Thu nhập có thể có được từnhiều nguồn khác nhau, có thể từ lao động, từ việc sở hữu những giấy tờ có giá trị, từthừa kế, được tặng cho… Phân phối thu nhập là sự phân chia thu nhập quốc d
Trang 1NỘI DUNGCHƯƠNG I: Cơ sở lý thuyết
1 Khái quát chung về phân phối thu nhập
Thu nhập là khoản của cải thường được tính thành tiền mà một cá nhân, doanhnghiệp hoặc một nền kinh tế nhận được trong một khoảng thời gian nhất định từ côngviệc, dịch vụ hoặc hoạt động nào đó Thu nhập có thể gồm các khoản như tiền lương,tiền công, tiền cho thuê tài sản, lợi nhuận kinh doanh Thu nhập có thể có được từnhiều nguồn khác nhau, có thể từ lao động, từ việc sở hữu những giấy tờ có giá trị, từthừa kế, được tặng cho…
Phân phối thu nhập là sự phân chia thu nhập quốc dân cho các đầu vào nhân tốkhác nhau (phân phối thu nhập theo chức năng, phân phối lần đầu) hoặc giữa ngườinhận được thu nhập từ các nhân tố sản xuất và những người khác (phân phối lại, táiphân phối thu nhập) Các cá nhân có thể tự phân phối lại thu nhập dưới hình thức quàtặng, biếu Phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường là một khâu quan trọngtrong quá trình tái sản xuất xã hội Phân phối thu nhập vừa là mục tiêu, vừa là động lựcthúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội
2 Khái quát về bất bình đẳng phân phối thu nhập
Bất bình đẳng xã hội là sự không ngang bằng nhau về các cơ hội hoặc lợi íchđối với những cá nhân khác nhau trong nhóm hoặc nhiều nhóm xã hội Từ đó ta có thểhiểu bất bình đẳng thu nhập là sự không ngang bằng nhau về thu nhập, của cải củanhững cá nhân khác nhau trong xã hội
Phân phối thu nhập quá bình đẳng có thể không tốt đối với tính hiệu quả kinh tế.Lấy kinh nghiệm của các nước xã hội chủ nghĩa nơi mà có sự bất bình đẳng thấp (mứclương, mức tiền công ít chênh lệch) thì con người không có động lực tham gia mộtcách tích cực vào các hoạt động kinh tế Mặt khác, quá bất bình đẳng sẽ gây ảnh hưởng
Trang 2xấu tới chất lượng cuộc sống của người dân, làm tăng tỷ lệ nghèo đói, cản trở tiến bộtrong y tế và giáo dục, góp phần làm gia tăng tình trạng tội phạm Do đó cần có nhữngchính sách phân phối thu nhập sao cho có thể đảm bảo cho nền kinh tế phát triển mộtcách bền vững.
Nguyên nhân gây ra sự bất bình đẳng phân phối thu nhập:
Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập từ tài sản Trong nền kinh tế thị trường,một bộ phận thu nhập của các cá nhân được phân phối theo sở hữu các nguồn lực Tùytheo các yếu tố sản xuất mà mỗi người có được cũng như việc định giá các yếu tố đótrên thị trường cạnh tranh mà chúng có ảnh hưởng đến mức thu nhập của mỗi cá nhân.Cách phân phối như vậy gọi là phân phối theo sở hữu các nguồn lực hay còn gọi làphân phối thu nhập từ tài sản Tài sản của mỗi cá nhân có được là do nhiều nguồn hìnhthành khác nhau: Do được thừa kế tài sản, do hành vi tiêu dùng và tiết kiệm khác nhaucủa các cá nhân ảnh hưởng lớn đến sự khác nhau về của cải tích luỹ được, do kết quảkinh doanh Trong số các nguyên nhân nêu trên thì sản xuất kinh doanh là một cáchquan trọng nhất để tăng thu nhập và tăng tài sản của mỗi cá nhân
Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập từ lao động Lao động là điều kiện cơbản tạo ra thu nhập Tuy nhiên với kỹ năng lao động, điều kiện lao động và tính chấtnghề nghiệp khác nhau sẽ dẫn đến thu nhập khác nhau Một số nguyên nhân dẫn đếnbất bình đẳng thu nhập từ lao động: do khác nhau về khả năng và kỹ năng lao động dẫnđến khác nhau về thu nhập, do khác nhau về cường độ làm việc cũng dẫn đến thu nhậpkhông bằng nhau, do khác nhau về nghề nghiệp và tính chất công việc, do nhữngnguyên nhân khác như sự phân biệt đối xử trong xã hội, xuất phát điểm của các cánhân hay sự không hoàn hảo của thị trường lao động, ảnh hưởng của thiên tai và cácrủi ro khác đều có liên quan đến sự khác biệt về tiền lương của các cá nhân
Trang 33 Các tiêu chí đánh giá bất bình đẳng phân phối thu nhập
Đo lường bất bình đẳng trong phân phối thu nhập: Các thước đo bất bình đẳngphụ thuộc vào mức thu nhập/tiêu dùng trung bình trong một nước và sự phân phối thunhập/tiêu dùng trung bình đó Có nhiều thước đo bất bình đẳng khác nhau, điển hìnhcác nước thường dùng các thước đo sau:
3.1 Đường Lorenz
Đường Lorenz là một loại đồ thị dùng để biểu diễn mức độ bất bình đẳng trongphân phối Nó được phát triển bởi Max.O.Lorenz từ năm 1905 để thể hiện sự phân phốithu nhập Đường cong Lorenz là sự biểu diễn bằng hình học của hàm phân bố tích lũy,chỉ ra quan hệ giữa tỷ lệ phần trăm của một giá trị thể hiện qua trục tung với tỷ lệ phầntrăm của một giá trị khác thể hiện qua trục hoành Đường cong Lorenz thường được sửdụng trong việc nghiên cứu sự phân bố thu nhập, chỉ ra tỷ lệ phần trăm số hộ gia đìnhhay dân số trong tổng số và tỷ lệ phần trăm thu nhập của họ trong tổng thu nhập
Một đường cong Lorenz điển hình:
Trang 4Tỷ lệ phần trăm cộng dồn số hộ gia đình được thể hiện trên trục hoành, và tỷ lệphần trăm cộng dồn thu nhập thể hiện trên trục tung.
Đường màu xanh lá cây hợp với trục hoành thành một góc 45° gọi là đườngbình đẳng tuyệt đối Mỗi điểm trên đường này thể hiện tỷ lệ phần trăm số hộ gia đìnhđúng bằng tỷ lệ phần trăm thu nhập
Đường màu xanh da trời được gọi là đường bất bình đẳng tuyệt đối Mỗi điểmtrên đường này thể hiện tỷ lệ phần trăm số hộ gia đình không có thu nhập hoặc tỷ lệphần trăm số hộ gia đình chiếm toàn bộ tổng thu nhập
Đường cong Lorenz luôn luôn bắt đầu từ điểm (0,0) và kết thúc tại điểm (1,1)
Nó không thể nằm phía trên đường bình đẳng tuyệt đối, cũng không thể nằm phía dướiđường bất bình đẳng tuyệt đối Một đường Lorenz điển hình là đường lõm hướng vềgốc (0,0) Một điểm bất kỳ trên đường Lorenz cho biết tỷ lệ % cộng dồn của nhóm dân
cư nghèo nhất nhận được bao nhiêu % tổng thu nhập Như vậy đường Lorenz là cáchbiểu hiện trực quan của sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, nó càng lõm thìmức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập càng cao
Hạn chế: Mặc dù biểu hiện một cách trực quan, dễ thấy mức độ bất bình đẳngtrong phân phối thu nhập nhưng bản thân đường cong Lorenz không phải là cách đánhgiá định lượng về sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập Mặt khác, kể cả khi sosánh đường Lorenz giữa các quốc gia một cách trực quan, trong nhiều trường hợp cũngkhông thể đưa đến kết luận quốc gia nào có mức độ bất bình đẳng cao hơn Khi cácđường Lorenz không cắt nhau thì đường nào lõm hơn sẽ thể hiện mức độ bất bình đẳnglớn hơn nhưng khi chúng cắt nhau thì không thể đưa ra kết luận được Để khắc phụcnhược điểm này, người ta thường sử dụng hệ số Gini
Trang 5tế g nhận giá trị bằng 0 hay bằng 1 chỉ có ý nghĩa lý thuyết chứ không có trong thực tế,
vì không có nước nào có bình đẳng tuyệt đối hay bất bình đẳng tuyệt đối
Căn cứ vào hệ số Gini, người ta chia quốc gia thành ba nhóm bất bình đẳng thunhập Nếu hệ số Gini nhỏ hơn 0.4 thì quốc gia có mức độ bất bình đẳng thấp, hệ sốGini từ 0.4 đến 0.5 là quốc gia có mức độ bất bình đẳng trung bình và quốc gia có mức
độ bất bình đẳng cao khi hệ số Gini lớn hơn 0.5
Trang 6Ưu điểm và hạn chế:
Hệ số Gini khắc phục được hạn chế của đường Lorenz là hệ số này đã lượng hóađược mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập Nó cho phép so sánh mức độ bấtbình đẳng trong phân phối thu nhập giữa các quốc gia, khu vực và vùng
Tuy nhiên, việc sử dụng phương pháp này cũng có những hạn chế bởi vì diệntích A có thể như nhau (nghĩa là nhận được hệ số Gini giống nhau) nhưng độ phân bốcác nhóm dân cư có mức thu nhập khác nhau là không giống nhau, do đó hình dạngcủa đường Lorenz là khác nhau
Điều này đặc biệt đúng khi các đường Lorenz giao nhau, làm cho hệ số Gini trởthành một thước đo không hoàn toàn nhất quán Điểm thứ hai là không cho phép phântách hệ số Gini theo các phân nhóm (chẳng hạn như nông thôn, thành thị hay các vùngtrong một nước) rồi sau đó "tổng hợp lại" để rút ra hệ số Gini quốc gia
3.3 Tiêu chuẩn 40 của Ngân hàng Thế giới
Tiêu chuẩn “40%’’ của Ngân hàng Thế giới đưa ra nhằm đánh giá phân bố thunhập của dân cư Tiêu chuẩn này xét tỷ trọng thu nhập của 40% dân số có thu nhậpthấp nhất trong tổng thu nhập của toàn bộ dân cư Tỷ trọng này nhỏ hơn 12% là có sựbất bình đẳng cao về thu nhập, nằm trong khoảng từ 12%-17% là có sự bất bình đẳngvừa và lớn hơn 17% là có sự tương đối bình đẳng Theo tiêu chuẩn 40 WB của Ngânhàng Thế giới, chúng ta luôn ở mức trên 17%, cho thấy bất bình đẳng ở mức thấp sovới thế giới và có xu hướng giữ ổn định trong giai đoạn 2002 - 2018
Trang 7CHƯƠNG II: Thực trạng bất bình đẳng theo phân phối thu nhập ở Việt Nam
1 Phân phối thu nhập ở Việt Nam
1.1 Bất bình đẳng theo thu nhập chung của cả nước
Trong giai đoạn 2008 -2018, nền kinh tế Việt Nam đã có những cải thiện đáng
kể, đời sống của người dân, chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng lên, người dânđược hưởng nhiều dịch vụ với chất lượng ngày càng cao Thu nhập bình quân đầungười một tháng theo giá hiện hành tăng khoảng 31.6%
Bảng 2 1: Thu nhập bình quân đầu người một tháng theo giá hiện hành
(Đơn vị: nghìn đồng)
Thu nhập bình quân đầu người
995.0 1,387.0 2,000.0 2,637.0 3,098.0 3,876.0một tháng theo giá hiện hành
(Nguồn: Theo Tổng cục thống kê)
Biểu đồ 2 1: Thu nhập bình quân đầu người theo tháng
Thu nhập bình quân đầu người một tháng theo giá hiện hành (nghìn
Trang 8Trong khi Việt Nam tiếp tục duy trì chuyển đổi cơ cấu và giảm nghèo, mức tăngtrưởng có xu hướng có lợi cho người giàu, với thu nhập từ nông nghiệp và sản xuấtcông nghiệp chỉ tăng đối với nhóm từ 10% tới 20% giàu nhất Điều này có nghĩa bấtbình đẳng về kinh tế đã tăng lên trong hai thập kỷ qua Để làm rõ điều này, chúng ta sẽchia dân số Việt Nam thành 5 nhóm (ngũ phân vị) có thu nhập tăng dần và so sánh sựchênh lệch giữa chúng.
Thu nhập thực tế bình quân đầu người/tháng phân theo 5 nhóm thu nhập nhưsau: Nhóm 1: Nhóm nghèo; Nhóm 2: Nhóm cận nghèo; Nhóm 3: Nhóm trung bình;Nhóm 4: Nhóm khá; Nhóm 5: Nhóm giàu
Bảng 2 2: Thu nhập bình quân đầu người theo tháng chia theo 5
(Nguồn: Theo Tổng cục thống kê)
Từ bảng số liệu thu thập được, ta thấy:
Mặc dù thu nhập ngày càng được cải thiện, nhưng khoảng cách giàu nghèo thìcũng dần lớn hơn Thu nhập bình quân của nhóm 1 tăng lên 563 nghìn đồng trongkhoảng 8 năm (~2.5 lần) Thu nhập của nhóm 5 thì tăng lên đáng kể, người giàu ngàycàng trở nên giàu có hơn, tăng 5,910 nghìn đồng (~2.7 lần) Sự chênh lệch giữa thunhập của nhóm 1 và nhóm 5 thì càng rộng ra, cụ thể năm 2010 chênh lệch là 3,041nghìn đồng, năm 2018 là 8,388 nghìn đồng
Trang 9Biểu đồ 2 2: Thu nhập bình quân đầu người theo tháng chia theo 5 nhóm thu nhập
Thu nhập bình quân đầu người theo tháng chia theo 5 nhóm thu
nhập (nghìn đồng)25,000.00
(Nguồn: Theo Tổng cục thống kê)
Cũng từ số liệu thu thập được ta vẽ được đường Lorenz năm 2018 đối với 5 nhóm thu nhập một cách ước lượng:
Trang 10Biểu đồ 2 3: Đường Lorenz năm 2018 Đường Lorenz năm 2018
vè người nghèo Như vậy, ở Việt Nam đang có mức độ bất bình đẳng trung bình
Bảng 2 3: Hệ số Gini qua các năm
Trang 11Từ bảng trên, ta thấy thu nhập của 40% dân số nghèo nhất có xu hướng giảm điqua các năm Theo tiêu chuẩn 40 của World Bank, từ năm 2008, thu nhập của 40% dân
số có thu nhập thấp nhất đã xuống dưới mức 17%, đưa bất bình đẳng ở Việt Nam lênmức bất bình đẳng vừa
1.2 Bất bình đẳng theo dân tộc
Giải quyết bất bình đẳng theo chiều ngang hay giữa các nhóm trong xã hội làmột trong những thách thức lớn trong hoạch định chính sách phát triển ở Việt Nam.Hiện nay, thu hẹp khoảng cách về chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị với nông thôn,giữa các vùng dân tộc thiểu số và miền núi với đô thị lớn, giữa các nhóm dân tộc khácnhau ở Việt Nam vẫn rất cần sự quan tâm nhiều hơn của các cơ quan quản lý Theo báocáo năm 2017 của Oxfam, tỷ lệ người nghèo tại các khu vực nông thôn đang chiếm tỷ
lệ khá cao so với người nghèo đô thị, khi có 5.4% dân số thành thị sống dưới chuẩnnghèo trong khi con số này ở nông thôn là 22.1%
Trong giai đoạn 2010-2014, trong khi 49% số hộ người Kinh và Hoa trong cácnhóm ngũ phân vị có thu nhập thấp nhất chuyển lên được nấc thang thu nhập cao hơn,chỉ có 19% các hộ dân tộc khác làm được như vậy, thậm chí các hộ dân tộc thiểu số có
xu hướng dịch chuyển xuống, hoặc tái nghèo cao hơn so với người Kinh và người Hoa
1.3 Bất bình đẳng theo khu vực
a) Khu vực thành thị, nông thôn
Bảng 2 5: Thu nhập bình quân đầu người/ tháng
Trang 12Từ bảng trên, ta thấy sự chênh lệch thu nhập bình quân đầu người theo thánggiữa thành thị và nông thôn:
độ chệnh lệch tăng khoảng gần 2 triệu đồng
Đồng bằng sông Cửu Long 940 1,247 1,797 2,327 2,778 3,588
(Nguồn: Theo Tổng cục thống kê)
Nhận thấy sự bất bình đẳng giữa các vùng trong cả nước, khu vực Đông Nam bộ
là phát triển nhất cả nước, người dân khu vực này có thu nhập cao nhất Thấp nhất làTrung du miền núi Bắc Bộ Chênh lệch thu nhập bình quân đầu người khu vực Đông
Trang 13Nam Bộ/ Trung du và miền núi Bắc Bộ Mức độ tuy có xu hướng giảm nhưng vẫn còn
Bắc Trung Bộ và Duyên hải
19.2 20.4 18.5 16.1 14.0 11.8 9.8 8.0miền Trung
Ðồng bằng sông Cửu Long 11.4 12.6 11.6 10.1 9.2 7.9 6.5 5.2
(Nguồn: Theo Tổng cục thống kê)
Tỷ lệ nghèo vẫn tập trung ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc, ở vòa khoảng20% nhưng dần giảm rõ rệt Trong khi đó tỷ lệ nghèo ở nơi có thu nhập cao nhất nước
là Đông Nam Bộ chỉ ở khoảng gần 1% và tiếp tục giảm
Bảng 2 8: Chênh lệch thu nhập bình quân đầu người một tháng giữa nhóm thu nhập cao nhất so với nhóm thu nhập thấp nhất phân theo vùng địa lý
(Đơn vị: %)
Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền
Trung
(Nguồn: Theo Tổng cục thống kê)
Trang 14Chênh lệch thu nhập trung bình giữa các vùng tương đối rõ nét: vùng có thunhập đầu người tính theo tháng cao nhất hiện nay là Đông Nam Bộ (3,016,400đồng), gấp 1.5 lần mức thu nhập chung trên toàn quốc (1,999,800 đồng) và gấphơn 3 lần so với vùng thu nhập thấp nhất là Tây Bắc (999,800 đồng) (TCTK,2013).
2 Nguyên nhân gây nên bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam
Chênh lệch về thu nhập và sự gia tăng bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nambắt nguồn từ các nhân tố mang tính đặc trưng của nhóm dân số; sự khác biệt về địalý; sự khác biệt về trình độ… Dưới đây là một số nguyên nhân dẫn tới gia tăng bấtbình đẳng thu nhập ở Việt Nam
Trước hết, xuất phát từ nền kinh tế thị trường Trong nền kinh tế thị trường,khi còn nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, phát triển kinh tế nhiều thànhphần và sản xuất hàng hóa thì sự phân hóa giàu nghèo là một hiện tượng kháchquan và nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch về thu nhập, sự phân hóa giàu nghèo
tự quan hệ phân phối thu nhập
Nguyên nhân thứ hai là các thể chế chính sách của Nhà nước nhằm tái phânphối thu nhập chưa thật hiệu quả Các bộ ngành nghiên cứu chủ động áp dụng cáchình thức hỗ trợ cần thiết cho những bộ phận xã hội ít được hưởng lợi hoặc bị thiệtthòi trong quá trình hội nhập, đặc biệt có quan tâm đến nông nghiệp nông thôn vànông dân Nhưng trên thực tế ở Việt Nam, một thay đổi nhỏ trong chính sách chỉmang lại rất ít lợi ích cho những người nghèo trong khi lợi ích của đại đa nhữngngười giàu lại tăng lên
Thứ ba, bắt nguồn từ quy luật phát triển không đều giữa các vùng do điềukiện địa lý, phương thức sản xuất, văn hóa, phong tục tập quán, lối sống khácnhau Vùng có điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi thì sẽ pháttriển nhanh, năng suất lao động cao, thu hút các nguồn vốn đầu tư; theo đó, tốc độ
Trang 15tăng trưởng kinh tế nhanh sẽ làm cho thu nhập dân cư cao hơn so với những vùng
có điều kiện không thuận lợi bằng Khả năng cạnh tranh của nền kinh tế giữa cácvùng cũng không giống nhau nên gây ra bất bình đẳng trong phân phối thu nhập làcũng dễ hiểu
Thứ tư, mô hình tăng trưởng và cơ chế phân bổ nguồn lực là yếu tố có ảnhhưởng trực tiếp và lâu dài đến việc tạo lập công bằng xã hội Nền kinh tế nước tatheo đuổi mô hình tăng trưởng “thị trường - hướng về xuất khẩu”, do đó, gắn với
mô hình đó là định hướng ưu tiên phân bổ nguồn lực cho các ngành và dự án dùngnhiều vốn, tạo ít việc làm mới cho các vùng có khả năng tăng trưởng cao và chocác doanh nghiệp nhà nước
Thứ năm, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh chóng Quá trìnhcông nghiệp hóa kéo theo ứng dụng công nghệ mới và cách thức trong tổ chức sảnxuất Chỉ người lao động được đào tạo, có kỹ năng và có tay nghề mới đáp ứngnhững công việc phức tạp
Thứ sáu, điều kiện tự nhiên là một trong những nhân tố quan trọng tạo ra sựkhác biệt về trình độ phát triển kinh tế cũng như bất bình đẳng thu nhập giữa cácvùng Các vùng có trình độ phát triển kinh tế thấp như trung du miền núi phía Bắc,Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung thường có địa hình hiểm trở, gây khókhăn cho việc phát triển kinh tế nói chung và của các vùng nói riêng Do địa hìnhphức tạp, khắc nghiệt, hay có lũ lụt, sạt lở Tài nguyên thiên nhiên ngày càngxuống cấp Vùng đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ lại có vị trí và địa hìnhthuận lợi để phát triển Với một địa hình đa dạng và phong phú như đồng bằng cácvùng này có nhiều cơ hội để phát triển hơn Bên cạnh đó còn có nhiều khu di tíchmang lại thu nhập lớn từ ngành du lịch
Thứ bảy, phân bố dân cư không đồng đều Những vùng có mật độ dân cưthưa thớt, quy mô dân số nhỏ có tốc độ và trình độ phát triển kinh tế thấp khác hản
Trang 16so với vùng đông dân Đặc biệt ở nước ta dân cư phân bố không đều một phần là
do tính chất địa hình địa lý, phần nữa là người dân tập trung ở khu vực đồng bằng,
đô thị để phát triển kinh tế, dẫn đến tình trạng tài sản tập trung không đồng đều gâynên sự bất nình đẳng trong thu nhập
3 Tác hại của bất bình đẳng phân phối thu nhập ở Việt Nam
3.1.Về kinh tế
Bất bình đẳng thu nhập góp phần dẫn đến sự nghèo khổ cùng cực kéodài đối với một bộ phận lớn dân số Điều này làm lãng phí tiềm năng conngười, giảm tính tích cực của người lao động, làm hiệu quả lao động thấp, kinh
3.3.Về văn hóa
Sự bất bình đẳng gia tăng, một mặt người nghèo có thể có sự sùng báitiền tệ, coi lợi nhuận là trên hết, coi trọng vật chất bất chấp đạo lý, còn ngườigiàu coi thường tiền bạc, suy đồi đạo đức