Trong tác phẩm “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen- lời nói đầu”, Mác đã chỉ ra nguồn gốc kinh tế, xã hội, xu hớng phát triển của giai cấp vô sản GCVS, và Mác nêu rõ: ở Đ
Trang 1Phần thứ nhất bối cảnh mới của thời đại ảnh hởng đến giai cấp
công nhân ở các nớc t bản phát triển
I Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về giai cấp công nhân
Khi đề cập đến giai cấp công nhân, Mác và Ăngghen đã sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau nh những cụm từ đồng nghĩa, có nội hàm giống nhau để chỉ giai cấp này nh: "giai cấp vô sản", "vô sản đại cơ khí", "vô sản đại công nghiệp",
"giai cấp những ngời lao động làm thuê của thế kỷ XIX", "giai cấp vô sản hiện
đại", "giai cấp công nhân hiện đại" Các nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa học không chỉ dừng lại ở việc chỉ ra giai cấp vô sản, giai cấp công nhân là gì, mà quan trọng hơn, giai cấp này phải làm gì để tự giải phóng mình? Giai cấp vô sản là gì? vấn đề này đã đợc C.Mác, Ph.Ănghen đề cập trong nhiều tác phẩm,
và hai ông đã nêu nhiều thuộc tính của giai cấp vô sản
Trong tác phẩm “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen- lời nói đầu”, Mác đã chỉ ra nguồn gốc kinh tế, xã hội, xu hớng phát triển của giai
cấp vô sản (GCVS), và Mác nêu rõ: ở Đức GCVS chỉ mới bắt đầu hình thành nhờ
sự phát triển của công nghiệp Giai cấp vô sản ra đời gắn với công nghiệp, nó là sản phẩm của công nghiệp Về mặt xã hội, GCVS nảy sinh và hình thành trong quá trình tan rã của xã hội phong kiến chuyển lên chế độ TBCN, do sự phân rã của tất cả các đẳng cấp, trớc hết là sự phân rã của đẳng cấp trung gian Xu hớng phát triển của GCVS là đi tới chỗ xóa bỏ nó với t cách là một giai cấp(2)
Trong tác phẩm “Gia đình thần thánh”, C.Mác, Ph.Ănghen phân tích mối
quan hệ giữa GCVS và chế độ t hữu Hai ông chỉ ra rằng, GCVS là sản phẩm của chế độ t hữu và cũng là điều kiện tồn tại của chế độ t hữu Chế độ t hữu muốn duy trì sự tồn tại vĩnh viễn của bản thân nó, thì nó phải duy trì sự tồn tại vĩnh viễn của mặt đối lập với nó là GCVS Chế độ t hữu tìm đợc sự thỏa mãn trong bản thân mình là mặt khẳng định của sự đối lập GCVS và giai cấp t sản (GCTS) là hai mặt đối lập của một chỉnh thể thống nhất - chế độ t hữu Cả hai
đều là sản phẩm của chế độ ấy Xu hớng phát triển của GCVS là đi tới thủ tiêu sự tồn tại của bản thân mình với t cách là GCVS, do đó, tiêu diệt cả mặt đối lập với
Trang 2nó là chế độ t hữu - đang chi phối và làm cho nó thành GCVS Mác và Ăngghen viết: "Vấn đề không phải là ở chỗ GCVS muốn gì mà là ở chỗ giai cấp vô sản thực ra là gì, và phù hợp với tồn tại ấy của bản thân nó, GCVS buộc phải làm gì
về mặt lịch sử"( 3)
Đến tác phẩm “Tình cảnh của giai cấp lao động Anh”, Ănghen khẳng
định: Anh là nớc điển hình của sự phát triển của GCVS và nó là kết quả chủ yếu của cuộc cách mạng công nghiệp Anh Lịch sử GCCN bắt đầu nửa sau thế kỷ thế
kỷ XVIII Công nghiệp nhỏ đã làm nảy sinh ra GCTS, công nghiệp lớn đã nảy sinh ra GCCN Công nhân công nghiệp là hạt nhân của PTCN Họ là những ngời nhận thức đợc rõ ràng nhất những lợi ích của bản thân mình Trình độ văn hóa của các loại công nhân liên quan trực tiếp với mối quan hệ của họ với công nghiệp(4)
Trong tác phẩm “Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản”, Ănghen
định nghĩa giai cấp vô sản nh sau: “ Giai cấp vô sản là một giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ sống dựa vào việc bán lao động của mình, chứ không phải sống dựa vào lợi nhuận của bất cứ số nhà t bản nào, đó là một giai cấp mà hạnh phúc và đau khổ, sống và chết, toàn bộ sự sống còn của họ đều phụ thuộc vào số cầu về lao
động, tức là vào tình hình chuyển biến tốt hay xấu của công việc làm ăn, vào những sự biến động của cuộc cạnh tranh không gì ngăn cản nổi Nói tóm lại, GCVS hay giai cấp của những ngời vô sản là giai cấp lao động trong thế kỷ XIX
… Giai cấp vô sản là do cuộc cách mạng công nghiệp sản sinh ra”(5)
Lần đầu tiên, Mác và Ăngghen đã trình bày khái niệm GCVS tơng đối đầy
đủ trên các phơng diện trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và có thể khái quát
lại với một số điểm chủ yếu là: Thứ nhất, về nguồn gốc kinh tế, GCVS ra đời gắn
với đại công nghiệp, là sản phẩm của chính bản thân nền đại công nghiệp, nền sản xuất xã hội hoá ngày càng cao Thứ hai, về nguồn gốc xã hội, GCVS đợc
tuyển mộ từ tất cả các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Thứ ba, những đặc trng
chủ yếu của GCVS hiện đại bao gồm: không có t liệu sản xuất; về lợi ích cơ bản,
đối lập trực tiếp với GCTS; GCVS là hiện thân của phơng thức sản xuất (PTSX) tiên tiến; có tính quốc tế, tinh thần quốc tế vô sản, tính tiên phong, tinh thần cách mạng triệt để, đoàn kết giai cấp, tính tổ chức kỷ luật cao Thứ t, bản chất quốc tế
( 3) C.Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, H.1995, tr.56
(4) C.Mác, Ph Ăngghen: Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, Hà nội 1995, tr 348-349, 353-354
(5) C.Mác, Ph Ăngghen: Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội 1995, tr 456-457
Trang 3của GCVS đợc quy định bởi quá trình quốc tế hoá sản xuất công nghiệp ; đồng thời GCVS có bản sắc dân tộc, gắn với mỗi dân tộc cụ thể, trở thành "giai cấp dân tộc" và chịu trách nhiệm trớc hết với dân tộc mình(6) Thứ năm, quá trình đấu
tranh giữa GCVS với GCTS dẫn đến sự phân hoá trong giai cấp thống trị Một bộ phận nhỏ của giai cấp này - những nhà t tởng t sản tiến bộ đã từ bỏ cuộc sống và thành phần giai cấp xuất thân, vơn lên nhận thức đợc về mặt lý luận toàn bộ quá trình vận động lịch sử, tách khỏi giai cấp xuất thân, đi theo GCVS, làm cho GCVS ngày càng nhận thức rõ đợc sức mạnh và sứ mệnh lịch sử của mình Thứ sáu, xu hớng phát triển không ngừng tăng lên về số lợng và chất lợng cùng với sự
phát triển của đại công nghiệp
Cần nhấn mạnh rằng, khái niệm về GCVS đợc C.Mác và Ph.Ăngghen rút
ra qua sự phân tích một cách sâu sắc địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp đó dới chế độ t bản trong nửa đầu thế kỷ XIX Những kết luận ấy cũng đã đợc thực tiễn lịch sử xã hội đơng thời chứng minh là đúng đắn và khoa học
Những đặc trng cơ bản của GCVS dới chế độ TBCN mà Mác và Ăngghen nêu ra đã đợc Lênin tiếp tục làm rõ, phát triển và khẳng định trong nhiều tác phẩm của mình Từ thực tiễn lịch sử thế kỷ XX, Lênin chỉ rõ vị trí GCVS là giai cấp lãnh đạo toàn thể xã hội trong cuộc đấu tranh lật đổ ách thống trị của CNTB, trong sự nghiệp sáng tạo ra một xã hội mới, trong cuộc đấu tranh để thủ tiêu hoàn toàn các giai cấp Mác và Ăngghen đã phân biệt GCVS với tầng lớp trí thức Lênin đa ra định nghĩa về giai cấp, theo đó: “Giai cấp là những tập đoàn to lớn gồm những ngời khác nhau về địa vị của họ trong hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thờng thì những quan hệ này đợc pháp luật quy định và thừa nhận) đối với TLSX, về vai trò của họ trong
tổ chức lao động xã hội và về phần của cải xã hội ít hay nhiều mà họ đợc hởng Giai cấp là những tập đoàn ngời, mà tập đoàn này thì có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác Do chỗ các tập đoàn đó địa vị khác nhau trong chế độ kinh tế
- xã hội nhất định
Về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân: Có thể diễn đạt khái quát
nhất những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin về sứ mệnh lịch sử của GCCN là tiến hành sản xuất hiện đại và đấu tranh cách mạng để giải phóng con ngời Sứ mệnh lịch sử đó biểu hiện qua những nội dung cơ bản sau:
Trang 4Một là, thờng xuyên và trực tiếp nhất gắn với quá trình tổ chức, phát triển
sản xuất xã hội với trình độ KHKT ngày càng hiện đại Tách rời sản xuất hiện
đại, GCCN không còn sứ mệnh lịch sử với những nội dung tiếp theo Đó là một nhận thức khoa học rút ra từ thực tế lịch sử hình thành, phát triển GCCN Sứ mệnh lịch sử của GCCN không chỉ bắt đầu với nội dung "giành chính quyền",
mà trái lại có nội dung rộng lớn hơn kể cả trớc khi giành chính quyền Từ nội dung sản xuất hiện đại và đấu tranh cách mạng mới dẫn đến nội dung "giành chính quyền"
Hai là, thông qua Đảng tiên phong của mình, GCCN lãnh đạo và tổ chức
quá trình giành chính quyền về tay mình và nhân dân lao động xoá bỏ chế độ t
bản chủ nghĩa (và các chế độ t hữu, áp bức bóc lột), xoá bỏ GCTS (và các giai cấp bóc lột), giải tán chính quyền Nhà nớc của các chế độ cũ, thành lập chính quyền của GCCN và nhân dân lao động, do Đảng của GCCN nhân lãnh đạo
Ba là, GCCN thông qua Đảng của mình lãnh đạo, tổ chức thực hiện quá
trình củng cố, bảo vệ chính quyền, bảo vệ đất nớc và đồng thời xây dựng đất nớc theo định hớng XHCN trên mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, con ngời , để từng bớc hình thành xã hội XHCN và cộng sản chủ nghĩa trên thực tế
ở mỗi nớc và trên toàn thế giới Đây là nội dung cơ bản, quyết định nhất trong sứ mệnh lịch sử của GCCN Vì thế, chủ nghĩa Mác - Lê nin đã luận giải một cách khoa học rằng: Đó là những quá trình cải biến cách mạng căn bản, toàn diện, triệt để trên phạm vi quốc gia, quốc tế Đó là một nội dung mới mẻ, vừa rất phức tạp, do đó là một nội dung đợc thực hiện từng bớc, lâu dài, với yêu cầu ngày càng cao đối với GCCN, nhân dân lao động và nhất là đối với đảng cộng sản, với nhà nớc cả về sức lực, trí tuệ lẫn bản lĩnh và lập trờng chính trị, nhân cách và phong cách của mình Nếu coi nhẹ, mắc bệnh "tả" khuynh hay hữu khuynh,
"đốt cháy giai đoạn", giản đơn, chủ quan duy ý chí chỉ làm cho thời kỳ quá độ
và quá trình xây dựng CNXH, chủ nghĩa cộng sản khó khăn và kéo dài mà thôi
Sứ mệnh lịch sử của GCCN do những điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội khách quan quy định từ khi nó hình thành và phát triển trong CNTB Sứ mệnh đó không hề xuất phát từ mong muốn chủ quan của GCCN và Đảng của nó; cũng không hề do bất kỳ tài trí của cá nhân nào "sáng tạo" ra Sứ mệnh lịch sử của GCCN mang tính quy luật khách quan trong sự phát triển tất yếu của nhân loại,
nh chủ nghĩa Mác - Lê nin đã luận chứng một cách khoa học - xuất phát từ thực tiễn, rằng: đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản, và sự sụp đổ của GCTS và thắng lợi của GCVS đều là tất yếu nh nhau
Trang 5Trớc hết, xét về những điều kiện kinh tế - kỹ thuật, thì nền công nghiệp
ngày càng hiện đại đã quy định nhiều đặc điểm của GCCN và từ những đặc điểm vốn có đó mà GCCN là giai cấp duy nhất có những sứ mệnh lịch sử đã nêu trên
Thứ hai, cũng do nền công nghiệp hiện đại phát triển mà GCCN ngày càng đợc
trang bị thêm nhiều nhận thức mới, hiện đại cả về văn hoá cơ bản, khoa học kỹ thuật, tay nghề và chính trị - xã hội Đây cũng là yếu cầu khách quan đối với GCCN trong quá trình sản xuất, hoạt động xã hội và đấu tranh cách mạng Vì thế nền sản xuất hiện đại cũng quy định một cách khách quan GCCN là giai cấp tiên tiến, đại diện PTSX mới và có sứ mệnh lịch sử thay thế PTSX cũ lỗi thời xét về mặt kinh tế Thứ ba, khi nền sản xuất hiện đại phát triển cùng với phong trào
công nhân và nhân dân lao động bị áp bức bóc lột trong CNTB (trong đó có trí thức, đại bộ phận là ngời lao động bị bóc lột "chất xám") thì chính GCCN luôn
đợc bổ sung một lực lợng trí thức và những ngời lao động khác, giác ngộ, gia nhập GCCN; thậm trí một số trí thức giác ngộ đã giúp GCCN hình thành hệ t t-ởng, hiểu về sứ mệnh lịch sử của mình, tiến tới hình thành Đảng tiên phong để lãnh đạo phong trào Đó cũng là sự quy định khách quan đối với sứ mệnh lịch sử của GCCN mà không giai cấp - tầng lớp nào có đợc Thứ t, tính quy định khách
quan, cơ bản nhất và mang ý nghĩa tổng hợp cả về địa vị kinh tế lẫn về chính trị - xã hội đối với sứ mệnh lịch sử của GCCN là: Ngay từ trong chế độ TBCN đã nẩy sinh mâu thuẫn cơ bản nhất, đó là mâu thuân về mặt kinh tế, giữa LLSX xuất
phát triển, với trình độ xã hội hoá, quốc tế hoá ngày càng cao với quan hệ sản xuất (QHSX) dựa trên chế độ chiếm hữu t nhân TBCN về TLSX mâu thuẫn đó biểu hiện về mặt chính trị - xã hội là mâu thuẫn giữa GCCN với GCTS Cả hai
mặt của mâu thuẫn cơ bản này không thể giải quyết triệt để trong khuôn khổ chế
độ t bản chủ nghĩa, nên tất yếu dẫn tới cách mạng XHCN nh một yêu cầu khách quan để giải quyết triệt để mâu thuẫn cơ bản ấy cho kinh tế, xã hội tiếp tục phát triển cao hơn chế độ TBCN Lãnh đạo và tổ chức quá trình cách mạng XHCN và xây dựng CNXH, chủ nghĩa cộng sản, chỉ có thể là sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và Đảng của nó Ph.Ăngghen khẳng định: Hoàn thành đợc kỳ công
ấy, đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại Còn Lênin chỉ rõ: "điều chủ yếu trong học thuyết của Mác là ở chỗ nó làm sáng tỏ vai trò lịch sử toàn thế giới của giai cấp vô sản là ngời xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa" (7)
Nh vậy, những đặc trng của GCVS mà Mác, Ăngghen đã nêu và Lênin tiếp tục phát triển, khẳng định là phù hợp với điều kiện lịch sử ngày ấy. Những
Trang 6đặc trng cơ bản đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị Nó là cơ sở phơng pháp luận khoa học để cho chúng ta nghiên cứu giai cấp công nhân hiện đại trong điều kiện lịch sử mới.
II Sự phát triển của cách mạng khoa học- công nghệ hiện đại
Cuộc cỏch mạng khoa học và cụng nghệ diễn ra từ giữa thế kỷ XX, đặc biệt là từ thập niờn 70 đến nay đó làm biến đổi sõu sắc và toàn diện nền kinh tế
tư bản chủ nghĩa, đồng thời làm thay đổi nhanh chúng và sõu sắc cơ cấu kinh tế
- sản xuất và chiến lược điều chỉnh, thớch ứng của chủ nghĩa tư bản hiện đại Đến lượt nú, sự thay đổi kinh tế đó tỏc động đến cỏc giai tầng xó hội, đặc biệt là giai cấp cụng nhõn hiện đại Cấu trỳc xó hội của chủ nghĩa tư bản núi chung và giai cấp cụng nhõn núi riờng trong cỏc nước tư bản phỏt triển cú những thay đổi
to lớn với những đặc điểm mới khỏc hẳn so với cỏc thời kỳ trước đõy:
Thứ nhất: Với sự bựng nổ trong cụng nghệ vi điện tử, tin học, tự động
húa, vật liệu…, nền sản xuất của cỏc xó hội cụng nghiệp đó chuyển sang sử dụng nguồn nguyờn liệu phi tập trung, cú thể tỏi sinh và nhõn tạo Hệ thống mỏy múc được chuyển sang tự động hoỏ đồng bộ, dựng ớt năng lượng, nhiờn liệu Sản phẩm chuyển sang tiờu chuẩn: nhỏ, bền, đẹp và chứa hàm lượng khoa học cao Với phương phỏp sản xuất linh hoạt, tổ chức quản lý cụng nghiệp cú những biến đổi lớn Hiệu quả sản xuất chủ yếu phụ thuộc vào yếu tố tư duy rồi mới đến yếu
tố vật chất Cỏc sỏng kiến nhỏ của cơ sở sản xuất được coi trọng Hiện đang cú
xu hướng chuyển chức năng quản lý và quyết định đến gần với sản xuất để nắm bắt cơ hội nhanh chúng, nhằm rỳt ngắn thời gian ra quyết định
Thứ hai: Dưới tỏc động mạnh mẽ của cỏch mạng khoa học và cụng nghệ
hiện đại, phương thức sản xuất đó cú những thay đổi mang tớnh cỏch mạng, đó chuyển từ xó hội cụng nghiệp sang xó hội thụng tin Trong tiến trỡnh này, cơ cấu
cơ cấu kinh tế ở cỏc nước tư bản phỏt triển cú những thay đổi rất cơ bản, theo hướng tăng tỷ trọng khu vực dịch vụ và giảm tỷ trọng nụng nghiệp, cụng nghiệp Trong GDP, nụng nghiệp chỉ chiếm khoảng 2%, cụng nghiệp - chế tạo chiếm khoảng 30 - 40%, khoảng 60% thuộc về ngành dịch vụ Cơ cấu nội bộ sản xuất cụng nghiệp và dịch vụ thay đổi theo hướng cỏc ngành cụng nghiệp cổ điển (khai thỏc nguyờn, nhiờn liệu, sơ chế ) giảm dần tỷ trọng và ý nghĩa; cỏc ngành sản xuất, dịch vụ dựa trờn cụng nghệ cú hàm lượng khoa học kỹ thuật cao ngày càng cú vị trớ đỏng kể Ngày nay mục tiờu khụng dừng ở tỏi sản xuất mà là lao động sỏng tạo để tạo ra giỏ trị gia tăng cao, nhằm tăng khả năng cạnh tranh
Trang 7Thứ ba: Sự thay đổi cơ cấu kinh tế đã dẫn đến thay đổi cơ cấu nghề
nghiệp và cơ cấu giai cấp trong xã hội, trong đó có cơ cấu của GCCN Nếu như trong những năm 50 của thế kỷ XX, công nhân công nghiệp “cổ xanh” là thành phần xã hội lớn nhất trong GCCN ở tất cả các nước TBPT (ở Mỹ công nhân “cổ xanh” chiếm tới 2/5 lực lượng lao động), thì đến thập niên 90, nhóm công nhân này ngày càng giảm sút về số lượng (ở Mỹ chỉ còn chiếm ít hơn 20% lực lượng lao động, thậm chí đến năm 2000 còn chưa tới 10%) Trong đội ngũ GCCN, có đến 60 - 70% là những người có trình độ KHKT, là nhân viên trong hệ thống tin học, là người quản lý, nhà giáo, các nhà khoa học tạo thành mô hình công nhân tri thức, người ta còn gọi họ là tầng lớp trung gian mới
Bản thân GCTS cũng biến đổi Các nhà tư bản gia tộc truyền thống vẫn tiếp tục tồn tại, nhưng tỷ trọng dần giảm xuống Địa vị quyết định trong xã hội của giai cấp chủ sở hữu tư bản cổ điển ngày càng giảm dần Các công ty ngày nay thường phải huy động vốn qua hình thức cổ phần hoá Số lượng chủ sở hữu tập thể tăng lên, trong đó có cả cổ đông thuộc các tầng lớp lao động, trung lưu
kể cả những người có vốn là sở hữu trí tuệ Số cổ đông lập hội đồng quản trị điều hành công ty chứ không phải các ông chủ lớn như trước Một số tầng lớp mới xuất hiện như chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc, uỷ viên ban giám đốc, giám đốc, nhân viên quản lý và nhân viên đại lý Họ nắm giữ quyền quyết sách và quyền quản lý kinh doanh của công ty, đảm nhận chức vị cao trong chính phủ, gây ảnh hưởng đến việc hoạch định chính sách của nhà nước, có vai trò ngày càng quan trọng trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của các nước TBPT, dẫn đến sự hình thành tầng lớp nhà tư bản giám đốc Sự xuất hiện của tầng lớp này được các học giả phương Tây gọi là "cuộc cách mạng giám đốc" Theo số liệu điều tra, vào những năm 60 của thế kỷ XX, ở Mỹ, các công ty do các gia tộc tư bản trực tiếp khống chế chỉ chiếm 15,5% tổng số công ty, các công ty do nhà tư bản giám đốc khống chế chiếm 84,5% Trong thập niên 80 của thế kỷ XX, trong số 1.475 chủ tịch hội đồng quản trị và tổng giám đốc của 100 công ty lớn nhất nước Mỹ, chỉ có 10% là con cháu của các gia tộc tỉ phú Đồng thời, những "quí tộc" kỹ thuật mới đã đứng vào hàng ngũ những đại tỉ phú Theo
số liệu năm 1999, trong số 400 siêu tỉ phú được tạp chí Forbes công bố, có 71 vị
là những "quý tộc" kỹ thuật mới
Thứ tư: Giá trị lao động của con người tăng đáng kể dưới sự tác động của
cách mạng KHCN Điều khiển tự động hoá ngày càng phát triển, con người ngày càng được giải phóng khỏi sản xuất trực tiếp Có nhiều thời gian cho phát
Trang 8triển nhân cách và tài năng tiềm tàng của bản thân, nền sản xuất hàng hoá lớn sẽ dần được thay bằng sản xuất loạt nhỏ, với mẫu mã, chất lượng thích hợp với thị hiếu tiêu dùng của từng nhóm khách hàng riêng biệt Lối sống của con người ngày nay cũng chịu ảnh hưởng đáng kể của những biến đổi công nghệ Với sự phát triển dịch vụ tại gia, với những công cụ cơ khí hoá và tự động hoá, với mạng lưới thông tin thông qua máy tính công việc nội trợ ngày nay đã được giảm nhẹ đi rất nhiều Người ta dành nhiều thời gian rỗi cho việc giải trí, sinh hoạt xã hội, v.v
Thứ năm: Ở các nước TBPT, công nghệ thông tin và viễn thông đang trở
nên ngày càng phổ biến, được áp dụng trong tất cả các ngành công nghiệp và dịch vụ Cơ cấu việc làm cũng có những thay đổi sâu sắc theo hướng sử dụng lao động có trí tuệ cao ngày càng tăng Có nhiều việc làm mất đi do đổi mới công nghệ và sắp xếp lại sản xuất, nhưng lại có nhiều công việc mới được tạo ra
do xuất hiện một số ngành sản xuất mới có hàm lượng trí tuệ cao Vị trí làm việc
“ảo” ra đời, không cần phải tiếp xúc trực tiếp trong công việc và giao dịch Tuy chưa phổ biến nhưng rồi hình thức làm việc này sẽ mở rộng trong tương lai, đòi hỏi các phẩm chất mới - cơ động và chủ động ở người lao động trong tương lai
Công nghệ mới và các hình thức tổ chức lao động mới kéo theo sự thay đổi về nhu cầu đối với người lao động có trình độ cao Hiện nay, các doanh nghiệp đều cần những lao động biết học tập và biết thích nghi với sự biến đổi của cơ chế thị trường Trình độ học vấn cao là cần thiết, nhưng quan trọng hơn
là người lao động phải làm chủ được tri thức, nhanh chóng áp dụng có hiệu quả những tri thức mà mình đã học vào sản xuất Điều đó cần có sự vững vàng trước những biến động của xã hội, cần có khả năng thích nghi và sáng tạo - cả hai yêu cầu này rất quan trọng để tạo vị thế cho người lao động có trình độ học vấn cao đứng vững trong cơ chế thị trường Được chuẩn bị tốt về mặt trí tuệ và về thái
độ nghề nghiệp để tiếp thu công nghệ ngày một tiên tiến, đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật có trình độ học vấn cao ngày càng thể hiện là khâu then chốt, là nòng cốt của nguồn nhân lực, quyết định sự phát triển đất nước nhanh và bền vững Thêm vào đó, xu hướng hiện nay là đa năng, tức là kết hợp giữa năng lực
kỹ thuật, khả năng quản lý và tài năng doanh nghiệp (ở đây muốn nói đến khả năng thích nghi và kỹ năng ứng xử trong xã hội), ba yếu tố này tạo nên mô hình của người lao động mới
Thứ sáu: Mức độ xã hội hóa lao động và tư bản nhanh Sự phát triển các
ngành kéo theo sự tích tụ và tập trung vốn, quá trình cổ phần hóa và xã hội hóa
Trang 9tư bản từ đó cũng phát triển Cùng với quá trình này, một tầng lớp trung gian hữu sản được hình thành, xóa nhòa ranh giới cụ thể giữa lao động và tư bản cổ điển Lao động được xã hội hóa thông qua việc tổ chức sản xuất trực tiếp giữa các đơn vị làm ra sản phẩm trong xã hội.
Tuy nhiên, những hậu quả do không đáp ứng và chưa kịp thích nghi với những biến đổi của KHCN cũng hết sức gay gắt:
Một là, số lượng thất nghiệp của lao động không lành nghề trong xã hội
mới sẽ tăng lên vì không đáp ứng được đòi hỏi của công nghệ Trong xã hội hiện đại, nhân lực, việc làm không chỉ là vấn đề số lượng mà là vấn đề chất lượng Mỗi quốc gia không lường được sự biến đổi và đáp ứng được yêu cầu này của công nghệ sẽ dẫn đến "khủng hoảng" thừa và thiếu về nhân lực
Hai là, con người ngày càng được giải phóng khỏi sản xuất trực tiếp càng
đòi nhiều quyền tự do cá nhân, tự do tư tưởng, tự do tôn giáo Xã hội sẽ thường xuyên biến động vì luôn xuất hiện các tư tưởng, trào lưu, tâm lý mới đòi xem xét, đánh giá lại những giá trị trước đây của xã hội công nghiệp Trong tương lai, sự xung đột nhân sinh quan giữa xã hội cũ và mới, giữa các hệ tôn giáo về giá trị đạo đức, văn hoá , việc làm, gia đình, giới tính, tư tưởng, giáo dục luôn luôn nổ ra và rất khó kiểm soát Các hiện tượng sa đoạ đồi truỵ, bạo lực, tội phạm gia tăng Bất công xã hội có xu hướng ngày một tăng…
Ba là, những tiến bộ KHCN, đặc biệt trong lĩnh vực thông tin, đòi hỏi
trình độ của nguồn nhân lực phải cao hơn và năng động hơn Người lao động có được tính độc lập cá nhân trong tổ chức làm việc, nhưng lại cần có một tri thức tương đối rộng để có thể hội nhập với thị trường lao động quốc tế Điều này có tác động hai mặt: một mặt, nó tăng cường vai trò của yếu tố con người trong quá trình sản xuất, nhưng mặt khác,nó làm cho họ rất dễ tổn thương trước những thay đổi trong tổ chức lao động, vì họ là một cá nhân đơn lẻ đối mặt với một mạng lưới hết sức phức tạp
Đối với công nhân trực tiếp sản xuất, họ chịu ảnh hưởng của việc phát triển công nghệ mới và các hình thức tổ chức lao động mới Có rất nhiều công việc truyền thống sử dụng cơ bắp dần dần được thay thế bằng máy móc, nên việc làm tương ứng giảm xuống, kéo theo một số người lao động không có việc làm Việc phân cực việc làm theo trình độ đang ngày càng gia tăng: một bên là các hoạt động có hàm lượng tri thức và thông tin cao với mức lương cao, còn bên kia là các hoạt động có hàm lượng cơ bắp cao, mức lương thấp Trong hệ
Trang 10thống sản xuất mới, người công nhân vừa trực tiếp sản xuất vừa đảm nhận các chức năng của nhà phân tích, nhà quản lý, do đó, đòi hỏi khả năng trí tuệ của họ
ở mức cao hơn nhiều so với chức năng khi họ chỉ là người thừa hành Điều đó đòi hỏi người công nhân phải có trình độ hơn, nắm bắt thông tin tốt hơn
III xu thÕ toµn cÇu hãa
Sự phát triển nhanh chóng của cách mạng KHCN trên thế giới đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình TCH Sự bùng nổ của công nghệ sản xuất hiện đại và kỹ thuật thông tin đa quốc gia góp phần tạo ra nền sản xuất chung và thị trường chung của thế giới Các công ty đa quốc gia (TNCs) đã tổ chức phân công lao động và tổ chức sản xuất vượt qua biên giới quốc gia Các công ty này có thể chi phối cả các chính phủ riêng biệt, có cả ngoại giao đoàn và cơ quan tình báo công nghiệp Cùng với các thiết chế quốc tế như ngân hàng liên quốc gia, thị trường chứng khoán liên quốc gia, các công ty đa quốc gia này đã đẩy nhanh xu hướng gắn chặt hữu cơ nền kinh tế các nước trên quy mô quốc tế Sự hình thành một thị trường toàn cầu về việc làm, vốn, công nghệ và đặc biệt là thông tin đã và đang trở thành hiện thực
Kết quả của quá trình TCH, với việc mở rộng hoạt động và thiết chế quản
lý của các TNCs ra quy mô toàn cầu là, lao động của hàng triệu công nhân được hợp nhất một cách trực tiếp về mặt công nghệ vào một quá trình sản xuất liên tục thống nhất Trong khi ở những giai đoạn trước đây, lao động của họ chỉ được hợp nhất một cách gián tiếp bởi thị trường mà thôi Như vậy, CNTB thế giới đã tạo ra không chỉ một hệ thống toàn thế giới thực sự của quá trình tái sản xuất và lợi nhuận, mà còn cả “người công nhân tổng thể toàn thế giới”
Đồng thời, quá trình này cũng dẫn tới sự phân công lao động quốc tế ngày một mạnh mẽ, gia tăng sự luân chuyển nguồn nhân lực giữa các quốc gia, khu vực Điều này đồng nghĩa với việc, người lao động có cơ hội lớn hơn trong lựa chọn nơi, địa điểm làm việc Về lý thuyết, giờ đây người lao động có thể đến làm việc ở bất cứ nơi đâu, cho bất cứ công ty, xí nghiệp nào trên thế giới Và thực tế cho thấy, không ít công ty, xí nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh thu hút lao động từ rất nhiều quốc gia, khu vực khác nhau Cùng với đó, TCH tạo cơ hội cho người lao động của các nước khác nhau trực tiếp cùng nhau làm việc trong một dây chuyền, xí nghiệp sản xuất nhất định Thực tế này giúp cho công nhân, người lao động mang quốc tịch khác nhau, với những giá trị văn hóa, tín ngưỡng khác nhau không chỉ nhận thức sâu sắc hơn, mà còn trải nghiệm cái chung về lợi
Trang 11ích, cái chung về địa vị xã hội của giai cấp mình, từ đó họ đoàn kết chặt chẽ hơn, hành động nhất quán hơn trong cuộc đấu tranh bảo vệ lợi ích chung, vì mục tiêu chiến lược chung.
Nếu như trước kia, mối liên kết quốc gia cho phép nhà nước đóng vai trò phân phối lại nhằm giảm bớt sự bất bình đẳng xã hội và tránh rạn nứt xã hội, thì
từ khi diễn ra quá trình TCH, việc làm này đã bị giảm thiểu đáng kể, vì bất kỳ chính sách phân phối lại nào cũng đều có thể có hậu quả xấu đến tính cạnh tranh Do vậy, thu nhập thực tế của tầng lớp dưới ở các nước TBPTđang giảm xuống một cách đáng kể
Toàn cầu hóa, một mặt thúc đẩy sự phát triển, nhưng mặt khác cũng làm gia tăng hố ngăn cách giàu nghèo và sự bất bình đẳng ở các nước TBPT giữa một bên là lớp người có trình độ học vấn cao, được hưởng lương cao, còn bên kia là những người không được học hành, hay nói đúng hơn là không có cơ hội
để được học, đang phải hứng chịu mọi hậu quả cạnh tranh trong thị trường lao động Sự gia tăng của tiến bộ công nghệ, nhất là trong lĩnh vực công nghệ thông tin, đòi hỏi phải thích ứng thật nhanh chóng với mọi thay đổi và phát triển của
xã hội Bên cạnh đó, TCH đòi hỏi từng cá nhân phải năng động, linh hoạt, có khả năng làm việc theo êkíp, hoà hợp được với những người có tâm tính và quy tắc xử sự khác nhau Bên cạnh sự tương phản giàu nghèo, TCH đưa đến sự thất nghiệp, tồn tại hố ngăn cách giữa những người có việc làm được trả lương cao
và những người bị gạt ra khỏi các nhà máy, xí nghiệp, đẩy người lao động không có việc làm vào cảnh sống cùng quẫn
Dưới tác động của TCH, xuất hiện các dòng lao động di cư, chủ yếu là từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển, từ các nước nghèo sang các nước giàu hơn Lao động di cư phổ biến nhất là lao động có kỹ năng chuyên môn, được đào tạo… của các nước đang phát triển chuyển đến sinh sống và làm việc ở các nước phát triển, hay còn gọi là tình trạng chảy máu chất xám (brain drain) Trong số những người nhập cư hợp pháp vào Mỹ có tới 21% đã được đào tạo ít nhất 17 năm, tức là được đào tạo sau đại học ở một mức độ nhất định(8) Theo thống kê năm 1998 của IMF, khoảng 12,9 triệu người thuộc tầng lớp có học thức đã di cư từ các nước kém phát triển hơn sang các nước OECD, trong
đó có 7 triệu người đến Mỹ và 5,9 triệu người còn lại chủ yếu đến châu Âu(9)
(9) Maassey, World in Motion: Understanding Internationale Migration at the End of the Millennium, Oxford
University Press, 1998.
Trang 12Dòng lao động di cư và nạn chảy máu chất xám ảnh hưởng mạnh mẽ đến
cả nước xuất xứ lẫn nước tiếp nhận Đối với nước tiếp nhận, dòng người lao động nhập cư giúp bù đắp nguồn lao động thiếu hụt, tiết kiệm chi phí đào tạo Bên cạnh đó, lao động nhập khẩu còn giúp đáp ứng nhu cầu về lao động ở những lĩnh vực có tiền công rẻ mạt hoặc công việc nặng nhọc, nguy hiểm ở các nước phát triển mà người dân bản xứ không muốn làm như xây dựng, khai thác
mỏ và đồn điền, v.v… Nhờ đó, nước tiếp nhận lao động nhập cư có thể tiết kiệm được chi phí đầu vào, giữ vững lợi thế cạnh tranh Tuy nhiên, lao động nhập cư, nhất là qua con đường bất hợp pháp, cũng gây ra những tác động tiêu cực nhất định cho nước tiếp nhận Những nước có số lượng người nhập cư lớn thường phải chịu sự quá tải về gánh nặng phúc lợi xã hội Tình trạng người nhập cư sống tập trung quá mức ở một số vùng nhất định tạo ra sức ép lớn đối với vấn đề nhà ở, giao thông và các dịch vụ công cộng khác
Với sự phát triển của TCH, quá trình dịch chuyển sản xuất và lao động từ các nước TBPT đến các nước đang phát triển, cũng như tình trạng nhập cư tăng mạnh đã khiến cho một bộ phận công nhân ở các nước này có xu hướng phát triển theo xu hướng cánh hữu và sô vanh Họ đấu tranh chống lại công nhân ở các nước khác và chống lại người lao động nhập cư Cuộc cạnh tranh tư bản toàn cầu bị biến thành cuộc cạnh tranh của người lao động chống lại người lao động Điều này có nguyên do của nó: TCH càng đi vào chiều sâu càng thúc đẩy các nhà đầu tư chuyển vốn ra nước ngoài, đồng thời với nó là làn sóng chuyển công ăn việc làm ra ngoài lãnh thổ của các nước phát triển Hậu quả của xu thế này là không chỉ người lao động bị mất việc làm, mà hàng loạt tổ chức công nhân ở các cơ sở, xí nghiệp ở các nước phát triển bị đóng cửa cũng buộc phải giải tán Cùng với đó là thái độ kỳ thị với lao động nhập cư Mặc dù những năm gần đây thái độ này đã có chuyển biến tích cực, song trong nội bộ GCCN ở các nước TBPT, trong ý thức, tư tưởng của một bộ phận không nhỏ người lao động vẫn chưa phải đã loại bỏ được hoàn toàn quan niệm, thái độ thiếu thiện chí, phân biệt chủng tộc với bộ phận những người lao động nhập cư
IV SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ TRI THỨC
Trong thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX xuất hiện một hình thái kinh tế mới của thời đại thông tin, đó là kinh tế tri thức Nền kinh tế này xuất hiện đã tạo ra những biến đổi to lớn trong mọi mặt hoạt động của con người và xã hội: tạo ra cơ sở hạ tầng của xã hội mới – xã hội thông tin, khác hẳn các nền kinh tế chủ yếu dựa vào sức người và tài nguyên trong xã hội nông nghiệp và xã hội
Trang 13công nghiệp Kinh tế tri thức về cơ bản dựa trên cơ sở công nghệ cao và tri thức,
đó là nét đặc trưng rất tiêu biểu của nền văn minh thông tin- sản phẩm của cách mạng thông tin, cách mạng tri thức Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) định nghĩa kinh tế tri thức là kinh tế được xây dựng trên cơ sở sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức và thông tin Nói đơn giản, đó là nền kinh tế dựa vào tri thức Các ngành sản xuất và dịch vụ mới do công nghệ cao tạo ra như các dịch vụ khoa học công nghệ, các dịch vụ tin học, các ngành công nghiệp công nghệ cao được gọi là ngành kinh tế tri thức Các ngành truyền thống như công nghiệp, nông nghiệp, nếu được cải tạo bằng công nghệ cao, mà giá trị do tri thức mới, công nghệ mới đem lại chiếm trên hai phần ba tổng giá trị, thì những ngành
ấy cũng là ngành kinh tế tri thức Nền kinh tế gồm chủ yếu các ngành kinh tế tri thức gọi là kinh tế tri thức
Những đặc trưng của kinh tế tri thức là thị trường chất xám, mà con người
là vốn quý nhất, nhiều hoạt động kinh tế đã được số hoá và vận hành trên các xa
lộ thông tin, sự chu chuyển thông tin trên các mạng máy tính sẽ trở thành nguồn sống của sự tăng trưởng kinh tế đối với tất cả các nước KHCN sẽ thúc đẩy LLSX phát triển lên một tầm cao mới, kéo theo QHSX cũng thay đổi, quan niệm
về sở hữu cũng thay đổi (trước kia chúng ta quan niệm sở hữu là sở hữu vật chất
về TLSX, nay là cả sở hữu trí tuệ), làm thay đổi cả quan niệm về quản lý (trước kia là quản lý theo thứ bậc, nay là cả quản lý theo mạng) Trong kinh tế tri thức, nguồn lực con người là yếu tố chủ yếu cạnh tranh trên thị trường, ưu thế về tri thức ở mỗi quốc gia sẽ dần dần thay thế cho quan niệm ưu thế về vốn, nguồn nguyên liệu và nhân công rẻ
Kinh tế tri thức làm biến đổi căn bản cuộc cách mạng công nghiệp Tức là đồng thời với việc nâng cao hàm lượng tri thức trong các sản phẩm hàng hoá là một loạt các thay đổi về LLSX và QHSX mới Nếu so sánh với nền kinh tế công nghiệp thì cuộc cách mạng công nghiệp trong thời kỳ kinh tế tri thức được thể hiện chủ yếu là cách mạng tri thức, chứ không phải đơn thuần chỉ có cách mạng công nghệ Công nghiệp dựa trên cơ sở của cuộc cách mạng tri thức làm cho nội dung và hình thức của các ngành công nghiệp phải chuyển hướng Các ngành kinh tế chủ yếu sẽ được thay thế bằng các ngành công nghiệp với hàm lượng tri thức cao Cơ cấu kinh tế lúc này không chỉ có ba khu vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ mà thêm một lĩnh vực công nghiệp phần mềm hay còn gọi là công nghiệp tri thức (ngành công nghiệp có hàm lượng tri thức cao) Đến lúc đó,
tỷ trọng trong nông nghiệp và công nghiệp chỉ chiếm một phần rất nhỏ so với tỷ
Trang 14trọng dịch vụ và công nghiệp phần mềm trong kinh tế tri thức Và cơ cấu lao động cũng phải chuyển đổi cho phù hợp với cơ cấu của nền kinh tế mới này.
Kinh tế tri thức dựa trên cơ sở KHCN tiên tiến và mạng xa lộ thông tin hiện đại, trong đó tri thức và công nghệ trở thành yếu tố quyết định nhất của sản xuất, quan trọng hơn so với vốn, tài nguyên và lao động Nhiều khái niệm đã thay đổi, nhiều quy tắc hoạt động kinh tế trước đây không còn phù hợp nữa; đã hình thành những luật chơi mới đòi hỏi tốc độ, sự linh hoạt, sự đổi mới và sức sáng tạo Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra việc làm và của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống, có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao, tốc độ tăng trưởng cao, dịch chuyển nhanh nhiều loại cơ cấu: kinh tế, lao động, việc làm, cơ cấu giai cấp và xã hội không ngừng đổi mới Song, nó cũng mang nhiều tính rủi ro và luôn đặt ra nhiều thách thức mới Cơ cấu lao động thay đổi rất lớn, người lao động trực tiếp bằng cơ bắp giảm đi, người làm các công việc xử lý thông tin, điều khiển, kiểm soát, làm việc ở văn phòng tăng lên, công nhân áo trắng nhất là công nhân tri thức, chiếm đa số trong lực lượng lao động Sản xuất công nghệ cao, công nghệ phần mềm sẽ trở thành loại hình sản xuất quan trọng nhất
Tác động của kinh tế tri thức là rất rộng với những điểm chính sau:
Đối với lĩnh vực tổ chức và quản lý: Chủ thể và đối tượng quản lý đại bộ
phận là công nhân tri thức (knowledge workers) Việc áp dụng các thành tựu của cách mạng KHCN (nhất là công nghệ thông tin) vào quản lý đòi hỏi chủ thể quản lý phải nâng cao trình độ hiểu biết về nhiều mặt Còn đối tượng quản lý tuy vẫn là quá trình sản xuất, nhưng là quá trình ứng dụng khoa học trong lĩnh vực công nghệ, trong đó máy móc đã thay thế hầu hết lao động chân tay, còn lao động sống chủ yếu là lao động trí óc kiểm soát và điều tiết bản thân quá trình sản xuất, đứng bên cạnh quá trình ấy Cơ cấu sản xuất, cơ cấu đầu tư và cơ cấu lao động thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng các ngành kinh tế tri thức, các ngành dịch vụ, tăng đầu tư vô hình và tăng công nhân tri thức
Nguồn lực đầu vào cho sản xuất quan trọng hàng đầu là tri thức Lợi thế
so sánh truyền thống không còn đúng nữa; lợi thế so sánh của một nước trong kinh tế tri thức không được quyết định bởi những nhân tố tĩnh và có sẵn như tài nguyên thiên nhiên mà dựa trên sức mạnh của tri thức không có sẵn, phải nỗ lực đầu tư để tạo ra Tri thức trở thành nguồn duy nhất tạo ra lợi thế so sánh dài