QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI TƯ DUY CỦA ĐẢNG VỀ GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI______I QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC VÀ CHỦ TRƯƠNG GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI CỦA ĐẢNG TRONG HAI THỜI KỲ TRƯỚC VÀ SAU ĐỔI MỚI1.Thời kì trước đổi mới2.Thời kì đổi mới:3.Nhận xét:4.Quan điểm về giải quyết các vấn đề xã hội5.Chủ trương giải quyết các vấn đề xã hộiII ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI VÀ NÊU LÊN THÀNH TỰU:III GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN CÁC CHÍNH SÁCH XÃ HỘI Ở NƯỚC TA
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC TP.HCM_CƠ SỞ CẦN THƠ
BỘ MÔN LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
****
BÀI TIỂU LUẬN
ĐẢNG VỀ GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ
XÃ HỘI
GVHD: PHẠM THỊ THU THANH SVTH: PHẠM THỊ NHƯ YẾN
LỚP: KT11_CT
Trang 2MSSV: 11510108490 Cần Thơ, ngày 12 tháng 4 năm 2013
NỘI DUNG TIỂU LUẬN:
I- QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC VÀ CHỦ TRƯƠNG GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI CỦA ĐẢNG TRONG HAI THỜI KỲ TRƯỚC VÀ SAU ĐỔI MỚI
1 Thời kì trước đổi mới
2 Thời kì đổi mới:
3 Nhận xét:
4 Quan điểm về giải quyết các vấn đề xã hội
5. Chủ trương giải quyết các vấn đề xã hội
II- ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI VÀ NÊU LÊN THÀNH TỰU:
III- GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN CÁC CHÍNH SÁCH XÃ HỘI Ở NƯỚC TA
1 Thống nhất nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
2 Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp và các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh
3 Bảo đảm đồng bộ các yếu tố thị trường và phát triển đồng bộ các loại thị trường
4 Gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển và bảo vệ môi trường
5 Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế, tăng cường sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp và của nhân dân vào quá trình phát triển kinhtế
-xã hội
Trang 3Giải quyết tốt các vấn đề xã hội là một trong những chủ trương, giải pháp lớn nhằm phát triển kinh tế - xã hội của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới
Mọi người đều biết, từ xã hội có cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, xã hội là từ dùng để chỉ một hình thái xã hội nhất định với tất cả các yếu tố cấu thành chỉnh thể của nó, bao gồm cơ sở kinh tế, cơ cấu xã hội, kiến trúc thượng tầng chính trị, đời sống văn hóa Còn theo nghĩa hẹp, từ xã hội dùng để chỉ lĩnh vực xã hội trong tương quan với các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa của xã hội tổng thể
Các vấn đề xã hội được nói đến bao gồm nhiều lĩnh vực: việc làm, thu nhập, bình đẳng xã hội, khuyến khích làm giàu, xóa đói giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe, cung ứng dịch vụ công, an sinh xã hội, cứu trợ xã hội, chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình,…
I- QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC VÀ CHỦ TRƯƠNG GIẢI QUYẾT CÁC VẤN
ĐỀ XÃ HỘI CỦA ĐẢNG TRONG HAI THỜI KỲ TRƯỚC VÀ SAU ĐỔI MỚI 1.Thời kì trước đổi mới
Đánh giá việc thực hiện đường lối
Chính sách xã hội trong giai đoạn này tuy có nhiều điểm hạn chế nhưng đã bảo đảm được sự ổn định của xã hội, đồng thời còn đạt được thành tựu phát triển đáng tự hào trên một số lĩnh vực như văn hoá, giáo dục, y tế, lối sống, đạo đức, kỷ cương và an sinh xã hội, hoàn thành nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn
Những thành tựu đó nói lên bản chất tốt đẹp của chế độ mới và sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng trong giải quyết các vấn đề xã hội trong điều kiện chiến tranh kéo dài, kinh tế chậm phát triển
6 Thời kì đổi mới:
Trên cơ sở tổng kết những sáng kiến của quần chúng nhân dân trong nước, đồng thời đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tham khảo rộng rãi kinh nghiệm của thế giới, các Đại hội VII, VIII, IX, X của Đảng Cộng sản Việt Nam (từ 1991 đến 2006) đã không ngừng bổ sung, hoàn thiện đường lối đổi mới do Đại hội VI khởi xướng Với chức năng của mình, Quốc hội và Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã lần lượt thể chế hóa,cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo trong đường lối của Đảng thành hệ thống pháp luật, chính sách, chương trình, dự án để đưa vào cuộc sống
Sau đây chúng ta hãy nhìn lại những chủ trương của Đảng ta qua các kì Đại hội:
Các kì đại
hội
Chủ trương
Đại hội
đại biểu
toàn quốc
lần thứVI
của Đảng
Đại hội cho rằng trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội, nhưng những mục tiêu xã hội lại là mục đích của các hoạt động kinh tế
Trang 4Cụ thể Đảng đã đề ra những phương hướng như sau:
- Về kinh tế: Báo cáo chính trị đề ra ba chương trình kinh tế lớn: lương thực - thực
phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu
- Tình hình kinh tế - xã hội của đất nước đòi hỏi giảm tỷ lệ phát triển dân số từ 2,2% xuống 1,7% vào năm 1990 Phải thực hiện đồng bộ các biện pháp như: đầu tư xây dựng các cơ sở dịch vụ y tế xã, các trung tâm hướng dẫn sinh đẻ ở huyện, đồng thời sửa đổi và ban hành các chính sách có liên quan nhằm bảo đảm được kế hoạch phát triển dân số Gây thành ý thức xã hội rộng khắp về thực hiện kế hoạch hoá gia đình; đảng viên và đoàn viên thanh niên phải gương mẫu đi đầu thực hiện.
- Chế độ tiền lương, các thang lương, bậc lương phải được sửa đổi và bổ sung nhằm
thực hiện tốt nguyên tắc phân phối theo lao động; mức lương phải được điều chỉnh tương ứng với mức giá hình thành trong thực tế Đối với lao động xã hội, phải bằng mọi cách, giải quyết việc làm cho phần lớn số lao động mới tăng, nhất là thanh niên và học sinh Sớm ban hành Luật nghĩa vụ lao động đối với thanh niên.
- Sắp xếp lại và tinh giản bộ máy quản lý hành chính nhà nước
- Cải thiện điều kiện vệ sinh ở các thành phố như giải quyết vấn đề cống rãnh, bãi rác,
cấp nước sinh hoạt , ở nông thôn chú ý xây dựng hố xí, giếng nước, nhà tắm hợp vệ sinh, đặc biệt đối với đồng bằng sông Cửu Long, cần có biện pháp giữ sạch nguồn nước
- Trong 5 năm 1986-1990, chú trọng xây thêm nhà ở cho Hà Nội, các khu công nghiệp, nông trường, lâm trường, thanh toán một phần quan trọng tình trạng nhà ổ chuột do chế
độ cũ để lại ở thành phố Hồ Chí Minh và một số nơi khác
- Giáo dục: Phát triển giáo dục mầm non, chú trọng chất lượng nuôi, dạy trẻ em Phấn
đấu hoàn thành về cơ bản phổ cập giáo dục cấp I, hạ tỷ lệ lưu ban, bỏ học Tiếp tục thực hiện cải cách giáo dục với nội dung thiết thực, phù hợp với điều kiện thực tế về dạy và học, từ đó củng cố chất lượng giảng dạy và học tập Đối với giáo dục phổ thông trung học, cải tiến nội dung chương trình theo mục tiêu đào tạo mới, nhất là chú trọng giáo dục
kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp và dạy nghề.
Đại hội
đại biểu
toàn quốc
lần thứ
VII của
Đảng
Đã đề ra mục tiêu tổng quát của 5 năm 1991 - 1995 là: vượt qua khó khăn, thử thách, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực và bất công xã hội, đưa nước ta cơ bản
ra khỏi tình trạng khủng hoảng.
-Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế
- Phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo
- Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
- Chính sách giải quyết một số vấn đề xã hội theo quan điểm: tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển; khuyến khích làm giàu hợp phát đi đôi với tích cực xoá đói giảm nghèo Thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển, về mức sống giữa các vùng, các dân tộc, các
Trang 5tầng lớp dân cư; phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc “uống nước nhớ nguồn”, “đền
ơn đáp nghĩa”, nhân hậu thuỷ chung.
Đại hội
đại biểu
toàn quốc
lần thứ
VIII của
Đảng
(6/1996)
+ Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển
+ Thực hiện nhiều hình thức phân phối
+ Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xoá đói giảm nghèo
+ Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hoá
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 5 NĂM 1996 – 2000
Mục tiêu:
Giải quyết tốt một số vấn đề xã hội.
-Thanh toán nạn mù chữ và hoàn thành cơ bản phổ cập tiểu học trong cả nước, phổ cập trung học cơ sở (lớp 9) ở thành phố lớn và những nơi có điều kịên Số lao động qua đào tạo chiếm khoảng 22 - 25% tổng số lao động Chuyển mạnh về chất lượng giáo dục, đào tạo Phát triển và nâng cao năng lực, hiệu quả nghiên cứu, triển khai khoa học và công nghệ Phát triển và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa, thông tin, y tế, thể dục thể thao, mở rộng tới các vùng sâu và vùng xa.
-Giảm nhịp độ phát triển dân số vào năm 2000 xuống dưới 1,8% Xoá nạn đói Đến năm
2000 tỉ lệ người thu nhập quá thấp giảm xuống một nửa so với hiện nay, tỉ lệ trẻ em dưới
5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm xuống dưới 30% Dân cư thành thị và 80% dân số ở nông thôn được cung cấp nước sạch Tăng tuổi thọ bình quân lên khoảng 70 tuổi.
-Giải quyết việc làm cho 6,5 - 7 triệu người, giảm tỉ lệ thất nghiệp thành thị xuống dưới 5% và tăng thời gian lao động được sử dụng ở nông thôn trên 75% Điều chỉnh tiền lương
và giải quyết những bất hợp lý trong chính sách tiền lương
-Hoàn thành căn bản định canh đinh cư và ổn định đời sống của đồng bào các dân tộc ít người.
-Ngăn chặn và giảm ô nhiễm môi trường ở thành phố, khu công nghiệp.
-Đẩy lùi tham nhũng, các tệ nạn xã hội, loại trừ văn hoá độc hại.
Ta có thể thấy đại hội lấy việc phát huy con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững.
Đại hội
đại biểu
toàn quốc
lần thứ
IX của
Đảng
(4/2001)
Các chính sách xã hội phải hướng vào phát triển và làm lành mạnh hoá xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối, tạo động lực mạnh
mẽ phát triển sản xuất , tăng năng suất lao động xã hội, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp
Các chỉ tiêu xã hội:
Tỷ lệ học sinh trung học cơ sở đi học trong độ tuổi đạt 80%, tỷ lệ học sinh phổ thông
Trang 6trung học đi học trong độ tuổi đạt 45% vào năm 2005.
Tiếp tục củng cố và duy trì mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học Thực hiện chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
Giảm tỷ lệ sinh bình quân hằng năm 0,5‰; tốc độ tăng dân số vào năm 2005 khoảng
1,2%.
Tạo việc làm, giải quyết thêm việc làm cho khoảng 7,5 triệu lao động, bình quân 1,5 triệu lao động/năm; nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 30% vào năm 2005.
Cơ bản xoá hộ đói, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 10% vào năm 2005.
Đáp ứng 40% nhu cầu thuốc chữa bệnh sản xuất trong nước.
Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng xuống còn 22 - 25% vào năm 2005.
Nâng tuổi thọ bình quân vào năm 2005 lên 70 tuổi.
Cung cấp nước sạch cho 60% dân số nông thôn.
Đánh giá:
ĐH IX là ĐH của trí tuệ, dân chủ, đoàn kết, đổi mới, thể hiện ý chí kiên cường và niềm
hy vọng lớn lao của cả dân tộc trong thời điểm lịch sử trọng đại bước vào thế kỷ mới và thiên niên kỷ mới.
ĐH xác định nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp trong bối cảnh mới hiện nay là thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH-HĐH theo định hướng XHCN, khắc phục tình trạng nghèo, kém phát triển, thực hiện công bằng XH, chống áp bức, bất công; đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những tư tưởng và hành động tiêu cực, sai trái;
Đại hội
đại biểu
toàn quốc
lần thứ X
của Đảng
(4/2006)
Phải kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong phạm
vi cả nước, ở từng lĩnh vực, địa phương
* Mục tiêu tổng quát 2006-2010
Tỉ lệ tăng dân số đến 2010: 1.14 %/năm
Lao động thất nghiệp dưới 50% lao động xã hội
Tạo việc làm cho trên 8 triệu lao động Giảm tỉ lệ thất nghiệp dưới 5%
Tỉ lệ hộ nghèo (theo chuẩn mới) còn 10-11%
Hoàn thành phổ cập trung học phổ thông
Tỉ lệ bác sĩ đạt 7 người/10000 dân
Tuổi thọ trung bình đạt 72 tuổi
Tỉ lệ tử vong trẻ dưới 1 tuổi là 16%
Tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 20%
Đánh giá quan điểm:
Phát triển gắn chặt với phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường Thực hiện tiến bộ công bằng xã hội, tiếp tục đề cao yếu tố con người
Hội nghị
TW 4
Phải giải quyết tốt các vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình thực thi cam kết với WTO
Trang 7khóa X
(1/2007)
Đai hội
lần thứ
XI(12-19/1/2011)
Tiếp tục nhấn mạnh quan điểm:” Mở rộng nhân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và
là mục tiêu của sự phát triển”
Phần giải quyết các vấn đề xã hội trong kế hoạch 5 năm 2011-2015 Xã hội:
Tỷ lệ lao động qua đào tạo 2015 đạt 55%
Quy mô dân số 2015 dưới 92 triệu người
Tuổi thọ dân cư đến cuối năm 2015 đạt 74 tuổi.
Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới: 2-3%.
Tỷ lệ thất nghiệp thành thị 2015 khoảng 4%.
Môi trường
Tỷ lệ che phủ rừng 2015 lên mức 42,5%;
Tỷ lệ DS nông thôn được cung cấp nước hợp vệ sinh: 96%
Dân cư thành thị được cung cấp nước sạch: 98%
Đánh giá:
Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển Tôn
trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân Kết hợp và phát huy đầy đủ vai trò của xã hội, gia đình, nhà trường, từng tập thể lao động, các đoàn thể và cộng đồng dân cư trong việc chăm lo xây dựng con người Việt Nam
3.Nhận xét:
- Nhìn tổng thể, kể từ năm 1986 đến nay, tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam
về giải quyết các vấn đề xã hội đã có những bước phát triển mới:
+ Từ chỗ không đặt đúng tầm quan trọng của chính sách xã hội trong mối quan hệ tương tác với chính sách kinh tế đã đi đến thống nhất chính sách kinh tế với chính sách
xã hội;
+ Tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát hiện
+ Từ chỗ Nhà nước bao cấp toàn bộ trong việc giải quyết việc làm đã dần dần chuyển trọng tâm sang thiết lập cơ chế, chính sách để các thành phần kinh tế và người lao động đều tham gia tạo việc làm
+ Từ chỗ không chấp nhận có sự phân hoá giàu - nghèo đã đi đến khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xoá đói, giảm nghèo, coi việc một bộ phận dân cư giàu trước là cần thiết cho sự phát triển
4 Quan điểm về giải quyết các vấn đề xã hội
Một là, kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội.
Hai là, xây dựng và hoàn thiện thể chế gắn kết tăng trưởng kinh tế với tiến bộ,
công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển
Ba là, chính sách xã hội được thực hiện trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn bó hữu cơ
Trang 8giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa cống hiến và hưởng thụ.
Bốn là, coi trọng chỉ tiêu GDP bình quân đầu người gắn với chỉ tiêu phát triển con
người HDI và chỉ tiêu phát triển các lĩnh vực xã hội
5 Chủ trương giải quyết các vấn đề xã hội
Một là, khuyến khích mọi người dân làm giàu theo pháp luật, thực hiện có hiệu quả
mục tiêu xoá đói giảm nghèo
Hai là, bảo đảm cung ứng dịch vụ công thiết yếu, bình đẳng cho mọi người dân, tạo
việc làm và thu nhập, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng
Ba là, phát triển hệ thống y tế công bằng, hiệu quả.
Bốn là, xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khoẻ và cải thiện giống nòi Năm là, thực hiện tốt các chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình.
Sáu là, chú trọng các chính sách ưu đãi xã hội.
Bảy là, đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung ứng các dịch vụ công cộng.
II- ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI VÀ NÊU LÊN THÀNH TỰU:
Sau 20 năm đổi mới chính sách xã hội, nhận thức về vấn đề phát triển xã hội của Đảng và nhân dân ta đã có những thay đổi quan trọng:
Từ tâm lý thụ
động, ỷ lại
vào Nhà nước
và tập thể,
trông chờ
viện trợ
Năng động, chủ động và tính tích cực xã hội của tất
cả các tầng lớp dân cư
Không chờ đợi Nhà nước và tập thể, người lao động ngày càng có ý thức chủ động tạo ra việc làm cho mình và cho người khác Từ chỗ bao cấp toàn bộ trong giải quyết việc làm, Nhà nước đã
chuyển trọng tâm sang xây dựng pháp luật (Bộ Luật Lao động 1994), tạo lập cơ chế, chính sách
nhằm hướng dẫn và hỗ trợ các thành phần kinh tế phát triển sản xuất kinh doanh, tạo thêm nhiều việc làm mới
Từ chỗ đề
cao quá mức
lợi ích của
tập thể một
cách chung
chung, trừu
tượng; thi
hành chế độ
phân phối
theo lao động
trên danh
nghĩa nhưng
thực tế là
Thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động
và hiệu quả kinh
tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp các nguồn lực khác vào sản xuất -kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội
-Làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu
-1996 đến nay, trung bình mỗi năm Chính phủ Việt Nam đã dành tới 24 - 26% ngân sách Nhà nước để chi cho các chương trình dân số - kế hoạch hóa gia đình, tạo việc làm, xóa đói
giảm nghèo, xây dựng các công trình hạ tầng thiết yếu ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, phát triển giáo dục, phát triển y tế, xây dựng mạng lưới
an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, phòng chống các tệ nạn xã hội
Trang 9bình quân
-cào bằng
Từ chỗ không
đặt đúng tầm
quan trọng
của chính
sách xã hội
trong mối
tương tác với
chính sách
kinh tế
Thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội
Coi trọng chỉ tiêu GDP bình quân đầu người gắn với chỉ tiêu phát triển con người (HDI)
Nếu so với thứ bậc xếp hạng GDP bình quân đầu người thì xếp hạng HDI của Việt
Nam năm 2005 vượt lên 18 bậc: GDP bình quân đầu người xếp thứ 123 trên tổng số 177 nước được thống kê, còn HDI thì xếp thứ 105/177 Điều đó chứng tỏ sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam có xu hướng phục vụ sự phát triển con người, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội khá hơn so với một số nước đang phát triển có GDP bình quân đầu người cao hơn Việt Nam
Từ chỗ Nhà
nước bao cấp
toàn bộ trong
quyết việc
làm
Dần dần chuyển trọng tâm sang thiết lập cơ chế, chính sách để các thành phần kinh
tế và người lao động đều tham gia tạo việc làm
Từ năm 1991 đến năm 2000,trung bình mỗi năm
cả nước đã giải quyết cho khoảng 1 - 1,2 triệu người có công ăn việc làm; từ 2001 đến 2005, con
số đó tăng lên 1,4 - 1,5 triệu người Ngoài ra, mỗi năm Việt Nam còn đưa khoảng 70.000 người đi xuất khẩu lao động tại một số nước trong khu vực
và trên thế giới Để hội nhập với thế giới về chính sách lao động, trong những năm qua Việt Nam đã lần lượt ký kết và thực hiện các văn bản pháp lý quốc tế quan trọng về quyền lao động như: xóa bỏ lao động cưỡng bức, xóa bỏ phân biệt trong tuyển dụng và nghề nghiệp, xóa bỏ hình thức lao động trẻ em
- Từ chỗ
không chấp
nhận có sự
phân hoá giàu
- nghèo
Khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xoá đói giảm nghèo, coi việc
có một bộ phận dân cư giàu trước
là cần thiết cho sự phát triển
Kết quả là tỷ lệ đói nghèo ở Việt Nam, theo chuẩn quốc gia, đã giảm từ 30% năm
1992 xuống còn gần 7% năm 2005 Mấy năm gần đây, khi áp dụng chuẩn nghèo quốc gia
mới, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 18% đầu năm
2006 xuống gần 15% cuối năm 2007 Còn theo chuẩn nghèo quốc tế, do Ngân hàng Thế giới phối hợp với Tổng cục Thống kê Việt
Nam tính toán, thì tỷ lệ nghèo của Việt Nam đã giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 28,9% năm
2002 và 22% năm 2005
Trang 10Từ chỗ muốn
nhanh chóng
xây dựng một
cơ cấu xã hội
"thuần nhất"
chỉ còn có
giai cấp công
nhân, giai cấp
nông dân tập
thể và tầng
lớp trí thức
Đi đến quan niệm cần thiết xây dựng một cộng đồng xã hội đa dạng, trong đó các giai cấp, các tầng lớp dân cư đều có nghĩa vụ, quyền lợi chính đáng, đoàn kết chặt chẽ, góp phần xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh
Bên cạnh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân
và đội ngũ trí thức, đã xuất hiện ngày càng đông đảo các doanh nhân, tiểu chủ, chủ trang trại và các nhóm xã hội khác phấn đấu vì sự nghiệp "dân giàu, nước mạnh"
Tiến tới xây dựng 1 xã hội dân chủ - công bằng – văn minh
Xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc Một xã hội mở đang dần dần hình thành với những con người, dám nghĩ dám chịu trách nhiệm, không chấp nhận đói nghèo, lạc hậu, biết làm giàu, biết cạnh tranh và hành động vì cộng đồng, vì Tổ quốc Cách thức quản lý xã hội dân chủ, cởi mở hơn, đề cao pháp luật hơn
Bên cạnh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, đã xuất hiện ngày càng đông đảo các doanh nhân, tiểu chủ, chủ trang trại và các nhóm xã hội khác phấn đấu vì sự nghiệp "dân giàu, nước mạnh"
Đã coi phát triển giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
Dưới đây là bảng so sánh chỉ số HDI của Việt Nam và một số nước khác trên thế giới năm 2005
Tên nước Giá trị HDI Chỉ số về từng lĩnh vực Xếp hạng
H DI trong số 17
7 nước
Xếp hạng GDP/người (USD PPP)trừ đi xếp hạng HDI
Tuổi thọ trung bình 2005
Tỷ lệ biết
người lớn 1995-2005
GDP bình quân đầu người theo PPP 2005
Việt Nam 0,733 73,7 90,3 3.071 105 18
Có quan hệ với chỉ số phát triển con người, chỉ số phát triển liên quan đến giới
(GDI)của Việt Nam năm 2005 là 0,732, xếp thứ 91 trên 157 nước được thống kê Số
phụ nữ là đại biểu Quốc hội năm 2007 là 25,8% so với 17,7% năm 1990
Về giáo dục: