vì đường và mía thu được quáít

Năm 1876, viên luật sư Vanhxông (Vinson) lập sở trồng mía ở Biên Hòa cũngthất bại

Năm 1880, Lăngxơlô (Lancelot) lập nhà máy đường ở Lạc An, thuê mướnmột số người làm thợ nhưng liên tiếp bốn năm lỗ to rồi bị cháy Việc kinh doanhcủa nhà tư bản này hoàn toàn thất bại

(1[9])

Sơn Nam:Bến Nghé xưa, Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 1981, tr 81.

Trang 15

Kinh tế Biên Hòa–Đồng Nai hơn ba thập niê n cuối thế kỷ XIX chưa cóchuyển biến đáng kể, vẫn là kinh tế nông nghiệp lạc hậu như trước Điểm lại thời kỳđầu làm ăn của một số nhà tư bản Pháp trên đất Biên Hòa, họ nặng về kinh doanhnông nghiệp theo phương thức cũ nhằm bóc lột sức nhân công địa phươ ng rẻ mạt.

Số lượng người làm thuê cho tư bản Pháp còn ít ỏi, có thể coi đây là manh nha sơkhai của công nhân công nông nghiệp Biên Hòa–Đồng Nai

II.4 Công cuộc kinh doanh đá xây dựng của người Hoa và người Việt ở Biên Hòa

Đá ong màu nâu đỏ được biết dướ i cái tên đá Biên Hòa nổi tiếng từ xa

xưa(1[10]) Kỹ thuật khai thác đá do người Việt đi khẩn hoang, mang theo từ trung duBắc bộ vào Đồng Nai rất sớm Đá ong thường dùng làm mộ, tường rào, bực bếnsông, cột cao khoảng ba, bốn mét ; người ta còn dùng trả i đường hoặc lát đường

Sản phẩm đá ong Biên Hòa được tiêu thụ khắp Nam bộ từ vài trăm năm Cuốn Địa chí tỉnh Biên Hòa năm 1901 cho biết: “Cả tỉnh có 150 hầm đá, đặc biệt ở các làng Bình Đa, Bình Ý, Tân Phong, Tân Bản, Nhựt Thạnh, Bình Dương, Long Điềm, Tâ n

An, Tân Mai, Vĩnh Cửu, Phước Tân, An Lợi, Phước Kiểng, người Việt khai thác các hầm đá ong đem lại lợi nhuận cho các nhà thầu khoán Âu hay Tàu … Một mét khối

đá vụn giao tận chân công trình giá trung bình 1 đồng.”

Khai thác đá ong chủ yếu là thợ thủ công Việt Nam, họ tranh thủ làm vào lúcnông nhàn Họ chưa phải là công nhân theo đúng nghĩa Sản phẩm làm ra được cácchủ thầu thu gom giá rẻ, rồi thương lái dùng ghe chở mang đi bán khắp Nam kỳ vớigiá cao hơn

Đá xanh (đá granit) được khai thác đầu tiên ở núi Bửu Phong (tức núi Lò Gốmhoặc đồi Lò Gạch theo cách gọi của người Pháp) Người Hoa mang kỹ thuật khaithác đá này vào đất Đồng Nai từ thời lập Nông Nại đại phố cuối thế kỷ XVII Sách

Địa chí tỉnh Biên Hòa năm 1901 viết: “Tất cả các hầm đá đều khai thác lộ thiên Nhà thầu khoán được tự do làm, chỉ phải chịu chi phí sửa và duy tu đường vì việc chuyên chở của họ dẫn đến sự xuống cấp … 80 cái hầm đá granit ở các làng Bạch Khôi, Bình Điện, Tân Lại, Bình Trị, Bình Thạch Việc khai thác nằm trong tay hơn

400 người Hoa Họ bắn đá bằng thuốc nổ rồi đập nhỏ bằng công cụ sắt” Thợ đá

thủ công người Hoa ở trong phường hội có những ràng buộc không thành văn chặtchẽ chưa thoát ra để thành giai cấp công nhân thực sự (tính chất lao động tự do)

Nửa cuối thập niên 90 thế kỷ XIX, một người Việt Nam là Võ Hà Thanh, quêQuảng Ngãi, đã bỏ vốn thuê nhân công khai thác đá xây dựng và giàu lên nhanhchóng nhờ bóc lột giá trị thặng dư lao động của thợ đá Việt Nam làm cho ông ta Sốthợ đá này không nhiều, khoảng vài ba chục ngườ i Sở Trường tiền Biên Hòa (tức

Sở Công chánh) đầu thế kỷ XX cũng cho thầu khoán mở một số hầm đá để thu mua

đá cục (mơlông), đá đập nhỏ các cỡ 4x6, 5x7, 1x2, 3x4 dùng vào việc làm đường bộ,

(1[10]) Địa mạo bậc thềm sông Đồng Nai có đất phù sa cũ và ở các nơi đất trống đồi núi trọc, do tác động của khí hậu nhiệt đới gió mùa (nửa năm mưa nhiều, nửa năm khô hạn), đá ong dần dần hình thành chủ yếu do nước mao dẫn dâng lên từ gương nước ngầm kéo theo ôxyt sắt trong mùa khô kéo dài Đến một độ cao nhất định trong phẫu diện đất, ôxyt sắt kết tủa

thành lớp, thành khối Khi còn lớp đất mặt phủ thì tầng đá ong mềm có thể dùng chỏi (loại thuổng lớn lưỡi bẹt) xắn theo

kích cỡ mong muốn Vài ngày phơ i ra nắng gió, đá ong rắn lại; mưa nắng sẽ xói phần đất mềm để trơ bộ xương ôxýt sắt cứng lỗ chỗ như tổ ong.

Trang 16

đường sắt Mỗi năm ngành khai thác đá sản xuất tới 100.000m3 đá xây dựng.

Không có con số thống kê cụ thể, song có thể ước đoán số thợ thủ công khaithác đá ong và đá granit dùng cho xây dựng ở Biên Hòa có thể lên tới vài trăm trong

đó có cả người Hoa và người Việt Phần đông trong số họ chưa trở thành công nhânthực thụ, nhất là số người khai thác đá ong Họ làm ruộng là chính, làm nghề tay tráinày vào lúc nông nhàn Do đó để nông dân kiêm thợ thủ công chuyển biến thànhcông nhân còn cần nhiều thời gian; tuy con đường phát triển tất yếu của họ sẽ trởthành công nhân theo phân công lao động xã hội Một số thợ đá người Việt của Võ

Hà Thanh và sau đó thợ đá Sở Trường tiền (tức Sở Công chánh) gần với công nhânchuyên nghiệp

III TƯ BẢN PHÁP KHAI THÁC TỈNH BIÊN HÒA THEO CHƯƠNG

TRÌNH ĐUME (PAUL DOUMER) GIAI CẤP CÔNG NHÂN Ở BIÊN HÒA

RA ĐỜI

Đến cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp căn bản hoàn thành công cuộc bình địnhViệt Nam Họ bắt tay vào khai thác qui mô lớn thuộc địa Việt Nam cũng như toànĐông Dương

Ngày 22-3-1897, Toàn quyền Đông Dương Pôn Đume (Paul Doumer) trìnhmột dự án chương trình hoạt động lên Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp với nhữngđiểm quan trọng:

1 Tổ chức một chính phủ chung cho toàn Đông Dương và tổ chức bộ máy caitrị hành chính riêng cho từng xứ trong Liên bang

2 Sửa đổi chế độ tài chính, thiết lập hệ thống thuế mới sao cho phù hợp vớiyêu cầu của ngân sách, nhưng phải dựa trên cơ sở xã hội cụ thể, và phải chú ý khaithác những phong tục, tập quán của người dân Đông Dương

3 Chú ý trang bị thiết bị kinh tế lớn cho Đông Dương như xây dựng hệ thốngđường sắt, đường bộ, kênh đào, bến cảng … rất cần thiết cho công cuộc khai thác

4 Đẩy mạnh nền sản xuất và thương mại bằng việc phát triển công cuộc thựcdân hóa của người Pháp và bằng sức lao động của người bản xứ

5 Bảo đảm phòng thủ Đông Dương bằng việc thiết lậ p những căn cứ hải quân

và phải tổ chức quân đội và hạm đội cho thật vững mạnh

6 Hoàn thành công cuộc bình định xứ Bắc kỳ, bảo đảm an ninh vùng biêngiới Bắc kỳ

7 Khuếch trương ảnh hưởng của nước Pháp, mở rộng quyền lợi của nướcPháp ở vùng Viễn Đông, nhất là ở các nước lân cận(1[11])

Chương trình Đume có mục đích khai thác thuộc địa bảo đảm thu lợi cao nhấtcho thực dân Pháp cả ở mẫu quốc lẫn ở thuộc địa Giới cầm quyền thực dân quyếtđịnh chính sách khai thác thuộc địa Đông Dương: nền sản xuất (công nghiệp, nônglâm nghiệp) của thuộc địa thu gọn trong việc cung ứng cho chính quốc các nguyênliệu hay những vật phẩm mà nước Pháp không có với giá thật rẻ; công nghiệp pháttriển trong giới hạn bổ sung và không phương hại đến công nghiệp chính quốc

(1[11])

P Doumer,L’Indochine francaise (Souvenirs) Đông Dương thuộc Pháp (Hồi kí) dẫn theo Đinh Xuân Lâm và nnk: Đại

cương Lịch sử Việt Nam, T.II, Nxb Giáo dục, H., 1998, tr.96.

Trang 17

(nghĩa là không được cạnh tranh với công nghiệp Pháp) Mặt khác, Đông Dương làthị trường tiêu thụ sản phẩm công nghiệp Pháp; hàng hóa các nước bị hàng rào thuếquan cao ngăn chặn bớt.

Giới tư bản Pháp đánh giá Đume rất cao, “là vị toàn quyền tài giỏi nhất, từ lâu xứ thuộc địa này chưa từng có và cũng sẽ không có”(1[12])

III.1 Về công nghiệp

Năm 1898, nhà tư bản Blông-đen (Blondel) mở một trại cưa ở làng Tân Mai,tổng Phước Vinh Trung, quận Châu Thành Số thợ lúc đầu chỉ vài chục người, khaithác gỗ tại rừng thuộc lâm phận làng Vĩnh Cửu, xã Bình Trước (tỉnh lỵ Biên Hòa).Trại cưa này cung ứng gỗ xẻ cho thị trường nhưng chủ yếu đóng đồ mộc: bàn ghế,giường, tủ bán ở Sài Gòn và xuất khẩu cả về Pháp

Năm 1899, nhà tư bản Pelô (Pelleau) mở một xưởng nhỏ làm sơn và vé cni ởBiên Hòa Xưởng này đặt cách tỉnh lỵ Biên Hòa 2 km Các nguyên liệu làm sơn vàvécni đều mua của dân thu hái trong rừng, đó là dầu rái và nhựa vên vên có nhiềuthành đống ở gốc cây Nhựa có chất lượng tốt, dùng làm vécni, nhà binh sử dụngnhiều Xưởn g hoạt động ba năm thì đóng cửa năm 1902 Xưởng sơn của Pelô quy

mô nhỏ, số lượng công nhân ít, lao động thủ công chiếm phần chủ yếu Sơn do Pelô

làm cạnh tranh với sơn Pháp nên chẳng bao lâu xưởng phải đóng cửa

Năm 1907, trên nền trại cưa Blôngđen, một n hóm tư bản Pháp hùn vốn đầu tưxây dựng Nhà máy Cưa Biên Hòa(2[13]) (Exploitation forestière et industrielle deBien Hoa) đến năm 1912 thì hoàn thành Nhà máy có các phân xưởng: cơ khí -độnglực, xẻ gỗ, đóng đồ mộc Số công nhân lúc đầu khoảng 300 người Nh à máy CưaBiên Hòa là một trong các nhà máy hiện đại quy mô lớn, quan trọng ở toàn ĐôngDương đương thời Nhà máy có riêng hai nhánh đường sắt khổ hẹp: một nhánh từTrảng Bom lên Bến Nôm, một nhánh từ Ga Biên Hòa vào Nhà máy Cưa với 5 đầumáy xe lửa nhỏ, hơn 20 toa chở gỗ và củi Năm 1934, nhà máy tăng thêm thiết bị

mới thì số công nhân lên trên 500 cả nam lẫn nữ Công nhân hãng BIF đã là công nhân công nghiệp hiện đại thực thụ.

Đầu thập niên 20 thế kỷ XX, một nhóm tư bản thuộc công ty Pháp –Hoa–Việt

mở xưởn g gạch ngói máy công suất 120 mã lực ở Thiện Quan (xã Đại An) mỗi ngàylàm ra 6000 viên ngói, 40.000 viên gạch Số thợ ở đây chỉ vài chục

Prêvôn (Prévol) mở xưởng làm bàn chải nhỏ ở làng Phước Lý, mỗi ngày xuất

200 bàn chải, 200 chổi bằng nguyên liệu cỏ gà mọc đầy rẫy vùng Thành Tuy Hạ.Sản phẩm tiêu thụ ở Sài Gòn –Chợ Lớn

Ở tỉnh lỵ có xưởng xay xát gạo công suất 12 sức ngựa, số thợ khoảng chục

người.

Cuối thập niên 20 thế kỷ XX, tỉnh Biên Hòa có chi nhánh Công ty Điện vàNước Đông Dương (CEE: compagnie des eaux et électricité) kinh doanh điện vànước máy cho tỉnh lỵ Biên Hòa Điện kéo từ Nhà máy Điện Chợ Quán về bằngđường dây cao áp năm 1925 nhưng đến năm 1927 mới kéo đi vài phố cho một số hộdân Sau năm 1927, xí nghiệp cấp nước được xây dựng, nước từ sô ng Đồng Nai

Trang 18

bơm lên, qua lắng lọc, khử trùng được dẫn theo hệ thống ống gang vào các công sở

và một số nhà dân các phố quanh chợ Biên Hòa Số công nhân ngành điện và nướctoàn tỉnh chỉ năm đến bảy chục người

Năm 1930, một người Pháp là Đibua (G Dibourg) mở xưởng gốm Xêđô(CÉDO: céramiques du Donnai) ở ấp An Hảo (nay thuộc phường An Bình thànhphố Biên Hòa) chuyên làm ấm, tách, dĩa và bộ đồ bàn ăn để xuất khẩu về Pháp vàvài thị trường khác Ông ta mướn ông Cược, một cựu học sinh Trường Mỹ nghệBiên Hòa– sáng tác kiểu dáng, thuê thợ đốt lò người Hoa, còn việc in rót và xoaydùng thợ địa phương Bình Đa, An Hảo, Cù Lao Phố Tổng cộng thợ chừng vài chục

người Xưởng dùng vài loại máy đơn giản để lắng lọc phối trộn nguyên liệu đất, bàn

xoay Vào thập niên 40, x ưởng đóng cửa vì Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, hàngkhông xuất ra nước ngoài được

III.2 Về giao thông vận tải

Thực dân Pháp phát triển giao thông vận tải ở Biên Hòa nhằm hai mục tiêu:

mở đường khai thác, vận chuyển tài nguyên phong phú đồng thời dễ đàn áp nhữngcuộc nổi dậy lẻ tẻ của nhân dân các dân tộc trong tỉnh

Năm 1900, đường sắt Sài Gòn–Nha Trang bắt đầu làm từ hai đầu ráp lại Đểhoàn thành nhanh, họ rải phu từng quãng cách nhau năm bảy cây số Ngoại trừ khúcSài Gòn–Biên Hòa băng qua địa hì nh tương đối bằng phẳng, đoạn từ Biên Hòa trở đichạy qua vùng rừng núi ma thiêng nước độc, nhiều dốc, hầu như rất thưa dân Phulàm đường là nông dân bị bắt xâu theo lệnh nhà nước, dùng sức cơ bắp xẻ núi, đàođắp nền đường, được trả công chết đói Khi đoạ n đường sắt chạy qua tỉnh Biên Hòalàm xong (trước năm 1910(1[14])) thì có 10 ga được lập: Chợ Đồn, Biên Hòa, Hố Nai,Long Lạc, Trảng Bom, Dầu Giây, An Lộc, Xuân Lộc, Bảo Chánh, Gia Huynh.Ngoại trừ Ga Biên Hòa có đềpô là ga lớn, công nhân đông vài chục ng ười, các gakhác chỉ có vài công nhân tuần đường và sửa chữa những chỗ hư hại nhẹ Tổng sốcông nhân đường sắt khoảng trên dưới một trăm người, ở rải ra thành hàng chụcđiểm dọc đường tàu

Thực dân Pháp nhanh chóng mở rộng quốc lộ 15 trên cơ sở thiên lí cù làm từ

thời các chúa Nguyễn, năm 1902 thì xong đoạn Sài Gòn –Biên Hòa–Vũng Tàu dàitrên 100 kilômét

Thực dân Pháp còn mở quốc lộ 1 từ Biên Hòa đi Phan Thiết, nhiều đoạn chạygần song song với đường xe lửa Đoạn Biên Hòa –Gia Ray xong năm 1909 Từ GiaRay, lộ 3 đâm sâu lên Võ Đắc, Tánh Linh Khoảng thập niên 20, quốc lộ 20 khởicông để giao thông dễ dàng từ Sài Gòn lên Đà Lạt; con đường này gần hơn đườngSài Gòn–Phan Rang–Đà Lạt gần 100 km, tránh đèo Ngoạn Mục rất dốc và nguyhiểm Các tỉnh lộ, hương lộ lần lượt làm ngang dọc khắp tỉnh Các con đường nàyđâm sâu vào vùng đồng bào dân tộc ít người mạn Bắc, Đông và Đông Bắc BiênHòa, nơi còn có những bộ lạc chưa quy phục Pháp (sách báo cũ gọi là Mọi hoang)

Lực lượng làm đường bộ là nông dân các làng (kể cả đồn g bào dân tộc ítngười) đi xâu ít nhất nửa tháng mỗi năm, song có thể kéo dài hàng tháng hoặc hơn

(1[14])

Năm 1907, đường sắt thông xe tới ga Mương Mán, có nhánh chạy vào tỉnh lị Phan Thiết.

Trang 19

Chỉ có phu lục lộ của Sở Trường tiền (tức Sở Công chánh) mới là công nhân thựcthụ Số lượng công nhân giao thông không lớn lắm, tập trung ở tỉnh lỵ là chính

Không có số liệu thống kê cụ thể, chỉ ước đoán tổng số công nhân côngnghiệp và giao thông toàn tỉnh Biên Hòa vào khoảng 1000 người

III.3 Về nông nghiệp

Nông nghiệp nhiệt đới là ngành kinh tế được tư bản Pháp nhắm vào khai thácnhiều nhất vì được khuyế n khích, suất đầu tư thấp, sản phẩm dễ tiêu thụ ở thị trường

chính quốc và phương Tây Theo Địa chí tỉnh Biên Hòa năm 1901, toàn tỉnh có các

colon dưới đây:

– Misơlê ở làng Lạc An trồng mía, lúa (ruộng đất thì lớn nhưng khai thác chỉkhoảng 1/10 diện tích đất nhượng)

– Công ti Pari (Paris) ở làng Phước Tân trồng 25.000 cây cà phê

– Nativen (Nativel) ở làng Bình Trước trồng lúa và có 10.000 gốc cà phê.– Nicôla (Nicolas) trồng lúa, mía (không nêu địa chỉ và số lượng trồng)

– Tôrơbia (Torrebilla) trồng cà phê (không nêu địa chỉ và số lượng)

– Bốttông (Botton) trồng ở Bình Thạnh 6.000 gốc cà phê

– Giuyếcghenxen (Jurgensen) trồng ở làng Tân Lợi tổng Chánh Mỹ Hạkhoảng 60.000 gốc tiêu

– Crétchiêng (Crestien) trồng ở làng Chánh Hưng 30.000 gốc cà phê

– Bêrăngghiê (Bérenguier) trồng lúa (không rõ địa chỉ, diện tích)

– Rômăng (Romans) trồng ở làng Bình Dương tổng Long Vĩnh Thượng 2260gốc cà phê

– Lôrăngdô (Lorenzo) trồng ở làng Xuân Lộc 3.800 gốc cà phê

– Mugiô (Mougeot) không rõ trồng gì? diện tích? địa chỉ?

– Cônhắc (Cognacq) không rõ trồng gì? ở đâu?

Trong số colon nói trên, người ta biết chắc Nativen trước đó là thư ký thí saicủa Tòa bố Biên Hòa, Cônhắc là quan chức Soái phủ Nam kỳ Những tư bản Phápnày ở trong bộ máy chính quyền, việc xin trưng khẩ n đất đai rất dễ dàng, ít tốn phí

Ở Dầu Giây, vào đầu thế kỷ XX có một vùng đất nhượng badan rộng mấytrăm ha của một số nhà tư bản Pháp ở Sài Gòn Năm 1901, con đường sắt Sài Gòn –Nha Trang khởi công đồng loạt ở nhiều khúc, từ hai đầu Sài Gòn và Nha Trang ráplại Lúc ấy, vùng đất nhượng Dầu Giây này trở thành điểm picnic chủ nhật cho cácviên đốc công và người chỉ đạo công trình đường sắt Pháp nghỉ ngơi hàng tuần Họlập tại đây trang trại Dầu Giây, trồng thí nghiệm quy mô nhỏ một số loại cây: càphê, cacao, tiêu, cam quít, sả, trà, chaulmogras (chữa cùi), măng cụt, cola … và chănnuôi một số gia súc bản xứ Thí nghiệm không sinh lợi nhưng những người khởixướng không nản chí

Đầu năm 1904, đường xe lửa Sài Gòn nối thông tới ga Xuân Lộc

Trước đó dăm bảy năm, dược sĩ Belăng (Belland) trồng thử nghiệm thànhcông vài trăm gốc cao su ở Gia Định Tại trại suối Dầu (Nha Trang), bác sĩ Yécxanh(Yersin) cũng di thực cao su thành công Năm 1906, được sự giúp đỡ của ông Giámđốc Thảo cầm viên Sài Gòn Pie (Pierre), trang trại Dầu Giây thử trồng hơn 1000 gốc

Trang 20

cao su đầu tiên ở vị trí sau này là lô 9 của Đồn điền Xuydana (Suzannah) Cao suphát triển tốt.

Năm 1907, tư bản Pháp đổ xô trồng cao su vì vào thời điểm này, giá cao sutăng vọt trên thị trường thế giới do ngành công nghiệp ô tô phát triển mạnh tại châu

Âu và Hoa kỳ Những người hùn vốn vào trang trại Dầu Giây tiếp tục cho trồng vàichục ha thay thế dần các cây khác ít lợi nhuận hơn so với cao su Từ đó, đồn điềncao su đầu tiên thực sự ra đời ở tỉnh Biên Hòa Năm 1910, người ta gọi vốn để thànhlập công ty đồn điền vô danh mà chủ tịch hội đồng quản trị là Cadô (Cazeau) Vốncủa Công ty Đồn điền Xuydana (Suzannah)(1[15]) trước năm 1914 lên đến 1 triệufrăng đem trồng cao su Đầu tư vốn chủ yếu vào đây là Hội Thừa s ai Pari (MEP:Mission étrangère de Paris) do linh mục Actip (RP Artif) đại diện Diện tích cao sutăng nhanh thành vài trăm ha

Mới đầu, để có lao động khai hoang, trồng trọt và chăm sóc, Công ty Đồn điềnXuydana thuê người địa phương, trong đó có một số đồng bào dân tộc Ch'ro Nhưngdiện tích tăng, người ta phải mộ lao động nơi khác Năm 1911, do tác động của linhmục Actip, một cộng đồng vài chục hộ giáo dân Quảng Trị đầu tiên đã vào làm phuđồn điền

Năm 1910, nhà tư bản phá sản Ốctavơ Đuypuy (Octave Dupuy) chạy sangNam kỳ, nhờ thân quen với soái phủ nên được cấp không 800 ha đất đỏ ở Đồng Hápgần ga Xuân Lộc Ông ta cho trồng trên diện tích nhỏ một ít cây cao su với số côngnhân ít ỏi (Không có vốn đầu tư thêm, vả lại chủ quen thói ăn chơi ở Sài Gòn, đồnđiền này sinh lợi không đáng kể Năm 1918, Đồn điền Đồng Háp bán lại cho Công

ty Đồn điền An Lộc)

Cùng trong năm 1910, thủ lĩnh Công đoàn vàng(2[16]) Biêtri (Biétry), sau khihết vai trò chống phá Tổng Liên đoàn Lao động Pháp CGT, giới tư bản Pháp muố ntên tay sai biến khỏi Pari, đã yêu cầu chính phủ Pháp cấp cho y lô đất nhượng20.000 ha đất đỏ Cam Tiêm cộng với một số tiền mặt Y tới Sài Gòn năm 1913,không quen làm ăn chân chính nên chỉ cho trồng lấy lệ một diện tích nhỏ cao su theophong trào chung của colon Pháp lúc ấy Để có tiền ăn xài, y vay mượn lung tung vàgán văn tự đất cho chủ nợ, là giới tư bản Pháp ở Sài Gòn Năm 1924, vùng đất đỏCam Tiêm bán lại cho Gira với giá rẻ mạt để nhập vào Công ty Đồn điền Xuydana

Nhân vật thứ ba nhờ thân quen với giới công chức cao cấp Soái phủ Sài Gòn

là một phụ nữ trẻ đặt chân lên bến cảng Sài Gòn năm 1910 với hai bàn tay trắng Cônày lấy một hoa tiêu là Béctanh Đờ la Xútser (Bertin de la Souchère) Do khéo léogiao dịch, năm 1913 bà(3[17]) Đờ la Xútser được cấp không lô đất xám 1500 ha ở gầnquận lỵ Long Thành Bà ta cho trồng hơn nửa diện tích cao su song thiếu vốn nêncây kém phát triển (Năm 1933, đồn điền này sang tay Nhà băng Đông Dương doRôbe Xôliva (Robert Soliva) làm Giám đốc)

Cũng trong năm 1910, phủ Toàn quyền Đông Dương cấp cho công ty BIF

(1[15])

Lấy tên con gái ông Cadô là Suzanne Cazeau để đặt, hơi Mỹ hóa một chút.

(2[16]) Là công đoàn tay sai của giai cấp tư bản chuyên chống phá Tổng liên đoàn lao động Pháp CGT do Đảng Cộng sản Pháp lãnh đạo.

(3[17])

Phụ nữ Âu Mĩ lấy chồng đều gọi là bà (madame) dù còn trẻ; nếu chưa chồng thì dù lớn tuổi vẫn gọi là cô

(mademoiselle).

Trang 21

vùng đất nhượng badan mênh mông 28.000 ha ở phía Bắc và Đông Bắc tỉnh lỵ BiênHòa để đổi lấy con đường sắt khổ hẹp Trảng Bom –Bến Nôm do công ty này làm.

Do Chiến tranh thế giới thứ nhất và vì thiếu kinh phí nên năm 1920, công ty BIFmới cân bằng thu chi; đến năm 1926, đường sắt mới làm (phục vụ khai thác gỗ).Viên Giám đốc BIF là Đờ Xanh Saphray (de Saint Chaffray) bắt đầu cho trồng cao

su ở ba khu Trảng Bom, Túc Trưng, Bến Nôm; ít lâu sau, ba khu này thành ba đồnđiền cao su thuộc Công ty Cao su Đồng Nai LCD (Les caoutchous du Donnai) (Tậpđoàn BIF năm 1935 gồm công ty LCD và Nhà máy Cưa Biên Hòa BIF)

Năm 1911, Công ty Thương mại và Hàng hải Viễn Đông CCNEO đầu tư choGira (Girard) số vốn 3 triệu frăng để khai phá, mở Công ty Đồn điền Cao su An Lộc.Năm 1918, đồn điền này mở rộng thêm do mua rẻ được 800 ha đất nhượng củaỐctavơ Đuypuy (đã nói ở trên) Đồn điền này khá đông công nhân mộ từ Bắc kỳ vàTrung kỳ vào

Theo Địa chí tỉnh Biên Hòa năm 1924, toàn tỉnh có khoảng 30 sở cao su lớn

nhỏ:

– Công ty Đồn điền An Lộc đã trồng 1031 ha/ 1758 ha tổng diện tích

– Công ty Đồn điền Bàu Hang trồng 170 ha/ 170 ha tổng diện tích

– Đồn điền Béclăng (Berland) 10 ha/ 10 ha diện tích tổng cộng

– Công ty Đồn điền Bình Trước 170 ha/ 400 ha tổng diện tích

– Đồn điền Cam Tiêm 150 ha/ 2000 ha tổng diện tích

– Công ty Đồn điền An Viễn 680 ha/ 2471 ha tổng diện tích

– Đồn điền Cuê (Coué) 10 ha/ 198 ha tổng diện tích

– Công ty Cao su Đồng Nai 260 ha/ 420 ha tổng diện tích

– Đồn điền Phôngđaxen (Fondacel) 10 ha/ 75 ha tổng diện tích

– Công ty Cao su Gia Nhan 100 ha/ 450 ha tổng diện tích

– Đồn điền Giacômani (Giaccomani) 17 ha/ 117 ha tổng diện tích

– Đồn điền Idiđo (Isidore) 10 ha/ 10 ha tổng diện tích

– Đồn điền Lá Buông 50 ha/ 300 ha tổng diện tích

– Đồn điền Lê Phát Tân ?/ 200 ha tổng diện tích

– Đồn điền Linhông (Lignon) 30 ha/ 94 ha tổng diện tích

– Đồn điền Macquya (Marcuard) 25 ha/ 90 ha tổng diện tích

– Đồn điền Mĩ Đức 60 ha/ 360 ha tổng diện tích

– Đồn điền Phước Hòa 150 ha/ 111 6 ha tổng diện tích

– Đồn điền Phước Hạnh 100 ha/ 200 ha tổng diện tích

– Đồn điền Phước Lý 70 ha/ 425 ha tổng diện tích

– Đồn điền Phước Tân ?/780 ha tổng diện tích

– Đồn điền Ximônét (Simonette) 131 ha/ 790 ha tổng diện tích

– Đồn điền So Hai 20 ha/ 20 ha tổngdiện tích

– Đồn điền Đờ la Xutser 700 ha/ 3300 ha tổng diện tích

– Công ty Đồn điền Xuydana 900 ha/ 3100 ha tổng diện tích

– Đồn điền Suối Chùa 10 ha, Đồn điền Tân Mai 80 ha,

– Đồn điền Thành Tuy Hạ 687 ha/ 3015 ha tổng diện tích

Trang 22

– Công ty Đồn điền Xuân Lộc 525 ha/ 2363 ha tổng diện tích

– Đồn điền Vêdia & Macgông (Vézia & Margon) 12 ha/ 40 ha tổng diện tích– Tam May? 80/ 380 ha tổng diện tích

Đặc điểm chung: mỗi đồn điền cao su chiếm hữu diện tích đất rất lớn nhưngdiện tích đã trồng thì nhỏ Thí dụ , Đồn điền Phước Hòa có tỉ lệ diện tích đã trồng13,4%, Đồn điền Đờ la Xutser 21%, Đồn điền Xuân Lộc 22% Có đồn điền quantrọng như Đồn điền Phú Riềng không thấy ghi trong sách

Năm 1924, vùng đất nhượng Cam Tiêm 20.000 ha được Gira, đại diện quản trịcủa Công ty Đồn điền An Lộc và Xuydana mua lại Ông ta phiêu lưu kinh doanhmía đường từ năm 1927, kết cục thất bại thảm hại liên tiếp mấy năm 1928-1930 và

từ tháng 3-1931 chuyển sang trồng cao su, lấy tên là Đồn điền Ông Quế

Năm 1926, hai đồn điền Bình Lộc và Hêlêna thành lập Đồn điền Bình Lộc ởgiáp phía Bắc Đồn điền An Lộc Đồn điền Hêlêna nay ở xã Long An, nằm kề phíaNam Đồn điền Đờ la Xutser

Từ năm 1926-1928, ba công ty đồn điền mới ra đời: Công ty Nông nghiệpsông Ray (SAGRY, chi phối luôn Đồn điền Xà Bang), Công ty Công nông nghiệpBến Củi (SAIB) và Công ty Cao su Kompong Thom (SCKT ở Campuchia)…(1[18])

Các tập đoàn công ty SIPH, SPTR … sở hữu những đồn điền rộng cả ngàn hatrở lên Nguồn vốn đầu tư chủ yếu là nhà băng Đông Dương và Hội Thừa sai MEP.Các đồn điền tư nhân cũng vay vốn nhà băng chừng mực nào đó

(1[18])

Theo tư liệu của ông Lê Văn Nhựng, thông phán tòa bố Biên Hòa hồi trước Cách mạng tháng 8 -1945 thì cho đến năm

1945, cả tỉnh Biên Hòa có 60 đồn điền sau đây, tính theo từng quận:

I- QUẬN NÚI BÀ RÁ có 4 đồn điền:

Đồn điền Cao su Đak Kir Công ty CEXO (Compagnie de cultures d’ Extrême–Orient: Công ty Trồng trọt Viễn Đông), Đồn điền Cao su và Cà phê của quận đường Bà Rá, Đồn điền Cao su Bunhô (B ougnot) thuộc Công ty Đất đỏ (SPTR: Société des plantations de Terre Rouge), Đồn điền Cao su Thuận Lợi và Phú Riềng thuộc Công ty Misơlanh (Michelin) II- QUẬN TÂN UYÊN có 13 đồn điền:

Đồn điền Cao su của Công ty Chánh Mĩ Hạ (Société de C M Hạ), Đồn điền Cao su Phước Hòa, Đồn điền Cao su Kécuyêla (Kerhuella) ở Bình Cơ, Đồn điền Cao su Cuê, đồn điền cao su của Công ty Mĩ Đức, Đồn điền Cao su Acmo

(Armor) của Lơ Brê (Le Bret), đồn điền Luca Lăngdô (Lucas Lanzo) trồng cây sứ ylang có bông công chúa xuất qua Nhật

cất dầu thơm, Đồn điền Cao su Nguyễn Văn Hiếu (sau này là đại tá chế độ cũ), Đồn điền Cao su Xiđi Ibrahim (Sidi Ibrahim của đại tá Xê (Sée), Đồn điền Cao su của Công ty cao su Đồng Nai (Société générale des hévéas du Đồng Nai), Đồn điền Cao su Gò Lớn của Métxnê (Messner), Đồn điền Cao su Khưu Hòa, Đồn điền Cao su Lí Thành Lang.

III- QUẬN CHÂU THÀNH có 11 đồn điền:

Đồn điền Cao su Võ Hà Thanh, Đồn điền Cao su Võ Hà Hiển, Đồn điền Cao su Nguyễn Hữu Sửu, Đồn điền Cao su Étpinát (Michel Espinasse), Đồn điền Cao su Công ty Bình Trước (Société agricole de Bình Trước), Đồn điền Cao su Công

ty Biên Hòa (Société des plantations de Biên Hòa), Đồn điền Cao su Vedia (Vézia), Đồn điền Cao su suối Chùa của Ghêri& Giacômôni (Guéry& Giacomoni), Đồn điền Lơ Ghiđéc (Le G uidec) trồng cây vani lấy bột vani và chế rượu mùi, Đồn điền Cao su Trảng Bom thuộc Công ty LCD (Les caoutchoucs du Đồng Nai).

IV- QUẬN LONG THÀNH có 19 đồn điền:

Đồn điền Cao su sở Bà Đầm Đờ la Xútser thuộc Công ty SIPH, Đồn điền Cao su Hêlêna (Heléna) th uộc Công ty SIPH, Đồn điền Cao su Nguyễn Văn Yên và Trần Văn Đôn, Đồn điền Cao su Lasơvrốtchie (Henry Lachevrotière), Đồn điền Cao su Pôn (Paul) Lê Văn Gồng, Đồn điền Cao su Võ Thành Patcan (Pascal), Đồn điền Cao su Võ Văn Thành, Đồn điền Cao su Muyếctanh & Rêvectêga (Murtin & Révertégat), Đồn điền Cây điều (đào lộn hột macardiers) của Rêvectêga (Bruno Révertégat), Đồn điền Balăngxi (Balancie) trồng thanh yên (cédratiers) lấy trái ép nước nấu rượu mùi, Đồn điền cao su của Hội Truyền giáo Pari (MEP), Đồn điền Cao su Anôxtô (Anosto), Đồn điền Cao su của Công ty Thành Tuy Hạ, Đồn điền Cao

su Công ty Tay Vượng, Đồn điền Cao su An Viễn, Đồn điền Cao su Caruyét (Caruette), Đồn điền Cao su Bình Sơn của Công ty SPTR), Đồn điền Cadi (Casi) của Công ty Nông nghiệp Nam Đông Dương (Société agricole Sud Indochinoise), Đồn điền Đờlagiơ (Delage) nguyên của cộng đồng tu sĩ (sau Diệp Văn Cương và Lương Hữu Thọ sang lại).

V- QUẬN XUÂN LỘC có 13 đồn điền:

Đồn điền Cao su Cây Gáo của Công ty LCD, Đồn điền Cao su Túc Trưng của Cô ng ty LCD, Đồn điền Cao su Võ Hà Đạm, Đồn điền Cao su Trần Văn Phòng, Đồn điền Cao su Linhông, Đồn điền Cao su Phôngđaxi, Đồn điền Cao su Phabri (Fabri), Đồn điền Cao su Bơlét (Belette), Đồn điền Cao su Xipie (Gaston Sipière), Đồn điền Cao su suối Cả của G uyonnê (Alban Guyonnet), Đồn điền Cao su Xôvơte (Sauveterre) của bác sĩ Blanc Đồn điền Cao su Hàng Gòn trước của Badê (William Bazé), tiếp đó lập Công ty Đồn điền Cao su Xuân Lộc (SPHXL: Société des plantations d’hévéas de Xuân Lộc), Đồn điền Cao su Cuộctơnay (Courtenay) của Công ty SPTR.

Trang 23

Các đồn điền cao su ở Biên Hòa phát triển thành ba đợt: đợt 1 từ 1907 -1914,đợt 2 từ 1923-1929, đợt 3 từ 1934-1940 Hai đợt 1 và 2 diện tích trồng cao su tăngnhanh, trong đó đợt 2 tăng mạnh nhất; đợt 3 tăng chậm, chững lại dần và ổn địnhtrước Cách mạng tháng 8-1945 Xen kẽ là hai đợt suy thoái: từ năm 1914-1922 bịảnh hưởng Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), từ năm 1929-1933 bị ảnhhưởng suy thoái kinh tế toàn cầu Tỉ lệ diện tích trồng cao su ở Biên Hòa so cả nướckhông nhỏ:

– Năm 1918, Biên Hòa có 2.000 ha/ 7.000 ha cả nước, chiếm tỉ lệ 26,8%

– Năm 1930, Biên Hòa có 26.168 ha/ 84.100 ha cả nước, chiếm tỉ lệ 31,1%

Số công nhân cao su năm 1906 chỉ năm bảy chục người Đến năm 1930, ướctính số công nhân cao su lên tới 12.000 người

Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã làm thay đổi nhanhchóng cơ cấu xã hội Việt Nam về mọi mặt: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội TạiBiên Hòa, chính sách khai thác thuộc địa của tư bản Pháp có mặt tích cực: bước đầuphát triển cơ sở hạ tầng trong đó có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, giaothông vận tải hiện đại Nền công nghiệp và nông nghiệp kinh doanh theo kiểu tư bảnchủ nghĩa ra đời ở Biên Hòa tất yếu kéo theo sự hình thành GI AI CẤP CÔNGNHÂN ở địa phương

Nền công nghiệp và nông nghiệp tư bản hiện đại nằm trong hệ thống tư bảnthế giới nên giai cấp công nhân ở Biên Hòa là bộ phận của giai cấp công nhân ViệtNam hiện đại, tuy số lượng còn ít Họ sống tập trung, nhất là công nhâ n nhà máy vàcông nhân đồn điền Họ bán sức lao động cho chủ nhà máy, chủ đồn điền để mưucầu cuộc sống

Nếu lấy năm 1865, Lơ Phôsơ mở hầm khai thác đá thì giai cấp công nhâncông nghiệp ở Biên Hòa tính đến Cách mạng tháng 8 -1945 ra đời vừa tròn 60 năm.Nếu lấy năm 1866, Misơlê mở đồn điền trồng tỉa ở Lạc An thì đội ngũ công nhânnông nghiệp Biên Hòa ra đời được 59 năm tính đến Cách mạng tháng 8 -1945

Chính sách khai thác thuộc địa là nguyên nhân thúc đẩy giai cấp công nhânĐồng Nai nhanh chóng hình thành và phát triển chỉ trong vòng vài chục năm

IV ĐẶC ĐIỂM LAO ĐỘNG ĐỜI SỐNG CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN Ở

BIÊN HÒA ĐẾN TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

IV.1 Nguồn gốc xã hội của giai cấp công nhân ở Biên Hòa

Đội ngũ công nhân Biên Hòa không ra đời từ quá trình tiến hóa lâu dài từ lớpthợ công trường thủ công để trở thành người hoàn toàn làm thuê ăn lương như ở cácnước tư bản châu Âu Tuyệt đại bộ phận họ xuất thân từ giai cấp nông dân bị bầncùng hóa

Ở Biên Hòa, khi thực dân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng năm 1861, nôngdân 74 thôn làng gần nơi địch đóng đã bỏ đi nơi khác, biểu thị thái độ yêu nướckhông chung sống với giặc Nhà cầm quyền lấy cớ ruộng đất ở những nơi này vôchủ, đem “nhượng” cho một số tư bản hoặc tay sai để lập đồn điền với giá rẻ nhưcho không Ruộng đất của nông dân nhiều nơi còn bị bọn chủ điền, cường hào, quanlại người Việt dùng nhiều âm mưu thủ đoạn, lợi dụng khó khăn nào đó (thiên tai mấtmùa, bệnh tật) để chiếm đoạt Ở vùng đất đỏ, đồng bào dân tộc ít người: Ch'ro, Mạ,

Trang 24

S'tiêng, K’Ho bị đuổi ra khỏi phạm vi sóc, bòn của họ để bọn tư bản mở mang cácđồn điền Người nông dân Biên Hòa, kể cả người dân tộc thiểu số, bị mất hết tài sảnruộng đất chỉ còn hai con đường: chịu thân phận tá điền ở lại kéo cày thuê hoặc bỏquê ra đô thị, bán sức lao động trong nhà máy, xưởng thợ, đồn điền Điển hình nhưĐồn điền Dầu Giây lúc đầu đã thuê một số nhân công, Pháp gọi miệt thị là Mọi, vàolàm cho chúng Sau đó, một số không đông đồng bào Ch'ro, Mạ, S'tiêng vào đồnđiền làm culi khai hoang, làm người cung ứng củi đốt lò hơi để chạy máy ở một sốđồn điền Trong giai đoạn 1926-1936, người ta còn thấy một số toán người Chăm từmiền Nam Trung kỳ vào làm ở Đồn điền Ông Quế Họ theo đạo Hồi, vợ họ thườngmặc áo dài màu xanh lá cây(1[19])

Đồng bằng Bắc kỳ và dải đồng bằng Trung kỳ nhỏ hẹp đất chật, người đông,học giả Pháp Guru từng nói đến nạn nhân mãn tại đây Thực dân Pháp thực hiệnchính sách thâm độc: sưu cao, thuế nặng, cho vay nặng lãi bần cùng hóa đông đảonông dân Điều tất nhiên phải đến: ruộng đất ít ỏi của nông dân nhanh chóng rơi vàotay địa chủ, tư bản, nhà Chung Hàng trăm ngàn nông dân Bắc kỳ và Trung kỳ trởthành culi mỏ hoặc phu côngtra Đồn điền Nam kỳ và Campuchia như thế đó! Nhàthơ Tố Hữu đã có những câu thơ tả rõ điều này:

“Ôi nhớ những năm nào thuở trước Xóm làng ta xơ xác héo hon

Nửa đêm thuế thúc trống dồn Sân đình máu chảy, đường thôn lính đầy.

Cha trốn ra Hòn Gay cuốc mỏ Anh chạy vào Đất Đỏ làm phu Bán thân đổi mấy đồng xu Thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng!

(Ba mươi năm đời ta có Đảng)

Phu mộ Bắc kỳ được giới tư bản Pháp ưa chuộng “Rõ ràng mạnh khỏe hơn dân Trung kỳ và Nam kỳ, chịu đựng được công việc, có thể thực hiện những công việc khó nhọc trong các cuộc khai hoang và trồng tỉa ở những nhượng địa giữa rừng, người Bắc kỳ gần như độc qu yền thực hiện trong những điều kiện môi trường rất khắt khe khi mở khoảng 70.000 ha cao su trồng mới ở miền Nam Đông Dương giữa các năm 1925-1929 Không có họ, không nhờ nguồn lực lao động này thì không bao giờ có thể đưa vào khai thác trong thời gian ngắn như thế một diện tích đất đai đáng kể như thế”(2[20])

Số thợ thủ công Biên Hòa phá sản rồi trở thành công nhân chỉ chiếm tỉ lệ rấtnhỏ, nhất là ở giai đoạn trước Cách mạng tháng 8 -1945

Như vậy, có thể nói tầng lớp công nhân Biên Hòa hình thành từ các ng uồn:– Nông dân địa phương Biên Hòa

– Đồng bào dân tộc ít người còn ở trong tình trạng bộ lạc, thị tộc

– Nông dân lao động miền Bắc và miền Trung vào

(1[19])

Arnaud de Vogué: sđd.

(2[20])

Arnaud de Vogué: sđd

Trang 25

– Thợ thủ công phá sản.

Cho đến Cách mạng tháng 8-1945, ở Biên Hòa không có gia đình công nhânnào ba đời làm thợ cho tư bản Pháp

IV.2 Đặc điểm về lao động

Dưới thời thực dân Pháp cai trị, giai cấp công nhân ở Biên Hòa chủ yếu laođộng với hai hình thức:

IV.2.1 Chế độ lao động tự do

Tuyển mộ nhân công theo chế độ tự do chỉ áp dụng trong phạm vi hẹp, dànhriêng cho các nhân viên văn phòng (thư ký, kế toán…) và công nhân kỹ thuật ở đôthị, nhà máy Những người này phải có văn hóa hoặc trình độ kỹ thuật ở mức nhấtđịnh, đáp ứng được yêu cầu của bộ phận quản lý của thực dân Pháp Đây là hìnhthức tuyển mộ nhân công đặc trưng của chủ nghĩa tư bản (làm công ăn lương theothỏa thuận rõ ràng) Bọn chủ tư bản thực sự ngồi tận bên Pháp điều hành công việckinh doanh ở thuộc địa Chúng thuê người quản lý, thường là người châu Âu để trựctiếp trông coi lao động làm việc Những người quản lý được giao chức giám đốc(directeur), đại diện quản trị, đốc công (contremaitre) … này làm việc theo hợpđồng, có thể bị cho thôi việc bất cứ lúc nào nếu giới chủ xét thấy họ không làm đượcviệc Công nhân, viên chức ta lầm tưởng tất cả những người da trắng đều là ông chủnhà máy hoặc đồn điền, có quyền sinh quyền sát thật sự, với tâm lý mặc cảm tự ti đã

sợ sệt những người da trắng cũng làm công ăn lương này

Ở nhà máy, công xưởng, công nhân ta đều phải trải qua thời gian học việc vàinăm, hưởng khoản lương rất ít, có khi không lương, tuy họ làm thành thạo thao tác,đạt năng suất như mọi người thợ khác Để trở thành thợ chính thức, hoặc muốn đượcnâng lương, người công nhân phải lễ lạt, “biết điều” với cai, xu, sếp

Khi đã thành nghề, người lao động Việt Nam có khi còn bị giới quản trị nhàmáy, đồn điền thực hiện chế độ “ăn công làm khoán”; đó là phương thức quản lýkinh doanh tư bản chủ nghĩa ở thuộc địa Các đồn điền cao su là điển hình của lốibóc lột này Chúng khoán cho người cạo mủ định mức 350 đến 400 cây mỗi ngày;làm xong việc này hết nửa ngày, vào buổi chiều người công nhân phải dọn cỏ lô vàlàm một số việc không tên khác

Lao động với mức như nam giới nhưng lương phụ nữ thấp hơn rõ rệt Ở Nhàmáy Cưa Biên Hòa, lương thợ nam giới được 0,40 đồng/ngày thì nữ chỉ được trả0,30 đồng, vào lúc khủng hoảng kinh tế 1930 -1933, lương còn sụt bớt Ở các đồnđiền cao su, tình hình không khác gì Lương công nhân kỹ thuật cao hơn nhưng sovới thợ kỹ thuật châu Âu thì vẫn chênh lệch lớn Ông Tư Giang (Đào Văn Giang),thợ máy giỏi ở Nhà máy Cưa Biên Hòa lương năm 1935 1đồng/ngày, chỉ bằng 1/3lương thợ máy Pháp dù ông và người thợ Pháp làm cùng công việc sửa máy, có trình

độ tương đương Lương của những người quản lý nhà máy còn cao gấp mấy lần, họđược hưởng nhiều loại phụ cấp mà người công nhân không bao giờ dám mơ đến

Trang 26

động Thực chất, khi đặt bút kí /điểm chỉ (đối với người mù chữ) vào bản giao kèolàm thuê cho tư bản Pháp, người đó trở thành nô lệ có thời hạn Họ bán sức laođộng, bị hành hạ như nô lệ; các điều ký kết trở thành vô nghĩa vì nhà cầm quyền baogiờ cũng đứng về phía tư bản, bênh vực bọn tư bản Ngay khi nhậm chức Toànquyền Đông Dương, Đume ban hành nghị định ngày 26 -8-1899 qui định: thợ tự ý bỏviệc thì bị phạt tù nhẹ từ 1 đến 5 ngày và phạt tiền bằng 2/3 hoặc một tháng lương.Thời gian ngồi tù không tính vào thời gian giao kèo Nếu công nhân bỏ việc mà bànbạc với nhiều người thì bị xử theo luật hình, có thể bị tù tới ba năm, bị phạt tiền3.000 fr (khoảng 300 đồng, tương đương 10 tấn gạo!) Ra tù, còn “nợ” tiền thì ngườithợ phải làm để trả nợ Người thợ bị tù có thể được người quản lý nhà máy, đồn điềnPháp xin cho ra, chịu phạt lương sung công quỹ Đây là một kiểu bóc lột tinh vi khóthấy; người thợ hàm ơn sếp tốt bụng mà không hiểu từ địa vị người làm thuê ănlương chuyển sang người làm thuê không công cho tư bản.

Nguyễn Ái Quốc tố cáo trong Bản án chế độ thực dân Pháp: “được cấp không ruộng đất, bọn chủ đồn điền còn được cấp không, hoặc gần như không, cả nhân công nữa Nhà nước cung cấp cho chúng một số tù khổ sai làm không công, hoặc dùng uy quyền để mộ nhân công cho chúng với một đồng lương chết đói Nếu dân phu không đủ số hoặc tỏ ra bất mãn thì người ta dùng vũ lực, bọn chủ đồn điền tóm

cổ hào lý, đánh đập, tra tấn họ cho đến khi họ chịu ký giao kèo hẹn nộp đủ số nhân công mà chúng đòi hỏi”(1[22])

Để có nhân công cho các đồn điền cao su ồ ạt mở ra, bọn chủ tư bản câu kếtvới bọn cầm quyền thực dân và lũ tay sai dụ dỗ số đông nông dân ở châu thổ Bắc kỳ

và Trung kỳ đi phu vào Nam kỳ bằng lời lẽ đường mật: Nam kỳ là xứ làm chơi ănthật, đồn điền có sẵn nhà cửa cho culi, mỗi ngày làm 6 giờ công 80 xu, một bát gạotrắng, 1 lạng cá, có thịt, có nước mắm được phát không, ốm đau có thuốc men, đi banăm làm có món tiền thì quay về quê hương bản quán có cái vốn làm ăn về sau Nhất là bọn tay chân mộ phu lại ứng trước cho vài đồng (bằng giá 1 tạ gạo) khi kýcôngtra để giải quyết sưu thuế, đói khổ trước mắt thì làm gì người nông dân phầnđông mù chữ (sách báo cũ gọi là dốt nát), đang đói chẳng cũng liều nhắm mắt đưa

chân! Người nông dân chất phác nghèo khổ bị lừa ký hợp đồng: “Chúng bảo phải chụp hình để trình Nhà nước Có thế sau này hễ xảy ra chuyện gì, chính phủ mới bênh vực cho Thế rồi chúng đưa người phu đi chụp ảnh Chụp nghiêng, chụp thẳng

đủ kiểu Sau đó chúng đưa giấy bảo người ấy điểm chỉ để sau nhận ảnh Sau mới biết té ra giấy đó lại chính là một tờ hợp đồng in sẵn Cái ngư ời bị lừa ấy không bao giờ biết là mình đã điểm chỉ vào giấy bán đứt tính mạng và tự do của mình cho chủ

tư bản”(2[23]) Cứ một người phu mộ thì kẻ mộ phu được 10 đến 12 đồng, chỉ trongvòng mấy tuần lễ, tên mộ phu có thể kiếm 300 đến 400 đồng bạc

Lương tháng của công nhân vài đồng, cao lắm chưa đến hai chục Dù tiện tặn,

họ chẳng dư bao nhiêu Thế mà những người phu cao su không phải dân bản địa,hàng năm vẫn phải bóp bụng gửi về quê hương bản quán ngoài Trung, ngoài Bắcđóng xuất sưu vài ba đồng! Nếu khô ng, gia đình họ sẽ bị rắc rối lớn

(1[22])

Dẫn lại theo Bản án chế độ thực dân Pháp, Nxb Sự thật, H., 1976.

(2[23])

Trần Tử Bình: Phú Riềng đỏ, tr.241, Nxb LĐ, H.,1965.

Trang 27

IV.3 Đời sống của công nhân Biên Hòa

Nhưng tiêu biểu cho lao động cực nhọc là ở các sở cao su Theo các nghị địnhcủa nhà cầm quyền thực dân(1[24]), phu đồn điền mỗi ngày làm việc nhiều nhất 10giờ, kể cả thời gian đi và về; mỗi tuần nghỉ 1 ngày hay hai tuần nghỉ 2 ngày liền; Tếtnghỉ 4 ngày; ngày 5 tháng năm và rằm tháng bảy âm lịch cũng được nghỉ Chủ đảmbảo cho người phu tối thiểu đạt 25 công Phụ nữ sau khi đẻ được nghỉ 1 tháng ănlương

Nhưng thực tế, viên thanh tra Đờ Lama viết một bài dài đăng trên tờ Phục sinh tháng 12-1928 và tháng 2-1929: “lời khai của những người phu mà tôi thu thập được đều nhất trí cho rằng giờ lao động là như sau: 3 giờ sáng thức dậy, 4 giờ tập hợp Nhưng vì có hàng ngàn phu phải đếm nên chắc chắn là giờ khởi hành không thể trước 4 rưỡi, giữa ngày được nghỉ 1 tiếng rưỡi nhưng tất cả những người phu đoán chắc rằng chỉ đến tối mịt thì họ mới được trở về nhà.”(2[25])

Một ngày làm việc của công nhân cao su như sau:

3 giờ rưỡi sáng, kẻng nhất vang lên Người phu vội bật dậy nấu cơm, kịp nuốtvài chén lót dạ, mang theo để ăn trưa, chuẩn bị thùng đựng mủ, dao cạo, giỏ đựng

mủ bèo, mủ dăm 4 giờ r ưỡi kẻng nhì, họ đã có mặt ở sân điểm Người đến muộnkhi hàng ngũ đã tề chỉnh, chắc chắn bị gậy cù nèo, roi mây quất vào đầu, vào vai.Điểm danh xong, phu phải nhanh chóng ra lô, cạo cho nhanh và khéo (không bịphạm) Từ 5 giờ đến 9 giờ, mỗi người phu phải cạo xong phần khoảng 400 cây, mỗicây cách nhau 5-6 mét, nghĩa là người đó phải di chuyển gần 3 kilômét Người phutrước khi được giao cạo mủ, được hướng dẫn huấn luyện khoảng một tuần Cứkhoảng 7 công nhân lại có một viên cai kiểm soát, trên cai có xu coi một kíp vàichục phu cạo Hễ phu có sai phạm là bị đòn ngay, có người bị đánh chết mà không

ai dám chống lại! Cạo xong phần khoán, phu đi trút mủ, vét cho khéo từng chénhứng (để rớt mủ thì bị đòn và phạt tiền) sau đó gánh hai thùng mủ nộp ở nhà chứa

mủ Dù luôn chân luôn tay, phải 12 giờ trưa mới xong mọi việc đã nêu Người phutranh thủ ăn cơm và cá mắm xong, uống nước lã, rồi làm việc khác: làm cỏ (gọi làsạc lai), đắp đê chống mưa cuốn đất màu (với mức khoán dài 3 mét, rộng 0,70 mét,cao 0,4 mét)…

Người phu cao su khi làm việc, gặp nhiều nguy hiểm Phát rừng khai hoang,quần áo mau rách tướp nên họ thường chỉ đóng khố Ngày nay bạn đọc có thể cònthấy nhiều ảnh chụp trên sách báo thời đó Họ có thể bị cây đổ đè lên Muỗi, vắt,kiến, mối càng, kiến độ c có mặt khắp nơi Kiến bù nhọt (kiến vàng) to bám đầycây, bò chật đất, chích đau nhức không thua ong chích Con mòng đỏ tía, bằng hạt

Trang 28

thầu dầu, cắn vào chân tay gây sâu quảng (ghẻ hờm) rất khó chữa, một số phải cưachân tay vì vết loét quá nặng! Mối rừng cắn vào gây sốt, có phu lên cơn sốt ở lô,nằm bất tỉnh bị mối ăn chỉ còn bộ xương.

Cây cao su trưởng thành đầy rẫy kiến đỏ ở thân Bọn chủ thuê đồng bào dân

tộc thiểu số làm việc tỉa cành cao su, sau khi culi Việt không chịu làm “Dù da người Mọi khá dày, họ cũng không chịu nổi sự tấn công của kiến Người ta thấy trước hết họ không chịu thua lập tức việc cắt cành cây; trước hết cần tăng đáng kể tiền công, sau là thử cho họ mặc loại quần áo kiểu thợ lặn bằng lụa theo ý định dự kiến; nhưng ba lớp lụa khá bất tiện làm vướng víu hoạt động của họ và nếu bị móc vào những chỗ gồ ghề của cành thì toạc thường xuyên Vả chăng người Mọi thích sống trong không khí tự do hơn là gò bó trong quần áo Phần lớn bọn họ bỏ kiểu quần áo lặn, với làn da trần trụi, họ đối mặt kiên cường với đàn kiến đỏ Tuy nhiên, tính bền bỉ của Phrăngxoa Đờ la Xen (Francois de la Celle), Giám đốc Đồn điền Ông Quế, chấm hết vì người Mọi tự nhiên chán ghét công việc này”(1[26])

Lao động cực nhọc kéo dài, người phu cao su trong các đồn điền tư bản Pháp

còn bị đánh và cúp lương vì hàng chục “tội ” kê chưa đầy đủ dưới đây:

– Bắt kiềng lệch và không đúng kích thước

– Đặt chén hứng mủ hơi nghiêng/không lau kỹ trong và ngoài chén mủ

– Cạo không ngay, miệng cạo không thẳng

– Cạo không đúng qui định 1 mm (không được nông hơn/sâu hơn)

– Cạo phạm xương cây

– Để mủ rớt xuống đất vài giọt mà không vét hết

– Trời mưa để mủ tràn dính cây mà không gỡ kịp

– Không làm hết phần cây khoán

– Dao cạo không sắc

– Bệnh chưa liệt giường mà không đi làm

– Không đủ số mủ qui định

– Không biết “phải, quấy” với cai, xu.

– Có vợ xinh mà không dâng cho xu, sếp

– Để gốc cây bẩn …

Bọn cai, xu, sếp có nhiều kiểu hành hạ dã man: bắt quì rồi trói vào gốc cây màđánh, bắt nằm sấp chổng cẳng lên rồi đánh vào gan bàn chân sau đó bắt chạy bộhàng cây số; phụ nữ có bầu tự đào hố úp bụng xuống để ăn đòn Người phu bị đánh

ở bất cứ chỗ nào: sân điểm, ngoài lô Ở nhiều đồn điền, mỗi tên cai hàng ngày lĩnhhàng chục chiếc roi; tên sếp đi kiểm tra roi nếu thấy roi còn nguyên th ì tên cai đó bịđòn thế mạng Vì vậy “sếp đánh cai, cai nhai chết phu”

Nữ công nhân càng chịu nhiều khổ nhục, ai có chút nhan sắc thì bị điều độngtới nhà riêng của cai, xu, sếp làm việc vặt: quét nhà, tưới vườn và bị giày vò đếntàn tạ Nếu người chồng chống cự, có thể bị đánh chết; người vợ thả cho về là đã rama:

–Vợ mình là thật vợ mình,

(1[26])

Arnaud de Vogué: sđd

Trang 29

Xu, sếp muốn lấy mặc tình chẳng kiêng

–Cao su đi dễ khó về, Trai thì bỏ xác, gái thì còn xương

Trong sách Phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân cao su miền Đông Nam bộ, tác giả Thành Nam cho biết: “Theo một tài liệu còn để lại, tại một đồn điền thuộc Công ty Đồn điền Đất Đỏ, tính ra cứ 100 công nhân thì có 37 người mắc bệnh nặng Một tài liệu còn lưu giữ tại Đồn điền An Lộc cho thấy tại nơi đây, tuổi thọ bình quân của nam công nhân không quá 30 Còn nữ công nhân thì có đến 95% chị em bị sẩy thai hoặc ốm đau Nhiều trẻ em mới 2, 3 tuổi đã mắc bệnh sưng

lá lách hoặc phù thận” (tr.27).

Theo quy định của các đồn điền, người phu nào ốm liệt giường mới được đinhà thương chữa bệnh Giới chủ ra lệnh cho y, bác sĩ phải đánh thật đau, qua đó xácđịnh ai bệnh thật, ai bệnh giả vì chúng có định kiến người phu nói chung lười biếngkiếm cớ đi nhà thương để nghỉ làm Ở nhà thương, hễ phu ăn được cháo thì họ bị bắtlàm các việc: lau nhà, xách nước, làm cỏ vườn hoa

Người phu đồn điền có nhiều kiểu chết: chết bệnh, chết vì rắn rết, bị đánhchết, uất ức quá mà tự tử Năm 1935, ở Đồn điền Ông Quế có ngày tới 10 ngườithắt cổ tự tử

Thi hài người chết không bao giờ có hòm riêng Họ chỉ được bó bằng chiếcchiếu họ nằm lúc sống rồi cho vào quan tài duy nhất dùng chung Đến nghĩa địa, bóchiếu bọc xác được trút xuống huyệt, lấp đất; còn quan tài mang về dùng chôn ngườichết sau

Nghĩa địa là vùng đất trống dọn sẵn, mỗi huyệt cách nhau 5–6 mét nhìn vuôngnhư ô bàn cờ Vài tháng sau, trên mỗi mộ trồng một cây cao su non Bọn quản lýgiải thích trồng cây để che mát cho người đã khuất, nhưng thực ra là việc làm dãman:

Cao su xanh tốt chốn này, Mỗi cây bón một xác người công nhân.

Hận thù trời đất khôn cầm, Càng tươi dòng mủ, càng bầm ruột gan

Đồng lương thợ nhà máy cũng như công nhân cao su là đồng lương chết đói

Lương của phu đồn điền có phần thấp hơn, nhất là chị em phụ nữ “ Trước khi ở Bắc

kỳ ra đi, người ta hứa phát gạo không mất tiền cho phu, nhưng khi đến đồn điền thì người ta trừ tiền gạo vào lương Vợ cai, xu (giám thị) bán chịu gạo với giá 2 đồng một hộc, gạo này rất xấu, phu phải tự nấu ăn Phu phải uống nước suối hay nước nguồn vì không có nước uống, vài người lấy lá cây rừng về nấu uống Côngtra là ba năm, nhưng công ty tìm cách kéo dài bốn năm bằng cách vin cớ chủ nhật và những ngày lễ phu không đi làm Nhưng sau bốn năm, người phu may sống sót cũng không

có cách nào quay về xứ vì không có tiền và quần áo Họ buộ c phải ở lại và ký thêm côngtra nữa Theo qui định, mỗi tháng được trả 12 đồng, nhưng những ngày bệnh

và ngày nghỉ thì không có lương Mỗi tháng người ta bớt vào lương 5 hào để trừ vào

Trang 30

món tiền 6 đồng họ lĩnh trước khi đi Người ta hứa công ty sẽ trả thuế thân hàng năm trong thời gian giao kèo cho phu, nhưng người ta không giữ lời hứa và thân nhân những người phu ở các làng quê đã buộc phải trả phần thuế này ”(1[27]) Ngàylĩnh lương, viên thủ quỹ bắt công nhân xếp hàng ở phòng phát tiền, theo danh sách

gọi số(2[28]) Người phu phải lĩnh cho nhanh, nhét vội nắm tiền vào túi không được

đếm lại, làm trái thì bị đòn và có thể không được trả lương nữa Lương công nhânđược tính chi li, có nơi, bọn cai, xu còn bày trò đánh bạc, chơi bài sao cho hếttháng thì hết tiền, thậm chí còn mắc nợ, khiến họ không thể dành dụm mà về xứ khimãn giao kèo

Tiền lương của thợ máy cưa khá hơn phu cạo mủ đồn điền chút đỉnh, tuy cũng

rẻ mạt Làm việc vặt (hiểu là không chuyên môn) công 30 xu/ngày; có nghề chuyênmôn 35 xu; thạo nghề 50 xu Anh chị em làm việc 10 đến 12 giờ mỗi ngày, ốm đaukhông thuốc men (và dĩ nhiên không đi làm thì không có lương), còn phải góp côngkhông để chủ lập quĩ cho thợ vay lãi Các dịp lễ, Tết mọi người phải góp tiền, mua

lễ vật biếu thầy cai, ông xu, ngài sếp …

Về ở, nhà cửa của thợ máy cưa Biên Hòa thường là nhà tranh vách lá Một số

đi thuê nhà trong các hẻm xóm lao động bùn lầy nước đọng Tuy gỗ bìa bắp vứtchồng đống, nhưng nhà cửa phần đông công nhân là nhà tranh vách lá Do thợ đấutranh, để tỏ lòng tốt, các viên quản lý nhà máy người Pháp mới đồng ý cho thợ lấy

số bìa bắp này về thưng quanh nhà và cho họ lấy đầu mẩu gỗ, gỗ đầu thừa đuôi thẹo

về đun mà xí nghiệp đỡ tốn công dọn dẹp Về sau, củi khan hiếm thì các phế phẩmcủa nhà máy: mùn cưa, bìa bắp, đầu mẩu gỗ … được mang bán lấy tiền

Ở các đồn điền, người phu và gia đình họ ở các trại vách ván lợp tranh, loạilán trại mỗi dãy dài dăm bảy chục mét hoặc hơn, trong đó lèn chật ních người, sống

hoàn toàn hỗn tạp, Acnô Đờ Vôghê (Arnaud de Vogué) nhậ n xét “hoàn toàn giống hệt với điều kiện cư trú truyền thống của người Mọi (sic) kế bên” (sđd) Số cai, xu ở

nhà riêng, số quản lý người Pháp ở nhà gạch, nhà lầu khang trang hoặc ở nhà trệtbằng gỗ có hiên rộng (bungalow) Các lán trại đồn điền thường dựng gần suối, nơiđất thấp gần ao đầm lầy lội để có nước ăn uống, tắm giặt Nếu làm ở nơi đất cao thìmùa khô không có nước, dù giếng đào sâu hàng chục mét Những đầm ao là ổ muỗisốt rét Vôghê đi thăm nhiều đồn điền của tập đoàn Công ty Cao su SIPH nhận thấ y

điển hình tình trạng tồi tệ về sốt rét ở Bình Ba: “Bệnh sốt rét giáng vào số culi Bắc kỳ phân khu Ladông (Lason) bị tuyên bố là nguy hại Tử suất và bệnh sốt rét hoành hành năm 1926-1927 ở phân khu này trước đó chưa từng có ở Nam kỳ đã gây tai tiếng xấu nhất đối với nhà chức trách ở Sài Gòn cũng như giữa các đồn điền và nhà băng” (Vôghê: Sđd) Dĩ nhiên điều kiện sống của số nhân viên người Âu khá

hơn phu bản xứ song bệnh sốt rét không tha ai, một số người Âu cũng bị sốt rét hành

hạ Để trấn an phần nào tinh thần phu và số quản lý đồn điền, giới tư bản cho thựchiện vài biện pháp: đồ dầu madút xuống các đầm lầy và nơi nước tù đọng hòng ngănmuỗi anôphen sinh sôi nảy nở Viên chức Âu thì được phát kinakrin uống tại nhà.Còn phu đồn điền thì sáng sáng p hải uống một chén nước kíninh đắng nghét dưới sự

Trang 31

giám sát chặt chẽ của cai, xu, sếp khi tập hợp điểm số.

Về sau, do công nhân đấu tranh, giới chủ buộc phải cải thiện phần nào nhà ở.Những làng cao su hình thành gồm một số căn nhà gạch lợp ngói, mặt ngoài q uétvôi chừng hai, ba năm một lần Quanh căn nhà có thửa vườn nhỏ để gia đình họtranh thủ trồng rau, khoai lang, cây ăn quả và nuôi gà vịt, heo Nhưng số lán tranhvẫn tồn tại ở mức độ nào đó chứ không mất hẳn, nơi đó giành cho các người sốngđộc thân Họ nằm trên vạt tre, đun nấu ở một góc lán Những làng này không có hệthống cống rãnh nên nước thải chảy tràn lan nhớp nhúa Số viên chức Âu và taychân được ở trong những căn nhà riêng, cất rộng rãi hơn, cạnh nhà có vườn hoa; một

số căn hộ là nhà tiền chế do hãng máy cưa Biên Hòa làm ra, lắp ghép nhanh

Vào khoảng những năm 20 đầu thế kỷ XX, cái chợ đầu tiên lập ở Đồn điềnDầu Giây, dưới các gốc cao su gần nhà Hội đồng Không rõ ai là người khởi xướng,chợ họp đều đặn vào chủ nhật hàng tuần Những người buô n bán nhỏ mang hàngđến bán cho phu: vải vóc, quần áo, thực phẩm … rẻ hơn ở mấy tiệm buôn chạp phôcủa người Hoa Khi trời mưa, kẻ bán người mua tùy nghi tìm nơi tránh ướt Do nhucầu đòi hỏi, người quản lý đồn điền là Truiơ (Trouilleux) buộc phải cho xây chợ vàonhững năm 30

IV.3.2 Đời sống tinh thần

Nỗi đau lớn nhất của đội ngũ công nhân Biên Hòa là cái nhục mất nước Hàngngày làm việc dưới sự cai quản của vài tên “mắt xanh mũi lõ” cùng bầy tay sai lămlăm roi gậy giáng xuống đầu, nỗi nhục mất nước của họ không chỉ âm ỉ nung nấutâm can mà vết lằn roi hiện trên đầu, mặt, tay chân, thân thể Không chịu chào sếpTây, không tỏ ra khép nép khúm núm khi chúng đi ngang qua, lập tức người thợxưởng máy, người phu đồn điền bị “xà lù”, đá, tát, roi ngay Thân ph ận nô lệ của họngày càng không thể chịu đựng nổi Năm 1943, lính Nhật đóng ở đầu Đồn điền sở

Bà Đầm Long Thành chiều nào cũng kéo đàn kéo lũ tắm truồng ở chiếc giếng ngayđường đi Một anh phu hỏi:

– Tắm thế này mà không mắc cỡ à?

– Chúng mày mất nước mới phải xấu hổ Chúng tao tắm thế này, có sao! –mộttên biết tiếng Việt nói độp vào mặt anh nọ Lòng anh nhói đau, uất ức khôn xiết, vềsau anh đi theo Cách mạng

Bọn thực dân luôn luôn áp dụng chính sách chia để trị Chúng rêu rao dân Bắc

kỳ vào làm ở các đồn điền Nam kỳ đã cướp một phần công ăn việc làm của dân địa

phương Chúng gieo rắc tính kỳ thị, nói lấy được, đại loại “Giữa người Nam kỳ với người Trung kỳ về một phía, người Bắc kỳ về phía kia, hình như không khắng khít tình cảm anh em cùng nòi giống và cùng thuộc một cộng đồng dân tộc”, “…họ khác biệt người Nam kỳ về ngôn ngữ, về ăn mặc, quần áo họ nhuộm màu nâu đỏ bằng củ nâu, khác rõ rệt ngay từ cái nhìn đầu tiên về màu đen và trắng truyền thống ở Trung

kỳ và Nam kỳ, và nói chung về lối sống cũng như chế độ ăn uống ”(1[29]) Đây làmột thủ đoạn của bọn thực dân nhằm phân hóa công nhân trong đồn điền cao su vàcác xưởng máy, gây tâm lý chia rẽ dân tộc trong nội bộ công nhân

(1[29])

Arnaud de Vogué: sđd

Trang 32

Để ngăn cản công nhân đấu tranh bỏ việc, bọn thực dân treo giải thưởng chođồng bào dân tộc ít người ở các làng quanh các đồn điền: nếu ai bắt, giết được phucao su bỏ trốn sẽ được thưởng tiền, muối Không phải là chúng không thành công ítnhiều trong việc gieo rắc chia rẽ giữa người Việt ở ba kỳ khác nhau, giữa phu ngườiKinh và đồng bào dân tộc thiểu số.

Kìm hãm công nhân, cũng như toàn dân, trong dốt nát tăm tối để dễ bề đàn ápmọi người là ý đồ sâu xa của thực dân Pháp Phần đông lớp công nhân đầu tiên củaNhà máy Cưa Biên Hòa tiếp xúc với kỹ thuật mà mù chữ hoặc chỉ biết đọc biết viếtchút đỉnh Hoc trò những khóa đầu Trường Bá nghệ Biên Hòa chỉ cần biết tròm trèmchữ quốc ngữ; sau mới tuyển những ai học hết lớp ba (cours élémentaire), đó đã lànhững năm 30; vào những năm 40 thì phải học đến lớp nhất (cours supérieur) Họcthợ cơ khí ở đềpô Dĩ An cũng vậy Phu lục lộ (sửa đường bộ) và phu đường tàu phầnđông ít học hơn Đông đảo phu mộ ở các đồn điền mù chữ, họ không được học kỹthuật khai thác, chăm sóc cây cao su Các viên cai, xu chỉ bảo qua loa nên nhiềucông nhân mắc lỗi trong thao tác cạo mủ (cạo nông hoặc cạo phạm lập tức bị đánh!)Sau này vào giữa những năm 30, do phong trào đấu tranh của công nhân lên cao,chủ tư bản mới cho lập ở một số đồn điền vài trường sơ học (mở từ lớp 1 đến lớp 3)

Ở gần nhà máy, xí nghiệp và ở các đồn điền đều có những cửa hàng đại lý bánrượu (R.A), có nơi bán cả thuốc phiện (R.O) Người công nhân, người phu tan tầm

về nhà trong tình trạng kiệt sức, chân tay rời rã, nhìn cảnh gia đình khốn quẫn, dễtìm cách giải sầu “cho quên hết sự đời” bằng r ượu, thuốc phiện Khi chưa giác ngộ,

số đông công nhân cho rằng số mình khổ do thượng đế an bài, do đó họ tìm niềm an

ủi trong việc đi lễ chùa, nhà thờ

Ai nhắc đến những quyền tự do dân chủ, tự do hội họp, tự do học hành, tự dongôn luận thì giới chủ và n hà chức trách không để yên Họ sẽ bị buộc tội xúi giụclàm loạn, tội làm cộng sản … và chắc chắn ngồi tù

có tinh thần đấu tranh bất khuất chống áp bức, bất công

Sống và lao động trong môi trường mới cực khổ, tủi nhục, những người nôngdân khi trở thành giai cấp công nhân bước đầu ý thức được quyền lợi của giai cấp(dù chưa phải là tự giác); họ đoàn kết lại trên cơ sở những người đồng hương, đồngcảnh ngộ, tương trợ nhau khi khó khăn, hoạn nạn Điều kiện lao động, môi trườngkhắc nghiệt kết hợp với truyền thống đoàn kết, truyền thống đấu tranh của dân tộc,tạo cho giai cấp công nhân ở địa phương một sức mạnh tiềm tàng, khi có điều kiệnthì sẵn sàng đứng lên đấu tranh

Trang 33

CHƯƠNG II

GIAI CẤP CÔNG NHÂN BIÊN HÒA TRONG ĐẤU

TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC (1930–1945)

I PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN Ở BIÊN

cây đập cho tên này té xỉu rồi bỏ sở từ buổi chiều hôm ấy (theo Phong trào đấu tranh cách mạng phường Thống Nhất, thành phố Biên Hòa).

Việc công nhân đánh cai, xu, sếp về sau không hiếm, tiếp diễn dài dài Ngườithợ hiểu thân phận thấp cổ bé họng của mình, chẳng đặng đừng phải chống lạinhững áp bức tàn tệ của bọn này

Các đồn điền là nơi tập trung số phu đông đảo thì các hình thức đấu tranh tựphát cũng đa dạng:

– Bỏ trốn: kiểu phản ứng thường gặp, người phu nghĩ đơn giản: ở lại trước

sau cũng chết, bỏ trốn may ra còn sống sẽ tìm đường về quê làm lại cuộc sống mới

Họ trốn từng người hoặc từng nhóm Phần đông phu bỏ trốn bị bắt lại bị đánh đậptàn nhẫn, số ít làm mồi cho hổ báo, một số bị người thiểu số lầm lạc bắt, giết để lĩnhthưởng

– Tự tử: là hình thức phản kháng tiêu cực do cuộc sống quá đen tối bi thảm

không lối thoát “Tự sát thì nhiều vì con đường đánh Tây để về Bắc r ất khó, nên người đau ốm chỉ giải quyết bằng tự sát: tự sát trong nhà, tự sát ngoài suối nước … Từ nhà ra rừng cao su, lúc nào cũng có mùi hôi thối của người tự sát treo cổ”(1[1])

(1[1])

Theo Giai cấp công nhân Việt Nam những năm trước khi thành lập Đảng , Nxb Khoa học xã hội, H., 1978.

Trang 34

– Lãn công, phá cây giống: ở Đồn điền Phú Riềng (lúc đó thuộc tỉnh Biên

Hòa), công nhân lãn công, phá cây cao su giống (để ghép) Hình thức này giốngcách đấu tranh phá máy móc của công nhân châu Âu, gây cho chủ thiệt hại nhấtđịnh Chúng phải đưa Vasê (Vachet) về thay hung thần Trie (Triai) Năm 1928, vừađặt chân đến nơi, Vasê ra lệnh cấm cai, xu đánh phu Y mua chuộc công nhân bằngcách cho lập phường chèo, phường nhạc cổ, còn cấp tiền cho mua quần áo, mũ mão,đàn sáo, trống nhị … Chính Vasê cho khoán công việc (nhưng lương cố định) để đốiphó công nhân lãn công

– Nổi dậy chém Tây: Tháng7-1927, công nhân Đồn điền Phú Riềng đấu tranh

chống tên Giám đốc Trie, gọi là chủ nhất, cũng là kẻ làm thuê cho chủ tư bản ở tậnPari, cho bọn cai, xu, sếp vô lối đánh đập anh chị em phu cạo Nhưng tên chủ nhất

do có chỉ điểm, đã đánh đập và b ỏ tù anh phu Trần Tử Bình

Chứng kiến cảnh công nhân bị đánh đập tàn nhẫn, và thói dâm đãng của bọncai, xu, sếp, nhất là của tên Môngtây (Monteil), anh Nguyễn Đình Tư cùng nhữngngười một lòng một dạ trích máu ăn thề quyết giết tên ác ôn này Một buổi sán gtháng 10-1927, trong cuộc điểm danh thường nhật, anh Tư bất ngờ dùng lưỡi búamài bén chém y; nhiều nhát búa chất chứa căm hơn bổ tiếp vào thân xác tên này Y

cố chạy về lấy súng nhưng nhát búa cuối cùng bửa đôi mặt làm y gục xuống Tênchủ nhất Trie cho lính bao vây chặt, bắt đi dăm, sáu chục người, y tự tay bắn chếtvài công nhân … Muc tiêu giết Môngtây đã đạt, nhưng cuộc manh động này chưađánh trúng kẻ thù là đánh đổ tất cả bọn thực dân để giải phóng dân tộc

– Kiện ở tòa án: Anh Nguyễn Văn Chánh là cai ở làng 2 Đồn điền Phú Riềng.

Anh không đánh đập công nhân như những tên cai, xu khác Tên chủ sở Valăngtanh(Valentin) bực mình với anh Một ngày cuối năm 1927, y ra lô tìm cớ gây sự rồi đáanh dập lá lách, chết tại chỗ Một số công nhân tiến bộ vận động mọi người cùng vợanh Chánh đâm đơn kiện ở Tòa án Biên Hòa Bọn quản lý sở đã đút lót nên Tòa ánBiên Hòa xử Valăngtanh tội ngộ sát, bồi thường cho vợ anh Chánh 5 đồng Kết quả:công nhân vừa phẫn uất, vừa bi quan, anh em hiểu thêm trong chế độ ấy không thể

có sự công minh; muốn cho “những anh Chánh khác” không uổng mạng thì phải đicon đường khác!

Tóm lại, một số cuộc đấu tranh buổi đầu của giai cấp công nhân ở Biên Hòa lànhững phản kháng tự phát, cá nhân, lẻ tẻ Hầu hết những cuộc đấu tranh đó thất bại,

họ còn bị giai cấp thống trị đàn áp đẫm máu Sự tàn ác, hà khắc của bọn tư bản thựcdân và tay sai càng nung nấu trong công nhân lòng căm giận, để từ đó nâng cao ýthức về giai cấp mình, kinh nghiệm đấu tranh tích lũy ngày càng nhiều Đó là nhữngkhoản học phí đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc phải trả bằng máu

Người công nhân buộc phải đấu tranh sống còn với kẻ thù, như vậy “giai cấp tư sản tạo ra những kẻ đào huyệt chôn chính nó”(1[2])

I.2 Phong trào đấu tranh của công nhân Biên Hòa trước khi Đảng Cộng

Trang 35

chiến hạm Pháp ở biển Đen để biểu lộ sự ủng hộ Cách mạng tháng 10 Nga bị chínhphủ Pháp trục xuất về Sài Gòn Anh công nhân Tôn Đức Thắng đã l ập Công hội Đỏđầu tiên ở Nhà máy Bason, hoạt động theo kiểu của Tổng Liên đoàn Lao động PhápCGT do Đảng Cộng sản Pháp lãnh đạo Ảnh hưởng của Công hội Đỏ lan ra một sốnhà máy, xí nghiệp và Nhà máy xe lửa Dĩ An (Đề pô Dĩ An).

Giữa năm 1925, tổ chức Hội Thanh niên cách mạng Việt Nam (còn gọi là ViệtNam Thanh niên cách mạng đồng chí hội) được Nguyễn Ái Quốc thành lập ở QuảngChâu (Trung Quốc) Nhiều thanh niên yêu nước ở trong nước được bí mật cử đi, saukhóa huấn luyện lại về nước hoạt động Tháng 10 -1926, Phan Trọng Bình vàNguyễn Văn Lợi được cử về Sài Gòn xây dựng cơ sở Mạng lưới Kỳ bộ Nam kỳ củaHội Thanh niên cách mạng Việt Nam phát triển nhanh chóng ở Sài Gòn và các tỉnhvới khoảng 500 hội viên Thực hiện chủ trương vô sản hóa, nhiều hội viên hòa mì nhvào đi làm ở các nhà máy, đồn điền

Tại Biên Hòa, vài tiểu tổ Hội Thanh niên cách mạng Việt Nam được tổ chức ởĐồn điền Cam Tiêm, Nhà máy Cưa BIF Nguyễn Đức Văn (Nguyễn Tam) do NgôGia Tự phái về, đã hoạt động ở Đồn điền Cuộctơnay (Courtenay, bây giờ là Nôngtrường Cao su Cẩm Mỹ)

Tháng 4-1928, chi bộ Hội Thanh niên cách mạng Việt Nam ở Đồn điền Cao

su Phú Riềng thành lập với 5 hội viên: Nguyễn Xuân Cừ làm Bí thư, Trần Tử Bình,Nguyễn Mạnh Hồng, Tạ, Hòa

Ngày 20-9-1928, một cuộc đấu tranh lớn nổ ra ở Đồn điền Cam Tiêm Hơn

500 phu cạo mủ kéo ra sân điểm phản đối viên Giám đốc Pháp không thực hiện bảncôngtra: đối xử tử tế với phu, tăng lương cho anh chị em, trả người mãn hạn giaokèo về xứ.… Công nhân vác gậy gộc bao vây văn phòng sở Bọn sếp, xu, cai hoảng

sợ bỏ trốn về Đồn điền Dầu Giây, cho người báo gấp đồn hiến binh Xuân Lộc vàTòa bố Biên Hòa Chủ tỉnh phái 20 lính và 3 hiến binh về Cam Tiêm, thẳng tay bắngiết, bắt bớ … làm hàng chục anh em chết và bị thương, nhiều người quá sợ chạy rarừng trốn Hàng tháng sau, đồn điền mới trở lại làm việc bình thường Dư luận Phápxôn xao, Tổng Liên đoàn Lao động Pháp lên tiếng phản đối vụ đàn áp dã man củabọn tư bản, bày tỏ sự đồng tình ủng hộ cuộc đấu tranh của công nhân Đồn điền Cam

Tiêm nói riêng, công nhân Việt Nam nói chung: “Hỡi các công nhân cao su! Các anh có biết rằng giá cao su bây giờ hạ lắm, thế mà bọn nghiệp chủ vẫn cứ ngày càng giàu lên không? Anh làm lụng vất vả suốt ngày như thế mà tiền cong có đủ ăn không? Anh ơi! Anh bị bóc lột thậm tệ đấy! Những sản nghiệp, tiền bạc lớn lao kia chính là mồ hôi và nước mắt của hàng nghìn người lao động như anh vậy … Anh em hãy đoàn kết nhau lại! Chưa muộn đâu!”(1[3])

Tháng 9-1928 tại Phú Riềng, một tên sếp Pháp đánh bị thương một người phu.Toàn thể nghiệp đoàn đình công, biểu tình đòi “cấm đánh đập, bỏ cúp phạt lương” ,đòi chủ bồi thường cho người bị đánh Bọn chủ phải bồi thường, chế độ làm việc cảithiện một phần Cuộc đấu tranh thắng lợi làm gương cho các đồn điền khác cũng đòiquyền sống cho giai cấp

Từ những cuộc đấu tranh lẻ tẻ, tự phát đến những cuộc đấu tranh có tính quy

(1[3])

Dẫn theo Lịch sử phong trào công nhân cao su Việt Nam, tr.49, bài viết của Bernardom.

Trang 36

mô, tập trung của công nhân đồn điền cao su cho thấy sự phát triển về ý thức củagiai cấp công nhân ở địa phương, bước đầu mang tính tự giác, có tổ chức chặt chẽnhưng chưa thu được kết quả mong muốn Đó là do các cuộc đấu tranh này nổ rađơn độc, có tính cục bộ.

Vào cuối thập niên 20 thế kỷ XX, giai cấp công nhân Việt Nam phát triểnnhanh đòi hỏi một chính đảng kiểu mới Tổ chức Hội Thanh niên cách mạng ViệtNam không còn đáp ứng yêu cầu lãnh đạo cách mạng trong giai đoạn mới Vì vậynhững phần tử tiên tiến nhất trong Hội, trước hết là những người hoạt động trực tiếptrong phong trào công nhân, sớm nhận thức tính tất yếu đó, đứng ra xúc tiến vậnđộng thành lập Đảng Cộng sản Đại hội toàn quốc Hội Thanh niên cách mạng ViệtNam tháng 5-1929 chưa nhất trí, tại đây diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt về vấn đềthành lập chính đảng của giai cấp công nhân Một số đại biểu dự đại hội bỏ về nước.Tháng 6-1929, Đông Dương Cộng sản đảng ra đời ở Bắc kỳ Tháng 10-1929, ở Nam

kỳ, An Nam cộng sản đảng tuyên bố thành lập Tháng 1 -1930, đảng Tân Việt ởTrung kỳ tự cải tổ thành Đông Dương Cộng sản liên đoàn Ba tổ chức cộng sản ở ba

kỳ đều tự nhận mình là cộng sản chân chính, tranh thủ Quốc tế Cộng sản công nhận

Ngô Gia Tự là một trong các thành viên sáng lập Đông Dương Cộng sản đảng,sau này là một nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng, cùng một số đồng chí khác từ HàNội được cử vào Sài Gòn hoạt động xây dựng cơ sở Đồng chí Nguyễn Đức Vănliên hệ được với chi bộ ở Phú Riềng, do đó ngày 28-10-1929, chi bộ Đông DươngCộng sản đảng ở Phú Riềng được thành lập với 6 đảng viên: Nguyễn Xuân Cừ (Bíthư), Trần Tử Bình, Nguyễn Mạnh Hồng, Tạ, Hòa, Doanh

Được sự ủy nhiệm của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc chủ tọa cuộc hợpnhất ba tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam Ngày 3-2-1930, ĐảngCộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại của lịch sử nước ta, mở đầuthời đại cách mạng do giai cấp công nhân và đội tiên phong của nó là đảng theo chủnghĩa Mác–Lênin lãnh đạo

I.3 Phong trào đấu tranh của công nhân Biên Hòa từ khi Đảng Cộng

sản Việt Nam ra đời cho đến Cách mạng tháng Tám-1945.

I.3.1 Sự kiện Phú Riềng đỏ

Chi bộ Đông Dương Cộng sản đảng Đồn điền Phú Riềng mới thành lập đã bắttay vào tổ chức ngay các đoàn thể quần chúng: đội thanh niên xích vệ do Trần TửBình phụ trách, nghiệp đoàn đồn điền do Nguyễn Mạnh Hồng phụ trách, hai tổ chứcnày hoạt động bí mật Thông qua nghiệp đoàn, chi bộ lập các hội quần chúng thu hútđông đảo phu đồn điền: hội xuân thu nhị kỳ của phu bên lương, hội ông ThánhGiuxe của phu theo đạo Thiên Chúa, hội đá banh, hội múa lân Các hội này hoạtđộng công khai để tập hợp, giác ngộ từng bước, phát động công nhân đấu tranh

Từ khi thành lập, chi bộ đẩy mạnh công tác tuyên truyền gi áo dục về sự bóclột của tư bản, về tinh thần dân tộc, tạo cho công nhân đồn điền tinh thần đoàn kết,thương yêu nhau hơn vì họ ý thức được quyền lợi giai cấp Mọi hoạt động đều thốngnhất: đấu tranh chống cúp phạt, đòi cấp gạo tốt, không ăn cá ươn và thịt bạc nhạc,đòi thả đồng chí Trần Văn Cung là tù chính trị, giác ngộ đồng bào dân tộc ít ngườigiúp đỡ che chở cho phu bỏ trốn Được chi bộ Phú Riềng lãnh đạo, từ ngày 30 -1-

Trang 37

1930, 5000 công nhân đồn điền đã bãi công Quy mô bãi công lớn chưa từng có đãvang dội cả nước qua báo chí đăng tải Bọn chủ gọi điện cho lính đồn Phú Riềng tớiđàn áp Đội thanh niên xích vệ dũng cảm tước ngay 11 khẩu súng khiến viên chỉ huyPháp và đội lính 25 tên tháo chạy Bọn chủ, sếp, xu, cai bỏ chạy về Sài Gòn cầu cứu.

Chi bộ Đảng nhận định: nếu nổi dậy giành chính quyền riêng lẻ cô độc sẽ bịđịch tập trung quân tiêu diệt; chỉ tiếp tục bãi công, đưa yêu sách và giữ trật tự tốt.Ngày 6-2-1930, Thống đốc Nam kỳ Krôteme (Krautheimer), Chánh mật thám ĐôngDương Ácnu (Arnoux), Tham biện chủ tỉnh Biên Hòa Macti (Marty), Phó chủ tỉnhVinmông (Vilmont) đem 300 lính lê dương, 500 lính khố đỏ về, tính dùng súng đạndìm cuộc nổi dậy trong súng đạn Nhưng chúng chỉ thấy công nhân sinh hoạt bìnhthường, không có dấu vết chứng cứ nổi loạn nào Một số yêu sách hợp tình, hợp lýbuộc bọn thực dân phải giải quyết thỏa đáng Chúng chưng hửng rút quân nhưng càilại một số mật thám Chưa có kinh nghiệm giữ bí mật, một số cán bộ đảng viên vàquần chúng tích cực bị bắt giam ở khám lớn Biên Hòa

Chúng mở phiên tòa xét xử, các đảng viên cộng sản dũng cảm vạch trần tội ácthực dân bằng các chứng cứ và lý lẽ đanh thép Tuy một số bị kết án các mức tùkhác nhau song tiếng vang của sự kiện Phú Riềng đỏ lan rộng rãi, ảnh hưởng đếnphong trào đấu tranh của nhân dân lao động, nhất là thợ máy cưa BIF ở ngay tỉnh lỵBiên Hòa và các đồn điền cao su khác

Sự kiện Phú Riềng đỏ cộng hưởng với cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới1929-1933 khiến giới tư bản chóp bu ở bên Pháp hoảng sợ Ácnô Đờ Vôghê ghi lại

tâm trạng khi ấy: “Phủ Toàn quyền Đông Dương bắt đầu xúc động thật sự: nếu những công ty đồn điền bị dồn đến bước đường cùng trong bản kết toán, họ sẽ không có khả năng chi trả cho nhân sự tại chỗ thì hậu quả ở các tỉnh ra sao? Liệu hàng chục ngàn culi có đi biểu tình lên các tỉnh lỵ, thị trấn? Liệu có đặt họ vào tình cảnh cướp bóc những địa phương lân cận chăng? Để họ hành hạ người Âu và gia đình những người này chăng? Nếu người ta cam lòng làm tệ hại tình hình tại chỗ không dự tính hốt thuốc trước khi quá trễ, những rắc rối nghiêm trọng sẽ nảy sinh không tránh khỏi” (sđd).

Cuộc đấu tranh của tập thể công nhân Đồn điền Cao su Phú Riềng là cuộc đấutranh có quy mô lớn được Đảng Cộng sản lãnh đạo Lần đầu tiên đấu tranh giai cấpcông nhân được thể hiện với hình thức mới: Có lãnh đạo, tổ chức của Đảng Cộngsản, sự thống nhất mục tiêu đấu tranh, đấu tranh kết hợp vũ trang, đánh dấu mộtbước phát triển về ý thức giai cấp của công nhân địa phương

I.3.2 Một số cuộc đấu tranh đầu tiên ở Nhà máy Cưa Biên Hòa (BIF)

Năm 1929, anh Nguyễn Văn Hợp, dân Nghệ Tĩnh, xin vào làm thư ký chohãng cưa BIF Qua những lần chuyện trò về thời thế xa gần, anh bóng gió gợi tìnhcảnh khổ cực của người dân nô lệ mất nước, từng bước tuyên truyền giác ngộ chomột số thợ và dân xóm Tân Mai Anh đánh máy một số truyền đơn, anh Ba Hạt(Nguyễn Văn Hạt) là thủ kho in thêm bằng xu xoa (thạch trắng) Một đêm, ba anh:Hợp, Ba Hạt và Tư Giáp (dân Tân Mai) rải truyền đơn khắp con đường từ Nhà máyCưa vào xóm Tân Mai Nội dung truyền đơn kêu gọi thợ thuyền và dân cày đoàn kếtđòi thực dân Pháp bãi bỏ chế độ bắt dân đi xâu, giảm sưu cao thuế nặng

Trang 38

Ngày 28-4-1930, nhiều truyền đơn kêu gọi thợ thuyền và các giới đồng bàoủng hộ Đảng Cộng sản Việt Nam và chào mừng ngày Quốc tế Lao động 1 -5 sắp tới,kêu gọi công nông binh liên hiệp đấu tranh … rải tại khu vực Nhà máy Cưa và một

số nơi trong tỉnh lỵ

Ngày 1-5-1930, thợ máy cưa đình công, đưa ra các đòi hỏi: ngày làm 8 giờ,không được đánh đập cúp phạt thợ, không bắt thợ làm việc ngày chủ nhật (nếu làm,phải trả công gấp đôi) Bọn quản lý nhà máy người Pháp, mà thợ và nhân dân địaphương quen gọi là chủ, hứa không để cai, xu đánh thợ, hạn chế làm việc chủ nhật;còn các điều khác chúng lờ đi Cuộc đấu tranh này mới thu kết quả hạn chế, nhưngđịch không dám đàn áp Cho đến tháng 9-1930, cơ sở cách mạng ở Nhà máy CưaBiên Hòa nhiều lần rải truyền đơn kêu gọi thợ đấu tranh, ủng hộ cao trào Xô ViếtNghệ Tĩnh

Công nhân các đồn điền cao su liên tiếp chống phát gạo mục, cá ươn

Hoảng sợ trước phong trào công nhân đấu tranh, b ọn thực dân thống trị tậptrung lực lượng đàn áp, khủng bố, phá vỡ nhiều cơ sở Đảng trong phạm vi cả nước.Tháng 5-1931, nhiều đồng chí Thường vụ Trung ương và Tổng Bí thư Trần Phú bịbắt Xứ ủy Nam kỳ cũng không còn Cuối năm 1931, những đảng viên còn lại tổchức Xứ ủy lâm thời, không bao lâu lại vỡ Tháng 4-1932, đồng chí Hồ Văn Longtiếp tục lập lại Xứ ủy lâm thời thì đến tháng 10 phần lớn Xứ ủy viên bị bắt Tháng 5 -

1933, đồng chí Ba Bang (Trương Văn Bang) lập Xứ ủy mới, cử cán bộ đi các tỉnh,móc nối với số đảng viên còn lại để từng bước khôi phục phong trào

I.3.3 Chi bộ Tân Triều–Bình Phước thành lập năm 1935.

Vào những năm 1929-1930, phong trào cách mạng tỉnh Biên Hòa phát triển.Một số người giác ngộ lần lượt được kết nạp vào Đảng: Quách Tỷ, Quách S anh, Bá

Tư Chà (Lưu Văn Viết)(1[4]) Khi địch khủng bố ác liệt, phong trào tạm lắng

Anh thanh niên Tư Chà tạm lánh đi nơi khác, năm 1933 trở về Biên Hòa Bềngoài, anh bán bánh mì rong để dễ dàng đi các nơi tuyên truyền cách mạng, xâydựng cơ sở Anh giáo dục rồi kết nạp người em ruột là Chín Văn (Lưu Văn Văn)làm việc ở Nhà thương điên Biên Hòa vào Đảng Anh cũng giác ngộ và kết nạpđồng chí Tư Phan (Huỳnh Văn Phan) ở Bến Cá–Tân Triều Cơ sở do đồng chí TưChà xây dựng ít nhưng là hạt nhân đầu tiên hình t hành tổ chức Đảng ở Biên Hòa saunày

Đầu năm 1935, đồng chí Hoàng Minh Châu (tức Vỹ) được Liên Tỉnh ủy miềnĐông cử về hoạt động ở Biên Hòa, đã bắt liên lạc được với nhóm đồng chí Tư Chà.Trên cơ sở này, chi bộ Đảng Bình Phước –Tân Triều thành lập, gồm: Ho àng MinhChâu làm Bí thư, Tư Phan là Phó bí thư, Lưu Văn Viết, Lưu Văn Văn, Quách Tỷ,Quách Sanh, Trần Minh Triết Ngày 1-5-1935, chi bộ in và rải truyền đơn ở BửuLong Mở rộng tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa cộng sản, xây dựng cơ sở cáchmạng, chi bộ thà nh lập Liên đoàn Học sinh các trường tiểu học Tân Triều, BìnhPhước, Bình Hòa, Bình Ý, Tân Phong, Bửu Long Sách báo tiến bộ công khai cổ vũ

số hăng hái nhất của Liên đoàn noi gương dám xả thân vì nước của các bậc tiền bối.Một số thanh niên học sinh ưu tú được kết nạp Đảng: Phạm Văn Thuận, Huỳnh Dân

(1[4])

Tư Chà người xã Bình Phước, quận Châu Thành, Biên Hòa (nay là Bình Thạnh, h Vĩnh Cửu).

Trang 39

Chi bộ Đảng thành lập ở Tân Triều–Bình Phước sau chi bộ Phú Riềng, đánhdấu bước ngoặt trong phong trào cách mạng tỉnh Biên Hòa hồi đó, dẫn đến việcthành lập Tỉnh ủy lâm thời Biên Hòa trong cao trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương1936-1939

Tháng 4-1936, Mặt trận Bình dân Pháp–do Đảng Cộng sản Pháp làm nòngcốt, giành thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử Chính phủ Mặt trận Bình dân lên nắmquyền đã ban bố một số chủ trương, chính sách tiến bộ với các thuộc đị a

Từ các năm 1933-1935, làn sóng xu hướng đòi tự do dân chủ trong các tầng

lớp nhân dân ta ở Nam kỳ ngày càng lên cao Tờ báo Chuông rè (La cloche félée) của nhà yêu nước Nguyễn An Ninh và sau đó các báo Avăng Gác (Avant Garde: Tiền phong), Lơ Pớp (Le Peu ple: Dân chúng), Lao động, Bạn dân, Nhành lúa, Tin tức, Thời thế của Đảng kế tiếp xuất hiện, gây tiếng vang lớn, thu hút hàng ngàn bạn

đọc nhiều nơi trong tỉnh Biên Hòa Những báo chí tiến bộ này cổ vũ các tầng lớpnhân dân đấu tranh đòi quyền dân sinh, dâ n chủ trong khuôn khổ luật pháp đươngthời

Ngày 13-8-1936, Ủy ban trù bị Đại hội Đông Dương thành lập tại Sài Gòn

Ủy ban này chỉ đạo việc thành lập Ủy ban hành động các tỉnh và chuẩn bị Đại hộiquốc dân Chỉ trong thời gian ngắn, 600 ủy ban hành động các cấp ra đời ở Nam kỳ

Đầu tháng 9-1936, các đồng chí Dương Bạch Mai và Nguyễn Văn Nghĩa(Xược) được Ủy ban trù bị Đại hội Đông Dương cử về Biên Hòa để chỉ đạo phongtrào, vận động cách mạng Đồng chí Nghĩa cùng các đồng chí Huỳnh Văn Lũy,Phạm Văn Khoai, Phạm Văn Thuận, Hồ Văn Đại và một số đồng chí khác trongchi bộ Tân Triều–Bình Phước họp bàn thực hiện quyết định của Trung ương Đồngchí Nguyễn Văn Nghĩa được cử làm Chủ tịch Ủy ban hành động tỉnh Biên Hòa Trụ

sở đặt tại khách sạn Thanh Phong (xưa gọi là nhà ngủ Thanh Phong, nay là trụ sởCông an phường Hòa Bình, thành phố Biên Hòa) Ủy ban hành động Nhà máy CưaBiên Hòa ra đời sớm nhất tỉnh

Ngày 15-11-1936, hơn 400 công nhân BIF bao gồm các cơ sở ở Biên Hòa,Trảng Bom, Xuân Lộc đồng loạt bãi công phản đối giới chủ công ty bắt thợ làm quásức bù vào những giờ bị cắt giảm theo nghị định ngày 11 -10-1936 của Thống đốcNam kỳ (ngày làm 8 giờ) Đồng thời đại biểu thợ yêu cầu tăng thêm 30 xu lươngmỗi ngày Anh chị em kéo đến văn phòng đưa yêu sách thì nhân viên bảo mọi ngườiráng đợi đến ngày thứ hai, Giám đốc về sẽ giải quyết Anh chị em đồng lòng rủ nhaukhông làm, ở lì nhà máy, nhắn người nhà mang cơm tới Mấy ngày liền, cổng nhàmáy rộn rịp người lui tới đưa cơm, thăm hỏi, động viên Báo chí đương thời g ọi là

làm reo nằm vạ Nhà chức trách Nam kỳ đánh giá đây là cuộc bãi công chiếm

xưởng Giám đốc quản trị công ty về, hoảng sợ trước sự đoàn kết nhất trí của thợ,phải nhượng bộ, tăng lương 10 xu, như vậy cuộc đấu tranh mới giành thắng lợi mộtphần Thống đốc Nam kỳ Pagiétx (Pagès) đánh giá sự kiện bãi công của thợ Nhàmáy BIF vô cùng nguy hiểm, dễ lây lan, sách động các đồn điền cao su, xưởng máynơi khác noi theo

Đầu năm 1937, Tỉnh ủy lâm thời Biên Hòa thành lập, Bí thư là đồng chí

Trang 40

Trương Văn Bang, các tỉnh ủy viên là: Huỳnh Liễn, Trần Minh Triết, Huỳnh VănPhan, Lê Văn Tôn, Nguyễn Hồng Kỳ.

Tỉnh ủy Biên Hòa tổ chức các chi bộ mới ở các xã: Tân Triều, Mỹ Lộc, MỹQuới, Thiện Tân, Bình Ý, Cây Đào … Nhà máy Cưa BIF có hai chi bộ: chi bộ thợmáy (Bí thư: đồng chí Trần Hồng Đạo) có 3 đảng viên, chi bộ lao động đơn giản (Bíthư: đồng chí Tư Ngàn) có 3 đảng viên Quận Châu Thành còn có chi bộ Ga BiênHòa, chi bộ sở củi Trảng Bom Tháng 2-1937, chi bộ đầu tiên ở quận Xuân Lộc rađời, Bí thư: đồng chí Ba Nghệ (Nguyễn Văn Lắm), Phó bí thư: đồng chí Năm Vận(Lê Văn Vận) Đồng chí Trương Văn Bang cũng lập được một chi bộ ở Đồn điềnCao su Cuộctơnay

Tỉnh ủy lâm thời chỉ đạo thành lập các tổ chức quần chúng hợp pháp và bánhợp pháp để tập hợp lực lượng, trên cơ sở đó tuyê n truyền giác ngộ và phát độngđấu tranh Tổ chức công hội được lập ở Nhà máy Cưa BIF, Ga Biên Hòa, các đồnđiền cao su ở Xuân Lộc, Long Thành Nhưng phổ biến nhất là các hội ái hữu, hộitương tế, hội chùa, hội miễu, hội cúng đình, hội múa lân, hội nhà v àng, hội đábanh … lập khắp nơi, thu hút đông đảo người lao động

Dưới sự chỉ đạo của chi bộ Nhà máy Cưa BIF, ngày 28 -5-1937, toàn thể anhchị em công nhân bãi công phản đối bọn cai, xu đánh đập thợ

Ngày 21-5-1938, công nhân Đồn điền Cao su Phú Riềng đòi tăng lương

Ngày 18-11-1938, hơn 200 thợ máy cưa đình công phản đối chủ giảm giákhoán công xẻ 1 mét khối gỗ từ 1 đồng xuống 6 cắc

Ngày 1-1-1939, hàng ngàn công nhân các đồn điền cao su trong tỉnh đồng loạtbãi công đòi tăng lương, đòi cải thiện đời sốn g Cuộc đấu tranh quy mô rộng lớn nàybuộc chủ các công ty Đồn điền Cao su SIPH, Đất Đỏ ra lệnh cho các sếp đồn điềngiải quyết một số đòi hỏi: giảm mức khoán, sửa nhà cửa dột nát, cấp giường nằm,phát thuốc cho người bệnh, bán gạo tốt

Phối hợp với công nhân Đồn điền Cao su Tân Uyên, Phú Riềng, thợ máy cưaBIF tổ chức mít tinh kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1 -5

Rằm tháng bảy âm lịch (29-8-1939), lợi dụng các phân xưởng cúng cô hồn,chi bộ BIF tổ chức cuộc họp có đại biểu Nhà máy Ba Son Sài Gòn Anh em bàn việcquyên góp ủng hộ cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son và công nhân Sài Gòn –ChợLớn lúc đó Chi bộ và một số cảm tình của Đảng dán khẩu hiệu, rải truyền đơn hôhào đình công đòi cai, xu, sếp không đánh đập cúp phạt anh em, đòi cải thiện đờisống thợ thuyền

Phong trào đấu tranh sôi nổi, liên tục của công nhân tác động đến nông dân vàtiểu thương, tiểu chủ Nông dân và chủ xe ngựa ở Biên Hòa làm nhiều đơn xin nhàcầm quyền bỏ thuế thân, giảm thuế ruộng đất, giảm thuế xe ngựa, đòi bãi bỏ hủ tục ởnông thôn, mà tiêu biểu là nông dân Bình Ý

* * *

Ngày 1-9-1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu bùng nổ Tháng 6 -1940,Pháp đầu hàng phát xít Hitle (Hitler) Ở Việt Nam, bọn thực dân phản động liền thủtiêu các quyền dân sinh, tự do dân chủ mà nhân dân ta đ ã đấu tranh giành được.Chúng khủng bố trắng, bắt bớ giam cầm, tù đày nhiều đảng viên cộng sản và cơ sở

Ngày đăng: 13/03/2016, 18:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bến Nghé xưa – Sơn Nam. Nxb Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh, 1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bến Nghé xưa
Nhà XB: Nxb Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh
2. Công nhân Sài Gòn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc–Ban S ử Liên hiệp Công đoàn Tp Hồ Chí Minh. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nhân Sài Gòn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc–
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh 1986
3. Công nhân miền Nam Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)-Cao Văn Lượng. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nhân miền Nam Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước(1954-1975)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
4. Đất Gia Định xưa–Sơn Nam. Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất Gia Định xưa–
Nhà XB: Nxb Tp Hồ Chí Minh
5. Giai cấp công nhân Việt Nam những năm trước khi th ành lập Đảng –Ngô Văn Hòa, D ương Kinh Quốc. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai cấp công nhân Việt Nam những năm trước khi thành lập Đảng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
6. Đất đỏ miền Đông . Lê S ắc Nghi. Đảng ủy và Công ty Cao su Đồng Nai xuất bản, 1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất đỏ miền Đông
7. Địa chí Đồng Nai, Tập I Tổng quan và T ập IV kinh tế. Nxb Đồng Nai, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí Đồng Nai
Nhà XB: Nxb Đồng Nai
9. Giai cấp công nhân Việt Nam–Tr ần Văn Giàu, Tập I,II,III. Nxb Sử học Viện S ử học, 1962 và 1963 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai cấp công nhân Việt Nam–Trần Văn Giàu, Tập I,II,III
Nhà XB: Nxb Sử học ViệnSử học
10. Lịch sử cận đại Việt Nam, Tập I,II,III,IV, Sách dùng trong các trường Đại học Việt Nam. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử cận đại Việt Nam, Tập I,II,III,IV, Sách dùng trong các trường Đại họcViệt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
11. Lịch sử phong trào công nhân và Công đoàn Việt Nam–Ban nghiên cứu lịch sử Công đoàn Việt Nam. Nxb Lao Động H à Nội, 1974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử phong trào công nhân và Công đoàn Việt Nam–Ban nghiên cứu lịchsử Công đoàn Việt Nam
Nhà XB: Nxb Lao Động Hà Nội
12. Lịch sử phong trào công nhân và công đoàn Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp – Ban nghiên cứu lịch sử Công đo àn Vi ệt Nam. Nxb Lao Động, H à Nội, 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử phong trào công nhân và công đoàn Việt Nam trong kháng chiếnchống thực dân Pháp – Ban nghiên cứu lịch sử Công đoàn Việt Nam
Nhà XB: Nxb LaoĐộng
13. Lịch sử phong trào công nhân cao su Vi ệt Nam. Nxb Khoa h ọc xã hội, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử phong trào công nhân cao su Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
15. Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Đồng Nai Tập I,II. Nxb Đồng Nai, 1997 và 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Đồng Nai Tập I,II
Nhà XB: Nxb ĐồngNai
16. Lịch sử đấu tranh cách mạng huyện Xuân Lộc. Nxb Đồng Nai, 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử đấu tranh cách mạng huyện Xuân Lộc
Nhà XB: Nxb Đồng Nai
17. Lịch sử phong trào công nhân Nhà máy Xe l ửa Dĩ An. Đảng ủy nhà máy, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử phong trào công nhân Nhà máy Xe lửa Dĩ An
18. Long Thành những chặng đường lịch sử. Nxb Đồng Nai, 1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Long Thành những chặng đường lịch sử
Nhà XB: Nxb Đồng Nai
19. Lịch sử Đảng bộ thành ph ố Biên Hòa. Nxb Đồng Nai, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ thành phố Biên Hòa
Nhà XB: Nxb Đồng Nai
20. Lịch sử bi ên niên Xứ ủy Nam bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954 -1975).Nxb Chính tr ị Quốc gia. Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia. Hà Nội
21. Liên hiệp Công doàn giải phóng miền Nam Việt Nam 1961 -1975 – PTS Hoàng Ngọc Thành. Nxb Lao Động, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên hiệp Công doàn giải phóng miền Nam Việt Nam 1961-1975 –
Nhà XB: Nxb Lao Động
22. Một số vấn đề Lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam. Nxb Lao Động, H., 1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề Lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam
Nhà XB: Nxb Lao Động

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w