Chính sách cổ tức
Trang 1CHÍNH SÁCH CỔ TỨC
DIVIDEND POLICY
NHÓM 2
Trang 2Mục lục
1 Lời nói đầu
2 Các yếu tố quyết định chính sách cổ tức
2.1 Các hạn chế pháp lý
2.2 Các điều khoản hạn chế
2.3 Các ảnh hưởng của thuế
2.4 Các ảnh hưởng của khả năng thanh khoản
2.5 Khả năng vay nợ và tiếp cận các thị trường vốn
2.6.Ổn định thu nhập
2.7 Triển vọng tăng trưởng
2.8 Lạm phát
2.9 Các ưu tiên của cổ đông
2.10 Bảo vệ chống lại loãng giá
3 Các chính sách cổ tức trong thực tiễn
3.1 Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động
3.2 Chính sách cổ tức tiền mặt ổn định
3.3 Các chính sách chia cổ tức khác
4 Cổ tức được chi trả như thế nào
5 Cổ tức cổ phần và chia nhỏ cổ tức
6 Thể thức mua lại cổ phần
7 Tìm hiểu về chính sách cổ tức của Vinamilk
Trang 3Danh mục bảng biểu:
Bảng 1: Các tỷ lệ chi trả cổ tức và tỷ lệ tăng trưởng gần đây của các công ty được chọn
Bảng 2: Vốn cổ phần của các cổ đóng nắm giữ cổ phần thường trước cổ tức cổ phần
Bảng 3: Vốn cổ phần của các cổ đóng nắm giữ cổ phần thường sau cổ tức cổ phần Bảng 4: Mua lại cổ phần – công ty Hewlett – Packard
Danh mục hình vẽ:
Hình 1: Các ngày then chốt trong thể thức chi trả cổ tức
Hình 2: Cổ tức và lợi nhuận của Vinamilk
Trang 4
1 Lời nói đầu:
Giá trị của một doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của ba loại quyết định tài chính: quyết định đầu tư, quyết định tài trợ và quyết định chi trả cổ tức Các quyết định này đều có mối tương quan lẫn nhau Chính vì vậy, khi lập các quyết định này, mục tiêu của doanh nghiệp và tối đa hóa tài sản của cổ đông Trong bài này, ta bắt đầu bằng cách xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn chính sách cổ tức của một công ty Kế đó,
ta sẽ xem xét các điểm thuận lợi và bất lợi của một số các chính sách cổ tức khác nhau
và cuối cùng là trình bày về các cơ chế chi trả cổ tức cùng với cổ tức cổ phần và các
kế hoạch mua lại cổ phần
2 Các yếu tố quyết định chính sách cổ tức:
Chính sách cổ tức ấn định mức lợi nhuận của công ty được đem ra phân phối như thế nào Lợi nhuận sẽ được giữ lại để tái đầu tư cho công ty hoặc được chi trả cho cổ đông Lợi nhuận giữ lại là một nguồn quan trọng cho việc tài trợ vốn cổ phần cho khu vực tư nhân Mặc dù việc phân chia giữa phát hành cổ phần mới và lợi nhuận giữ lại
có xu hướng thay đổi theo thời gian, lợi nhuận giữ lại tính chung là nguồn vốn cổ phần quan trọng hơn phát hành cổ phần mới
Một mặt, lợi nhuận giữ lại có thể được dùng để kích thích tăng trưởng lợi nhuận tương lai và do đó có thể ảnh hưởng đến giá trị cổ phần tương lai Mặt khác, cổ tức cung cấp cho các cổ đông một lợi nhuận hữu hình thường xuyên Có nhiều yếu tố kết hợp để ấn định chính sách cổ tức của một doanh nghiệp, bao gồm:
Các hạn chế pháp lý
Các điều khoản hạn chế
Các ảnh hưởng của thuế
Khả năng vay nợ và tiếp cận các thị trường vốn
Ổn định thu nhập
Triển vọng tăng trưởng
Lạm phát
Các ưu tiên của cổ đông
Bảo vệ chống lại loãng giá
2.1 Các hạn chế pháp lý:
Hầu hết các quốc gia đều có luật điều tiết chi trả cổ tức của một doanh nghiệp đăng kí hoạt động ở quốc gia đó Về cơ bản các luật này quy định như sau:
• Không thể dùng vốn của một doanh nghiệp để chi trả cổ tức
• Cổ tức phải được chi trả từ lợi nhuận ròng hiện nay và trong thời gian qua
• Không thể chi trả cổ tức khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
Hạn chế đầu tiên được gọi là hạn chế suy yếu vốn Ở một quốc gia, vốn được định nghĩa chỉ bao gồm mệnh giá của cổ phần thường, trong khi ở một số quốc gia khác, vốn được định nghĩa bao quát hơn, gồm cả vốn góp vượt quá tài khoản mệnh giá (thường gọi là thặng dư vốn) Tuy nhiên, bất kể các luật về cổ tức là như thế nào, cổ tức phải được chi trả từ tài khoản tiền mặt của doanh nghiệp với một bút toán đối ứng cho tài khoản lợi nhuận giữ lại
Trang 5Hạn chế thứ nhì được gọi là hạn chế lợi nhuận ròng, đòi hỏi một doanh nghiệp phải có phát sinh lợi nhuận trước khi được phép chi trả cổ tức tiền mặt Điều này ngăn cản các chủ sở hữu thường rút đầu tư ban đầu của họ và làm suy yếu vị thế an toàn của các chủ nợ của doanh nghiệp
Hạn chế thứ ba được gọi là hạn chế mất khả năng thanh toán, quy định rằng một công
ty mất khả năng thanh toán có thể không chi trả cổ tức tiền mặt Khi một công ty mất khả năng thanh toán, nợ nhiều hơn tài sản Chi trả cổ tức sẽ cản trở các trái quyền ưu tiên của các chủ nợ đối với tài sản của doanh nghiệp và vì vậy bị ngăn cấm
Ba hạn chế này tác động đến nhiều công ty khác nhau theo các cách khác nhau Các doanh nghiệp mới hay các doanh nghiệp nhỏ có lợi nhuận giữ lại tích lũy tối thiểu hầu như đều chịu ảnh hưởng lớn của các hạn chế pháp lý này khi ấn định chính sách cổ tức của mình Trong khi các công ty nổi tiếng, vững vàng với thành quả sinh lợi trong quá khứ và các tài khoản lợi nhuận giữ lại lớn ít khi bị tác động của các hạn chế này
2.2 Các điều khoản hạn chế:
Các điều khoản hạn chế thường tác động nhiều đến chính sách cổ tức hơn các hạn chế pháp lý như vừa trình bày Các điều khoản này nằm trong các giao kèo trái phiếu, điều khoản vay, thỏa thuận vay ngắn hạn, hợp đồng thuê tài sản, và các thỏa thuận cổ phần
ưu đãi
Về cơ bản, các hạn chế này giới hạn tổng mức cổ tức một doanh nghiệp có thể chi trả Đôi khi, các điều khoản này có thể quy định không thể chi trả cổ tức cho đến khi nào lợi nhuận của doanh nghiệp đạt được một mức ấn định nào đó Thí dụ, thỏa thuận vay
kỳ hạn giữa Atlas Corporation và Manufacturees Hanovers Trust ngăn cấm chi trả cổ tức mà không có sự chấp thuận trước của ngân hàng Trong một nghiên cứu chính sách cổ tức của 80 doanh nghiệp gặp khó khăn phải cắt giảm cổ tức, người ta thấy rằng hơn phân nửa các doanh nghiệp này rõ ràng phải chịu sự ràng buộc của các điều khoản nợ trong các năm mà các giám đốc cắt giảm cổ tức
Ngoài ra, các yêu cầu về quỹ dự trữ (để thanh toán nợ), quy định rằng một phần nào
đó của dòng tiền của doanh nghiệp phải được dành để trả nợ, đôi khi cũng hạn chế việc chi trả cổ tức Việc chi trả cổ tức cũng bị ngăn cấm nếu vốn luân chuyển (tài sản lưu động trừ nợ ngắn hạn) hay tỷ lệ nợ hiện hành của doanh nghiệp không cao hơn một mức định sẵn nào đó
2.3 Các ảnh hưởng của thuế:
Để có thể thấy được các tác động của thuế ảnh hưởng như thế nào đến chính sách cổ tức, chúng ta hãy xem xét trường hợp điển hình luật thuế ở Mỹ Trước đạo luật điều chỉnh thuế năm 1986, thuế suất biên tế cá nhân (đến 50%) đánh trên thu nhập cổ tức cao hơn các thuế suất biên tế (đến 20%) đánh trên thu nhập lãi vốn dài hạn Đậy là một biện pháp khuyến khích các doanh nghiệp giữ mức cổ tức tức thấp để các cổ đông
có thể nhận được một phần lớn hơn tỷ suất sinh lợi trước thuế dưới hình thức lãi vốn
và như vậy làm tăng tỷ suất sinh lợi sau thuế của họ Tuy nhiên, đạo luật điều chỉnh
Trang 6thuế năm 1986 đã bãi bỏ chênh lệch này bằng cách đánh thuế cả thu nhập cổ tức và thu nhập lãi vốn theo cùng một thuế suất biên tế
Dù ưu đãi thuế đối với thu nhập lãi vốn đã bị hủy bỏ, hình thức thu nhập này vẫn có một lợi điểm về thuế (dù nhỏ hơn) so với thu nhập cổ tức Thu nhập cổ tức bị đánh thuế này (trong năm hiện hành), còn thu nhập lãi vốn (và thuế tương ứng) có thể được hoãn đến các năm sau Vì vậy, đối với hầu hết các nhà đầu tư, hiện giá của thuế đánh trên thu nhập lãi vốn (tương lai) ít hơn thuế đánh trên một số lượng tương đương thu nhập cổ tức (hiện tại)
Trong khi các yếu tố vừa trình bày trên đây có xu hướng khuyến khích các doanh nghiệp giữ lại lợi nhuận, các quy định của cơ quan thuế lại có một tác động ngược lại
Về cơ bản, quy định này ngăn cấm các doanh nghiệp giữ lại một lượng lợi nhuận quá cao để bảo vệ các cổ đông khỏi chi trả thuế trên phần cổ tức nhận được Chi trả cổ tức được coi là thu nhập chịu thuế Nếu một doanh nghiệp quyết định giữ lại lợi nhuận nhằm cung cấp tăng trưởng và tăng giá vốn tương lai cho các nhà đầu tư, các nhà đầu
tư sẽ không phải chịu thuế cho đến khi bán các cổ phần của mình Nhưng nếu như cơ quan thuế kết luận rằng doanh nghiệp đã tích lũy dư thừa lợi nhuận nhằm bảo vệ các
cổ đông khỏi phải chi trả thuế thu nhập cá nhân từ cổ tức, doanh nghiệp sẽ phải chịu một khoản thuế phạt rất nặng trên phần thu nhập này Cơ quan thuế thường nghi ngờ một số công ty hơn các công ty khác Thí dụ, cơ quan thuế thương theo dõi các doanh nghiệp nhỏ được kiểm soát chặt chẽ (quyền kiểm soát nằm trong tay một số ít cổ đông), có cổ đông chịu khung thuế biên tế cao; các doanh nghiệp thường xuyên chi trả
cổ tức thấp; và các doanh nghiệp có khối lượng lớn tiền mặt và chứng khoán thị trường
2.4 Các ảnh hưởng của khả năng thanh khoản:
Chi trả cổ tức là các dòng tiền chi ra Vì vậy, khả năng thanh khoản của doanh nghiệp càng lớn, doanh nghiệp càng có nhiều khả năng chi trả cổ tức Ngay cả khi một doanh nghiệp có một thành tích quá khứ tái đầu tư lợi nhuận cao, đưa đến một số dư lợi nhuận giữ lại lớn, có thể doanh nghiệp này không có khả năng chi trả cổ tức nếu không có đủ tài sản có tính thanh khoản cao, nhất là tiền mặt Khả năng thanh khoản thường trở thành một vấn đề trong giai đoạn kinh doanh suy yếu dài hạn, khi cả lợi nhuận và dòng tiền đều sụt giảm Các doanh nghiệp tăng trưởng nhanh chóng có nhiều các cơ hội đầu tư sinh lợi cũng thường thấy khó khi phải vừa duy trì đủ thanh khoản vừa chi trả cổ tức cùng một lúc
2.5 Khả năng vay nợ và tiếp cận các thị trường vốn:
Khả năng thanh khoản rất cần cho doanh nghiệp vì một số lý do Cụ thể, nó bảo vệ hữu hiệu cho doanh nghiệp trong trường hợp khủng hoảng tài chính Nó cũng cung cấp cho doanh nghiệp một khả năng linh hoạt cần thiết để tận dụng các cơ hội đầu tư
và tài chính bất thường Tuy nhiên còn có nhiều cách khác để đạt được khả năng linh hoạt và an toàn này Thí dụ, các công ty thường lập các hạn mức tín dụng và các thỏa thuận tín dụng tuần hoàn với các ngân hàng, cho phép họ vay tiền gấp (với thời hạn
Trang 7báo trước ngắn) Các doanh nghiệp lớn có uy tín thường có thể đi trực tiếp vào các thị trường tín dụng bằng một phát hành trái phiếu hay bán thương phiếu Doanh nghiệp càng nhỏ có nhiều khả năng tiếp cận các nguồn vốn bên ngoài, càng có nhiều khả năng chi trả cổ tức
Một doanh nghiệp nhỏ có cổ phần được kiểm soát chặt chẽ và ít giao dịch thường xuyên, thường thấy khó (hay không thuận lợi) khi bán cổ phần thường mới trên thị trường Vì vậy, thu nhập giữ lại là nguồn vốn cổ phần mới duy nhất Khi một doanh nghiệp thuộc loại này có các cơ hội đầu tư mới thuận lợi, thường việc chi trả cổ tức không nhất quán với mục tiêu tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp
2.6.Ổn định thu nhập:
Hầu hết các doanh nghiệp lớn, có cổ phần được nắm giữ rộng rộng rãi thường do dự đối với việc hạ thấp chi trả cổ tức, ngay cả những lúc gặp khó khăn nghiêm trọng về tài chính Vì vậy, một doanh nghiệp có một lịch sử lợi nhuận ổn định thường sẵn lòng chi trả cổ tức cao hơn một doanh nghiệp có thu nhập không ổn định
Một doanh nghiệp có các dòng tiền tương đối ổn định qua nhiều năm có thể tự tin về tương lai hơn, và thường phản ánh sự tin tưởng này trong việc chi trả cổ tức cao hơn
2.7 Triển vọng tăng trưởng:
Một doanh nghiệp tăng trưởng nhanh thường có một nhu cầu vốn lớn để tài trợ các cơ hội đầu tư hấp dẫn của mình Thay vì chi trả cổ tức nhiều và sau đó cố gắng bán cổ phần mới để huy động vốn cổ phần cần thiết, doanh nghiệp thuộc loại này thường giữ lại một phần lớn lợi nhuận và tránh bán cổ phần mới ra công chúng vừa tốn kém vừa bất tiện Bảng 13.1 minh họa mối liên hệ giữa tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận và tỷ lệ chi trả cổ tức của các công ty được chọn Lưu ý rằng các công ty có tỷ lệ chi trả cổ tức cao nhất thường có tỷ lệ tăng trưởng thấp nhất và ngược lại
Bảng 1: Các tỷ lệ chi trả cổ tức và tỷ lệ tăng trưởng gần đây của các công ty được
chọn
Trang 8Enrollment in local colleges, 2005
Công ty Tỷ lệ chi trả cổ tức 2002
(%)
Tỷ lệ tăng trưởng EPS 10 năm (%)
Idaho Power
Boston Edison
Kansas Power and Light
Sears
Exxon
K-Mart
TNT
Hershey Foods
Merck
Coca-Cola
McDonald’s
Hewlett-Packard
Wal-Mart Stores
Cray Research
97,4 96,3 80,0 76,1 62,4 48,6 46,1 45,6 41,9 39,2 15,4 13,7 12,2 0,0
3,0 3,0 4,5 4,5 4,5 7,5 6,0 12,0 15,5 11,0 15,5 14,0 37,0 39,0
Source: Value Line Investment Survey (NewYork: Value line, Inc nhiều số khác nhau)
2.8 Lạm phat:
Trong một môi trường lạm phát, vốn phát sinh từ khấu hao thường không đủ để thay thế tài sản của một doanh nghiệp khi các tài sản này cũ kỹ, lạc hậu Trong trường hợp này, một doanh nghiệp có thể buộc phải giữ lại một tỷ lệ lợi nhuận cao hơn để duy trì năng lực hoạt động cho tài sản của mình
Lạm phát cũng có 1 tác động trên nhu cầu vốn luân chuyển của doanh nghiệp Trong một môi trường giá cả tăng, số tiền thực tế đầu tư vào kho hàng và các khoản phải thu
có chiều hướng tăng để hỗ trợ cho cùng một khối lượng hiện vật kinh doanh Do số tiền của các tài khoản phải trả đòi hỏi các khoản chi tiền mặt lớn thường cao do giá cả tăng cho nên số tiền dư tiền mặt giao dịch thường cũng phải tăng Như vậy, lạm phát
có thể buộc một doanh nghiệp giữ lại lợi nhuận nhiều hơn để duy trì vị thế vốn luân chuyển giống như trước khi có lạm phát
2.9 Các ưu tiên của cổ đông:
Trong một doanh nghiệp được kiểm sóat chặt chẽ với tương đối ít cổ đông, ban điều hành có thể ấn định mức cổ tức theo ưu tiên của các cổ đông Thí dụ, giả dụ đa số cổ đông của một doanh nghiệp chịu một khung thuế suất biên tế cao Họ thường thích một chính sách giữ lại lợi nhuận cao, để sau cùng hưởng kết quả tăng giá cổ phần, hơn
là một chính sách chi trả cổ tức cao Tuy nhiên, việc giữ lại lợi nhuận cao hàm ý là doanh nghiệp có đủ các cơ hội đầu tư có thể chấp nhận được để biện minh cho chính sách chi trả cổ tức thấp Ngoài ra, cần nhớ là cơ quan thuế không được phép cho các doanh nghiệp giữ lại lợi nhuận quá cao khi không có cơ hội đầu tư thích đáng Một
Trang 9chính sách giữ lại lợi nhuận cao khi không có sẵn các cơ hội đầu tư cũng không nhất quán với mục tiêu tối đa hóa tài sản cổ đông
Đối với một doanh nghiệp lớn có cổ phần được nắm giữ rộng rãi, giám đốc tài chính hầu như không thể tính đến các ưu tiên của cổ đông khi quyết định chính sách cổ tức Một số cổ đông giàu có thích chính sách giữ lại lợi nhuận để hưởng lãi vốn, trong khi các cổ đông khác, có khung thuế biên tế thấp hơn hay coi cổ tức như nguồn thu nhập thường xuyên, thích tỷ lệ cổ tức cao hơn Vì vậy, khi ưu tiên của các chủ sỡ hữu của doanh nghiệp khác nhau, ban điều hành chỉ nên xem xét các yếu tố cơ hội đầu tư, nhu cầu dòng tiền, tiếp cận thị trường tài chính và các yếu tố liên quan khác khi ấn định chính sách cổ tức Các cổ đông nào thấy chính sách cổ tức này không thể chấp nhận được có thể bán cổ phần của mình và mua cổ phần ở các doanh nghiệp khác hấp dẫn hơn đối với họ
Người ta lập luận rằng các doanh nghiệp thường phát triển các nhà đầu tư “khách
hàng” riêng của mình Hiệu ứng Khách hàng này, do Merton Miller và Franco
Modigliani khởi xướng, cho thấy rằng các nhà đầu tư thường sẽ bị hấp dẫn bởi các công ty có chính sách cổ tức phù hợp với mục tiêu của mình Một số công ty, như các công ty công ích chẳng hạn, chi trả một tỷ lệ lớn lợi nhuận của mình cho cổ tức (tiêu biểu là 70% hay hơn), thường có truyền thống hấp dẫn các nhà đầu tư thích có tỷ suất sinh lợi cổ tức cao Ngược lại, các công ty với định hướng tăng trưởng, không chi trả
cổ tức (hoặc trả rất thấp), thường hấp dẫn các nhà đầu tư thích giữ lại thu nhập và hưởng tăng giá cổ phần lớn hơn Các cuộc nghiên cứu mang tính thực nghiệm thường cho thấy có sự hiện diện của một hiệu ứng khách hàng về cổ tức
2.10 Bảo vệ chống lại loãng giá:
Nếu một doanh nghiệp chấp nhận một chính sách chi trả một tỷ lệ lớn thu nhập hàng năm của mình cho cổ tức, thỉnh thoảng doanh nghiệp có thể cần bán cổ phần mới để huy động vốn cổ phần cần thiết cho đầu tư vào các dự án có tiềm năng sinh lợi Nếu các nhà đầu tư hiện hữu của doanh nghiệp không mua hay không thể mua một tỷ lệ cân xứng cổ phần mới phát hành, quyền lợi chủ sở hữu theo phần trăm của họ trong
doanh nghiệp bị loãng Một vài doanh nghiệp chọn cách giữ lại lợi nhuận nhiều hơn
và chi trả cổ tức thấp hơn để tránh rủi ro loãng giá
Tuy nhiên có nhiều cách khác thay cho cách giữ lại lợi nhuận cao Một trong những cách này là huy động vốn từ bên ngoài qua hình thức nợ Tuy nhiên, các này làm tăng rủi ro tài chính của doanh nghiệp, cuối cùng làm tăng chi phí sử dụng vốn cổ phần và
ở một thời điểm nào đó, làm giảm giá cổ phần Nếu doanh nghiệp cảm thấy mình đã
có sẵn một cấu trúc vốn tối ưu, chính sách huy động vốn từ bên ngoài dưới hình thức
nợ rất có thể phản tác dụng, trừ khi doanh nghiệp giữ lại hay mua lại được vốn cổ phần mới trong thị trường vốn đủ để bù trừ cho nợ gia tăng
3 Các chính sách cổ tức trong thực tiễn:
Trang 103.1 Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động:
Chính sách này cho rằng doanh nghiệp nên giữ lại lợi nhuận khi doanh nghiệp có các
cơ hội đầu tư hứa hẹn các tỷ suất sinh lợi cao hơn tỷ suất sinh lợi mong đợi mà các cổ đóng đòi hỏi và tuỳ thuộc vào cơ hội đầu tư có sẵn Bởi vì việc chi trả cổ tức sẽ khiến cho doanh nghiệp hoặc hy sinh các cơ hội đầu tư có thể chấp nhận được hoặc phải huy động thêm vốn cổ phần cần thiết từ các thị trường vốn bên ngoài tốn kém hơn nhiều so với lợi nhuận giữ lại
Ngoài ra, nguyên lý giữ lại lợi nhuận thụ động cũng đề xuất là các công ty “tăng trưởng” thường có tỷ lệ chia cổ tức thấp hơn các công ty đang trong giai đoạn bão hòa Nói cách khác, chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động ngụ ý việc chia cổ tức của doanh nghiệp là nên thay đổi từ năm này sang năm khác tùy thuộc vào các cơ hội đầu
tư có sẵn Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp thường cố gắng duy trì một mức cổ tức ổn định theo thời gian Điều này không có nghĩa là các doanh nghiệp đã bỏ qua nguyên lý về chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động, mà bởi vì cổ tức có thể được duy trì ổn định hàng năm theo hai cách:
−Thứ nhất, doanh nghiệp có thể giữ lại lợi nhuận với tỷ lệ khá cao trong những năm
có nhu cầu vốn cao Nếu đơn vị tiếp tục tăng trưởng, các giám đốc có thể tiếp tục thực hiện chiến lược này mà không nhất thiết phải giảm cổ tức
−Thứ hai, doanh nghiệp có thể đi vay vốn để đáp ứng nhu cầu đầu tư và do đó tăng tỷ
lệ nợ trên vốn cổ phần một cách tạm thời để tránh phải giảm cổ tức Nếu doanh nghiệp
có nhiều cơ hội đầu tư tốt trong suốt một năm nào đó thì chính sách vay nợ sẽ thích hợp hơn so với cắt giảm cổ tức Sau đó, trong những năm tiếp theo, doanh nghiệp cần giữ lại lợi nhuận để đẩy tỷ số nợ trên vốn cổ phần về lại mức thích hợp
3.2 Chính sách cổ tức tiền mặt ổn định:
Hầu hết các doanh nghiệp và cổ đông đều thích chính sách cổ tức tương đối ổn định Tính ổn định được đặc trưng bằng một sự miễn cưỡng trong việc giảm lượng tiền mặt chia cổ tức từ kỳ này sang kỳ khác Tương tự, những gia tăng trong tỷ lệ cổ tức cũng thường bị trì hoãn cho đến khi các giám đốc tài chính công bố rằng các khoản lợi nhuận trong tương lai đủ cao đến mức độ thỏa mãn cổ tức lớn hơn Như vậy, tỷ lệ cổ tức có khuynh hướng đi theo sau một gia tăng trong lợi nhuận và đồng thời cũng thường trì hoãn lại trong một chừng mực nào đó
Có nhiều lý do tại sao các nhà đầu tư thích chính sách cổ tức ổn định Chẳng hạn, nhiều nhà đầu tư cảm thấy các thay đổi cổ tức có nội dung hàm chứa thông tin – họ đánh đồng các thay đổi trong mức cổ tức của một doanh nghiệp với khả năng sinh lợi
3.3 Các chính sách chia cổ tức khác:
Ngoài chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động và cổ tức tiền mặt cố định, các doanh nghiệp còn có thể sử dụng một số các chính sách cổ tức khác như:
−Chính sách cổ tức có tỷ lệ chia không đổi: Nếu lợi nhuận của doanh nghiệp thay đổi
nhiều từ năm này sang năm khác thì cổ tức cũng có thể dao động theo