GIA ĐÌNH1.1 Khái niệm Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình được các nhà khoa học nghiên cứu ở nhiều góc độ, có thể kể đến khái niệm gia đình như sau: “Gia đình là một nhóm xã hộ
Trang 1Gia đình, chức năng của gia đình và vấn đề bạo lực gia đình – Nhóm 1 – K54A
Đại học quốc gia Hà Nội
KHOA LUẬT
Môn học: Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
Nội dung bài làm:
Gia đình, chức năng của gia đình và
vấn đề bạo lực gia đình
Hà Nội, 2/2012
1
Trang 2Gia đình, chức năng của gia đình và vấn đề bạo lực gia đình – Nhóm 1 – K54A
14 Nguyễn Thị Kim Oanh
15 Hoàng Thị Thanh Phượng
16 Đinh Phương Thảo
17 Phạm Thị Phương Thảo
18 Ngô Vũ Thương Thương
19 Phan Thanh Thủy
20 Hoàng Minh Trang
21 Nguyễn Thị Trang
22 Trần Minh Trang
2
Trang 3MỤC LỤC
1 GIA ĐÌNH 3
1.1 Khái niệm 3
1.2 Đặc điểm 4
1.2.1 Đặc điểm chung 4
1.2.1.1 Đặc điểm về chức năng của gia đình 4
1.2.1.2 Đặc điểm về thiết chế của gia đình truyền thống 5
1.2.2 Đặc thù gia đình Việt Nam 6
1.2.2.1 Gia đình Việt Nam truyền thống 6
1.2.2.1.1 Cơ sở hình thành 6
1.2.2.1.2 Đặc thù 6
1.2.2.2 Gia đình Việt Nam hiện đại 7
1.3 Chức năng của gia đình 8
1.3.1 Chức năng tái sản xuất con người 8
1.3.2 Chức năng kinh tế và tổ chức đời sống gia đình 9
1.3.3 Chức năng giáo dục 10
1.3.4 Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, tình cảm 11
2 BẠO LỰC GIA ĐÌNH 11
2.1 Khái niệm 12
2.2 Vấn đề bạo hành trong mối quan hệ vợ - chồng 13
2.2.1 Bạo hành đối với phụ nữ 13
2.2.1.1 Hình thức 13
2.2.1.2 Thực trạng 14
2.2.1.3 Nguyên nhân 16
2.2.1.4 Hậu quả 17
2.2.2 Bạo hành đối với nam giới 18
2.2.2.1 Thực trạng 18
2.2.2.2 Hình thức và nguyên nhân 20
2.2.2.3 Hậu quả 20
2.3 Bạo hành đối với trẻ em 21
2.3.1 Khái niệm 21
2.3.2 Hình thức, thực trạng và hậu quả 21
2.3.2.1 Xâm hại thân thể 22
2.3.2.2 Xâm hại tinh thần và xao nhãng 24
2.3.2.3 Xâm hại tình dục 24
2.3.3 Nguyên nhân 26
2.4 Việc áp dụng pháp luật đối với bạo lực gia đình tại VN 28
2.5 Giải pháp 30
KẾT LUẬN 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO 33
Trang 41 GIA ĐÌNH
1.1 Khái niệm
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình được các nhà khoa học nghiên cứu
ở nhiều góc độ, có thể kể đến khái niệm gia đình như sau: “Gia đình là một nhóm xã hội được hình thành trên cơ sở hôn nhân và quan hệ huyết thống, những thành viên trong gia đình có sự gắn bó và ràng buộc với nhau về trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ
có tính hợp pháp được nhà nước thừa nhận và bảo vệ”
Từ khái niệm này, chúng ta có thể đi vào tìm hiểu đặc trưng cơ bản của gia đình để xem xét gia đình dưới góc độ là một nhóm xã hội, nhóm tâm lý - tình cảm đặc thù, với các mối quan hệ bên trong, với sự tác động qua lại trong nội bộ của các thành viên để thỏa mãn những nhu cầu của mỗi người, đặc biệt là mối quan hệ giữa vợ và chồng Gia đình là thành phần quan trọng không thể thiếu, gắn liền với cuộc đời của mỗi con người Trong đời sống xã hội từ xưa đến nay, gia đình luôn giữ vị trí quan trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, đánh giá rất cao tầm quan trọng của gia đình Người từng nói: “Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt” Gia đình là tế bào của xã hội, là nền tảng để phát triển xã hội, gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cho một xã hội phồn vinh Trân trọng tình cảm gia đình, gìn giữ nếp nhà là một nét văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, việc giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống của gia đình là điều rất cần được coi trọng Hồ Chủ tịch đã nói: “Rất quan tâm đến gia đình là đúng, vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt”
Cũng theo Bác Hồ, “một gia đình tốt” là một gia đình mà trong đó người phụ nữ, bên cạnh những đóng góp cho xã hội thông qua các công việc chuyên môn của mình còn là nhân tố tích cực, thậm chí khá quyết định Tiêu chí về gia đình tốt trong thời đại hiện nay không chỉ dừng lại ở việc nuôi con khỏe, dạy con ngoan Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, xu thế hội nhập đã khiến những giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống có nguy cơ bị xói mòn hoặc bị xâm thực Bên cạnh những biện pháp chung của Nhà nước, mỗi người phụ nữ Việt Nam cũng phải giữ vai trò là người gìn giữ, phát
Trang 5huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Một gia đình tốt là một gia đình
mà trong đó các thành viên trong gia đình phải biết yêu thương, tôn trọng lẫn nhau
1.2 Đặc điểm
1.2.1 Đặc điểm chung
Gia đình là nền tảng của xã hội nói chung và là một xã hội thu nhỏ nói riêng Vì vậy, gia đình mang những đặc điểm chung từ chính chức năng của nó cũng như những đặc điểm dựa trên nền tảng thiết chế xã hôi
1.2.1.1 Đặc điểm về chức năng của gia đình.
• Đặc điểm chức năng kinh tế của gia đình truyền thống
- Gia đình truyền thống là một đơn vị kinh tế độc lập, tự sản tự tiêu
- Người chồng, người cha trong gia đình đóng vai trò là trụ cột kinh tế, họ đồng thời nắm toàn bộ quyền kiểm soát về kinh tế gia đình
- Sự trì trệ, máy móc và bảo thủ trong hoạt động kinh tế gia đình luôn biểu hiện cùng cơ chế tổ chức và quản lý mang tính gia trưởng
- Đặc điểm chức năng tái sản xuất xã hội của gia đình truyền thống
- Đặc điểm chức năng xã hội hoá - giáo dục của gia đình truyền thống
- Nhắc đến nhiều nhất trong nội dung giáo dục của gia đình là đạo đức và cách sống làm người
- Sự đánh giá của xã hội với gia đình luôn lấy tiêu chí nhìn vào con cái
- Mục đích giáo dục trong gia đình truyền thống khác nhau theo loại hình gia đình, những nhà nghèo khó vẫn cố gắng cho con học đến nơi đến chốn
- Người cha thường giáo dục bằng sự nghiêm khắc, người mẹ thường giáo dục bằng sự nhân từ, "thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi","con hư tại
mẹ, cháu hư tại bà"
• Đặc điểm chức năng tình cảm, tâm lí của gia đình truyền thống
- Đề cao vai trò của các giá trị đạo đức và các giá trị đó chi phối hầu hết các mối quan hệ của gia đình
- Sự thương yêu, chăm sóc con cái hết lòng của cha mẹ đối với con cái, sự hiếu thảo của con cái với cha mẹ; sự gắn bó và yêu thương nhau giữa anh chị em, sự thuỷ chung, hoà thuận trong tình nghĩa vợ chồng
- Những tình cảm đối với gia đình cũng là cội nguồn của tình làng xóm quê hương và xa hơn là tình yêu đất nước
Trang 61.2.1.2 Đặc điểm về thiết chế của gia đình truyền thống.
- Gia đình là một thiết chế trung tâm của xã hội "Gia đình là một thiết chế xã hội mang màu sắc dân tộc và đánh dấu tiến trình phát triển về văn hóa Gia đình điều chỉnh chức năng của các cộng đồng ấy" - Cố Giáo sư Trần Đình Hượu
- Gia đình không chỉ là đơn vị cuối cùng của xã hội mà còn là mẫu hình để tổ chức xã hội và nhà nước
- Người gia trưởng - đứng đầu gia đình chịu trách nhiệm trước pháp luật về hết thảy mọi hành vi của những người trong nhà
- Pháp luật phạt nhẹ lỗi của người bố mà trừng trị nghiêm khắc lỗi của con trai
- Gia đình cũng là nơi quan trọng nhất để duy trì đạo đức trung hiếu, được coi là giá trị nền tảng của xã hội truyền thống
- Gia đình là đơn vị kiểm soát cá nhân
- Từng cá nhân trong một gia đình bị ràng buộc và kiểm soát bằng luân lí, phong tục, lễ nghi và pháp luật
- Người chồng phải giữ nghĩa với vợ, người vợ phải giữ tiết với chồng; tam tòng
- Nền văn minh lúa nước: Việt Nam được nhìn nhận như một trong những cái
nôi đầu tiên của lịch sử văn minh loài người.Nền văn minh sông Hồng lấy nông nghiệp trồng lúa nước_ phương thức sản xuất Châu Á và tổ chức xóm làng làm cơ sở.Gia đình gắn bó chặt chẽ với làng nước trong tư duy và trong hành dộng của người Việt cổ Người Việt luôn có ý thức quý trọng ruộng đất, bảo vệ ruộng đất và các gia đình thường nhắc nhở nhau là "tấc đất, tấc vàng"
ý thức về ruộng đất cũng là cơ sở tạo ra các giá trị tôn trọng của công, tôn trọng các thành quả lao động, quá trình sản xuất nông nghiệp Nó cũng là tiền
đề của lòng yêu làng xóm, quê hương và cao hơn là tình yêu đất nước
Trang 7- Tổ chức xã hội theo làng, xã: Trước khi có nhà nước, ở nước ta làng là đơn vị
tự trị hoàn toàn Làng, xã được hình thành từ những con người sống trong cùng một khu vực nhất đinh, có mối quan hệ huyết thống hoặc mối quan hệ gần gũi với nhau Họ tập hợp lại với nhau thành một tổ chức nhỏ để bảo vệ, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau sinh sống và làm ăn Sự hình thành tổ chức làng
xã thể hiện tinh thần đoàn kết, gắn bó của mỗi con người VN, mong muốn bao bọc, giúp đỡ nhau dù có chung huyết thống hay không
1.2.2.1.2 Những đặc thù của gia đình VN truyền thống.
• Quy mô, cấu trúc của gia đình VN truyền thống:
- Hình thức gia đình đông con và nhiều thế hệ, cùng chung sống trên mảnh đất của tổ tiên để lại Gia đình là đơn vị duy nhất được xã hội thừa nhận nhằm tạo
ra những công dân mới cho xã hội
- Quan hệ hôn nhân trong xã hội truyền thống thường được xây dựng trên cơ sở
"Lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống", và phải môn đăng hộ đối, có đẳng cấp gần nhau, thậm chí vị trí trong dòng họ cũng phải tương xứng Tình trạng tảo hôn trước đây ở nước ta diễn ra khá phổ biến và với hầu hết người phụ nữ trong các gia đình đều được gả sớm, thậm chí có sự chênh lệch khá rõ về tuổi tác so với người chồng
• Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình:
- Quan hệ vợ chồng: Mối quan hệ vợ chồng được gắn kết với nhau không nhiều bằng tình yêu mà bằng tình thương và tình nghĩa, dựa trên sự đồng cảm, bao bọc lẫn nhau Người vợ phải phụ thuộc nhiều vào người chồng, giữ gìn đúng tôn nghiêm và đạo làm vợ Trong gia đình, người đàn ông, người chồng luôn là người chủ động quyết định mọi việc
- Quan hệ cha con: Gia đình chỉ hi vọng vào con trai, nhất là con trưởng để giữ gìn cơ nghiệp và duy trì gia thống Sự giáo dục cho con gái trong gia đình thường mang tính hướng nội người VN từ xưa sống theo đạo nghĩa”kính trên nhường dưới”, luôn kính trọng người trên
Trang 8- Quan hệ anh em, ông bà với các cháu…: Mọi người luôn cố gắng đùm bọc và bảo vệ lẫn nhau trong cuộc sống.
1.2.2.2 Gia đình VN hiện đại
Tuy vẫn giữ được nhiều nét văn hóa đẹp đẽ của gia đình VN truyền thống nhưng gia đình VN thời nay đã có nhiều sự thay đổi rõ rệt Kinh tế thị trường phát triển, xã hội thay đổi không ngừng kéo theo cả sự thay đổi trong lối sống của mỗi con người, mỗi gia đình Việt:
- Tình trạng ly thân, ly hôn ngày càng tăng
- Việc chú trọng phát triển kinh tế khiến cho con người xem nhẹ tình cảm, đôi khi sẵn sàng làm hại lẫn nhau để giành được lợi ích vật chất
- Người Việt không còn dành nhiều thời gian để chăm sóc gia đình mà thay vào
đó là tập trung vào kiếm sống, mở rộng các mối quan hệ ngoài gia đình
- Thành phần gia đình cũng có nhiều thay đổi, người trẻ đổ xô ra thành thị để kiếm sống, học hành, dần hình thành các gia đình trẻ, chủ yếu là 2 thế hệ Ở làng quê giờ chủ yếu còn những người già, những người không đủ khả năng bon chen ở những nơi phức tạp như chốn đô thị
• Quy mô của gia đình Việt Nam hiện đại:
Xã hội ngày một phát triển, gia đình giờ đây không còn đơn giản chỉ là đơn vị sản xuất tự chủ nữa mà còn xuất hiện thêm người làm thuê, các nhà quản lý, kinh doanh, các viên chức làm công ăn lương,… hôn nhân trở thành sự tự do lựa chọn của nam nữ, không còn là sự áp đặt của cha mẹ, họ hàng Vì vậy, lợi ích cá nhân, hạnh phúc cá nhân ngày càng được chú trọng Quy mô gia đình nhỏ đi rất nhiều, cơ cấu gia đình hai thế hệ là phổ biến
Có thể phân chia gia đình thành nhiều kiểu khác nhau, tùy theo từng tiêu chí phân loại:
- Căn cứ vào các thế hệ cùng chung sống:
Gia đình 2 thế hệ: Còn gọi là gia đình kiểu hạt nhân Loại gia đình còn gọi là gia đình 2 thế hệ gồm có cha mẹ, con cái
Trang 9 Gia đình nhiều thế hệ: Đó là gia đình có 3 thế hệ trở lên cùng chung sống.
- Căn cứ vào số con trong gia đình: có thể phân chia gia đình có quy mô nhỏ
có từ 1 đến 2 con; gia đình có quy mô lớn có từ ba, bốn con trở lên
- Căn cứ vào sự thiếu đủ cha hoặc mẹ:
Gia đình đầy đủ cả cha lẫn mẹ
Gia đình không đầy đủ chỉ còn cha hoặc mẹ (do góa bụa, ly hôn,…)
Từ những phần trên, có thể thấy gia đình Việt Nam hiện nay đã và đang biến đổi dưới tác động của những chuyển biến xã hội Tuy nhiên, sự biến đổi này không hẳn sẽ tách rời những đặc trưng truyền thống của gia đình Việt Nam mà vẫn tiếp tục kế thừa trên cơ sở thích nghi với những điều kiện hoàn cảnh mới
1.3 Chức năng
1.3.1 Chức năng tái sản xuất ra con người
Chức năng này tồn tại một cách tự nhiên, vì xã hội chỉ tồn tại được khi hành vi sinh sản vẫn còn được duy trì Chức năng này được coi là một giá trị của gia đình mà
từ cổ chí kim loài người phải thừa nhận Bản thân F Engel, một nhà duy vật vĩ đại cũng cho rằng theo quan điểm duy vật, nhân tố quyết định trong lịch sử suy cho cùng là sự tái sản xuất ra bản thân con người, hay sự truyền nòi giống Tái sản xuất ra chính bản thân con người là một chức năng cơ bản và riêng có của gia đình Chức năng này bao gồm các nội dung cơ bản: tái sản xuất, duy trì nòi giống, nuôi dưỡng nâng cao thể lực, trí lực bảo đảm tái sản xuất nguồn lao động và sức lao động cho xã hội
Hoạt động sinh con đẻ cái của con người trước hết xuất phát từ nhu cầu tồn tại của chính con người, sau đó là của xã hội Chức năng này đáp ứng nhu cầu rất tự nhiên, chính đáng đó của con người Tuy nhiên, trong thời đại hiện nay, vấn đề về gia tăng dân số, mật độ dân cư,… lại đang trở thành những vấn đề mang tính toàn cầu, ảnh hưởng đến sự phát triền kinh tế, văn hóa, xã hội của mọi quốc gia trên thế giới Vì vậy sinh đẻ của mỗi gia đình không chỉ là việc riêng của gia đình mà còn là một nội dung quan trọng của mỗi quốc gia và toàn nhân loại Chiến lược về dân số hợp lý sẽ trực tiếp tạo ra một cách có kế hoạch nguồn nhân lực mới phù hợp với yêu cầu phát triển
Trang 10kinh tế - xã hội, là mục tiêu, động lực quan trọng nhất của phát triển kinh tế, văn hoá,
xã hội
1.3.2 Chức năng kinh tế và tổ chức đời sống gia đình
Hoạt động kinh tế và tổ chức đời sống vật chất là một chức năng cơ bản của gia đình Hoạt động kinh tế, hiểu theo nghĩa đầy đủ gồm có hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động tiêu dùng để thoả mãn các yêu cầu ăn mặc, ở, đi lại của mỗi thành viên và của gia đình
Cho đến nay gia đình vẫn còn là một đơn vị sản xuất quan trọng, sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội Hơn thế nữa nó cũng là đơn vị tiêu dùng chủ yếu các sản phẩm
do nền kinh tế sản xuất ra Do vậy, có thể coi gia đình là tác nhân quan trọng thúc đẩy
sự phát triển của kinh tế Nhiều gia đình có điều kiện (có sở hữu hoặc tham gia sở hữu
tư liệu sản xuất) còn có thể trở thành một đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất kinh doanh
Thực hiện tốt chức năng kinh tế sẽ tạo ra tiền đề và cơ sở vật chất vững chắc cho
tổ chức đời sống của gia đình Đương nhiên, ngoài cơ sở kinh tế, thì còn nhiều yếu tố khác mới đảm bảo cho một gia đình trở nên văn minh, hạnh phúc
1.3.3 Chức năng giáo dục của gia đình
Gia đình là “tế bào của xã hội, là yếu tố đầu tiên và cơ bản của quá trình giáo dục” Gia đình là nơi đại bộ phận trẻ em được người lớn thường xuyên giáo dục, như ông cha ta đã nói “Dạy con từ thưở còn thơ” Trong môi trường gia đình, trẻ bắt đầu hình thành nhân cách, lối sống và đặc biệt là nhân sinh quan Các bậc phụ huynh, nhất là các bà, các mẹ có ảnh hưởng rất lớn tới tương lai của đứa trẻ: “Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”
Nội dung của giáo dục gia đình tương đối toàn diện, cả giáo dục tri thức và kinh nghiệm, giáo dục đạo đức và lối sống, giáo dục nhân cách, thẩm mỹ, ý thức cộng đồng Phương pháp giáo dục của gia đình cũng rất đa dạng, song chủ yếu là phương pháp nêu gương, thuyết phục, chịu ảnh hưởng không ít của tư tưởng, lối sống, tâm lý, gia phong của gia đình truyền thống Dù giáo dục xã hội đóng vai trò ngày càng quan trọng, có ý nghĩa quyết định, nhưng có những nội dung và phương pháp giáo dục gia
Trang 11đình mang lại hiệu quả lớn và không thể thay thế Giáo dục gia đình còn bao hàm cả
tự giáo dục Chủ thể giáo dục gia đình cơ bản và chủ yếu là thế hệ cha mẹ, ông bà đối với con cháu; bên cạnh đó, mỗi thành viên trong gia đình tự học hỏi để rèn luyện bản thân theo gương những bậc cha chú của mình, hay rút ra những bài học từ cuộc sống gia đình hang ngày
Giáo dục gia đình là một bộ phận và có quan hệ hỗ trợ, bổ sung hoàn thiện thêm cho giáo dục nhà trường và xã hội Do đó, dù giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội
có phát triển lên trình độ nào, giáo dục gia đình vẫn được coi là một thành tố của nền giáo dục xã hội nói chung Giáo dục gia đình luôn trở thành bộ phận quan trọng, hợp thành giáo dục nói chung phục vụ các lợi ích cơ bản của giai cấp thống trị trong bất cứ thời đại nào, khi xã hội còn giai cấp và phân chia giai cấp
1.3.4 Chức năng thoả mãn các nhu cầu tâm - sinh lý, tình cảm của gia đình
Nếu như trình độ sản xuất kinh doanh, hoạt động kinh tế và tổ chức đời sống gia đình là điều kiện và tiền đề vật chất của xây dựng gia đình, thì thoả mãn các nhu cầu tâm sinh lý được coi là một chức năng có tính văn hoá - xã hội của gia đình Chức năng này có vị trí đặc biệt quan trọng, cùng với các chức năng khác tạo ra khả năng thực tế cho xây dựng gia đình hạnh phúc Nhiều vấn đề phức tạp liên quan đến giới tính và giới, tâm lý lứa tuổi và thế hệ, những căng thẳng mệt mỏi về thể xác và tâm hồn trong lao động và công tác nhiều khi có thể được giải quyết trong một môi trường gia đình hoà thuận Sự hiểu biết, cảm thông, chia sẻ và đáp ứng các nhu cầu tâm sinh lý giữa vợ - chồng, cha mẹ - con cái làm cho mỗi thành viên có điều kiện sống lạc quan, khoẻ mạnh về thể chất và tinh thần, cũng như tạo tiền đề cho những thái độ, hành vi tích cực trong cuộc sống gia đình và xã hội
Gia đình là một thiết chế đa chức năng Mọi thành viên gia đình, tuỳ thuộc vào vị thế, lứa tuổi đều có quyền và nghĩa vụ thực hiện các chức năng nói trên Gia đình, thông qua thực hiện các chức năng khách quan vốn có của mình, có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển xã hội, nhưng chỉ với tư cách là của cái bộ phận đối với cái toàn thể Mọi quan điểm tuyệt đối hoá, đề cao quá mức hay phủ nhận, hạ thấp vai trò của gia đình đều là sai lầm
Trang 122 BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Ngày nay, dưới sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau, gia đình nói chung và gia đình Việt Nam nói riêng đang đứng trước những thách thức to lớn: những giá trị của gia đình truyền thống đang dần mất đi, nền tảng để xây dựng gia đình trở nên không
bề vững, các thành viên trong gia đình sống với nhau theo phong cách “kinh tế thị trường”… Những điều này dẫn đến những hệ quả vô cùng nhức nhối mà cả xã hội đang phải đối mặt, nhiều tổ chức đã phải vào cuộc để can thiệp Một trong những hệ quả đang trở thành vấn nạn nghiêm trọng là hiện tượng bạo lực gia đình – một điều tưởng chừng không thể xảy ra trong một “xã hội thu nhỏ” được cho là xây dựng trên nền tảng tình yêu và quan hệ huyết thống – nuôi dưỡng
Bạo lực gia đình là một vấn đề lớn với đầy đủ các khía cạnh về giáo dục, kinh tế, pháp lý và sức khỏe Nó cũng là một vấn đề liên quan tới quyền con người – xuyên suốt giữa các nền văn hóa, tôn giáo, ranh giới địa lý và mức độ phát triển kinh tế xã hội khác nhau Vấn nạn về bạo lực gia đình đang là một thực tế nhức nhối tại Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác Tầm quan trọng của việc xử lý bạo lực gia đình
đã được Chính phủ Việt Nam nhìn nhận qua việc cho ra đời Luật phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 và nhiều văn bản pháp luật, chính sách khác
Do tính thời sự của vấn đề này, trong phạm vi bài làm của nhóm, chúng tôi sẽ chỉ
đi sâu trình bày về vấn đề bạo lực trong gia đình hiện nay
nhằm điều khiển hay kiểm soát người đó
Theo Luật phòng chống bạo lực gia đình năm 2007, các hành vi sau được coi là hành vi bạo lực gia đình:
Trang 13- Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;
- Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
- Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;
- Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông,
bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;
- Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;
- Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở
Như vậy, bất kể thành viên nào trong gia đình cũng có thể trở thành nạn nhân hoặc thủ phạm của bạo lực gia đình Bạo lực gia đình có nhiều hình thưc khác nhau và có thể phân chia theo đối tượng bị bạo hành và kiểu bạo hành
Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi xin đi vào tìm hiểu một số vấn đề thuộc phạm trù bạo hành gia đình hiện nay đang gây nhiều bức xúc trong xã hội, đó là: nạn bạo hành trong mối quan hệ vợ - chồng, bạo hành đối với trẻ em
2.2 Vấn đề bạo hành trong mối quan hệ vợ - chồng
2.2.1 Bạo hành đối với người phụ nữ
2.2.1.1 Hình thức
Trang 14Từ trước đến nay khi nhắc đến “bạo hành gia đình” thì nhiều người chỉ đơn giản nghĩ đến đó là sự hành hạ, đánh đập về thể xác, tuy nhiên đó là một cái nhìn chưa đầy
đủ Bạo hành gia đình nói chung, và bạo hành đối với phụ nữ nói riêng, được thể hiện dưới nhiều hình thức và nhiều cấp độ khác nhau, gây tổn thương không chỉ về thể xác
mà còn có cả những tổn thương về tinh thần đối với những nạn nhân của nó Có thể phân chia thành những hình thức bạo hành như sau:
- Bạo hành tinh thần: Là những hành động hoặc đe dọa hành đông như: chửi mắng, hăm dọa, làm nhục, đe dọa nạn nhân
- Bạo hành về thể xác: Là một hoặc nhiều hành động tấn công có chủ ý đối với người phụ nữ dẫn đến đau đớn thể xác, thương tích hoặc tử vong
- Bạo hành tình dục: Là việc sử dụng sức mạnh, cưỡng bức hoặc đe dọa về tâm
lý để ép buộc người phụ nữ tham gia quan hệ tình dục ngoài ý muốn của họ, cho dù hành vi đó có thực hiện được hay không
- Bạo hành về xã hội: bao gồm hành vi kiểm soát và bạo hành về kinh tế:
Hành vi kiểm soát: là việc người chồng thường cố tình hạn chế người phụ nữ
liên lạc với bạn bè, gia đình; luôn đòi hỏi phải được biết người vợ đang ở đâu, đối xử thờ ơ, ngăn cản vợ tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe,…
Bạo hành về kinh tế: là những hành vi của người chồng nhằm kiểm soát một
cách vô lý những vấn đề liên quan đến kinh tế của người vợ, như: chiếm đoạt các khoản thu nhập của vợ, không đưa tiền cho vợ để lo liệu các khoản chi tiêu chung mặc dù anh ta hoàn toàn có khả năng tài chính, không tin tưởng một cách vô lý ở các khoản chi tiêu của vợ,…
2.2.1.2 Thực trạng.
Xã hội ngày càng phát triển, vị trí mỗi người trong gia đình cũng thay đổi hướng tới sự bình đẳng: bình đẳng giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái Xu hướng phát triển này đang được cả xã hội khuyến khích Song, bên cạnh những gia đình được xem
là những tổ ấm thực sự thì tình trạng bạo lực gia đình với phụ nữ vẫn xảy ra ở khắp nơi, khắp chỗ và có chiều hướng gia tăng đến mức báo động Điều này gây ảnh hưởng lớn tới nền tảng gia đình và xã hội
Trang 15• Theo nghiên cứu của văn phòng tổng thư ký LHQ thì hiện nay tình trạng bạo hành đối với phụ nữ diễn ra nghiêm trọng và phổ biến hơn trên toàn thế giới Các nghiên cứu về bạo lực đối với phụ nữ được tiến hành ở ít nhất 71 nước cho thấy một tỉ lệ đáng kể phụ nữ bị bạo lực về thân thể, tình dục hoặc tâm lý:
- Ở Mỹ có khoảng 67% bạo hành xảy ra trong các cuộc hôn nhân
- Ở Chile, khoảng 80% phụ nữ bị hành hung trong gia đình
- Ở Trung Phi có 22% phụ nữ cho biết kinh nghiệm đầu tiên của họ về tình dục là qua các vụ hiếp dâm
Bạo lực về tâm lý hay tình cảm do người bạn tình gây ra cũng là hình thức phổ biến Tỉ lệ phụ nữ bị bạo lực về tâm lý dao động từ 10% ở Ai Cập đến 51% ở Chile.Nhìn vào những con số trên có thể thấy rằng đây là tình trạng xảy ra không chỉ ở các nước đang phát triển mà còn diễn ra ở cả những quốc gia tiên tiến trên thế giới Hơn nữa, tỷ lệ phụ nữ là nạn nhân của bạo hành gia đình trên thực tế có thể lớn hơn những dữ liệu trên, bởi chúng ta khó có thể biết rằng còn có bao nhiêu người phụ nữ với nhiều lý do nên họ đã không công khai tình trạng bị bạo hành của mình
• Tại Việt Nam:
Theo Nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam (thực
hiện năm 2010), tỷ lệ phụ nữ là nạn nhân của bạo hành gia đình đang ở mức rất cao
- Tỷ lệ bạo lực về thể xác do người chồng gây ra cho phụ nữ Việt Nam từng
kết hôn là: 32% bị bạo lực về thể xác trong cuộc đời, 6% bị bạo lực về thể xác trong vòng 12 tháng trước điều tra
- Tỷ lệ bạo lực về tinh thần: trong số những phụ nữ đã từng kết hôn là 54%,
25% bị bạo lực về tinh thần trong vòng 12 tháng trước khi điều tra
- Tỷ lệ bạo lực về tình dục: trong số những phụ nữ đã từng kết hôn, tỷ lệ đã
từng bị bạo lực trong cuộc đời lad 54% và trong vòng 12 tháng trước điều tra là 25%
- Tỷ lệ bạo lực kinh tế: theo khảo sát thì có 9% phụ nữ Việt Nam đã kết hôn
bị bạo hành về kinh tế, tỷ lệ này ở nông thôn cao hơn ở thành thị