Dựa trên cơ sở đánh giá, phân tích định tính và định lượng chuỗi số liệu từ 2002- 2011, nhóm em xin lựa chọn đề tài: “ Bất bình đẳng giới về thu nhập của lao động Việt Nam giai đoạn 2002
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT 3
LỜI MỞ ĐẦU 4
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG THU NHẬP 6
1 Một số khái niệm về bất bình đẳng giới trong thu nhập 6 2 Ảnh hưởng của bất bình đẳng giới trong thu nhập đến phát triển kinh tế7 3 Các yếu tố ảnh hưởng tới bất bình đẳng giới trong thu nhập 7
3.1 Yếu tố phi kinh tế- Quan niệm bất bình đẳng giới truyền thống 7
3.2 Các yếu tố kinh tế 7
3.2.1 Nhóm yếu tố đặc điểm người lao động: 7
3.2.2 Nhóm yếu tố giáo dục- đào tạo: 7
3.2.3 Nhóm yếu tố lao động, công việc: 8
3.2.4 Nhóm yếu tố địa lý: vùng, thành thị/ nông thôn 8
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG THU NHẬP TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2002-2011 9
1 Tổng quan về thực trạng bất bình đẳng giới trong thu nhập ở Việt Nam 9 2 Bất bình đẳng giới trong lao động và thu nhập 10
3 Các yếu tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng giới trong thu nhập 13
3.1 Đặc tính người lao động 13
3.2 Giáo dục- đào tạo 15
3.3 Lao động- việc làm 16
3.4 Vùng địa lý 18
3.5 Môi trường chính sách liên quan đến thu nhập và vấn đề giới 18
3.6 Nhóm các yếu tố khác 19
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GỢI Ý GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH NHẰM HẠN CHẾ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG THU NHẬP 21
Trang 21 Thúc đẩy giáo dục, kiến thức và kĩ năng: xóa bỏ khoảng cách giới 21
2 Về sức khỏe và an toàn 22
3 Cơ cấu ngành nghề hợp lý 22
4 Nâng cao chuyên môn, tay nghề lao động 24
5 Khuyến nghị nghiên cứu và hợp tác nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong mức lương và địa vị kinh tế 25
KẾT LUẬN 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
Trang 3DANH M C T NG VI T T T ỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT Ừ NGỮ VIẾT TẮT Ữ VIẾT TẮT ẾT TẮT ẮT
ILO –International Labour Organization: tổ chức lao động quốc tế
UNDP- United Nations Development Programme: chương trình phát triển Liên
Hiệp Quốc
HDI- Human Development Index- chỉ số phát triển con người
GDI- Gender development index:chỉ số phát triển giới
FAO- Food and Agriculture Organization: Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp
UNFPA - United Nations Population Fund: Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc VLSS - Điều tra mức sống dân cư toàn quốc
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Thu nhập chính là động lực của người lao động từ đó góp phần nâng caohiệu quả kinh tế Đảm bảo được bình đẳng giới thu nhập không những giảiphóng sức lao động, tận dụng nguồn lực, làm lành mạnh thị trường lao độnggóp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Sự bất bình đẳng giới trong thu nhập là
sự khác biệt giữa thu nhập của lao động nam và lao động nữ mặc dù có cùng cácđặc tính năng lực và năng suất lao động Bất bình đẳng giới trong thu nhập vừa
là một trong những căn nguyên gây ra nghèo đói, vừa là yếu tố cản trở lớn đốivới quá trình phát triển Những xã hội có sự bất bình đẳng giới lớn và kéo dàithường phải trả giá là sự nghèo đói, tình trạng suy dinh dưỡng, đau ốm vànhững nỗi cực khổ khác ở mức độ lớn hơn Mục tiêu bình đẳng giới trong thunhập vừa là vấn đề quyền con người quan trọng, vừa là một yêu cầu cơ bản cho
sự phát triển công bằng và hiệu quả Vì vậy việc nghiên cứu về tình trạng bấtbình đẳng giới trong thu nhập có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong việc hướngtới sự bình đẳng trong xã hội mà còn góp phần tìm kiếm các biện pháp để nângcao hiệu quả của tăng trưởng kinh tế xã hội
Dựa trên cơ sở đánh giá, phân tích định tính và định lượng chuỗi số liệu
từ 2002- 2011, nhóm em xin lựa chọn đề tài: “ Bất bình đẳng giới về thu nhập của lao động Việt Nam giai đoạn 2002-2011”, nhằm tập trung nghiên cứu thu
nhập của người lao động làm công ăn lương của lao động nam và lao động nữ ởViệt Nam và các yếu tố ảnh hưởng tới mức lương, mức chênh lệch giữa thunhập của lao đọng nam và nữ Do thời gian hạn hẹp, quá trình nghiên cứu cònnhiều thiếu xót, mong cô và các bạn góp ý, bổ sung để bài tiểu luận của nhómđược hoàn chỉnh!
1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Trang 5Đối tượng nghiên cứu:
- Thu nhập của người lao động làm công ăn lương của lao động nam và laođộng nữ ở Việt Nam (chia theo vùng, ngành), các yếu tố ảnh hưởng đến mứclương, mức chênh lệch giữa thu nhập của lao động nam và nữ
- Tác động của các chính sách, qui định đối với vấn đề lao động tiền lương vàgiới
về vị trí địa lý và thay đổi về chính sách ,
b) yếu tố phi kinh tế: quan điểm giới, về điều kiện văn hoá, môi trường, an ninh,
ổn định chính trị
- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2002-2011 Số liệu nghiên cứu điều tra mứcsống dân cư qui mô quốc gia VLSS kết hợp số liệu thống kê và các nguồn khác
2 Kết cấu của đề tài.
Cấu trúc của đề tài như sau:
Chương I Cơ sở lý luận về Bất Bình đẳng giới trong thu nhập
Chương II Thực trạng và Yếu tố ảnh hưởng đến Bất Bình đẳng giới trongthu nhập tại Việt Nam giai đoạn 2002-2011
Trang 6Chương III Một số gợi ý giải pháp chính sách nhằm hạn chế bất bình đẳnggiới trong thu nhập.
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG
THU NHẬP
1 Một số khái niệm về bất bình đẳng giới trong thu nhập
- Sự bất bình đẳng đang diễn ra dưới rất nhiều hình thức trong cuộc
sống Theo ILO thì bất cứ sự phân biệt nào hình thành trên cơ sở chủng tộc,màu da, giới tính, tôn giáo, khuynh hướng chính trị, nguồn gốc xã hội mà cóảnh hưởng và làm tổn hại đến việc tiếp cận các cơ hội hay sự đối xử trong côngviệc và nghề nghiệp thì được coi là có sự bất bình đẳng
- Theo tài liệu "Hướng dẫn lồng ghép giới trong hoạch định và thựcthi chính sách" do Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ phụ nữ Việt Nam xuất bản năm
2004 thì "Bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm
giống và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới" Nam giới và phụ nữ cùng có điềukiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn của mình,
có cơ hội bình đẳng để tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực của xãhội trong quá trình phát triển, được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống mộtcách bình đẳng, được hưởng thành quả một cách bình đẳng trong mọi lĩnh vựccủa xã hội
Như vậy bất bình đẳng giới được hiểu là sự phân biệt trên cơ sở
giới tính mà sự phân biệt này ảnh hưởng đến sự tham gia, đóng góp và thụhưởng các nguồn lực của xã hội và quá trình phát triển của con người
Đề tài này tập trung nghiên cứu và đi sâu vào vấn đề bất bình đẳngtrong việc tiếp cận các cơ hội kinh tế, cụ thể ở đây là bất bình đẳng giới trong
thu nhập Theo đó sự bất bình đẳng giới trong thu nhập là phân biệt trong thu
Trang 7nhập được hưởng của lao động nam và lao động nữ mặc dù có cùng các đặc tínhnăng lực và năng suất lao động như nhau.
2 Ảnh hưởng của bất bình đẳng giới trong thu nhập đến phát triển kinh tế
Bất bình đẳng giới trong thu nhập vừa là một trong những căn nguyêngây ra nghèo đói vừa là yếu tố cản trở lớn đối với phát triển kinh tế Do ít có cơhội tiếp cận với công nghệ, tín dụng, giáo dục và đào tạo, thường gặp nhiều khókhăn do gánh nặng công việc gia đình, thiếu quyền quyết định trong hộ gia đìnhnên cộng với việc thường được trả công thấp hơn nam giới ở cùng một loại việc,tình trạng bất bình đẳng giới trong thu nhập sẽ dẫn đến tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh
và bà mẹ cao hơn, sức khoẻ gia đình bị ảnh hưởng và trẻ em ít được đi học hơn,đặc biệt là trẻ em gái
3 Các yếu tố ảnh hưởng tới bất bình đẳng giới trong thu nhập
3.1 Yếu tố phi kinh tế- Quan niệm bất bình đẳng giới truyền thống
Quan niệm bất bình đẳng giới truyền thống xuất hiện từ thời phong kiếnhàng ngàn năm trước Theo quan niệm phong kiến, đặc biệt ở các nước châu Á,thì đàn ông là người có toàn quyền quyết định và có tiếng nói tuyệt đối trong giađình cũng như trong xã hội Còn người phụ nữ thì phụ thuộc vào nam giới,không có quyền định đoạt số phận Vai trò và địa vị của người phụ nữ bị xemnhẹ Chính điều này đang là những cản trở đối với sự phát triển cân bằng giới vàmối quan hệ nam nữ
3.2 Các yếu tố kinh tế
3.2.1 Nhóm yếu tố đặc điểm người lao động:
Gồm những yếu tố liên quan mặt thể chất và giới tính: độ tuổi, tình trạnghôn nhân, sức khoẻ và chi tiêu bình quân đầu người
Trang 83.2.2 Nhóm yếu tố giáo dục- đào tạo:
Giáo dục - đào tạo là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến thu nhập củangười lao động Công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, kỹ năng phức tạp
có mức lương cao hơn nhiều so với các công việc mang tính giản đơn Do vậyngười được tiếp cận với nền giáo dục cao hơn sẽ có cơ hội tìm kiếm công việc
có thu nhập cao hơn
3.2.3 Nhóm yếu tố lao động, công việc:
Gồm các yếu tố: ngành nghề, chuyên môn, kinh nghiệm làm việc, tổ chứclàm việc Thông thường những người làm công việc ngành nông nghiệp sẽ đượctrả lương thấp hơn người trong ngành công nghiệp bởi sự khác nhau về khảnăng, trình độ đòi hỏi của 2 ngành Thực ra trong chính cùng một ngành nghề
đã có sự khác nhau về thu nhập bởi công việc được phân loại theo chuyên môn
và kinh nghiệm của người lao động Người có chuyên môn cao với kinh nghiệmlâu năm sẽ được trả lương cao hơn và ngược lại
3.2.4 Nhóm yếu tố địa lý: vùng, thành thị/ nông thôn
Do mức sông, mức chi tiêu ở các vùng là khác nhau nên thu nhập củangười lao động cũng không giống nhau bởi thu nhập được trả phải đảm bảo chocuộc sống của họ và gia đình ở mức tối thiểu nhất Xét trên cùng một vùng lãnhthổ thì mức thu nhập còn chịu ảnh hưởng bỏi khu vực sinh sống là thành thị haynông thôn Do đặc thù công việc và mức sống nên người lao động ở thành thị sẽ
có thu nhập cao hơn so với ở nông thôn
Trang 9CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG THU NHẬP TẠI VIỆT NAM
2010 lên 0,593 năm 2011 Chỉ số Phát triển Giới của Việt Nam (GDI) xếp thứ
87 trên tổng số 144 nước (UNDP 2012)
Chỉ số Phát triển con người trong khu vực Đông Nan Á - 2011
Nước Thứ tự xếp hạng Chỉ số Phát triển con
người trong số 169 nước
Trang 10việc thuộc về lĩnh vực nông nghiệp, do đó sự lựa chọn nghề nghiệp là hạn chế,
và sự phân biệt giới trong nghề nghiệp không nhiều Ở khu vực đô thị, phụ nữtập trung rất nhiều vào buôn bán, công nghiệp nhẹ (đặc biệt là dệt may), công sởnhà nước và dịch vụ xã hội, còn nam giới lại chiếm ưu thế trong các ngành nghề
có kỹ năng như khai thác mỏ, cơ khí và chế tạo Những lĩnh vực có ít đại diệncủa phụ nữ là quản lý hành chính và các lĩnh vực khoa học Thậm chí cả ởnhững nghề nơi mà phụ nữ chiếm số đông, như công nghiệp dệt may hay giảngdạy tiểu học, nam giới vẫn chiếm một tỷ lệ lớn trong các vị trí lãnh đạo cao hơn.Chỉ có 23% số phụ nữ tham gia hoạt động kinh tế có công việc được trả lương
so với 42% số nam giới.Mức lương trung bình một giờ của phụ nữ chỉ bằng78% mức lương đó của nam giới (FAO &UNDP)
2 Bất bình đẳng giới trong lao động và thu nhập
Những số liệu gần đây cho thấy, sự khác nhau về thu nhập vẫn còn tồntại, phụ nữ có thu nhập ít hơn nam giới trong mọi ngành nghề Trong khi sự bấtbình đẳng về thu nhập trong lao động có thể phản ánh sự kết hợp của các yếu tốtrong đó có sự khác nhau về trình độ văn hóa, chuyên môn, kinh nghiệm côngtác và những nguyên nhân khác cộng với sự phân biệt đối xử, cần phải giảiquyết từng phương diện thể hiện sự bất bình đẳng giới này
Thu nhập bình quân/tháng của lao động làm công ăn lương chia theo
giới tính và trình độ CMKT, năm 2011
Đơn vị tính: nghìn đồngTrình độ chuyên
Trang 11Nguồn: Báo cáo điều tra LĐ và việc làm Việt Nam năm 2011
So sánh thu nhập giữa nam và nữ cho thấy nam giới có thu nhập cao hơn
sơ với nữ giới ở tất cả các phân tổ nghiên cứu Theo kết quả điều tra năm 2011,chênh lệch thu nhập giữa nhóm “Đại học trở lên” với nhóm “ Chưa đào tạochuyên môn kỹ thuật “ tới 1,9 lần
Thu nhập bình quân/tháng (nghìn đồng) của lao động làm công ăn
lương năm 2011
Nguồn: Báo cáo điều tra LĐ và việc làm Việt Nam năm 2011
Trang 12Biểu đồ trên cho thấy sự khác nhau trong thu nhập của lao động làm công
ăn lương theo loại hình kinh tế Trong 33 loại hình kinh tế, khu vực “Vốn đầu tưnước ngoài” có thu nhập bình quân cao nhất ( khoảng 3,8 triệu đồng/ tháng) vàkhu vực “ Ngoài nhà nước” có thu nhập bình quân thấp nhất (khoảng 2,7 triệuđồng/ tháng) Chênh lệch thu nhập giữa nam và nữa khá rõ Loại hình có chênhlệch thu nhập nam- nữ cao nhất là “ vốn đầu tư nước ngoài”, khoảng 1,34 triệuđồng/tháng Mặc dù đây là khu vực có điều kiện làm việc tốt và thu hút nhiềulao động nữ, nhưng thu nhập của nữ thuộc khu vực này vẫn thấp hơn đáng kể sovới nam
Lao động nữ trong mọi loại hình doanh nghiệp đều có mức lương cơ bảnthấp hơn so với lao động nam khoảng 68% lương cơ bản của lao động nam Các
cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ trả lương tương đối bình đẳng hơn, và các doanhnghiệp này không chịu sự điều chỉnh của pháp luật Lao động nữ được hưởngcác khoản trợ cấp theo các quy định của luật lao động, nhưng không phải mọingười lao động nữ đều được nhận Tuy vậy, cho dù được nhận thêm các khoảnphụ cấp nhưng tổng thu nhập của lao động nữ vẫn thấp hơn lao động nam, vìtiền lương cơ bản của họ thấp hơn lao động nam trong các doanh nghiệp nhànước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hợp tác xã và công ty tráchnhiệm hữu hạn Tính gộp cả tiền lương và các khoản trợ cấp bằng tiền của laođộng nữ thì tổng thu nhập của họ cũng chỉ tương đương với 87% so với laođộng nam
3 Các yếu tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng giới trong thu nhập
3.1 Đặc tính người lao động
Nhóm yếu tố đặc tính người lao động bao gồm các yếu tố sau: tuổi, tìnhtrạng hôn nhân, tình trạng sức khỏe Tỷ lệ giới tính (tỷ lệ số nam/ 100 nữ) củaViệt Nam theo số liệu thống kê năm 2009 là 97,6.Tỷ số giới tính của nhóm tuổi0-4 đã cao một cách bất thường chủ yếu là do tỷ số giới tính khi sinh đã gia
Trang 13tăng, nhất là trong 5 năm gần đây (UNFPA, 2009) Có lẽ do tỷ số giới tính khisinh gia tăng trong thời gian qua nên tỷ số giới tính dân số dưới 15 tuổi cũngkhá cao: 106,9 Trong khi đó, tỷ số giới tính của dân số trong độ tuổi lao động(15-49 tuổi) đang ở mức khá cân bằng là 99,0 Ngoài ra đã có sự thiếu hụtkhông bình thường về nam giới trong các nhóm tuổi từ 20-24 và 25-29 và ởmức độ nhỏ hơn là các nhóm tuổi từ 15 - 19 và 25-29 trong số liệu của năm2009.
Tuy nhiên, có tới 54 tỉnh/thành phố có tỷ số giới tính dân số trẻ em (dưới
15 tuổi) trên mức trung bình (>105).Điều đó sẽ dẫn đến tình trạng thừa namthiếu nữ khá trầm trọng của dân số độ tuổi kết hôn ở Việt Nam trong tương laikhông xa
Tỷ số giới tính theo nhóm tuổi 1999, 2009
Trang 14Nguồn: TCTK, Điều tra biến động DS- KHHGĐ, 2009
Về tình trạng hôn nhân, trong hai thập kỷ qua, đặc điểm chung của tìnhtrạng hôn nhân ở Việt Nam là nữ thường bước vào hôn nhân sớm hơn nam giới,sau tuổi 50 thì hầu hết dân số Việt Nam đã từng kết hôn, và ở hầu hết các độtuổi, tỷ lệ ly hôn/ly thân và góa của nữ đều cao hơn của nam Tuy nhiên, từ
1989 đến 1999 và 2009, tỷ lệ chưa từng kết hôn của nhóm dân số độ tuổi từ 35đến 54 đã tăng lên đáng kể Điều đó có nghĩa là người dân có xu hướng kết hônmuộn hơn và tuổi kết hôn lần đầu ngày càng cao.Nếu như năm 1989 chỉ có rất ítphụ nữ ở độ tuổi từ 50 trở lên chưa kết hôn thì đến năm 2009, tình trạng này đãgia tăng khá rõ
Mức độ ly hôn/ly thân của nữ cao hơn khá nhiều so với của nam, cả về sốlượng cũng như tỷ lệ Nếu tính chung cho dân số từ 15 tuổi trở lên thì tỷ lệ này
là 0,9% cho nam và 2% cho nữ, tương ứng với khoảng 286,5 và 658,1 nghìnngười Lý do chính có lẽ là nam giới có khả năng tái hôn cao hơn và có tỷ xuất
tử vong lớn hơn của nữ Nhóm tuổi có tỷ số ly hôn/ly thân cao nhất là 40-44tuổi với nam (1,6%) và 50-54 tuổi với nữ (4,4%) Tỷ lệ ly hôn/ly thân ở thànhthị cao hơn ở nông thôn với tất cả các nhóm tuổi từ 30-34 trở lên Vào năm
2009, tuổi kết hôn trung bình lần đầu (SMAM) của nam giới là 26,2 và của nữ
là 22,8 SMAM của cả nam và nữ ở thành thị đều cao hơn ở nông thôn
3.2 Giáo dục- đào tạo