1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bài tập học kỳ luật lao động

15 327 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 116 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều 174 BLLĐ sửa đổi bổ sung quy định: …..Như vậy, thời điểm có quyền đình công là sau khi tranh chấp lao động tập thể được đưa ra giải quyết theo thủ tục hòa giải nhưng chưa giải quyế

Trang 1

Đề bài số 10:

1 Phân tích và nêu ý kiến về trình tự, thủ tục đình công

2 Anh H vào làm việc tại chi nhánh công ty bảo hiểm TPHCM tại quận Ba Đình - Hà Nội từ tháng 6/2005 với công việc là khai thác viên bảo hiểm, thời hạn 1 năm, mức lương 3 triệu đồng/ tháng Hết hạn HĐ, mặc dù không

ký tiếp hợp đồng mới nhưng anh vẫn tiếp tục làm công việc cũ với mức lương không thay đổi Ngày 30/06/2010, phòng khu vực V thuộc chi nhánh công ty bảo hiểm TPHCM tại Hà Nội đã họp kiểm điểm anh H vì lý do anh làm mất 6 ấn chỉ và chiếm dụng phí bảo hiểm trong một thời gian dài Tham

dự cuộc họp có đại diện lãnh đạo chi nhánh công ty bảo hiểm TPHCM tại

HN, chủ tịch công đoàn nhưng không thông báo cho anh tham dự vì cho rằng: chứng cứ đã đầy đủ Ngày 15/07/2010 giám đốc công ty bảo hiểm TPHCM tại HN đã ra quyết định kỷ luật sa thải anh H theo Điều 85 BLLĐ.

a Hợp đồng lao động giữa anh H và công ty bảo hiểm TPHCM là loại HĐLĐ nào? Tại sao?

b Anh H có thể kiện vụ tranh chấp trên tại tòa án nào?

c Việc xử lý kỷ luật của công ty có tuân thủ đúng các quy định về thủ tục

xử lý kỷ luật theo Điều 87 BLLĐ hay không?

d Hãy giải quyết quyền lợi cho anh H theo quy định của pháp luật hiện hành?

e Giả sử, hành vi làm mất ấn chỉ của anh H gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của công ty đủ để sa thải nhưng công ty bảo hiểm TPHCM không

ra quyết định sa thải mà quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng với anh H thì có hợp pháp không? Tại sao? Nếu hợp pháp thì có điều kiện gì?

Trang 2

BÀI LÀM

1 Phân tích và nêu ý kiến về trình tự, thủ tục đình công

a Khái niệm đình công

Đình công là sự ngừng việc tập thể có tổ chức của NLĐ, nhằm gây áp lực buộc NSDLĐ hoặc một số chủ thể khác phải thỏa mãn một hoặc một số yêu cầu của tập thể lao động.

b Trình tự, thủ tục đình công

Trình tự, thủ tục đình công gồm thủ tục chuẩn bị đình công và cách thức tiến hành đình công

Khi có tranh chấp xảy ra giữa tập thể lao động và NSDLĐ thì đình công là cách thức để giải quyết tranh chấp lao động, đây chính là điều kiện xảy ra cuộc đình công.

Sau khi có tranh chấp xảy ra, tranh chấp đó trước hết sẽ được giải quyết thông qua hòa giải, thương lượng Điều 174 BLLĐ ( sửa đổi bổ sung) quy định:

… Như vậy, thời điểm có quyền đình công là sau khi tranh chấp lao động tập thể được đưa ra giải quyết theo thủ tục hòa giải nhưng chưa giải quyết được

do Hội đồng lao động trọng tài hòa giải không thành hoặc hết thời hạn giải quyết hòa giải theo quy định của pháp luật mà hội đồng trọng tài lao động không tiến hành giải quyết.

Khi đó, thủ tục giải quyết đình công được tiến hành theo các bước sau:

- Khởi xướng đình công: Điều 172a quy định: ….theo đó, người khởi sướng

có thể là ban chấp hành công đoàn, hoặc 1/3 số NLĐ trong tập thể của doanh nghiệp ( nếu việc đình công được tiến hành trong doanh nghệp, hoặc quá nửa số NLĐ trong một bộ phận cơ cấu của doanh nghiệp đề nghị nếu đình công được tiến hành trong bộ phận đó).

- Sau khi có người tổ chức và lãnh đạo đình công thì những người này tiến hành tổ chức lấy ý kiến của tập thể lao động để xác định số người tán thành đình

Trang 3

công bằng cách bỏ phiếu kín hoặc lấy chữ kí Việc này được thực hiện theo quy định tại điều 174a và điều 174b BLLĐ (sửa đổi bổ sung) Điều 174b BLLĐ ( sửa đổi, bổ sung) quy định: …………

- Sau khi quyết định đình công, ban chấp hành công đoàn cơ sở cử đại diện nhiều nhất là 3 người để trao bản yêu cầu cho NSDLĐ, đồng thời gửi một bản thông báo cho cơ quan lao động cấp tỉnh và một bản thông báo cho cơ quan liên đoàn cấp tỉnh Điều 174b BLLĐ sửa đổi bổ sung quy định

“…2.

Vì vậy, việc trao bản yêu cầu, gửi bản thông báo phải được tiến hành chậm nhất là 5 ngày trước ngày bắt đầu đình công được ấn định trong bản yêu cầu, bản thông báo Bên cạnh đó, nội dung quyết định đình công, bản yêu cầ Đình công phải thỏa mãn các điều kiện, đó là:

+ Nội dung quyết định đình công phải thỏa mãn những yêu cầu quy định tại khoản 2 điều 174b BLLĐ (sửa đổi, bổ sung): nêu rõ thời điểm đình công, có chữ kí của người đại diện BCH công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể lao động, trường hợp là đại diện của BCH công đoàn cơ sở thì phải đóng dấu của tổ chức công đoàn.

+ Nội dung bản yêu cầu phải thỏa mãn các quy định tại khoản 3 điều 174b BLLĐ sửa đổi bổ sung: những vấn đề tranh chấp lao động tập thể đã được cơ quan, tổ chức giải quyết nhưng tập thể lao động không đồng ý, kết quả lấy ý kiến đồng ý đình công, địa điểm đình công, địa chỉ người cần liên hệ để giải quyết.

Đến ngày ấn định trong quyết định đình công với bản yêu cầu đình công thì BCH công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể lao động tổ chức và lãnh đạo cuộc đình công (theo khoản 5 điều 174b BLLĐ sửa đổi bổ sung: ……)

Tuy nhiên, khi tổ chức đình công cần lưu ý việc tuân thủ quyết định hoãn hoặc đình công Theo Điều 176 BLLĐ quy định: “ khi xét thấy cuộc đình công

có nguy cơ/………tổ chức có thẩm quyền giải quyết việc tuân thủ quyết

Trang 4

định hoãn hoặc ngừng đình công của Thủ tướng Chính phủ là một trong những điều kiện hợp pháp của cuộc đình công.

c Nhận xét về trình tự, thủ tục đình công và một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật lao động về trình tự, thủ tục đình công

Hầu hết, các cuộc đình công ở nước ta thời gian qua đều rơi vào tình trạng trái pháp luật, mặc dù các cuộc đình công chủ yếu xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của NLĐ Một trong những nguyên nhân quan trọng của tình trạng này là do pháp luật quy định về trình tự, thủ tục chuẩn bị đình công và cách thức tiến hành đình công phức tạp, không phù hợp với thực tiễn, thiếu tính khả thi Điều đó được thể hiện trước hết ở việc chuẩn bị đình công Đình công là một yêu cầu tự thân rất quan trọng của NLĐ Tuy nhiên, khi pháp luật quy định phải đảm bảo đủ 50% số người trong tập thể lao động tán thành bằng cách lấy chữ kí hoặc bỏ phiếu kín thì mới được phép tiến hành đình công thì sẽ có rất ít cuộc đình công theo đúng quy định này, vì thủ tục này chỉ khả thi ở những nơi

có ít NLĐ Trên thực tế, tổ chức lấy chữ kí hoặc bỏ phiếu kín cho một tập thể lao động là thủ tục khá phức tạp Đồng thời, với những cơ sở tập trung nhiều lao động, hoặc doanh nghiệp có nhiều cơ sở sản xuất đặt ở những địa điểm khác nhau thì đây lại là quy định khó thực hiện được.

Pháp luật nước ta chưa có những quy định cụ thể, trực tiếp về cách thức đình công Đây là điểm cần bổ sung trong quá trình hoàn thiện pháp luật về đình công Việc quy định cách thức đình công có ý nghĩa vố cùng quan trọng bởi nó liên quan đến hiệu quả gây áp lực của đình công, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự

xã hội, sự bình ổn của quan hệ lao động sau đình công.

Điều 172 BLLĐ đã sửa đổi, bổ sung quy định: “Đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của tập thể người lao động để giải quyết tranh chấp lao động tập thể” Quy định này có thể dẫn đến một cách hiểu khác rằng đình công là một biện pháp để giải quyêt tranh chấp lao động tập thể Trong khi đình công xét về bản chất là một biện pháp nhằm thúc đẩy quá trình giải quyết tranh chấp lao động tập thể nhanh hơn và theo hướng có lợi hơn cho

Trang 5

người lao động Vì vậy, nên quy định khái niệm đình công cho phù hợp với bản chất của cuộc đình công Có thể sửa đổi, bổ sung như sau: “Đình công là

sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện, có tổ chức của tập thể người lao động nhằm đạt được những yêu sách nhất định về quyền và lợi ích trong quan hệ lao động”

Cần xem xét lại quy định lấy ý kiến đình công căn cứ vào số lượng người lao động đang sử dụng trong phạm vi dự định tiến hành đình công Việc quy định đối với doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp có từ 300 lao động trở lên thì chỉ lấy ý kiến của các thành viên ban chấp hành công đoàn cơ sở, tổ trưởng

tổ công đoàn và tổ trưởng sản xuất (trường hợp doanh nghiệp không có công đoàn thì lấy ý kiến của tổ trưởng và tổ phó tổ sản xuất) Nếu lấy ý kiến như vậy thì liệu ý kiến của những người này có đảm bảo đại diện cho tiếng nói chung của tập thể lao động hay không Trong khi đó, nhà nước lại yêu cầu tỷ

lệ đồng ý đình công phải đạt trên 75% so với tổng số những người được lấy ý kiến.

Cần xem xét lại quy định về việc cử đại diện gửi bản yêu cầu và quyết định đình công Nhà nước quy định việc gửi yêu cầu và quyết định đình công phải thực hiện trước ít nhất 5 ngày so với ngày dự kiến đình công chưa thật hợp lý Bởi vì việc xảy ra đình công là đã là đỉnh điểm của những mâu thuẫn, tuy nhiên, cần có thời gian làm dịu bớt những căng thẳng của hai bên nhưng cũng không thể vì thế mà làm mất tính thời cơ của cuộc đình công.

Pháp luật nên có quy định cho phép người sử dụng lao động đóng cửa doanh nghiệp để bảo vệ tài sản của mình khi đình công xảy ra Quy định này là cần thiết vì nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người sử dụng lao động đặc biệt là các tài sản có giá trị như dây chuyền công nghệ, bi mật kinh doanh, hồ sơ tài liệu…

Cần quy định cho người sử dụng lao động được sử dụng lao động thay thế các công nhân đình công nếu cuộc đình công đó trái pháp luật hoặc không

Trang 6

chấp hành lệnh ngừng hoặc hoãn đình công của Tòa án hoặc Thủ tướng chính phủ.

Cần tăng cường công tác thanh tra lao động nhằm giải quyết và xử lý các vi phạm pháp luật lao động, nguyên nhân gây nên những cuộc đình công tự phát Bởi vì khi có tranh chấp lao động xảy ra mà người lao động và người sử dụng lao động không thật sự hợp tác với nhau để giải quyết thì có thể dẫn tới sự búc xúc từ phía người lao động, dẫn đến họ có những cuộc đình công tự phát mà không tuân theo một trình tự thủ tục nào.

Pháp luật cũng cần có quy định xử lý các cán bộ, công đoàn, công nhân lôi kéo, xúi giục, tổ chức đình công trái pháp luật với động cơ tiêu cực làm ảnh hưởng đến hoạt động của công ty cũng như những người lao động khác, nhằm đảm bảo sự ổn định trong quan hệ lao động.

2 Giải quyết tình huống

a/ Hợp đồng giữa anh H và công ty bảo hiểm TPHCM là loại hợp đồng không

xác định thời hạn, chúng ta có thể căn cứ vào các cơ sở pháp lý sau:

Chủ thể trong quan hệ lao động gồm: Anh A (NLĐ) và công ty bảo hiểm TPHCM ( NSDLĐ).

Anh H và công ty bảo hiểm TPHCM là hai chủ thể có đầy đủ năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động để tham gia vào kí kết hợp đồng lao động Hình thức của hợp đồng lao động giữa anh H và công ty là bằng văn bản trong quá trình làm việc của anh H, giữa anh H và công ty bảo hiểm TPHCM có hai hợp đồng lao động nối tiếp nhau.

Theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 27 BLLĐ sửa đổi bổ sung thì hợp đồng xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến

36 tháng Như vậy, theo như quy định trên đây thì hợp đồng giữa anh H và công

ty bảo hiểm TP HCM ký với nhau trong thời hạn 1 năm, với mức lương 3 triệu đồng/tháng là HĐLĐ xác định thời hạn Hết hạn hợp đồng, mặc dù không ký kết tiếp hợp đồng mới nhưng anh H vẫn làm công việc cũ với mức lương không thay

Trang 7

đổi Theo quy định tại khoản 2 Điều 27 Bộ luật lao động (BLLĐ) và khoản 4 Điều 4 Nghị định 44/2003/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số

điều của BLLĐ về HĐLĐ (Nghị định 44/2003/NĐ-CP) quy định: “Khi HĐLĐ quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong khoảng thời hạn 30 ngày, kể từ ngày HĐLĐ hết hạn, hai bên phải ký HĐLĐ mới Trong thời hạn chưa ký HĐLĐ mới, hai bên phải tuân theo HĐLĐ đã giao kết Khi hết thời hạn 30 ngày mà không ký HĐLĐ mới, HĐLĐ đã giao kết trở thành HĐLĐ không xác định thời hạn…” Như vậy, với

tình huống đề bài đặt ra thì HĐLĐ giữa anh H và công ty bảo hiểm TP HCM ký

từ tháng 6/2005 vời thời hạn là 1 năm thuộc loại HĐLĐ xác định thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 27 BLLĐ Mà sau khi HĐLĐ xác định thời hạn đó kết thúc thì công ty bảo hiểm TP HCM và anh H không ký HĐLĐ mới mà anh H vẫn tiếp tục làm công việc cũ đó cho đến năm 2010 Tính từ khi hết hạn hợp đồng là từ tháng 6/2006 đến 30/6/2010 là được 4 năm, ta thấy rằng khoảng thời gian anh H làm cho công ty bảo hiểm TP HCM từ khi hết hợp đồng đến khi anh bị kỷ luật là

4 năm (lớn hơn 30 ngày) Như vậy, chiếu theo quy định của pháp luật thì HĐLĐ của anh H và công ty bảo hiểm đương nhiên trở thành HĐLĐ không xác định thời hạn.

b/ Anh H có thể khởi kiện vụ tranh chấp trên tại Tòa án nào?

Anh H có thể khởi kiện vụ tranh chấp trên tại Tòa án ….vì:

Đây là vụ tranh chấp cá nhân vì chỉ có quyền lợi của anh H bị ảnh hưởng trong quyết định sa thải ngày 15/7/2010 và cũng chỉ có mình anh H là người đứng lên đòi quyền lợi cho mình Theo khoản 1 Điều 31 BLTTDS năm 2005 thì tranh chấp giữa anh H và công ty bảo hiểm TPHCM sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án Mặt khác, điều 33 BLTTDS 2005 quy định: “ Thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

1 Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Toà án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

Trang 8

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 25 và Điều 27 của

Bộ luật này;

b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g, h

và i khoản 1 Điều 29 của Bộ luật này;

c) Tranh chấp về lao động quy định tại khoản 1 Điều 31 của Bộ luật này.

2 Toà án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết những yêu cầu sau đây: a) yêu cầu về dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 26 của Bộ luật này;

b) yêu cầu về hôn nhân và gia đình quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 28 của Bộ luật này.

3 Những tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện.

Theo quy định tại điều 166 BLLĐ thì:

“1 Tòa án nhân dân giải quyết các tranh chấp lao động cá nhân mà Hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc hòa giải viên lao động hòa giải không thành hoặc không giải quyết trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 165a của Bộ luật này.

2 Tòa án nhân dân giải quyết những tranh chấp lao động cá nhân sau đây mà không bắt buộc phải qua hòa giải tại cơ sở:

a) Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt HĐLĐ….”.

Như vậy, theo những căn cứ đã đưa ra thì anh H có thể khởi kiện vụ tranh chấp trên tại Tòa án nhân dân cấp huyện

Trang 9

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Bộ luật tố tụng dân sự thì: “Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau: a Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu

bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này”

Như vậy, theo đề bài ra thì anh H và công ty bảo hiểm TP HCM ký HĐLĐ để anh H làm việc tại chi nhánh công ty tại quận Ba Đình – Hà Nội Công ty có chi nhánh làm việc tại quận Ba Đình – Hà Nội Chiếu theo quy định trên thì anh H có thể khởi kiện công ty bảo hiểm TP HCM tại Tòa án nhân dân quận Ba Đình – Hà Nội.

c/ Việc xử lý kỷ luật của công ty không tuân thủ đúng các quy định về thủ tục xử lý kỷ luật theo Điều 87 BLLĐ, căn cứ vào cơ sở pháp lý sau:

Theo quy định tại Điều 87 BLLĐ thì việc xử lý kỷ luật phải tuân theo các bước sau:

“1 Khi tiến hành việc xử lý vi phạm kỷ luật lao động người sử dụng lao động phải chứng minh được lỗi của người lao động;

2 Người lao động có quyền tự bào chữa hoặc nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác bào chữa;

3 Khi xem xét kỷ luật lao động phải có mặt đương sự và phải có sự tham gia của dại diện Ban chấp hành công đoàn cơ sở doanh nghiệp;

4 Việc xem xét xử lý kỷ luật lao động phải được ghi thành biên bản”.

Xét theo quy định về trình tự thủ tục kỷ luật Điều 87 BLLĐ đã quy định, xét trong tính huống đề bài ra thì trong việc xét kỷ luật của công ty bảo hiểm TP HCM đối với anh H chưa tuân thủ đúng quy định này, cụ thể:

Theo khoản 1 Điều 87 BLLĐ thì khi tiến hành kỷ luật lao động thì người lao động phải chứng minh được lỗi của người lao động Tuy nhiên, khi tiến hành họp kỷ luật anh H thì công ty đã không làm đúng thủ tục này vì cho rằng chứng

cứ đã đầy đủ nên không cần chứng minh Điều đó là hết sức vô lý, bởi vì đây là khẳng định một phía từ công ty bảo hiểm TP HCM, mà mặc dù anh H có hành vi

Trang 10

đó thì công ty cũng phải chứng minh được lỗi của anh H nghiêm trọng như thế nào và gây hậu quả ra sao đối với công ty Do đó, khi tiến hành kỷ luật lao động đối với anh H công ty bảo hiểm TP HCM phải đưa ra các bằng chứng, các vật chứng, các lập luận logic và khách quan, nếu có còn phải có người làm chứng để khẳng định được anh H đã thực sự vi phạm kỷ luật của công ty và pháp luật lao động Nhưng công ty cho rằng chứng cứ đã đầy đủ nên không thông báo cho anh

H đến dự mà việc xử lý kỷ luật anh chỉ theo ý kiến chủ quan của công ty đưa ra

mà thôi chứ không được đưa ra để điều tra, xem xét hành vi vi phạm kỷ luật của anh H trước, đủ chứng cứ rồi mới có quyết định đưa ra kỷ luật.

Quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 87 thì công ty bảo hiểm chưa tuân thủ đúng Đó là khi tiến hành họp kỷ luật anh H thì không có sự có mặt của anh H Việc anh H không có mặt là do công ty chưa thông báo cho anh H biết về việc mình bị kỷ luật Mà theo quy định tại Điều 11 Nghị định 41-CP năm 1995 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật lao động về kỷ luật lao

động và trách nhiệm vật chất thì “Đương sự phải có mặt và có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác bào chữa trong trường hợp đương sự là người dưới 15 tuổi thì phải có sự tham gia của cha, mẹ hoặc người đỡ đầu hợp pháp của đương sự Nếu người sử dụng lao động đã 3 lần thông báo bằng văn bản mà đương sự vẫn vắng mặt thì người sử dụng lao động có quyền xử lý kỷ luật và thông báo quyết định kỷ luật cho đương sự biết”.

Như vậy, với quy định như trên thì trong quá trình xử lý kỷ luật anh H thì công

ty bảo hiểm TP HCM đã không thông báo cho anh H biết về việc anh H bị công

ty xử lý kỷ luật, do đó, đã không đảm bảo được quy định về sự có mặt của đương

sự tại khoản 3 Điều 87 BLLĐ và kéo theo đó cũng không đảm bảo được quyền lợi của anh H quy định tại khoản 2 Điều 87 BLLĐ

Ngoài ra, trong đề bài ra cũng không đưa ra tình tiết công ty xử lý kỷ luật anh

H có lập thành văn bản theo đúng pháp luật hay không? Theo quy định tại khoản

4 Điều 87 BLLĐ thì việc xử lý kỷ luật phải lập thành văn bản

d/ Giải quyết quyền lợi cho anh H theo quy định của pháp luật hiện hành?

Ngày đăng: 20/01/2016, 10:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w