Bộ lọc HEPA
Trang 11 Thế nào là HEPA Filter:
HEPA stands for "High-Efficiency
Particulate Air" [1] A HEPA filter is a
type of air filter that satisfies certain
standards of efficiency such as those
set by the United States Department of
Energy (DOE) By government
standards, a HEPA air filter must
remove 99.97% of all particles greater than 0.3 microns from the air that passes through
HEPA là viết tắt của "High-Efficiency Particulate Air" – Bộ lọc không khí hiệu quả cao
HEPA filters are composed of a
mat of randomly arranged fibres
The fibres are typically composed
of fiberglass and possess
diameters between 0.5 and 2.0
micrometers Key factors affecting
function are fibre diameter, filter
thickness, and face velocity The
air space between HEPA filter
fibres is much greater than 0.3
μm The common assumption thatm The common assumption that
a HEPA filter acts like a sieve
where particles smaller than the
largest opening can pass through
is incorrect Unlike membrane
filters at this pore size, where
particles as wide as the largest
opening or distance between
fibres cannot pass in between
them at all, HEPA filters are
designed to target much smaller
pollutants and particles These
particles are trapped (they stick to
a fibre) through a combination of the following three mechanisms:
Interception, where particles following a line of flow in the air stream come within one radius of
a fibre and adhere to it.
Impaction, where larger particles are unable to avoid fibres by following the curving contours of the air stream and are forced to embed in one of them directly; this effect increases with diminishing fibre separation and higher air flow velocity.
Diffusion, an enhancing mechanism is a result of the collision with gas molecules by the smallest particles, especially those below 0.1 µm in diameter, which are thereby impeded and delayed in their path through the filter; this behaviour is similar to
Trang 2Brownian motion and raises the
probability that a particle will be
stopped by either of the two
mechanisms above; it becomes
dominant at lower air flow
velocities
Diffusion predominates below the
0.1 μm The common assumption thatm diameter particle size
Impaction and interception
predominate above 0.4 μm The common assumption thatm In
between, near the Most
Penetrating Particle Size (MPPS)
0.3 μm The common assumption thatm, both diffusion and
interception are comparatively
inefficient Therefore, the HEPA
specifications use the retention of
these particles to define the filter.
Bộ lọc HEPA được bao gồm một chiếc
lưới của các sợi sắp xếp ngẫu nhiên Các
sợi thường bao gồm các sợi thủy tinh và
có đường kính từ 0,5 và 2,0 micromet
Các yếu tố chính ảnh hưởng đến chức
năng là đường kính sợi, độ dày lọc, và
bề mặt tiếp xúc Khoảng trống giữa các
sợi lọc HEPA là gấp nhiều lần 0,3
micromet Thường giả định rằng một bộ
lọc HEPA hoạt động giống như một lưới
sàng lọc nơi mà các hạt nhỏ hơn so với
mở lớn nhất có thể đi qua là không chính
xác Không giống như các bộ lọc màng
này có kích thước lỗ chân lông, hạt như
rộng mở lớn nhất, khoảng cách giữa các
sợi không thể vượt qua giữa chúng ở tất
cả các, các bộ lọc HEPA được thiết kế
để nhắm mục tiêu nhỏ hơn nhiều chất
gây ô nhiễm và các hạt Những hạt này
bị mắc kẹt (dính vào một sợi) thông qua một sự kết hợp của ba cơ chế sau đây: Đánh chặn, nơi mà các hạt sau một dòng của dòng chảy trong dòng không khí trong một bán kính của một sợi và tuân thủ nó
Impaction, hạt lớn không thể tránh sợi bằng cách làm theo những đường nét uốn lượn của dòng không khí và buộc phải để nhúng vào một trong số họ trực tiếp, hiệu ứng này tăng lên cùng với tách chất xơ giảm dần và tốc độ dòng chảy không khí cao hơn
Khuếch tán, một cơ chế tăng cường là một kết quả của vụ va chạm với các phân tử khí bằng các hạt nhỏ nhất, đặc biệt là những người dưới 0,1 mm đường kính, do đó làm cản trở và bị trì hoãn trong con đường của mình thông qua các bộ lọc, hành vi này là tương tự như chuyển động Brown và làm tăng xác suất một hạt sẽ được chặn lại bởi một trong hai cơ chế trên, nó trở nên chiếm
ưu thế ở vận tốc dòng chảy không khí thấp hơn
Diffusion chiếm ưu thế bên dưới kích thước 0,1 micron hạt đường kính Impaction và đánh chặn chiếm ưu thế trên 0,4 micromet Trong giữa, gần kích
cỡ hạt Thâm nhập (MPPS) 0,3 micromet, cả hai phổ biến và đánh chặn tương đối không hiệu quả Vì vậy, các thông số kỹ thuật HEPA sử dụng giữ các hạt này để xác định các bộ lọc
3.Cây trồng biến đổi gen - Pocket 1
Cây chuyển gen - Đối tượng của cuộc đối thoại
Chiến lược nông nghiệp toàn cầu đã gây ra cuộc tranh luận sôi nổi về cây chuyển gen Cuộc tranh luận này đang diễn ra hầu khắp mọi nơi với những nét đặc thù trong khoa học, kinh tế, chính trị và
Trang 3thậm chí cả tôn giáo Người ta đề cập tới nó trong phòng thí nghiệm, cơ sở giao dịch, văn phòng luật, ban biên tập báo, thể chế tôn giáo, trường học, siêu thị, quán cà phê và thậm chí tại cả tư gia Điều gì là quan trọng trong cuộc tranh luận này và tại sao dân chúng lại nhạy cảm về vấn đề này? Cuốn Pocket “K” sẽ gắng làm sáng tỏ vấn đề này thông qua việc đề cập một số câu hỏi cơ bản liên quan tới cây chuyển gen
Tại sao phải tạo cây chuyển gen?
Theo phương pháp truyền thống, nhà tạo giống tìm cách tổ hợp lại các gen giữa hai cá thể thực vật nhằm tạo ra con lai mang những tính trạng mong muốn Phương pháp này được thực hiện bằng cách chuyển hạt phấn từ cây này sang nhuỵ hoa của cây khác
Tuy nhiên phép lai chéo này bị hạn chế bởi nó chỉ có thể thực hiện được giữa các cá thể cùng loài hoặc có họ hàng gần Phải mất nhiều thời gian mới thu được những kết quả mong muốn và thường là những đặc tính quan tâm lại không tồn tại trong những loài có họ hàng gần
Kỹ thuật chuyển gen cho phép nhà tạo giống cùng lúc đưa vào một thực vật những gen mong muốn từ những sinh vật sống khác nhau, không chỉ giữa các loài cây lương thực hay những loài có họ gần
Phương pháp hữu hiệu này cho phép các nhà tạo giống thực vật đưa ra giống mới nhanh hơn và vượt qua những giới hạn của tạo giống truyền thống
Ai tạo ra cây chuyển gen?
Hầu hết những nghiên cứu về cây chuyển gen đều được tiến hành ở các nước phát triển, chủ yếu là Bắc Mỹ và Tây âu
Tuy nhiên gần đây nhiều nước đang phát triển cũng đang bắt đầu những nghiên cứu về kỹ thuật di truyền
ở các nước phát triển, các công ty Công nghệ sinh học đã đi đầu trong việc ứng dụng kỹ thuật chuyển gen vào nông nghiệp Các Công ty này gồm Aventis, Dow AgroSciences, DuPont/Pioneer, Monsanto và Syngenta
Thế nào là một cây chuyển gen?
Cây chuyển gen là một thực vật mang một hoặc nhiều gen được đưa vào nhân toạ thay vì thông qua lai tạo
Trang 4Những gen được tạo đưa vào (gen chuyển) có thể được phân lập từ những loài thực vật có quan hệ họ hàng hoặc từ những loài khác biệt hoàn toàn
Thực vật tạo ra được gọi là “chuyển gen” mặc dù trên thực tế tất cả thực vật đều được “chuyển gen” từ tổ tiên hoang dại của chúng bởi quá trình thuần hoá, chọn lọc và lai giống có kiểm soát trong một thời gian dài
Cây chuyển gen được trồng ở đâu?
Năm 1994, giống cà chua Calgene chuyển gen chín chem trở thành cây chuyển gen đầu tiên được sản xuất và tiêu thụ ở các nước công nghiệp Từ đó tới nay đã có thêm một số quốc gia trồng cây chuyển gen làm tăng hơn 20 lần diện tích cây chuyển gen trên toàn thế giới tăng hơn 47 lần
Diện tích trồng cây chuyển gen tăng từ 1,7 triệu ha năm 1996 lên 90 triệu ha trong năm 2005, có 14 nước được coi là có diện tích trồng cây chuyển gen thuộc loại lớn
(mega-countries) với diện tích trồng từ 50.000 ha trở lên, trong đó có 10 nước đang phát triển và 4 nước công nghiệp các nước có diện tích trồng lớn xếp theo thứ
tự từ lớn tới bé là Hoa Kỳ,Achentina, Brazil,Canada, Trung Quốc, Paraguay, Ấn
độ, Nam Phi, Urugoay, Ôxtralia, Mexico, Rumani, Philippine và Tây Ban Nha (Theo James, 2005)
Những lợi ích tiềm tàng của cây chuyển gen là gì?
ở các nước phát triển việc ứng dụng cây chuyển gen đã có những lợi ích rõ rệt Bao gồm:
Tăng sản lượng
Giảm chi phí sản xuất
Tăng lợi nhuận nông nghiệp
Cải thiện môi trường
Những cây chuyển gen thế hệ thứ nhất đã làm giảm chi phí sản xuất Ngày nay, các nhà khoa học đang hướng dẫn tạo ra những cây chuyển gen thế hệ thứ hai
có đặc điểm tăng giá trị dinh dưỡng hoặc có những tính trạng thích hợp cho công nghiệp chế biến
Lợi ích của những cây trồng này hướng trực tiếp hơn vào người tiêu dùng
Trang 5Một số ví dụ như:
Lúa gạo giầu vitamin A và sắt
Khoai tây tăng hàm lượng tinh bột
Vacxin ăn được ở ngô và khoai tây
Những giống ngô có thể trồng được trong điều kiện nghèo dinh dưỡng
Dầu ăn có lợi cho sức khoẻ hơn từ đậu nành và cải dầu
Những nguy cơ tiềm ẩn của cây chuyển gen là gì?
Bao giờ cũng có những nguy cơ tiềm ẩn trong việc phát triển những kỹ thuật mới
Bao gồm:
Mối nguy hiểm trong việc vô tình đưa những chất gây dị ứng hoặc làm giảm dinh dưỡng vào thực phẩm
Khả năng phát tán những gen biến nạp trong cây trồng sang họ hàng hoang dại
Sâu bệnh có nguy cơ tăng cường tính kháng với các chất độc tiết ra từ cây chuyển gen
Nguy cơ những chất độc này tác động tới sinh vật không phải sinh vật cần diệt
Cây chuyển gen được tạo ra như thế nào?
Cây chuyển gen được tạo ra thông qua một quá trình được gọi là kỹ thuật di truyền Các gen quan tâm được chuyển từ cá thể này sang cá thể khác Hiện có hai phương pháp chính để chuyển một gen vào bộ gen thực vật
Phương pháp thứ nhất cần dùng một dụng cụ có tên là “súng bắn gen” Gen chuyển được bao bọc ra ngoài những hạt kim loại vô cùng nhỏ, những hạt này sau đó được đưa vào tế bào thực vật theo phương pháp lí học Một vài gen có thể bị thải loại và không gắn vào bộ gen của cây được biến nạp Phương pháp thứ hai là sử dụng một loại vi khuẩn để đưa gen mong muốn vào bộ gen của thực vật
Liệu cây chuyển gen có phù hợp với những quốc gia đang phát triển
không?
Trong khi hầu hết những cuộc tranh luận chống vây chuyển gen diễn ra chủ yếu tại các quốc gia phát triển ở bắc bán cầu, nam bán cầu vẫn giữ vững quan điển qngs dụng bất jỳ công nghệ nào làm tăng sản lượng lương thực
Trang 6ở các quốc gia thường xuyên không đủ lương thực để phân phối và giá lương thực ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập của đại bộ phận dân chúng thì lợi ích tiềm tàng của cây chuyển gen là không thể phủ nhận được Thực tế là những loại lương thực được tăng cường hàm lượng dinh dưỡng có thể không cần thiết ở các nước phát triển nhưng lại giữ vai trò thiết yếu trong việc giảm nạn đói ở những nước đang phát triển
Mặc dù tiềm năng về cây chuyển gen ở các nước đang phát triển là rất lớn, nhưng họ phải cần được đầu tư Hầu hết các nước đang phát triển không có khả năng để đánh giá an toàn sinh học của cây chuyển gen một cách khoa học, thiếu chuyên gia kinh tế để đánh giá giá trị, thiếu khả năng điều chỉnh theo định hướng triển khai an toàn và hệ thống luật pháp để khuyến khích hoặc trừng phạt những
ai phạm luật Rất may mắn là có một số tổ chức đang hoạt động nhằm tạo những tiềm năng tại chỗ để quản lý thành quả thu được, triển khai và đánh giá chất lượng cây chuyển gen
Một khi luật pháp và những thể chế điều chỉnh được ban hành thì sẽ có những đường lối chính xác để loại bỏ hoàn toàn hoặc hạn chế những nguy cơ này Đó
là nghĩa vụ của những nhà cải cách công nghệ (chẳng hạn như những nhà khoa học), các nhà sản xuất và chính phủ nhằm đảm bảo với công chúng về độ an toàn cũng như ảnh hưởng tốt tới môi trường của những thực phẩm mới này
Cũng có thể xảy ra một số nguy cơ mà bản thân công nghệ không gây ra hoặc không thể ngăn chặn được Chẳng hạn như sự phân cách sâu sắc hơn về kinh
tế giữa các nước phát triển (người sử dụng công nghệ) và các nước đang phát triển (người không sử dụng) Tuy nhiên người ta có thể hạn chế những nguy cơ này bằng cách tăng cường những chuyên gia công nghệ được đào tạo phù hợp với nhu cầu của các nước nghèo và bằng cách lập các tiêu chuẩn để các nước nghèo có thể đánh giá được công nghệ mới
Kết luận
Bên cạnh những điểm còn chưa rõ ràng về cây chuyển gen nhưng với khả năng toạ ra những giống cây trồng mới có giá trị kinh tế, công nghệ này có vai trò không thể phủ nhận được Tuy vậy vẫn còn một số vấn đề đáng lo ngại Để giải quyết những vấn đề này thì những kết luận thu được phải dựa trên những thông tin tin cậy, có cơ sở khoa học
Cuối cùng vì tầm quan trọng của lương thực thực phẩm cho con người, nên các chính sách liên quan tới cây chuyển gen sẽ phải dựa trên những cuộc tranh luận cởi mở và trung thực có sự tham gia của mọi thành phần trong xã hội
Thuật ngữ
Trang 7Công nghệ sinh học: Bất kỳ công nghệ nào sử dụng sinh vật (hay một phần của sinh vật) để tạo ra hoặc cải biến các sản phẩm nhằm cải thiện các giống cây trồng và vật nuôi hoặc để phát triển vi sinh vật cho những mục đích cụ thể
AND: Phân tử có trong tế bào sinh vật, chứa thông tin di truyền
Gen: Một đơn vị sinh học xác định tình trạng di truyền của sinh vật
Kỹ thuật di truyền: sự chọn lọc, cải biến gen có chủ đích của con người
Genom: Toàn bộ vật liệu di truyền trong một tế bào
Cây chuyển gen: Cây chuyển gen là loại thực vật có chứa một hoặc
nhiều gen được đưa vào nhân tạo
Tính trạng: Các đặc điểm như kích thước, hình dạng, mùi vị, màu sắc,
cao sản hoặc kháng bệnh
Gen chuyển: Một gen được đưa vào cơ thể thực vật một cách nhân tạo
Tài liệu tham khảo:
James, C 2005 Tình trạng cây chuyển gien/ cây trồng CNSH được đưa vào canh tác đại trà trên toàn thế giới trong năm 2005 Báo cáo tóm tắt số 34 của ISAAA: Ithaca, NY.
Ảnh minh hoạ của Lori Alden (http://www.foodsubs.com)
Trung tâm Tri thức Toàn cầu về CNSH Cây Trồng Tài liệu phổ biến kiến thức dạng bỏ túi – Pocket 1