1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập ở Việt Nam

15 761 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 82,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn lại chặng đường gần 30 năm đổi mới, chúng ta hẳn sẽ rất tự hào với những thành tựu đáng kể VN đã đạt được. Tuy nhiên trong vô số những lạc quan về bức tránh màu hồng đấy, không phải không có những lo lắng. Một trong những quan ngại lớn nhất của VN là vấn đề phân phối thu nhập mà cụ thể là sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập ở Việt Nam. Xung quanh vấn đề này, ngày càng xuất hiện những câu hỏi kiểu như: Liệu sự tăng trưởng nhanh trong thời gian qua có phải trả giá bằng bất bình đẳng gia tăng? Sự gia tăng bất bình đẳng có thể gây cản trở cho tăng trưởng trong thời gian tới như thế nào? Hay ý nghĩa thực sự của thành tích giảm nghèo trong thời gian qua là gì?...

Trang 1

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

BỘ MÔN KINH TẾ

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN: BẤT BÌNH ĐẲNG TRONG PHÂN PHỐI THU NHẬP Ở VIỆT NAM

NHÓM THẢO LUẬN: 04

NHÓM TRƯỞNG: Vũ Hải Hưng

THÀNH VIÊN THAM GIA:

1 Trần Phương Thảo

2 Phạm Thu Hương

3 Đinh Thị Mỹ Linh

4 Đào Thị Thái

5 Lê Thị Thu Hoài

6 Hoàng Thị Tâm Thủy

BẤT BÌNH ĐẲNG TRONG PHÂN PHỐI THU NHẬP Ở VIỆT NAM

A. MỞ ĐẦU

Nhìn lại chặng đường gần 30 năm đổi mới, chúng ta hẳn sẽ rất tự hào với những thành tựu đáng kể Việt Nam đã đạt được Tăng trưởng bình quân 7% trong những năm của thập kỉ 90, khoảng 7,8% giai đoạn từ 2000 – 2006, đạt 8,47% sau khi chính thức gia nhập Tổ chức kinh tế thế giới (WTO) đầu năm 2007, và vẫn ở mức cao là 6,23% vào năm 2008 trong điều kiện suy thoái kinh tế thế giới Cùng với quá trình phát triển kinh tế, đời sống người dân Việt Nam đã được cải thiện, vị thế của Việt Nam trên

Trang 2

trường quốc tế được nâng cao Ngân hàng thế giới (World Bank – WB) coi Việt Nam như một “câu chuyện thành công”, một hình mẫu trong chiến lược xóa đói giảm nghèo Tuy nhiên đó hẳn đã là sự phát triển bền vững Trong vô số những lạc quan về bức tranh màu hồng đấy, không phải không có những lo lắng Một trong những quan ngại lớn nhất của Việt Nam là vấn đề phân phối thu nhập mà cụ thể là sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập ở Việt Nam Xung quanh vấn đề này, ngày càng xuất hiện những câu hỏi kiểu như: “Liệu sự tăng trưởng nhanh trong thời gian qua có phải trả giá bằng bất bình đẳng gia tăng? Sự gia tăng bất bình đẳng có thể gây cản trở cho tăng trưởng trong thời gian tới như thế nào? Hay ý nghĩa thực sự của thành tích giảm nghèo trong thời gian qua là gì? ”

Không chỉ ở Việt Nam, mà các nước trên thế giới, nhất là các nước phát triển, vấn

đề này cũng đang trở nên cấp thiết song song với việc tăng trưởng kinh tế Sau một thời

kì dài mải mê với việc tăng trưởng kinh tế, nhiều nước đã giật mình nhận ra rằng một bộ phận không nhỏ dân cư của nước họ không được hưởng lợi gì từ việc tăng trưởng kinh

tế Và lúc đó các nước đã bắt đầu quan tâm hơn tới vấn đề phân phối thu nhập Tuy vậy vấn đề về phân phối thu nhập đã được nhiều nhà kinh tế học quan tâm và đề cập đến từ rất sớm trong các lý thuyết kinh tế của mình như: Công trình “Wealth of Nations” (1776) của Adam Smith, lý thuyết phân phối thu nhập của David Ricardo (1817), tác phẩm “Tư Bản” (1867) của Karl Marx và Frederich Engels,… Và nó đã không ngừng được phát triển với sự đóng góp, bổ sung, hoàn thiện của các học giả, các nhà kinh tế trên thế giới cho đến ngày nay

Phân phối thu nhập là một bộ phận của phân phối, gắn liền với sự phân phối sản phẩm đầu ra được biểu hiện dưới các hình thái thu nhập Thực tiễn cho thấy phân phối thu nhập đóng vai trò rất quan trọng trong mọi xã hội cũng như trong mọi hình thái kinh

tế vì phân phối thu nhập hỗ trợ cho tiêu dùng và quá trình tái sản xuất, đảm bảo cho sự tồn tại của loài người Một vấn đề nảy sinh từ kết quả của quá trình phân phôi thu nhập

là sự chênh lệch giàu nghèo trong xã hội Sự chênh lệch giàu nghèo ở mức độ như thế nào thì được coi là bất bình đẳng? Vấn đề được nhiều quốc gia chú ý quan tâm Để hỗ trợ đo lường phân phối thu nhập nhằm xác định mức độ bất bình đẳng, các nhà kinh tế thường sử dụng hệ số GINI Hệ số Gini có thể tính theo thu nhập hoặc chi tiêu Giá trị của hệ số Gini nằm trong khoảng từ 0 đến 1, giá trị càng cao thì mức độ bất bình đẳng càng lớn Những quốc gia có hệ số Gini từ 0,5 trở lên thì được coi là có mức độ bất bình đẳng cao, còn trong khoảng từ 0,2 đến 0,35 thì phân phối tương đối công bằng

Như vậy để tìm hiểu về sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập của Việt Nam, chúng ta sẽ xem xét trên hai khía cạnh là sự chênh lệch giàu nghèo và hệ số Gini, để từ

đó rút ra nguyên nhân của tình trạng và đưa đến giải pháp cho vấn đề

B. THỰC TRẠNG

Thực trạng bất bình đẳng phân phối thu nhập trong sự phát triển kinh tế tại Việt Nam (sử dụng hệ số GINI làm thước đo)

 Tổng quan:

Trang 3

Biểu đồ sự thay đổi hệ số GINI của cả nước giai đoạn 2002 – 2010

Xét chung cho cả nước thì Việt Nam có hệ số Gini nằm trong khoảng từ 0,35 đến 0,4, vẫn chưa đáng lo ngại, tuy nhiên ta có thể thấy hệ số Gini đang có xu hướng tăng trong tương lai

Trong khu vực các nước Asean, các nước có nền kinh tế phát triển nhất lại có sự bất bình đẳng cao nhất như Thái Lan là 0,4 (năm 2009) và Indonexia là 0,462 (năm 2009), các nước kém phát triển hơn như Campuchia lại có hệ số Gini thấp hơn là 0,36 (năm 2009)

Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc trong năm 2009, công bố bản báo cáo về khoảng cách thu nhập của thế giới thì Đan Mạch là một trong những nền kinh tế phát triển nhất thế giới và đồng thời cũng có khoảng cách thu nhập thấp nhất thế giới Hệ số Gini của quốc gia Bắc Âu này chỉ là 0,247 Đông Âu là khu vực có khoảng cách thu nhập thấp nhất, hệ số Gini của các quốc gia này thường ở mức dưới 0,3 như: Ucraina là 0,264; Belarus là 0,277; Serbia là 0,278… Tại Châu Á quốc gia có khoảng cách giàu -nghèo thấp nhất là Nhật Bản với hệ số Gini là 0,249 Các nước có khoảng chênh lệch lớn nhất hầu hết thuộc về khu vực Châu Phi, các nước này thường có hệ số Gini trên 0,5 như Zambia là 0,57 và Namibia sự bất bình đẳng thậm chí lên tới 0,7

Như vậy so với các nước trong khu vực và các nước trên thế giới thì con số 3,98 của Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2010 nằm ở vị trí trung bình, sự bất bình đẳng của Việt Nam là ở mức vừa phải (tương đối công bằng) đó có thể nói là điều tuyệt vời với một quốc gia đang phát triển Tuy nhiên sự bất bình đẳng lại đang có xu hướng tăng và hơn nữa hệ số Gini bình quân chung đã nói nên tất cả khi: CIEM (Viện nghiên cứu Quản lí Kinh tế Trung ương) dẫn báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội công bố giữa năm 2011 cho biết, số hộ nghèo trên cả nước đã tăng lên 1 triệu hộ, tức tăng 50% sau khi mức chuẩn nghèo được điều chỉnh từ thu nhập 200.000 đồng/người/tháng lên 400.000 đồng/người/tháng tại nông thôn; từ 260.000đồng/người/tháng lên 500.000đồng/người/tháng tại khu vực thành thị Theo chuẩn nghèo mới, hộ nghèo chiếm 20% dân số Điểm đáng lưu ý là số người có tài sản

từ 1 triệu đô la tại Việt Nam đang tăng mạnh, với mức tăng năm 2011 là 33% so với cùng kỳ năm 2010 CIEM đã đưa thông tin này trong báo cáo về “Giảm khoảng cách chênh lệch thu nhập” - dẫn lại kết quả khảo sát do Công ty quản lý tài sản Merrill Lynch Global Wealth Management và hãng tư vấn Capgemini của Mỹ thực hiện về số lượng các triệu phú đô la tại châu Á nửa đầu năm 2011 Theo số liệu của tổng cục thống

kê Việt Nam, nếu như khoảng cách thu nhập trung bình giữa người giàu và người nghèo

ở Việt Nam là 8,9 năm 2008 thì đến năm 2011 mức này là 9,2 lần

Việc nhìn nhận sự bất bình đẳng thông qua hệ số Gini chung của cả nước như vậy

đã làm xóa nhòa những khác biệt vùng/miền, giới tính, dân tộc và trình độ học vấn giữa các thành viên trong xã hội Chính vì thế để nhìn nhận rõ hơn về sự bất bình đẳng ở Việt Nam chúng ta sẽ đi xét cụ thể đối với từng nhóm dân cư, từng vùng miền và khu vực

Trang 4

1 Bất bình đẳng theo nhóm dân cư

Nước ta có nhóm thu nhập chung là: nhóm 1 là nhóm có thu nhập thấp nhất (nhóm nghèo nhất); nhóm 2 là nhóm có thu nhập dưới trung bình; nhóm 3 là nhóm có thu nhập trung bình; nhóm 4 là nhóm có thu nhập khá và nhóm 5 là nhóm có thu nhập cao nhất (nhóm giàu nhất)

Nhóm 1

Nhóm 2

Nhóm 3

Nhóm 4

Nhóm 5

Chênh lệch giữa nhóm 5 và nhóm 1 (lần)

2002 107,7 178,3 251,0 370,5 872,9 8,1

2004 141,8 240,7 347,0 514,2 1182,3 8,3

2006 184,3 318,9 458,9 678,6 1541,7 8,4

2008 275,0 477,2 699,9 1067,4 2458,2 8,9

2010 369,4 668,8 1000,4 1490,1 3410,2 9,2

Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng phân theo 5 nhóm thu nhập của cả nước giai

đoạn 2002 – 2010 (Nguồn: Tổng cục Thống kê)

Từ bảng cho thấy khoảng cách chênh lệch thu giữa nhóm 20% người giàu nhất

và 20% người nghèo nhất đang ngày càng tăng Năm 1995, chênh lệch thu nhập giữa nhóm thu nhập cao nhất và thấp nhất là 7 lần, tỷ lệ này tăng dần theo các năm, đến năm 2002 là 8,1 lần, đến năm 2010 đã tăng lên đến 9,2 lần Theo CIEM thì “Điều đáng lo ngại là chênh lệch có khuynh hướng tăng lên và có thể đạt đến mức báo động trong thời gian tới nếu không có nỗ lực ngăn chặn từ bây giờ”

2 Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập theo khu vực thành thị, nông thôn

Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng phân theo khu vực thành thị, nông thôn

(đơn vị: nghìn đồng )

Ta có thể thấy về tỷ lệ thu nhập, khoảng cách thu nhập giữa người dân nông thôn và thành thị liên tục giảm qua các năm Thu nhập bình quân một người một tháng năm

2002 ở khu vực thành thị tương ứng gấp khu vực nông thôn là 2,26; giảm dần qua các năm Đến năm 2010 thu nhập bình quân của người dân thành thị là 2.130.000 đồng/người/tháng, người dân nông thôn là 1.070.000 đồng/người/tháng; gấp xấp xỉ 2 lần

Biểu đồ sự thay đổi của hệ số GINI khu vực thành thị, nông thôn giai đoạn 2002 - 2010

Từ bảng số liệu và đồ thị ta có thể thấy thực trạng bất bình đẳng ở hai khu vực thành thị và nông thôn đang có diễn biến rất khác nhau Tại khu vực thành thị, hệ số GINI có

xu hướng giảm, từ 0,377 vào năm 2002 xuống còn 0,369 vào năm 2010 Mặt khác, tình

Trang 5

trạng bất bình đẳng phân phối thu nhập ở khu vực nông thôn lại gia tăng nhanh chóng,

hệ số GINI tăng từ 0,327 (năm 2002) lên đến 0,364 (năm 2010)

3 Bất bình đẳng theo khu vực địa lý.

Tỷ lệ nghèo luôn ở mức cao đối với nhóm đầu tiên bao gồm Tây Bắc, Tây Nguyên và Bắc Trung bộ Tại khu vực Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ thuộc nhóm vùng phát triển, tỷ lệ nghèo đói là khá thấp Các vùng ở Đông Bắc, Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long thuộc nhóm giữa Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập ở 8 vùng địa lý được thể hiện rõ rệt qua sự chênh lệch giữa các nhóm thu nhập trong chính những vùng địa lý đó

Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3 Nhóm 4 Nhóm 5

Chênh lệch giữa nhóm 5 và 1 (lần)

ĐB Sông Hồng 468.0 817.7 1158.7 1663.4 3732.8 8.0

Đông Bắc 308.0 506.6 748.4 1182.7 2531.1 8.2

Tây Bắc 239.4 367.5 536.0 825.5 1736.3 7.3

Bắc Trung Bộ 287.3 494.6 722.3 1054.2 1958.5 6.8

Duyên hải NTB 370.8 627.1 875.9 1256.3 2682.3 7.2

Tây Nguyên 305.4 533.7 798.7 1276.3 2525.8 8.3

Đông Nam Bộ 628.5 1106.0 1582.2 2220.4 5292.9 8.4

ĐB Sông Cửu Long 395.5 661.5 936.6 1336.3 2908.3 7.4

Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng phân theo 5 nhóm thu nhập ứng với 8 vùng trên cả nước năm 2010 (Nguồn: Tổng cục thống kê)- Đơn vị tính: Nghìn

đồng

Bất bình đẳng không chỉ xuất hiện trong chính mỗi khu vực địa lý, mà nó còn thể hiện rõ rệt thông qua sự tương quan giữa các khu vực địa lý

Năm

2002 Năm 2004 Năm 2006 Năm 2008 Năm 2010

Hồng

0.360 6

0.361 6

0.361 6

0.378 5

0.37 61

7 0.3603 0.3692 0.3847 0.3880

7 0.3494 0.3599 0.3722 0.3727

Bắc Trung Bộ 0.330

8 0.3304 0.3433 0.3439 0.3451

Duyên hải

NTB 0.3241 0.3411 0.3451 0.3510 0.3612

0

0.368 9

0.378 2

0.377 5

0.38 11

Đông Nam Bộ 0.392

1 0.3892 0.3903 0.3867 0.3854

ĐB Sông Cửu

Long 0.3561 0.3491 0.3510 0.3633 0.3653

Trang 6

Hệ số Gini của 8 vùng địa lý trên cả nước giai đoạn 2002 – 2010

Phân tích bảng hệ số Gini cho thấy trong giai đoạn 2002 – 2010, nhìn chung tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập có xu hướng gia tăng qua các năm Trong

đó, tốc độ tăng nhanh nhất là ở khu vực Đông Bắc (1.15 lần), Duyên hải Nam Trung Bộ

và Tây Nguyên là 1.11 lần Mức độ bất bình đẳng diễn ra nghiêm trọng nhất ở Khu vực Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Hồng do tại 2 khu vực này có nền kinh tế phát triển,

sự phân chia nhóm ngành nghề và mức thu nhập phong phú nên có sự đa dạng trong việc phân phối thu nhập Tuy nhiên, ở khu vực Đông Nam Bộ, thu nhập có xu hướng được phân phối công bằng hơn do hệ số Gini có xu hướng giảm dần

Tuy nhiên, hệ số Gini ở 8 vùng địa lý nhìn chung dao động ở mức 0,3 – 0,4 cho thấy bất bình đẳng ở 8 vùng này ở mức chấp nhận được, phù hợp với quy định về bất bình đẳng của World Bank giành cho những nước đang phát triển là từ 0.3 – 0.5

Tóm lại, những phân tích trên đây đã cho thấy thực trạng bất bình đẳng thu nhập của các nhóm dân cư theo vùng địa lý vẫn đang diễn ra và có xu hướng ngày càng nới rộng Như vậy, bất bình đẳng cơ hội (thể hiện qua chỉ số chênh lệch) đã miêu tả rõ nét về

sự bất bình đẳng xã hội hơn là bất bình đẳng nói chung (thể hiện qua hệ số Gini bình quân cả nước) Nếu thay đổi lại cách nhìn theo góc độ bất bình đẳng cơ hội sẽ cho ta thấy bất bình đẳng ở Việt Nam chắc chắn không ở mức vừa phải (tức là không thể tương đối công bằng) như nhận định mà là thuộc loại cao hơn trong sự so sánh với các nước trong khu vực và trên thế giới Và hơn nữa, sự bất bình đẳng ở Việt Nam đang có

xu hướng tăng lên

Hiện nay không chỉ có Việt Nam mà trên toàn thế giới thì vẫn đề bất bình đẳng trong phân phối thu nhập cũng hết sức đáng lo ngại Trung Quốc là một nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa nhưng được xếp vào nhóm các nước bất bình đẳng nhất trên thế giới Còn với Mĩ là một nước tư bản phát triển, bất bình đẳng thu nhập không ngừng giãn rộng, năm 2012 là năm đầu tiên thu nhập của nhóm giàu nhất nước (tức 1% dân số) chiếm 19,3% tổng thu nhập của các hộ gia đình, vượt qua mức kỷ lục 18,7% của năm 1927 Số liệu cũng cho thấy trong năm 2012, thu nhập trước thuế của 1% dân

số giàu nhất nước Mỹ tăng 19,6%, trong khi tốc độ tăng thu nhập của 99% dân số còn lại chỉ đạt 1% Dù đi theo con đường phát triển nào thì các quốc gia cũng gặp phải sự phân hóa giàu nghèo và nó để lại rất nhiều hậu quả cả về kinh tế và xã hội nhưng đặc biệt là về chính trị - xã hội Ở Việt Nam: Đảm bảo công bằng xã hội là mục tiêu hàng đầu Nhưng chính sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập đã làm xã hội có sự phân hóa khác biệt rõ rệt giữa các tầng lớp Như vậy sẽ làm mất đi lòng tin tuyệt đối của dân chúng vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường XHCN mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lựa chọn Điển hình là vụ gây rối ở Tây Nguyên vào ngày 10/4/2004 Tây Nguyên là vùng có thu nhập thấp, đời sống dân cư còn nghèo nàn, dân trí thấp Lợi dụng điểm này các thế lực phản động đã xuyên tạc các chính sách của Nhà nước ta, xúi giục biểu tình đập phá cơ quan nhà nước, đòi lật đổ chính quyền Chúng lôi kéo đồng bào ta bằng biện pháp kinh tế Ở Mỹ thì cuộc biểu tình “Chiếm lấy phố Wall” diễn ra ngày 17/9/2011 tại New York cũng đã đi vào lịch sử Người biểu tình Mỹ không đòi dân chủ mà yêu cầu công bằng xã hội hơn Đối tượng phản đối của họ là sự hung hãn và tham lam của giới tài chính, ảnh hưởng của giới tài chính tới nền chính trị Hoa Kỳ

Trang 7

C. NGUYÊN NHÂN

Để có thể giải quyết hoặc hạn chế tình trạng bất bình đẳng ở Việt Nam thì việc xác định đúng nguyên nhân dẫn tới tình trạng đó là điều rất quan trọng Khi nhìn nhận về vấn đề bất bình đẳng ở Việt Nam ta có thể thấy một số nguyên nhân cơ bản như: Thay đổi cơ chế từ quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, những tác động của thị trường cạnh tranh; sự khác nhau giữa các vùng miền, dân tộc; sự chuyển dịch mô hình sản xuất; định giá khác nhau cho các yếu tố đầu vào khác nhau

Thay đổi cơ chế từ quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, những tác động tất yếu của quy luật thị trường cạnh tranh Trong những năm trước đây, khi chúng ta còn ở trong cơ chế nền kinh tế tập trung – quan liêu, những đặc trưng của nền kinh tế này không là điều kiện cho hiện tượng phân tầng trong xã hội Công cuộc đổi mới, trước hết

là nền kinh tế định hướng theo sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, đã thực sự mang lại những nhân tố mới, phát huy được những nguồn lực của đất nước cho sự phát triển kinh tế xã hội, theo đó nền kinh tế dần

đi vào ổn định, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, đẩy lùi lạm phát vào những năm cuối của thập kỷ 80, đời sống của người dân không ngừng được cải thiện…thế nhưng trong điều kiện quá độ từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường, hiện tượng phân tầng thường có những biểu hiện bột phát, đôi khi “thái quá” do vô số các kẽ hở, khuyết tật trong lĩnh vực quản lý kinh tế và quản lý xã hội do còn những vùng “tranh tối, tranh sáng” cho những sự thao túng pháp luật, đồng thời cũng là do bản chất năng động và quy luật cạnh tranh, đào thải khắc nghiệt của nền kinh tế thị trường Trước hết, tại sao kinh tế thị trường với khả năng mạnh mẽ của nó trong thực hiện mục tiêu tăng trưởng lại ngày càng gây nên tình trạng phân hoá giàu nghèo Điều này có những nhân

tố tất yếu, đồng thời cũng có những nhân tố thể hiện sự bất bình đẳng trong xã hội Trong tính chất của nó, nền kinh tế thị trường đề cao khả năng của chủ thể kinh tế và thực tế không phải ai cũng có khả năng như nhau trong tiếp cận với những cơ hội mà thị trường đem lại, trong khía cạnh này năng lực cá nhân của mỗi chủ thể và những điều kiện bất bình đẳng trong xã hội là hai nguyên nhân quyết định đến sự thành công về kinh tế và vươn lên so với những người khác để trở thành thành viên của nhóm giàu có trong xã hội Ngoài ra, bước đầu làm quen với nền kinh tế thị trường đã khiến cho sự quản lý kinh tế, xã hội còn nhiều những hạn chế, tạo cơ hội cho một số bộ phận vươn lên một cách bất chính và tạo khoảng cách với những nhóm xã hội khác Ảnh hưởng từ quá trình chuyển đổi sở hữu nhà nước sang tập thể dưới hình thức cổ phần hóa, mà thực chất là tư nhân hóa, đã dẫn đến tình trạng quyền lợi kinh tế thường rơi vào tay những người có chức quyền nhưng lại thiếu trách nhiệm với xã hội Phải nói thêm nhân tố thuộc về sự phát triển của các thể chế kinh tế thị trường Về nguyên tắc, thì nó mang lại

cơ hội cho tất cả mọi người, nhưng thực chất, chỉ một số ít người, đặc biệt là ngay từ thời điểm ban đầu, lanh lợi và có đủ khả năng chộp lấy được những cơ hội này Ðiển hình là vai trò của đất đai đối với nông dân và nông thôn và sự hoạt động biến dạng nghiêm trọng của thị trường đất đai và bất động sản ở thành thị như là những nhân tố quan trọng tác động đến đói nghèo và chênh lệch giàu nghèo trong xã hội Với 79% người nghèo sống ở nông thôn, một nguyên nhân dẫn đến sự nghèo đói là không có đất hoặc có quá ít đất canh tác Tỷ lệ hộ nông dân không có ruộng tăng lên và ở mức cao tại miền Ðông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long Không có đất, người nông dân không có thu nhập ổn định, cuộc sống trở nên bấp bênh và khó khăn Tại đồng bằng

Trang 8

sông Hồng, tình trạng thiếu đất rất nghiêm trọng, dẫn đến nông nhàn và thiếu việc làm gay gắt, cũng dẫn đến đói nghèo Sự thiếu đất hay không có đất cũng là hệ quả của nhiều nhân tố như “đói nghèo trở lại” Tại vùng ven đô, đất canh tác không tăng thêm

mà bị thu hẹp do đô thị hoá nhanh chóng Tại thành thị hay khu vực sắp được đô thị hoá, việc đầu cơ đất đai, đẩy giá đất lên mức cao nhất thế giới đã làm cho một số nhóm người trở thành siêu tỷ phú một cách rất nhanh chóng Do nhiều nguyên nhân khác nhau, thu nhập từ đầu cơ đất đai, chuyển nhượng bất động sản phi chính thức chưa bị đánh thuế thu nhập và thuế về lợi nhuận chuyển nhượng đất đai và bất động sản nên số người này giàu lên quá nhanh, làm cho sự chênh lệch giàu nghèo và bất bình đẳng trong

xã hội tăng lên Thị trường bất động sản chính thức thì hầu như không hoạt động trong khi thị trường bất động sản phi chính thức hoạt động với quy mô rất lớn không được kiểm soát và điều tiết Ðiều quan trọng là những người rất giàu đó không tạo thêm việc làm cho xã hội, không góp phần đáng kể vào xoá đói giảm nghèo cho cộng đồng ở địa phương

Việt Nam xuất phát từ nông nghiệp đi lên và đang trong quá trình công nghiệp hóa

Tỷ trọng các ngành theo GDP năm 2012 của Việt Nam là: Nông nghiệp 21,5%, Công nghiệp 40,7%, Dịch vụ 37,7% Tuy nhiên 70% dân số sống ở nông thôn, gần một nửa lao động đang làm việc ở nhóm ngành nông, lâm nghiệp- thủy sản Nông nghiệp, nông dân, nông thôn vẫn đóng góp quan trọng cho nền kinh tế: năm 2012 Việt Nam dẫn đầu thế giới về xuất khẩu cà phê và gạo, kim ngạch xuất khẩu cà phê đạt trên 3 tỷ USD và kim ngạch xuất khẩu gạo là 3,67 tỷ USD,… Tuy nhiên các sản phẩm nông sản xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là sản phẩm thô, với giá trị không cao Ở hầu hết các tỉnh, công nghiệp hóa, hiện đại hóa được hiểu là phát triển công nghiệp một cách ồ ạt theo chiều rộng, làm cho tỷ trọng nhóm ngành này trong GDP tăng càng nhanh càng tốt Chính từ những suy nghĩ đó mà nhiều khu/cụm công nghiệp và trung tâm thương mại được xây dựng tràn lan, không phù hợp với điều kiện tự nhiên và nguồn lực kinh tế của các tỉnh Điều này đặc biệt quan trọng ở các tỉnh nghèo, tỉnh miền núi, tỉnh có tiềm lực phát triển nông nghiệp Các tỉnh này chưa có hướng đi đúng trong việc đầu tư phát triển công nghiệp, các ngành công nghiệp hỗ trợ sản xuất nông nghiệp (sản xuất giống, phân bón, công cụ sản xuất, chế biến nông sản và thủy sản,…) chưa được chú trọng trong khi việc phát triển các cụm công nghiệp ồ ạt đã khiến nhiều diện tích đất nông nghiệp và đất

ở bị mất đi, sản lượng nông nghiệp bị thu hẹp, ảnh hưởng đến đời sống, an sinh xã hội

và an toàn lương thực Điều này đã khiến hoạt động sản xuất nông nghiệp gặp khó khăn

ở cả đầu ra và đầu vào Ở đầu vào, tỷ trọng vốn đầu tư vào nhóm ngành này vốn đã rất thấp, lại tiếp tục giảm (từ 13,6% thời kỳ 1996 - 2000, xuống còn 8,3% thời kỳ

2001-2005, xuống 6,4% thời kỳ 2006-2010, trong đó năm 2010 còn 6,1%, năm 2011 còn 6%, năm 2012 còn 5,2%), thấp xa so với tỷ trọng trong GDP Như trong lĩnh vực sản xuất phân bón, mặc dù nước ta có tiềm lực nhưng lượng phân bón thiếu hụt, cần phải nhập khẩu là rất lớn (năm 2012 Việt Nam nhập khẩu 3,9 triệu tấn phân bón, giá trị lên tới 1,6

tỷ USD) khiến giá phân bón trong nước phải phụ thuộc rất lớn vào giá trên thị trường quốc tế, thường sẽ bị đẩy lên khá cao, làm tăng chi phí trong sản xuất nông nghiêp Trong khi ở đầu ra, do ngành chế biến nông sản không phát triển, việc gắn kết giữa sản xuất và tiêu thụ gặp khó khăn đã khiến cho giá nông sản bấp bênh Giá lương thực năm

2012 giảm 5,66%, 7 tháng năm nay giảm tiếp 2,52%; giá thực phẩm năm 2012 chỉ tăng 0,95%, 7 tháng năm nay tăng 2,42% Đối với xuất khẩu, mặc dù lượng sản phẩm của

Trang 9

nhóm ngành này đã vượt lên đứng thứ hạng cao trên thế giới, nhưng giá trị gia tăng thấp

do chưa qua chế biến hoặc mới sơ chế, giá cả xuất khẩu giảm, gây thiệt hại lớn (năm

2012 chỉ với 5 mặt hàng là hạt điều, cà phê, gạo, sắn và sản phẩm sắn, cao su do giá giảm đã làm thiệt hại 1.931 triệu USD; 6 tháng 2013 chỉ với 4 mặt hàng cao su, hạt điều, gạo, hạt tiêu, do giá giảm đã làm thiệt hại 332 triệu USD) Từ đó có thể thấy lợi nhuận thu được từ việc sản xuất nông nghiệp không cao, dễ bị chi phối từ yếu tố bên ngoài (như giá nông phẩm, phân bón,… trên thị trường quốc tế), người dân gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ tiết kiệm thấp hoặc bằng không dẫn tới việc tái đầu tư phát triển, mở rộng sản xuất là rất khó Tốc độ tăng GDP do nhóm ngành này tạo ra đang có xu hướng giảm xuống (năm 2011 tăng 4,02%, năm 2012 tăng 2,68%, 6 tháng 2013 tăng 2,07%) Hơn nữa hoạt động sản xuất nông nghiệp còn gặp rất nhiều khó khăn do ảnh hưởng của thời tiết và sự biến đổi khí hậu Khu vực miền Trung là nơi có điều kiện khí hậu tự nhiên khắc nghiệt nhất Việt Nam, người nông dân phải chống chọi với những biến đổi bất thường của thời tiết, là nơi thường xuyên bị những cơn bão càn quét Cũng do điều kiện tự nhiên, khu vực này không có các vịnh chắn gió như khu vực đồng bằng Bắc Bộ nên bão từ biển tiến thẳng vào đất liền, không qua vật cản, sức gió mạnh, càn quét, gây thiệt hại nặng nề cho người dân, nhất là những người nông dân Do đó người nông dân

đã khó khăn thì sau những cơn bão lại càng khó khăn hơn, mọi của cải tích lũy thường

bị bão quấn trôi mất, người dân lại phải bắt đầu lại từ “hai bàn tay trắng” Bên cạnh đó,

sự biến đổi khí hậu, kéo theo là hiện tượng nước biển dâng cũng đã làm cho các diện tích đất nông nghiệp ven biển nhất là các vùng thấp như khu vực Đồng Bằng Nam Bộ bị ảnh hưởng nặng nề Theo khuyến cáo ở mức sơ bộ của IPCC thì khi nước biển dâng cao

1 m có tới 15-20 ngàn km2 đất tự nhiên của Đồng Bằng Nam Bộ bị ngập lụt, hàng triệu người phải di chuyển chỗ ở, sản xuất nông nghiệp giảm sút nghiêm trọng Điều đó đã khiến cho hiện tượng thất nghiệp lao động trong khu vực tăng cao, làm gia tăng khoảng cách về thu nhập giữa người dân trong cả nước

Việt Nam là một quốc gia có diện tích trải dài từ Bắc vào Nam, với sự phân hóa rõ rệt về đại lý và khí hậu cũng là những nhân tố ảnh hưởng tới bất bình đẳng Việt Nam là một quốc gia nhiệt đới với những vùng đất thấp, đồi núi, nhiều cao nguyên với những cánh rừng rậm Đất đai có thể dùng cho nông nghiệp chiếm chưa tới 20% Đất nước bị chia thành miền núi và vùng đồng bằng kéo theo sự bất bình đẳng về cơ hội giữa người dân sống ở khu vực trung du miền núi và người dân sống ở khu vực đồng bằng hay là giữa người kinh và người dân tộc thiểu số Nghèo của người dân tộc thiểu số là một thách thức đặc thù và dai dẳng của Việt Nam, mặc dù mức sống của họ có được cải thiện trong những năm gần đây song họ vẫn không tiến bộ nhanh bằng người dân tộc đa

số - người kinh Nguyên nhân dẫn tới sự bất bình đẳng đó là người dân tộc thiểu số phải đối mặt với nhiều khó khăn hơn người kinh trong việc tiếp cận giáo dục, dịch vụ công cộng, tín dụng, đất đai, khó khăn về khả năng di chuyển lưu động (cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải chưa được đầu tư phát triển), khó khăn về liên kết thị trường cũng như khó khăn do quan niệm dập khuôn của người kinh về người dân tộc thiểu số Ngoài ra làm gia tăng khoảng cách nghèo của người dân tộc thiểu số còn do chủ yếu người dân tộc thiểu số sống tại trung du, miền núi, những vùng rất khó để phát triển công nghiệp, ngành nghề kỹ thuật nên họ vẫn tiếp tục làm việc trong ngành nông nghiệp là chính, mà ngành này thì có mức tăng trưởng chậm hơn với các ngành nghề khác của nền kinh tế Chính vì thế người dân tộc thiểu số ít có cơ hội phát triển, nhất là đối với con cái của

Trang 10

họ, thế hệ tương lai Có thể là do các yếu tố chủ quan hay khách quan, trẻ em các dân tộc thiểu số ít có điều kiện được tiếp cận với giáo dục Theo thống kê thì tính trên tổng

số thanh thiếu niên chưa bao giờ đi học thì thanh thiếu niên dân tộc thiểu số chiếm tới 52% Mà giáo dục và đào tạo được đánh giá là "chìa khoá của sự tiến bộ xã hội" đồng thời là nhân tố quyết định sự thăng tiến xã hội của mỗi cá nhân, gia đình và các nhóm

xã hội Như vậy bất bình đẳng trong tầng lớp người dân tộc thiểu số có thể được truyền

từ thế hệ này sang thế hệ khác Tuy nhiên ngay trong các dân tộc thiểu số cũng thể hiện

sự bất bình đẳng: trong số các dân tộc thiểu số lớn nhất, người Tày và người Khơ-mer

có tỷ lệ nghèo tương đối thấp, nhiều dân tộc thiểu số khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ nghèo cao Đó có thể là do phong tục tập quán, điều kiện tự nhiên các vùng định cư của các tộc người dân tộc thiểu số là khác nhau Và ngay trong bộ phận những người dân của dân tộc kinh cũng xảy ra tình trạng bất bình đẳng Đó là sự bất bình đẳng giữa người dân khu vực nông thôn – thành thị, giữa người dân các miền (Bắc , Trung, Nam) Trong đó bất bình đẳng giữa nông thôn và thành thị do nguyên nhân chủ yếu là bất bình đẳng về cơ hội Người dân sống ở các thành thị có điều kiện thuận lợi hơn trong việc tiếp cận giáo dục, giáo dục chất lượng cao, thị trường, tín dụng, các ngành nghề đem lại thu nhập cao so với người dân sống ở khu vực nông thôn Hơn nữa người dân sống ở các khu vực nông thôn thì thường chịu thiệt hại nặng nề của sự biến đổi khi hậu, các yếu tố thiên tai thời tiết hơn Tuy nhiên sự bất bình đẳng giữa 2 khu vực này không bằng giữa người kinh và người dân tộc thiểu số

Ngoài ra việc bất bình đẳng trong phân phối thu nhập ở Việt Nam còn chịu ảnh hưởng của việc định giá các yếu tố đầu vào của nền kinh tế, trong đó 2 yếu tố quan trọng nhất là vốn và lao động Trên thực tế, trong xã hội thông thường những người có nhiều tài sản đều là những người giàu, thêm vào đó việc đánh giá quá cao giá cả của những tài sản đều làm tăng không ngừng thu nhập của những người sở hữu nó Còn đa phần những người nghèo, đa phần họ chỉ có sức lao động, để đóng góp vào sự tăng trưởng, chủ yếu họ chỉ có sức lao động, nhưng trong điều kiện tay nghề thấp, trình độ thấp, lao động dư thừa, làm cho giá cả sức lao động của họ ngày càng rẻ tương đối so với giá cả của các tài sản như vốn, đất đai nên thu nhập của họ ngày thấp hơn so với thu nhập từ tài sản, thậm chí ngày càng thấp đi một cách tuyệt đối Kết quả này làm gia tăng

số lượng người nghèo trong xã hội Để giải quyết vấn đề trên Chính phủ cũng đã có những chính sách nhằm can thiệp vào việc định giá lại các yếu tố sản xuất để đưa giá các yếu tố về gần giá thị trường Một trong những chính sách đã và đang được sử dụng

là chính sách tiền lương tối thiểu Mục đích chính của lương tối thiểu là nhằm đảm bảo mức sống cần thiết cho người lao động, đặc biệt là những lao động thu nhập thấp, ngăn ngừa việc bóc lột lao động Ngoài ra, lương tối thiểu còn có những tác động tích cực khác như tăng năng suất lao động, giảm số người hưởng trợ cấp xã hội, tăng tiêu dùng

và tổng cầu Tuy nhiên, tăng lương tối thiểu có thể dẫn đến các tác động không mong muốn và một trong những ảnh hưởng tiêu cực đó là dẫn đến tình trạng thất nghiệp, đặc biệt là của nhóm lao động có thu nhập thấp Việc tăng lương tối thiểu cho người lao động góp phần khuyến khích các nhà sản xuất chọn các công nghệ và kỹ thuật sử dụng nhiều vốn và ít lao động, dẫn tới tình trạng số việc làm được tạo ra ít hơn và thu nhập của nhóm người nghèo sẽ bị giảm, làm gia tăng khoảng cách về thu nhập giữa nhóm người giàu và nhóm người nghèo

Ngày đăng: 12/03/2016, 10:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w