Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ và các con khi vợ chồng ly hôn theo luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 Lê Thu Trang Khoa Luật Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật Dân Sự; Mã số: 60 38 30 Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Văn Cừ Năm bảo vệ: 2012
Trang 1Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi chính đáng của
vợ và các con khi vợ chồng ly hôn theo luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
Lê Thu Trang
Khoa Luật Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật Dân Sự; Mã số: 60 38 30
Người hướng dẫn: TS Nguyễn Văn Cừ
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi
chính đáng của vợ và con theo luật hôn nhân và gia đình (Luật HN&GĐ) Việt Nam năm 2000 Chỉ ra được vai trò của Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 đối với việc bảo
vệ quyền lợi chính đáng về tài sản của vợ, con khi vợ chồng ly hôn, qua đó tìm hiểu thực tiễn áp dụng các quy định của Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 Đề xuất một
số kiến nghị và giải pháp nhằm khắc phục những vướng mắc trên thực tiễn áp dụng các quy phạm Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 vào việc bảo vệ quyền lợi chính
đáng của vợ, con khi vợ chồng ly hôn
Keywords: Pháp luật Việt Nam; Luật hôn nhân; Ly hôn; Quyền lợi
Content
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc
do quan hệ nuôi dưỡng Gia đình còn là nơi những thành viên cùng chia sẻ tình thương, kinh nghiệm, những giá trị truyền thống đạo đức, trách nhiệm, sự gắn bó và niềm tự hào về gia đình
Từ xưa đến nay, gia đình luôn là tổ ấm mang lại giá trị hạnh phúc, sự bình yên trong đời sống cá nhân của mỗi thành viên trong xã hội Sự an bình của mỗi gia đình là tiền đề quan trọng cho sự hình thành và phát triển nhân cách, là nền tảng để mỗi cá nhân vươn tới hoàn thiện, góp sức mình vào việc xây dựng xã hội phồn vinh, tiến bộ
Quan hệ gia đình là tổng hòa các quan hệ nhân thân và các quan hệ tài sản, các quan hệ này có sự ràng buộc lệ thuộc lẫn nhau và tác động qua lại một cách hài hòa Trong một gia đình thực sự bền vững và hạnh phúc thì mỗi thành viên trong gia đình đều tìm thấy sự thỏa mãn nhu cầu về vật chất, tình cảm của mình Quan hệ tài sản giữa vợ chồng lại bắt nguồn từ quan hệ nhân thân giữa hai con người với đặc trưng là sự phát sinh quyền, nghĩa vụ khi họ kết hôn
Trong những năm gần đây, cùng với những thay đổi về kinh tế - xã hội, quan hệ giữa con người với con người trong đó có quan hệ hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) cũng bị tác động
Trang 2mạnh mẽ Theo số liệu thống kê của Tòa án các cấp, trong cả nước hàng năm số lượng các vụ
án về HN&GĐ mà Tòa án đã thụ lý giải quyết khoảng trên 50.000 vụ việc, chủ yếu là ly hôn
và tranh chấp tài sản
Trong tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước" (1884)
Ph.Ănghen đã chỉ ra rằng: Trong ba hình thức bất bình đẳng lớn nhất của lịch sử nhân loại (bất bình đẳng chủng tộc, giai cấp, giới), thì quan hệ bất bình đẳng giữa nam và nữ là nguồn gốc đích thực về mặt lịch sử, xã hội của những mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu trong quan hệ vợ chồng Từ đó, Ông đã xây dựng lên quan điểm về giải phóng phụ nữ
Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giải phóng phụ nữ, Đảng và Nhà nước ta luôn dành cho phụ nữ một sự quan tâm đặc biệt Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên (Hiến pháp năm 1946), Nhà nước đã ghi nhận quyền bình đẳng của phụ nữ và nam giới Quyền bình đẳng đó còn được thể hiện và được bảo vệ cả trong trường hợp đặc biệt đó là khi vợ chồng ly hôn Bên cạnh đó không chỉ có phụ nữ mà cả trẻ em trong trường hợp đặc biệt trên cũng được bảo vệ, trở thành một vấn đề đáng lưu ý và được quan tâm
Công ước quốc tế về quyền trẻ em đã khẳng định: "Để phát triển đầy đủ và hài hòa nhân cách của mình, trẻ em cần được trưởng thành trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương và thông cảm Cũng như cần có sự bảo vệ và giúp đỡ cần thiết để đảm đương được đầy đủ trách nhiệm của mình trong cộng đồng" Khi cha, mẹ ly hôn, trẻ em khó có thể được chăm sóc, bảo
vệ quyền lợi một cách tốt nhất
Tới nay Việt Nam đã có những chính sách khá đầy đủ và một hệ thống pháp luật tương đối hoàn thiện để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em trong các vụ án ly hôn Điều này được thể hiện ở các quy định pháp luật HN&GĐ, các công ước quốc tế về bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ em mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy, việc bảo vệ quyền lợi của người vợ và con trong các vụ án ly hôn liên quan đến vấn đề tài sản còn nhiều vướng mắc và bất cập Vì vậy, việc nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và trẻ em, trong đó bao gồm bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và trẻ em về tài sản là hết sức quan trọng, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn
Nhận thức được điều đó và mong muốn đưa ra những giải pháp, đề xuất thực tế nhằm
hoàn thiện các quy định của pháp luật, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài "Nguyên tắc bảo vệ quyền
lợi chính đáng của vợ và các con khi vợ chồng ly hôn theo luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000" làm công trình nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu pháp luật về bảo vệ phụ nữ và trẻ em là một mảng đề tài lớn được khá nhiều nhà khoa học, thuộc nhiều lĩnh vực quan tâm Trong khoa học luật nói chung và Luật HN&GĐ nói riêng, bảo vệ quyền lợi phụ nữ và trẻ em được nghiên cứu như một cơ sở pháp
lý quan trọng tạo khung sườn cho việc ban hành các quy phạm pháp luật nhằm thực hiện tốt mọi chính sách về phụ nữ và trẻ em
Đã có một số công trình khoa học nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau đề cập trực tiếp hoặc có liên quan tới vấn đề bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ, con như sau:
Nhóm luận văn, luận án: Ở nhóm này có thể liệt kê đến một số công trình nghiên cứu
Trang 3Nam năm 2000", Luận án Tiến sĩ luật học, của Nguyễn Văn Cừ, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2004; "Bảo vệ quyền lợi phụ nữ theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000, Luận văn Thạc sĩ luật học, của Bùi Thị Mừng, Trường Đại học Luật Hà Nội; "Giải quyết tranh chấp tài sản của vợ chồng khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000", Luận văn Thạc sĩ luật học, của Phạm Thị Ngọc Lan, Khoa Luật - Đại học Quốc gia,
2008 Những luận án, luận văn trên các tác giả đã đi vào nghiên cứu về tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và ly hôn, đề cập tới vấn đề bảo vệ quyền lợi phụ nữ song chưa đề cập tới bảo vệ quyền lợi tài sản của con
"Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của cha, mẹ và con trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000", Khóa luận tốt nghiệp, của Lê Thu Lý, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2008;
"Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000", Khóa luận tốt nghiệp, của Nguyễn Thị Phương Thảo, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007; "Bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn", Khóa luận tốt
nghiệp, của Hồ Thị Nga, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2007… Các tác giả đã đi vào nghiên cứu những quyền lợi chính đáng của phụ nữ và trẻ em nói chung hoặc quyền lợi của trẻ em khi vợ chồng ly hôn mà chưa đề cập tới quyền lợi chính đáng về tài sản của cả phụ nữ và trẻ
em khi vợ chồng ly hôn
Nhóm giáo trình, sách bình luận chuyên sâu: Nguyễn Ngọc Điện, Bình luật khoa học
Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, tập I, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2002; Nguyễn Ngọc Điện, Nghiên cứu về tài sản trong Luật Dân sự Việt Nam, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2002; Tưởng Duy Lượng, Bình luận một số án dân sự và Hôn nhân và gia đình, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001; Đinh Thị Mai Phương, Bình luận khoa học Luật Hôn nhân
và gia đình Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2009
Ngoài ra còn một số giáo trình và bình luận khoa học Luật HN&GĐ Hầu hết các công trình này mới chỉ dừng lại ở việc phân tích, bình luận các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình về quan hệ tài sản nói chung giữa vợ, chồng, chưa đề cập hoặc ít đề cập đến thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật về vấn đề trên
Nhóm các bài báo, tạp chí chuyên ngành Luật: Các bài nghiên cứu thuộc nhóm này chủ
yếu được đề cập trên các tạp chí như Tạp chí Tòa án nhân dân (TAND), tạp chí Kiểm sát, tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tạp chí Luật học Trong đó phải kể đến bài viết của tác giả Nguyễn
Văn Cừ đăng trên tạp chí Luật học (6) năm 2002 với nhan đề "Quyền sở hữu của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000"; "Quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 5; "Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 với việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ", bài viết của TS Trần Thị Huệ, Đặc san Luật học, số 03/2004…
Phần lớn các bài viết này chỉ đề cập tới một số vấn đề cụ thể của quan hệ tài sản vợ chồng mà chưa đề cập được sâu sắc vấn đề bảo vệ quyền lợi chính đáng về tài sản của vợ, con khi vợ chồng ly hôn
Tóm lại, cho đến nay dù đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về mối quan hệ HN&GĐ nhưng các công trình đó hoặc chủ yếu tập trung vào một mảng cụ thể của quan hệ này hoặc nghiên cứu dưới góc độ tranh chấp về tài sản vợ chồng với ý nghĩa lý luận và thực tiễn Chưa có một công trình nào đề cập tới vấn đề bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ và các con khi vợ chồng ly hôn theo Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 một cách đầy đủ và toàn
Trang 4diện Chính vì những lý do đã nêu, tôi đã chọn đề tài trên để làm công trình nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình
3 Mục đích, phạm vi nghiên cứu đề tài
Mục đích:
- Nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ và các con khi vợ chồng ly hôn
là một vấn đề rất cần thiết đặc biệt là về tài sản Đây không chỉ đơn thuần là sự tổng hợp các quy định của pháp luật về quyền phụ nữ và trẻ em mà còn nhằm để xem xét diễn biến của quá trình giải phóng phụ nữ và chăm sóc, bảo vệ trẻ em qua từng giai đoạn lịch sử nước ta, qua đó cũng thấy được sự phát triển của xã hội về vấn đề này
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của
vợ và con theo Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000
- Chỉ ra được vai trò của Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 đối với việc bảo vệ quyền lợi chính đáng về tài sản của vợ, con khi vợ chồng ly hôn, qua đó tìm hiểu thực tiễn áp dụng các quy định của Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000
- Đề xuất một số kiến nghị và giải pháp nhằm khắc phục những vướng mắc trên thực tiễn
áp dụng các quy phạm Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 vào việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ, con khi vợ chồng ly hôn
Phạm vi:
- Đề tài tương đối phức tạp, nội dung phong phú và có liên quan đến nhiều ngành luật trong hệ thống pháp luật nước ta nhưng trong phạm vi luận văn tôi xin đề cập tới những vấn
đề sau: Những vấn đề lý luận liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ và các con khi vợ chồng ly hôn theo quy định của pháp luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 đặc biệt là vấn đề bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ, con về tài sản khi vợ chồng ly hôn
- Thực tiễn áp dụng các quy định của Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 về bảo vệ quyền lợi chính đáng về tài sản của vợ và các con khi vợ chồng ly hôn
- Kiến nghị nhằm hoàn thiện Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 về bảo vệ quyền lợi chính đáng về tài sản của vợ và con, nâng cao hiệu quả áp dụng của Luật HN&GĐ vào việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em
4 Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận: Luận văn sử dụng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam làm phương pháp luận trong quá trình nghiên cứu đề tài
Về phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, tổng hợp… Từ đó tìm ra mối liên hệ giữa các quy định của pháp luật với thực tiễn đã phù hợp hay chưa, xem xét nội dung quy định của pháp luật về nguyên tắc bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ và con khi vợ chồng ly hôn đặc biệt là vấn đề tài sản trong các vụ án ly hôn với thực tiễn đời sống xã hội
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm
ba chương:
Trang 5Chương 1: Lý luận chung về nguyên tắc bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ và các con
khi vợ chồng ly hôn
Chương 2: Những nội dung cơ bản về nguyên tắc bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ và
các con khi vợ chồng ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
Chương 3: Thực tiễn áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 về bảo vệ
quyền lợi chính đáng của vợ và các con khi vợ chồng ly hôn
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGYÊN TẮC BẢO VỆ QUYỀN LỢI CHÍNH ĐÁNG CỦA VỢ VÀ CÁC CON
KHI VỢ CHỒNG LY HÔN 1.1 Khái quát chung về bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và trẻ em bằng pháp luật
1.1.1 Khái niệm về bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và trẻ em bằng pháp luật
Trên cơ sở tìm hiểu những ý kiến của các nhà khoa học "Quyền con người là những đặc quyền (quyền tự nhiên) của con người được pháp luật công nhận, điều chỉnh, do cá nhân con người nắm giữ trong mối liên hệ với Nhà nước và với những cá nhân con người khác" Nội
dung quyền con người bao gồm: các quyền tự do dân chủ về chính trị, các quyền dân sự (quyền tự do con người), các quyền kinh tế- xã hội Trên cơ sở khái niệm quyền con người, khái niệm quyền phụ nữ cần phải được nghiên cứu trong mối liên hệ khăng khít với quyền con người Bởi vì, phụ nữ cũng như nam giới họ phải được hưởng tất cả những quyền con người mà pháp luật ghi nhận và bảo vệ
Quyền phụ nữ và trẻ em là một khái niệm dùng để chỉ các quyền con người của phụ nữ và trẻ em Vì vậy, bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em bằng pháp luật là việc Nhà nước ghi nhận
quyền phụ nữ và trẻ em đồng thời ban hành những quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm việc thực hiện các quyền phụ nữ và trẻ em trên thực tế.Trẻ em có vai trò quan trọng đối với gia đình, với xã hội, với quốc gia và thế giới Vì vậy, việc bảo vệ quyền lợi của trẻ em khi cha mẹ
ly hôn phải được đặc biệt quan tâm
1.1.2 Sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và trẻ em khi vợ chồng ly hôn
Trong xã hội xưa và nay, người phụ nữ góp một vai trò vô cùng quan trọng, vai trò đó thể hiện ngay trong gia đình, họ vừa là người vợ, người mẹ, người con dâu trong gia đình Họ còn có vai trò to lớn với xã hội đó là người lao động trong một xã hội vì vậy người phụ nữ không chỉ có vai trò rất quan trọng trong gia đình mà còn đối với cả xã hội Trẻ em là hạnh phúc của gia đình,
là tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Nếu không được sự quan tâm của xã hội, sự bảo vệ của pháp luật thì những mầm non của hôm nay không thể trở thành những công dân có ích cho xã hội mai sau Những đứa trẻ có cha mẹ ly hôn phải chịu thiệt thòi so với các bạn bè đồng lứa, hơn nữa chúng còn chưa thể tự lo cho mình được,
vì vậy cần có sự quan tâm đặc biệt tới đối tượng này
Thế nhưng trong khi nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI thì khắp mọi nơi trên trái đất phụ nữ vẫn phải chịu những bất công, bị ngược đãi, bị đánh đập vẫn tồn tại và phổ biến Sự thiên lệch về
Trang 6giới tính không còn đơn thuần là vấn đề thái độ, nó được thể hiện trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội Khi vợ chồng ly hôn, ngoài việc tình nghĩa mặn nồng vợ chồng bao năm vun đắp không còn thì ngay cả vấn đề tài sản, sự thiệt thòi vẫn nghiêng về người phụ nữ Có rất nhiều lý
do dẫn đến sự thiệt thòi đó như quá tin tưởng chồng, hạn chế về hiểu biết pháp luật, trình độ văn hóa thấp…
Bên cạnh đó, theo các báo cáo hàng năm "Tình trạng trẻ em trên thế giới", trẻ em thường
phải mang những gánh nặng và chịu sự đối xử không bình đẳng Hầu hết ở các quốc gia trên thế giới đều đã có những văn bản pháp luật nhằm bảo vệ quyền trẻ em thì hàng ngày hàng giờ những quyền ấy vẫn tiếp tục bị xâm phạm
1.1.3 Ý nghĩa của việc ghi nhận vấn đề bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em bằng pháp luật
Bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em không chỉ là việc ghi nhận các quyền con người
của phụ nữ, trẻ em mà còn bảo đảm cho các quyền đó được thực hiện "Đảm bảo bằng pháp luật, một trong những điều kiện quan trọng nhất để quyền con người được thực hiện".Bên
cạnh đó ý nghĩa của việc ghi nhận vấn đề bảo vệ quyền lợi của trẻ em bằng pháp luật khi cha
mẹ ly hôn còn là cơ sở pháp lý để nâng cao tinh thần trách nhiệm của cha mẹ Bảo vệ trẻ em luôn là một điều được cả xã hội quan tâm, nhất là trong giai đoạn hiện nay.Thể hiện tính chất công bằng, dân chủ, nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa
1.1.4 Pháp luật quốc tế với vấn đề bảo vệ quyền lợi phụ nữ và trẻ em
Quyền phụ nữ và trẻ em là nội dung cơ bản của quyền con người Vấn đề bảo vệ quyền con người nói chung và quyền của phụ nữ, trẻ em nói riêng đã được quy định trong nhiều văn bản pháp lý quốc tế như: Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (1948), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966), Công ước về loại trừ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ
nữ năm 1979 (CEDAW), Công ước ngày 29/01/1957 do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua quốc tịch của người phụ nữ lấy chồng nước ngoài…
1.2 Bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ và con khi vợ chồng ly hôn dưới góc độ xã hội và góc độ pháp lý
1.2.1 Về góc độ xã hội
Ngày nay ly hôn đã được nhìn nhận đúng với bản chất tích cực và tiến bộ của nó Dưới góc độ pháp lý, ly hôn được ghi nhận là một chế định của Luật HN&GĐ Việt Nam, nó là cơ
sở cho Tòa án và các bên đương sự giải quyết vấn đề ly hôn một cách thấu tình đạt lý, góp phần giúp con người thoát ra khỏi sự ràng buộc không cần thiết khi tình cảm vợ chồng không còn
Sự bùng nổ bất hòa trong gia đình là một đề tài của sự lo âu đối với đứa trẻ: không biết người ta còn lo cho mình nữa không? Ai sẽ là người đảm trách việc này? Đứa trẻ tự cảm thấy
bị đẩy đưa trong một không khí bất an nơi mà người ta coi chúng như là một vật bung xung
để tranh giành tình cảm và quyền lợi tài chính để có được một số quyền hạn thăm viếng hay trợ cấp để nuôi chúng
Về khía cạnh xã hội hẳn những đứa trẻ trong hoàn cảnh bố mẹ ly hôn không có được
những điều kiện đầy đủ Số liệu thống kê của Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao cho thấy 71% trẻ vị thành niên phạm pháp là do không được quan tâm chăm sóc đến nơi đến chốn Một nghiên cứu mới đây của Bộ Công an cũng chỉ ra nguyên nhân phạm tội của trẻ vị thành niên
Trang 7xuất phát từ gia đình: 8% trẻ phạm tội có bố mẹ ly hôn; 28% phàn nàn bố mẹ không quan tâm đáp ứng nhu cầu cơ bản của các em
1.2.2 Về góc độ pháp lý
Hôn nhân không chỉ xét ở góc độ xã hội, chính việc xuất phát từ góc độ xã hội sẽ là tiền đề cho góc độ pháp lý Nếu như quyết định ly hôn của hai vợ chồng được pháp luật thừa nhận là một quyền tự do thì trách nhiệm chăm sóc, nuôi dạy con cái không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ Luật định
Không chỉ dừng lại ở đó, việc ghi nhận của pháp luật đối với vấn đề bảo vệ quyền lợi chính đáng về tài sản của phụ nữ và trẻ em khi vợ chồng ly hôn còn là sự tiếp nối truyền thống đạo đức của dân tộc Nhà nước đã ban hành một hệ thống các văn bản pháp luật nhằm
là hành lang pháp lý hữu hiệu để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của phụ nữ và trẻ em như Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 kế thừa Luật HN&GĐ năm 1959 và Luật HN&GĐ năm 1986 kèm theo các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành
Chương 2
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN
VỀ NGUYÊN TẮC BẢO VỆ QUYỀN LỢI CHÍNH ĐÁNG CỦA CỦA VỢ VÀ CÁC CON KHI VỢ CHỒNG LY HÔN THEO LUẬT HÔN NHÂN
VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM NĂM 2000 2.1 Bảo vệ quyền lợi chính đáng về quyền nhân thân của vợ và các con khi vợ chồng
ly hôn
Khi vợ chồng ly hôn, theo nguyên tắc chung, khi bản án quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật, quan hệ vợ chồng được chấm dứt Người vợ, chồng đã ly hôn có quyền kết hôn với người khác Sau khi ly hôn, các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng sẽ chấm dứt hoàn toàn, dù vợ chồng có thỏa thuận hay không thỏa thuận được thì Tòa án cũng sẽ quyết định Nghĩa là những quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng phát sinh từ khi kết hôn, gắn bó tương ứng giữa vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (như nghĩa vụ thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau tiến bộ, nghĩa vụ chung thủy giữa vợ chồng, quyền đại diện cho nhau….) sẽ đương nhiên chấm dứt Một số quyền nhân thân khác mà vợ, chồng với tư cách là công dân thì không ảnh hưởng, không thay đổi dù vợ chồng ly hôn (như quyền về họ, tên, tôn giáo, dân tộc, quốc tịch, nghề nghiệp…) Khi cha, mẹ ly hôn thì quyền nhân thân của con cái không thay đổi Theo Khoản 1 Điều 92 Luật HN&GĐ năm 2000 cũng quy định: "Sau khi ly hôn, vợ chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình"
2.2 Bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ theo nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng khi vợ chồng ly hôn
2.2.1 Đối với tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng
Trang 82.2.1.1 Nguyên tắc xác định tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
Khoản 1 Điều 32 Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 quy định: "Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng tư trang
cá nhân.Như vậy, tài sản riêng của vợ, chồng được xác lập dựa vào thời điểm tài sản đó phát
sinh trước khi kết hôn; dựa vào sự định đoạt của người để lại di sản hoặc tặng cho di sản; dựa vào sự kiện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
2.2.1.2 Giải quyết tài sản riêng của vợ, chồng khi ly hôn
Trước hết, theo các nguyên tắc quy định tại Điều 95 Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 thì việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết
Trường hợp đối với nhà thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng: Nhà ở là tài sản riêng của vợ
hoặc của chồng có thể được tặng cho riêng, được thừa kế riêng hoặc mua trước khi kết hôn Bên vợ hoặc chồng là chủ sở hữu nhà có nghĩa vụ hỗ trợ bên kia đi tìm chỗ ở mới Nghĩa vụ
hỗ trợ đó có thể là bên sở hữu nhà đồng ý để cho bên kia cùng con cái đến ở ngôi nhà khác cũng là tài sản riêng của mình hoặc đi thuê một căn hộ để cho bên kia ở hoặc đưa cho bên kia một khoản tiền để họ tìm chỗ ở mới…
2.2.2 Đối với tài sản chung của vợ chồng
2.2.2.1 Nguyên tắc xác định tài sản chung của vợ chồng
Một trong những nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhất của chế độ HN&GĐ được Nhà nước ta bảo hộ đó là nguyên tắc vợ chồng bình đẳng Nguyên tắc này chi phối toàn bộ quyền
và nghĩa vụ nhân thân và tài sản giữa vợ và chồng trong suốt thời kỳ hôn nhân Điều 27 Luật
HN&GĐ Việt Nam năm 2000 quy định: "Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung".Như vậy, căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng là dựa vào thời điểm phát sinh
tài sản chung và nguồn gốc của các loại tài sản thuộc khối tài sản chung Về nguyên tắc, thời điểm phát sinh quan hệ hôn nhân được tính kể từ thời điểm đăng ký kết hôn Tất cả các loại tài sản mà vợ chồng có được trong thời kỳ này (trừ tài sản riêng của vợ, chồng) đều là tài sản chung của vợ chồng
Tài sản là quyền sử dụng đất: Quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn là tài sản chung
của vợ chồng Đây là loại tài sản đặc biệt, có giá trị lớn và nhiều giấy tờ pháp lý liên quan nên việc giải quyết tranh chấp cũng rất phức tạp
2.2.2.2 Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Khoản 2 Điều 95 quy định việc chia tài sản chung được giải quyết công bằng và hợp lý
"tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi là lao động có nhu nhập" Trong quá trình chia cần lưu ý "bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên
Trang 9hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình" và "bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập"
Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình bên nhà chồng (hoặc bên nhà vợ) mà
ly hôn: Tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì
vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết
Trường hợp tài sản chung là nhà ở: Vợ chồng có thể tự thỏa thuận với nhau về chia nhà ở
để đảm bảo được tốt nhất giá trị sử dụng của ngôi nhà cũng như điều kiện sinh hoạt chung của mỗi bên sau khi ly hôn.Nếu vợ chồng không thỏa thuận được việc chia nhà ở thì Tòa án cần xem xét để giải quyết
2.2.3 Đối với vấn đề cấp dưỡng của một bên khi vợ, chồng ly hôn
Điều 60 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: "Khi ly hôn, nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình" Trong trường hợp này cả vợ và chồng đều có quyền yêu cầu được người kia cấp
dưỡng nếu như có lý do chính đáng Tuy nhiên, những người phụ nữ mới là những người cần cấp dưỡng hơn
2.2.4 Đối với quyền thừa kế của vợ chồng khi vợ chồng ly hôn
Về nguyên tắc khi vợ chồng ly hôn không được hưởng thừa kế của nhau theo luật Nhưng
vợ, chồng có thể được hưởng thừa kế của nhau theo di chúc nếu người để lại di chúc đồng ý
để lại di sản cho người vợ, chồng còn sống
Trường hợp vợ chồng đã xin ly hôn nhưng Tòa án chưa xét xử hoặc tuy Tòa án đã mở phiên tòa xét xử cho họ ly hôn nhưng bản án hoặc quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực
pháp luật (do có kháng cáo hoặc đang trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị) "nếu một người chết thì người sống vẫn được thừa kế di sản"
2.3 Bảo vệ quyền lợi chính đáng của các con khi cha mẹ ly hôn
2.3.1 Bảo vệ quyền lợi chính đáng của các con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn
Trẻ chưa thành niên chưa đủ sức khỏe và trình độ tham gia vào các quan hệ lao động phức tạp để tự nuôi sống bản thân Hơn nữa pháp luật cũng quy định chúng chưa có đủ quyền
và nghĩa vụ của một công dân độc lập Rất nhiều trường hợp chúng cần có người đại diện để thực hiện các giao dịch dân sự hoặc tham gia vào các quan hệ pháp luật khác Vì vậy, chúng chưa thể sống một cuộc sống độc lập và rất cần sự nuôi dưỡng và dìu dắt của cha mẹ, người thân Dù chưa thành niên nhưng con cái vẫn có thể có tài sản riêng theo Điều 44 Luật
HN&GĐ năm 2000: "Con có quyền có tài sản riêng Tài sản riêng của con bao gồm tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của con và các thu nhập hợp pháp khác" Tài sản riêng của con là để
phục vụ cuộc sống hiện tại và tương lai của con, vì vậy, người trực tiếp nuôi con thường là người có trách nhiệm quản lý tài sản đó
Luật HN&GĐ năm 1986 không chỉ ra mốc thời gian cụ thể mà quy định trong khoảng thời gian đó nghĩa vụ nuôi dưỡng của cha mẹ là bắt buộc: "Cha, mẹ có nghĩa vụ thương yêu, nuôi dưỡng, giáo dục con" Nuôi con, dạy dỗ con là nghĩa vụ, trách nhiệm của cha, mẹ xuất
Trang 10phát từ tình yêu thương của cha mẹ đối với con nhưng không phải nghĩa vụ suốt cả cuộc đời của cha mẹ Cần thấy rằng, vấn đề cấp dưỡng giữa cha mẹ-con được đặt ra là quyền và nghĩa
vụ có đi có lại nhưng không mang tính đồng thời, tuyệt đối, không mang tính chất đền bù ngang giá và không thể chuyển giao cho người khác được
Trường hợp con chưa thành niên có tài sản riêng: Tài sản này có thể được tặng cho, thừa
kế…từ người khác hoặc do chính cha hoặc mẹ hoặc cả cha mẹ tặng cho khi cha mẹ ly hôn Nếu vợ chồng ly hôn thì tài sản riêng của con chưa thành niên sẽ được giám hộ bởi người trực tiếp nuôi con, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ giám sát việc giám hộ
2.3.2 Bảo vệ quyền lợi chính đáng về tài sản của con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình khi cha mẹ ly hôn
Theo Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2000: "Khi ly hôn, cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con Mức cấp dưỡng cho con do cha, mẹ thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết"
Các quy định của pháp luật trong vấn đề này đã cố gắng bù đắp cho người con những thiệt thòi về tinh thần và vật chất khi phải sống trong cảnh cha mẹ ly hôn, là cơ sở pháp lý để quyền lợi của con đã thành niên nhưng tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự được bảo đảm
- Trường hợp con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động mà có tài sản riêng:
Người giám hộ ở đây có thể là cha hoặc mẹ, nghĩa vụ của người giám hộ là "quản lý tài sản của người được giám hộ" nhằm "bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ" Trường hợp con đã thành niên mà bị tàn tật tức là con "bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn" Điều này không đồng
nghĩa con đã thành niên mà tàn tật bị hạn chế về nhận thức Vì vậy, trường hợp này con có tài sản riêng hoàn toàn có thể độc lập quyết định việc quản lý tài sản của mình Việc quản lý tài sản của cha, mẹ đối với con đã thành niên bị tàn tật được đặt ra khi con có yêu cầu, hoặc nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng về tài sản của con
2.3.3 Bảo vệ quyền lợi chính đáng của các con khi cha mẹ ly hôn thông qua quyết định về cấp dưỡng
Khi ly hôn, cha mẹ không trực tiếp nuôi con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con Luật quy định cấp dưỡng là một nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con Nghĩa vụ cấp dưỡng nói chung là nghĩa vụ theo khả năng của người có nghĩa vụ
Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết"