Ngày càng có nhiều địa chí được biên soạn với cách trình bày phong phú về cách thức thể hiện, hoàn thiện dần cách thức thể hiện thể loại địa chí theo cách của người Việt.. Thể loại địa c
Trang 1MỞ ĐẦU
Thể loại địa chí có một lịch sử hình thành, phát triển và tồn tại rất lâu đời Địa chí ra đời từ rất sớm ở phương Đông, tác phẩm địa chí cổ nhất Trung Quốc là
“Vũ cống” trong sách Thượng Thư, được biên soạn vào thời Chiến quốc (475 –
221 TCN), sau đó là cuốn Sơn hải kinh Ở Việt Nam, địa chí cũng ra đời từ sớm, cuốn địa chí đầu tiên là “Giao Châu dị vật chí” của Dương Phù, trong kho sách Hán Nôm của ta, sách địa chí chiếm một số lượng khá nhiều Ngày càng có nhiều địa chí được biên soạn với cách trình bày phong phú về cách thức thể hiện, hoàn thiện dần cách thức thể hiện thể loại địa chí theo cách của người Việt Thể loại địa chí đã có những thành tựu nhất định và đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của quốc gia cũng như của các địa phương Bài viết này phân tích sự hình thành, phát triển và thành tựu của thể loại địa chí Việt Nam (từ khi ra đời đến cuối thế kỷ 19) Tuy được giúp đỡ nhiều về tài liệu tham khảo nhưng bài làm không tránh khỏi những thiếu sót, mong thầy đóng góp kiến để bài viết được hoàn thiện
Trang 2NỘI DUNG Chương I ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN LOẠI ĐỊA CHÍ
1 Định nghĩa
Địa chí theo nghĩa gốc thì "địa" là đất, "chí" là ghi chép, "địa chí" là ghi chép về đất
Theo Từ điển Từ Hải thì: "Địa chí là sách ghi chép rõ các mặt địa hình, khí hậu,
cư dân, chính trị, sản vật, giao thông của một quốc gia, một khu vực thì gọi là địa chí"
Địa dư, địa chí xuất hiện trong văn hiến Việt Nam rất nhiều, người ta thường gọi chung là dư địa chí Trong quá trình biên soạn, các soạn giả người Việt thường
có những quan niệm xuất nhập khác nhau, song thống nhất về mặt nội dung, gọi
là địa chí, có nghĩa là phải ghi chép về đất đai, duyên cách, phong tục tập quán
xã hội của cả nước hay của từng địa phương Địa chí là thể loại sách ghi chép, biên soạn, giới thiệu về địa lý, lịch sử, phong tục, nhân vật, sản vật, kinh tế, văn hoá của một địa phương (làng, xã, huyện, tỉnh, thành phố ) hay rộng hơn là của một quốc gia Xét về nội dung, loại sách này mang tính chất lịch sử hơn là sách địa lý học Theo sự phân loại trong Tứ khố toàn thư tổng mục, địa chí được xếp vào loại địa lý thuộc sử bộ, với các sách viết về đô, hội, quận, huyện, hà cừ, biên phòng, núi sông, cổ tích
Nội dung của các sách địa chí đều được xây dựng trên cơ sở phản ánh ba yếu tố
cơ bản: đất đai, khí hậu, con người Ba yếu tố này được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau theo thuyết Tam tài: Thiên, Địa, Nhân Viết địa chí phải phản ánh được đầy đủ các yếu tố thiên, địa, nhân cùng mối quan hệ không chia tách giữa ba yếu tố đó, địa là yếu tố chủ chốt nhất Đấy là một nét đặc trưng khu biệt dễ nhận thấy ở thể loại địa chí
Trang 3Thể loại của địa chí là chí, ký, lục Đây là ba thể khác nhau nhưng chí là thể chủ đạo Chí: có nghĩa là ghi chép, văn ghi việc (ký sự chi văn dã) Ký: nghĩa là ghi chép (ký lục), cũng có nghĩa là kinh tịch Tất cả các sách ghi chép về sự vật gọi
là ký Lục: Nghĩa là ghi chép, thu lượm
Với những đặc điểm riêng về nội dung, về thể tài, thể loại, địa chí là loại sách có giá trị thực tiễn cao cũng như mang tính khách quan, khoa học cao Tìm hiểu, nghiên cứu loại sách này không những phục vụ cho công tác biên soạn địa chí ngày nay mà còn là vấn đề cần thiết đối với việc nghiên cứu lịch sử địa lý học
2 Phân loại địa chí
Có nhiều tiêu chí để phân loại địa chí, từ đó chia địa chí thành nhiều loại: Nếu lấy không gian làm tiêu chí để phân biệt, ta có địa chí thế giới, địa chí châu lục, địa chí khu vực, địa chí quốc gia Trong phạm vi địa chí quốc gia, lại có thể chia thành quốc chí và địa phương chí Quốc chí (cũng được gọi là Tổng chí, Đại nhất thống chí, Nhất thống chí ) là những bộ địa chí toàn quốc, thường lấy đơn
vị hành chính cấp tỉnh, thành làm đơn vị khảo cứu Quốc chí là một bộ sách gồm nhiều quyển, mỗi quyển viết riêng về từng tỉnh, thành (như Đại Nam nhất thống chí) Địa phương chí: Địa phương chí (còn gọi là phương chí, địa chí, tạp lục, phong thổ ký ) viết về từng vùng đất, từng Trong địa chí địa phương lại còn có thể chia thành những đơn vị không gian nhỏ hơn nữa như: tỉnh chí, huyện chí, xã chí
Nếu lấy thời gian làm tiêu chí để phân biệt, ta có địa chí cổ đại, địa chí trung đại và địa chí hiện đại
Nếu lấy đối tượng khảo sát làm tiêu chí, ta có địa chí tự nhiên và địa chí nhân văn Địa chí tự nhiên nghiên cứu đặc điểm, cấu trúc của môi trường địa lý, cùng
sự hình thành và diễn biến của các vùng hay tiểu vùng địa lý khác nhau Địa chí nhân văn, dựa vào lý thuyết tương quan giữa con người và địa bàn cư trú, tìm
Trang 4hiểu sự phân bố, thay đổi của các hiện tượng nhân văn, cùng ảnh hưởng của chúng đối với hoạt động xã hội của con người Có thể chia địa chí nhân văn ra làm nhiều mảng để tiếp cận như địa chí kinh tế, địa chí chính trị, địa chí dân cư, địa chí văn hóa xã hội, vv
Trang 5Chương II
SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỂ LOẠI ĐỊA CHÍ VIỆT
NAM TỪ KHI RA ĐỜI ĐẾN CUỐI THẾ KỈ XIX
Ở Việt Nam, sách địa chí có từ khá sớm Hiện còn khoảng hơn 200 cuốn, đủ các loại: Quốc chí, tỉnh chí, huyện chí, xã chí… Trong đó có 92 cuốn Hán Nôm, 23 cuốn tiếng Pháp và hơn 100 cuốn được viết bằng tiếng Việt từ đầu thế kỷ XX đến nay Sách địa chí ở Việt Nam có thể tạm chia thành hai loại: quốc chí và địa phương chí
1 Địa chí Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỉ XV
Cuốn “Giao Châu dị vật chí” ra đời sớm nhất được biết tác giả là người Việt Nam, ông tên là Dương Phù sống ở thời Đông Hán Thời Chương đế (năm 76 -83) Nam Hải thuộc Giao Chỉ (nước ta) Các thứ sử tranh nhau đòi (dân Giao Chỉ) nộp của quí Dương Phù bèn nhặt nhạnh các vật thần dị, chỉ là thứ lạ để châm biếm họ và soạn cuốn “Nam duệ dị vật chí”, sau làm thái thú Lâm Hải, lại soạn cuốn “Lâm Hải thuỷ thổ ký”
Về địa chí toàn quốc, có các tác phẩm đáng chú ý như “Nam Bắc phiên giới địa đồ” (1172) hiện đã mất, chưa rõ tác giả, “An Nam chí lược” (1339) của Lê Trắc,
“Dư địa chí” (1435) của Nguyễn Trãi, đây là cuốn địa chí cổ đầy đủ nhất và là cuốn quốc chí đầu tiên của dân tộc ta, có thể thức như lối viết giống với Vũ cống
và nên còn có tên gọi “An Nam Vũ cống”, hoặc “Lê triều cống pháp”
2 Địa chí Việt Nam từ thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XIX
2.1 Địa chí Việt Nam dưới thời các chúa Nguyễn
Địa chí giai đoạn này không được biên soạn nhiều, nhưng có những cuốn đáng
kể như : “Ô Châu cận lục” của Dương Văn An, “Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ
đồ thư” do tác giả Đỗ Bá soạn năm 1686, , “Phủ Biên tạp lục” của Lê Quý Đôn,
Lê Quý Đôn viết “Phủ biên tạp lục”, khi quân Trịnh chiếm vùng Thuận Hóa của chúa Nguyễn và chúa Trịnh Sâm trao cho ông chức chức Hiệp trấn vùng này,
Trang 6“Hải Đông chí lược” (1772) của Ngô Thì Nhậm, “Phủ biên tạp lục” (1776) của
Lê Quý Đôn, “Hưng Hóa xứ phong thổ lục” (1778) của Hoàn Bình Chính
2.2 Địa chí dưới thời Nguyễn (1802-1945)
(1806) của Lê Quang Định, Hoàng Việt nhất thống địa dư chí (1833) của Phan
địa dư chí (1886 – 1888) của Phan Huy Chú, …
Có các cuốn Cao Bằng lục (thứ kỷ XVIII) của Phan Trọng Phiên, Gia Định thành thông chí (cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX) của Trịnh Hoài Đức, Cao Bằng thực lục (1810) của Nguyễn Hựu Cung, Nghệ An ký (đầu thứ kỷ XIX) của Bùi Dương Lịch, Bắc Thành địa dư chí lục (1845) của Lê Chất, Hưng Hóa ký lược (1856) của Phạm Thận Duật, Cao Bằng tạp chí (1920) của Bế Huỳnh, v.v… Địa chí dưới thời Nguyễn thường viết chuyên khảo về các tỉnh, huyện cũng để lại cho lịch sử thư tịch Việt Nam khá nhiều sách địa chí như các tác phẩm của Trịnh Như Tấu, Ngô Vi Liễn, Phạm Văn Thụ, Dương Bá Cung… Kiền khôn nhất lãm của Phạm Đình Hổ, có chép cả địa lý một số nước trong khu vực, , Thiên tải nhàn đàm (1810) của Đàm Nghĩa Am, , …Một điều đáng suy nghĩ là trong thời Nguyễn, khi các nhà Nho đỗ đạt được bổ đi làm quan các địa phương, ngoài nhiệm vụ của một ông quan cai trị ra, các vị ấy còn phải làm bổn phận của nhà Nho là ghi chép về địa phương mình trị nhậm, phần vì đó là bổn phận của nhà nho, phần vì giúp ngay cho việc tìm hiểu địa phương để phục vụ cho công cuộc cai trị Một viên quan có hiểu biết về địa phương thì mới thực thi nhiệm vụ tổ chức và quản lý tốt địa phương đó Bên cạnh các sách địa chí trên, các sách chuyên về một lĩnh vực cụ thể như danh nhân, cổ tích, phong tục, văn chương… cũng rất nhiều, góp phần làm cho bộ phận sách địa chí nói chung ngày thêm phong phú
2.3 Trong thời kỳ thuộc Pháp (1858 – 1945)
Trang 7Mục đích của người Pháp trong biên soạn địa chí giai đoạn này là để dể dàng cai trị và đồng hóa Những cuốn quốc chí: Đại Việt địa dư toàn biên (1882) của Nguyễn Văn Siêu, Đại Nam nhất thống chí (1882) của Quốc Sử quán triều Nguyễn biên soạn dưới thời vua Tự Đức ghi chép từ Hải Vân đến mũi Cà Mau đầy đủ nhất, Đồng Khánh địa dư chí (1886 – 1888) của Phan Huy Chú, gồm địa
lý 25 tỉnh từ Cao Bằng đến Bình Thuận v.v…Hầu hết các sách địa chí ấy đều ghi chép về cương vực, duyên cách, hình thế, khí hậu, giao thông, phong tục, thổ sản, thắng cảnh… của từng khu, từng tỉnh, rồi tập hợp lại cho thấy toàn bộ cảnh quan
và sinh hoạt xã hội của đất nước Có một số nhà học giả uyên bác hơn còn đi sâu vào tình hình địa chí của các nước cổ nay đã gia nhập bản đồ Việt Nam, như các nước Chiêm Thành, Lâm Ấp, cùng các nước lân bang như các sách của Phan Huy Chú, Phương Đình Nguyễn Văn Siêu… Đó là những bộ sách biên soạn theo phương pháp của bộ môn địa lý cổ ngày xưa
Những tác phẩm do người Pháp biên soạn trong giai đoạn này: Tại Nam kỳ, từ năm 1900-1940, với 3 đợt, có khoảng 20 cuốn sách địa chí bằng tiếng Pháp về các tỉnh Nam Kỳ được xuất bản Trong đó, đợt 1 (1901-1911) có 13 cuốn về các tỉnh được xuất bản: Biên Hòa (1901), Hà Tiên (1901), Gia Định (1902), Mỹ Tho (1902), Bà Rịa và thành phố Cap Saint Jacques (1902), Châu Đốc (1902), Bến Tre (1903), Sa Đéc (1903), Trà Vinh (1903), Cần Thơ (1904), Sóc Trăng (1904), Long Xuyên (1905), Vĩnh Long (1911) và đảo Phú Quốc, tỉnh Hà Tiên (1906)… Tại các tỉnh Bắc Kì, người Pháp thực hiện hàng loạt công trình địa chí giá trị ở các tỉnh như: địa chí Hương Hóa (1899), địa chí Hưng Yên (1899), địa chí Ninh Bình (1899), địa chí Quảng Bình (1902), địa chí Bắc Giang (1904), địa chí Quảng Ngãi (1905), địa chí Phan Thiết (1904), địa chí Hà Nam (1905), địa chí Hải Dương (1905), địa chí Hoà Bình (1905), địa chí Huế (1906), địa chí vùng Quản Bạ - Hà Giang, địa chí Bình Định (1915), địa chí Quảng Trị (1921), địa chí Thanh Hoá (1924), địa chí Hà Đông (1926), địa chí Sơn La (1929), địa chí Bắc Ninh (1935)
Trang 82.4 Địa chí Việt nam từ năm 1954 đến 1975
Từ năm 1954 đến nay, sách địa chí vẫn phát triển ở cả hai miền Nam Bắc: Có thể nói, trong khoảng những năm 1954-1975 là giai đoạn nở rộ của việc biên soạn sách địa chí ở miền Nam Việt Nam Các nhà viết sách địa chí cho ra đời nhiều tác phẩm, số lượng tác phẩm được biên soạn và xuất bản đứng đầu trong các thời
kỳ, tính cho đến thời điểm hiện nay (8-2008) Theo thống kê chưa đầy đủ của chúng tôi, đã có 64 tác phẩm được xuất bản, tạm chia thành 2 nhóm chính Nhóm
do các tòa hành chính, tòa thị chính của các địa phương biên soạn và xuất bản, có
28 tác phẩm, cụ thể là (xếp theo thời gian xuất bản): Địa phương chí tỉnh Hà Tiên (Trần Thêm Trung, 1957), Địa chí quận Chợ Gạo (1958), Địa phương chí tỉnh Kiên Giang (1958), Địa phương chí tỉnh Phước Long (1960), Địa phương chí tỉnh Côn Sơn (1961), Địa phương chí tỉnh An Giang (1961, 1963), Địa phương chí tỉnh Phước Tuy (1961, 1965, 1973), Địa phương chí tỉnh Biên Hòa (1963,
1972, 1974), Địa phương chí tỉnh Phong Dinh (1964), Pleiku ngày nay (1964), Địa phương chí tỉnh Hậu Nghĩa (1965, 1966, 1974), Địa phương chí tỉnh Bến Tre (1965), Địa phương chí tỉnh Bạc Liêu (1965, 1974), Địa phương chí tỉnh Vĩnh Long (1966, 1969), Địa phương chí tỉnh Đà Nẵng (Vũ Lang, Phan Uyên Trang, 1967), Địa phương chí tỉnh Châu Đốc (1968), Địa phương chí thị xã Vũng Tàu (1968, 1971), Địa phương chí tỉnh Ba Xuyên (1971), Địa phương chí tỉnh Biên Hòa (Trương Văn Nam 1971), Địa phương chí tỉnh Gia Định (1971), Địa phương chí thị xã Rạch Giá (1973), Địa phương chí tỉnh Gia Định (1973), Địa phương chí tỉnh Vĩnh Bình (1973), Địa phương chí Bình Long (1974), Địa phương chí tỉnh Bạc Liêu (1974), Địa phương chí tỉnh Kon Tum, Địa phương chí phường xóm củi - Quận 8 đô thành Sài Gòn (Cao Đức Thanh, Nguyễn Thị Vinh, 1968), Địa phương chí xã Châu Giang (người Việt gốc Chăm)…
Nhóm do các cá nhân biên soạn và xuất bản, có 36 tác phẩm Trong đó, tác giả
có 1 tác phẩm (21 tác giả), tác giả có từ 2 tác phẩm trở lên (3 tác giả với 15 tác
Trang 9phẩm) Cụ thể như sau: Đây Nha Trang 1957 (Võ Hữu Hạnh, 1957), Phước Thành ngày nay (1959), Định Tường cửa ngõ miền Hậu Giang (Thân Trọng Cự, 1960), Cố đô Huế (Thái Văn Kiểm, 1960), Non nước xứ Quảng (Phạm Trung Việt, 1962, 1965, 1969, 1971, 1974), Cao Lãnh… đến năm 1954 (Trần Quang Hạo, 1963), Đông Ngạc tập biên (Phạm Văn Thuyết,1963), Tân Châu (1870-1964) (Nguyễn Văn Kiềm, 1966), Phong quang tỉnh Darlac (Hồ Văn Đàm, 1967), Chương Thiện ngày nay (1967), Non nước Quảng Nam (Hạ Ngọc Anh, 1969), Gò Công cảnh cũ người xưa (Việt Cúc, 1969, 2 quyển), Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam (từ năm 1757 đến 1945) (Nguyễn Duy Oanh, 1972), Cà Mau xưa và An Xuyên nay (Nghê Văn Lương, 1972), Biên Hòa sử lược (Lương Văn Lựu, 1972-1973, 2 tập), Đây! Quảng Nam (Vũ Lang, 1973), Ai có về Quy Nhơn (Trần Đình Thái, 1973), Hành Thiện xã chí (1974), Cần Thơ Phong Dinh chỉ nam (1974) Quách Tấn: Nước Non Bình Định (1967), Xứ Trầm hương (1969) Nguyễn Đình Tư: Non nước Phú Yên (1965), Non nước Khánh Hòa (1969), Non nước Ninh Thuận (1974) Huỳnh Minh: Kiến Hòa xưa và nay (1965), Gia định xưa và nay (1965, 1973), Gò Công xưa và nay (1966), Cần Thơ xưa và nay (1966), Vĩnh Long xưa và nay (1967), Định Tường xưa và nay (1970), Vũng Tàu xưa và nay (1970), Sa Đéc xưa và nay (1971), Tây Ninh xưa
và nay (1972)
Trước năm 1945 ở miền Bắc và trước năm 1975 ở miền Nam, các ấn phẩm địa chí thường có các dạng như sách, chuyên khảo
2.5 Địa chí Việt Nam từ sau năm 1975 đến nay
Từ sau năm 1975 đến nay, nhiều địa phương đã quan tâm đến công tác biên soạn sách địa chí Xuất hiện đầu tiên là Địa chí Hà Bắc (1982), rồi Địa chí Minh Hải (1985), Tìm hiểu Kiên Giang (1986), Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh (4 tập, 1987), Địa chí Long An (1989), Địa chí Hải Phòng Tập I (1990), Địa chí Bến Tre (1991, 2001), Địa chí huyện Đại Lộc (1992), Diễn Châu - Địa chí văn
Trang 10hóa và làng xã (Nghệ An, 1995), Địa chí Đồng Tháp Mười (1996), Địa chí huyện Nông Cống (Thanh Hóa, 1998), Địa chí văn hóa huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An, 1998), Địa chí huyện Can Lộc (Hà Tĩnh, 1999), Địa chí Hà Tây (1999 và 2007), Địa chí Lạng Sơn (1999), Địa chí Gia Lai (1999), Địa chí Cao Bằng (2000), Địa chí Lâm Đồng (2001), Địa chí Đồng Nai (4 tập, 2001), Địa chí Vĩnh Phúc (Sơ thảo, 2000), Địa chí Bắc Giang (4 tập, 2002 – 2006), Địa chí Phú Yên (2003), Địa chí Khánh Hòa (2003), Địa chí An Giang (2 tập, 2003), Địa chí Nam Định (2003), Địa chí huyện Tương Dương (Nghệ An, 2003), Địa chí Hà Nam (2005), Địa chí Hòa Bình (2005), Địa chí Thừa Thiên - Huế (2005), Địa chí Bà Rịa – Vũng Tàu (2005), Địa chí Tiền Giang (2 tập, 2005-2007), Địa chí Thái Nguyên (2009), Từ điển địa chí Bạc Liêu (2010), Địa chí Ninh Bình (2010), Địa chí Quảng Nam – Đà Nẵng (2010), Địa chí Bình Dương (4 tập, 2010), Địa chí Thái Bình và Từ điển Thái Bình (2010)… và hiện nay, một số tỉnh như Bắc Ninh, Bắc kạn, Hưng Yên, Cà Mau, Vĩnh Long, Sơn La… cũng đang tiến hành biên soạn địa chí cấp tỉnh”
Địa chí huyện có: Địa chí huyện Đại Lộc (1992), Diễn Châu - Địa chí văn hóa và làng xã (Nghệ An, 1995), Địa chí huyện Nông Cống (Thanh Hóa, 1998), Địa chí huyện Can Lộc (Hà Tĩnh, 1999), Địa chí huyện Tương Dương (Nghệ An, 2003), Địa chí huyện Yên Định, Thanh Hóa (2010), Địa chí huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa (2010), Địa chí huyện Tỉnh Gia (2010), Địa chí huyện Yên Định, Thanh Hóa (2010), Địa chí huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa (2010), Địa chí huyện Quỳnh Lưu (1989), Địa chí văn hóa Hoằng Hóa (1995), Địa chí văn hóa quận Bình Thạnh (1995), Địa chí văn hóa quận 5 (2000), Địa chí văn hóa làng Mỹ Lợi (2000), Địa chí văn hóa miền Biển Quảng Bình (2001),Địa chí văn hóa Yên Khánh (2002)…
Từ sau năm 1975, ấn phẩm địa chí thường thể hiện ở 2 dạng thức chủ yếu: sách Địa chí tổng hợp và Từ điển địa chí