Nhưng chúng ta đều thừa nhận rằng: Bất bình đẳng xã hội là sự không bằng nhau về các cơ hội hoặc lợi ích đối với nhiều cá nhân khác nhau trong một nhóm hoặc nhiều nhóm trong xã hội VD:
Trang 1MỤC LỤC
A Cơ sở lý thuyết
I Thế nào là bất bình đẳng ?
1 Định nghĩa
2 Nguyên nhân xảy ra
II Bất bình đẳng giới
1 Khái niệm
2 Hậu quả của bất bình đẳng giới
B Thực trạng bất bình đẳng giới tại Việt Nam hiện nay
1 Nhìn nhận chung về bất bình đẳng giới ở Việt Nam
2 Tính cấp thiết của vấn đề
3 Thực trạng bất bình đẳng giới trên thế giới
4 Bất bình đẳng giới tại Việt Nam
5 Giải pháp xóa bỏ bất bình đẳng giới
C Kết luận
2 2 2 4 4 4
7 7 8 10 13
15
A CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Trang 2I Thế nào là bất bình đẳng ?
1 Định nghĩa
Bất bình đẳng xã hội là một vấn đề tồn tại trong nhiều chế độ xã hội Có nhiều quan điểm khác nhau và chưa có sự thống nhất về bất bình đẳng xã hội Nhưng chúng ta đều thừa nhận rằng:
Bất bình đẳng xã hội là sự không bằng nhau về các cơ hội hoặc lợi ích đối với nhiều cá nhân khác nhau trong một nhóm hoặc nhiều nhóm trong xã hội
VD: Về sự bất bình đẳng giới: tư tưởng “ trọng nam kinh nữ” vẫn ăn sâu vào tiềm thức mỗi con người Phụ nữ ít khi được bình đẳng với nam giới về quyền lực, các nhà lãnh đạo chính trị luôn là nam giới, người đứng đầu các dòng họ luôn là nam giới… Trong gia đình, đa số các bà vợ luôn phải đối mặt với nạn bạo hành, đàn ông có quyền chi phối vợ mình, phụ nữ ít có quyền đối với đời sống hôn nhân, người vợ luôn phải thể hiện sự tôn kính đối với chồng…
2 Nguyên nhân xảy ra
Ở các nước bình đẳng khác nhau , bất bình đẳng cũng có những nét riêng biệt Bất bình đẳng thường xuyên tồn tại với những nguyên nhân và kết quả liên quan đến yếu tố tự nhiên, giai cấp xã hội, địa vị kinh tế xã hội, văn hóa, giới tính chủng tộc, tôn giáo, lãnh thổ… chủ yếu là :
Sự khác nhau về điều kiện tự nhiên
Con người sinh ra và tồn tại trong điều kiện môi trường tự nhiên khác nhau sẽ có cơ hội và được “mang đến” những lợi ích khác nhau Những người sinh ra trong điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ có cơ hội tốt cho sự tiến bộ, ngược lại với điều kiện tự nhiên khó khăn, khắc nghiệt
sẽ có ít cơ hội hơn
Yếu tố tự nhiên còn tạo nên đặc điểm tự nhiên của con người, của các
cá nhân như giới tính, thể lực, trí tuệ, nhân cách… đây là yếu tố có tác động lớn và có ảnh hưởng lâu bền đến bất bình đẳng xã hội Tuy nhiên
Trang 3xã hội càng phát triển, tiến bộ những khác biệt và phân biệt về các yếu
tố tự nhiên càng được khắc phục dần
Sự khác nhau về kinh tế
Cá nhân có điều kiện kinh tế tốt hơn nhiều cá nhân khác trong xã hội,chủ thể đó sẽ có nhiều cơ hội tốt hơn VD như dịch vụ giáo dục,y
tế của các cá nhân khác nhau trong xã hội
Sự khác nhau về xã hội
Địa vị xã hội là vị trí then chốt của một cá nhân gắn liền với quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm trong một cơ cấu được xác định.Địa vị xã hội thường gắn với nghề nghiệp chức vụ của con người
VD:Trong doanh nghiệp, người lao động trực tiếp và người quản lí có địa vị
xã hội khác nhau nên cơ hội và lợi ích không bằng nhau tạo nên mức thu nhập, mức sống, vị thế xã hội khác nhau
Cá nhân trong xã hội có địa vị cao sẽ có nhiều cơ hội và lợi ích hơn so với cá nhân ở địa vị thấp Khi cá nhân có địa vị cao trong xã hội, anh ta
có thể lợi dụng quyền lợi đó để tạo ra sự không công bằng cho nhiều cá nhân, nhóm khác nhau trong xã hội
Sự khác nhau về ảnh hưởng chính trị
Chính trị có thể tạo ra nhiều quyền lực đặc biệt cho nhiều cá nhân các nhóm trong xã hội Nếu cá nhân nắm giữ chức vụ nhất định trong hệ thống chính trị sé có nhiều cơ hội thuận lợi hơn VD: Người làm công tác lãnh đạo “có chân” trong bộ máy chính quyền sẽ có cơ hội hơn để thăng tiến
Sư khác nhau về văn hóa
Có nhiều giá trị văn hóa hạn chế khả năng tiếp cận nhiều cơ hội tốt trong cuộc sống của con người và ngược lại VD: phụ nữ trong xã hội phong kiến trước đây bị quan niệm là những người chỉ làm việc trong gia đình, không được tiếp xúc với xã hội, không có cơ hội để tiến bộ, phụ thuộc vào gia đình Phụ nữ ngày nay đã có sự bình đẳng hơn, có sự phát triển và nhiều đóng góp cho xã hội
II Bất bình đẳng giới
1 Khái niệm
Trang 4Cũng giống như bất bình đẳng xã hội, bất bình đẳng giới là sự đối xử khác biệt đối với nam và nữ về cơ hội, sự tham gia, tiếp cận, kiểm soát và thụ hưởng các nguồn lực
2 Hậu quả của bất bình đẳng giới
a) Bất bình đẳng giới trong giáo dục sẽ làm:
Giảm chất lượng trung bình của nguồn nhân lực trong xã hội và có tác động xấu tới phát triển kinh tế Sở dĩ vậy là vì nó làm hạn chế nguồn chất xám cho giáo dục, khiến nữ giới không được học hành đầy đủ VD: Một gia đình có 2 đứa con, 1 trai 1 gái nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên người con gái không được đi học để nhường cho người con trai được đến trường Vì từ xưa đã trọng nam khinh nữ nên người con trai luôn được ưu tiên cơ hội
Giảm năng lực của các nước trong việc tận dụng nguồn nhân lực trong các ngánh sản xuất Trên cơ sở bằng chứng thực nghiệm, có nghiên cứu chỉ ra rằng khoảng cách giới trong giáo dục làm giảm tăng trưởng kinh tế Khoảng cách giới trong giáo dục có tác động tiêu cực đến sự
tăng trưởng kinh tế về sau.
VD: Nữ giới không được đi học, không được đào tạo kiến thức cần thiết sẽ không thể tận dụng nữ giới vào những công việc mang tính chất kỹ thuật mà chr có thể tuyển chọn nam giới bởi nam giới được đào tạo đầy đủ Điều đó khiên đất nước không tận dụng hết nguồn lực đang có
Khiến nữ giới không được phát huy trình độ và khả năng vốn có chỉ vì không có bằng cấp
VD: chị Hằng ở Hà Tĩnh có thể làm cơ khí, có kinh nghiệm và tay nghề nhưng nhà nghèo không có tiền đi học trường đào tạo nghề để có tấm bằng nên khi chị đi xin việc tại công ty liền bị từ chối
b) Bất bình đẳng giới trong gia đình
Trang 5 Phụ nữa phải làm việc nhà nhiều hơn ảnh hưởng đến sức khỏe của chị
em phụ nữ, giảm chức năng xã hội, nhan sắc tàn phai
VD: Gia đình chị Yến, sau khi làm ở công ty về chị phải đón con, đi chợ nấu cơm dọn dẹp nhà cửa trong khi anh Vũ chồng chị thì tan giờ làm đi café với đồng nghiệp
Hay người phụ nữ chưa đẻ được con trai thì nhà chồng ép phải đẻ tiếp
để có đứa con trai nối dõi cho nhà chồng làm ảnh hưởng đến sức khỏe của phụ nữ
Người phụ nữ mất cơ hội việc làm
VD: Gia đình nhà chị Trang ở Nam Định, chị Trang có việc làm ổn định lương cao còn anh Tuấn chồng chị thì công viecj không ổn định lương thấp Chị Trang có nguyện vọng chồng sẽ ở nhà chăm lo gia đình để chị làm kinh tế chính Nhưng anh Tuấn không đồng ý vì cho rằng đàn ông không thể làm những việc như thế, việc chăm lo gia đình nuôi dậy con cái là việc bất khả kháng của vợ Kinh tế gia đình không
ổn định nên gia đình đã rất khó khăn vậy nên chị Trang phải đi làm thêm lúc con đi học để thêm số tiền ít ỏi cho ga đình
Bạo lực gia đình
VD: người phụ nữ bị lệ thuộc kinh tế, người đàn ông chịu áp lực từ công việc nên về nhà chút giận lên gia đình, đánh đập vợ con Bên cạnh những câu chuyện như vậy vẫn có những người đàn ông bị vợ con cư xử không đúng mực
Hành động thất đức lấy đi cơ hội sống của trẻ nhỏ
VD: Trọng nam khinh nữ luôn là vấn nạn từ xưa đến nay Vậy nên có gia đình khi vợ có thai là con gái đã đi phá thai hành động này thực đáng lên án
c) Bất bình đẳng giới trong xã hội và cơ hội việc làm
Trang 6 Nam nhiều hơn nữ sẽ dẫn đến mất cân bằng giới tính nghiêm trọng ở Việt Nam
Xuất hiện giới tính thứ 3 do quá ít nữ giới nên nam giới đã nảy sinh tình cảm với người cùng giới Điều đó cũng ảnh hưởng đến tâm lý nữ giới và cũng nảy sinh đồng tính nữ
Mại dâm ngày càng nhiều không chỉ nữ giới mà ngày nay mại dâm ở nam giới do nữ nhiều hơn nam và một phần nữ muốn được giải quyết nhu cầu sinh lý của bản thân
Nữ giới bị hạn chế cơ hội tuyển dụng vì các công ty muốn hạn chế chi phí cho việc sinh đẻ của phụ nữ và muốn tuyển nam giới vì họ có sức khỏe, dễ điều khiển trong công việc
Nữ giới mất cơ hội làm lãnh đạo Đa số những nhà lãnh đạo đều là nam giới, nữ giới chỉ được bổ nhiệm vào vị trí thấp và những công việc không đòi hỏi kỹ năng cao như giáo viên hay lao động thủ công
Thiếu nhân công nghiêm trọng mặc lực lượng lao động đông nhưng cac nhà tuyển dụng chỉ muốn tuyển nam giới dẫn đến lao động nữ dư thừa lao động nam thiếu hụt
B Thực trạng bất bình đẳng giới tại Việt Nam hiện nay.
Trang 71 Nhìn nhận chung về bất bình đẳng giới ở Việt Nam.
Chẳng cần tìm hiểu ở đâu xa, bất bình đẳng giới xuất hiện mọi lúc, mọi nơi trong cuộc sống ngày nay, nhưng chúng ta dường như bỏ qua nó Khi nghĩ đến Tết, bạn nghĩ đến điều gì? Mâm cỗ đầy đủ món ăn, nhà cửa sạch sẽ gọn gàng, những ngày nghỉ xả hơi không phải làm gì… Nhưng đó dường như là cái nhìn của những người đàn ông, người có tuổi và trẻ em trong gia đình Đối với người phụ nữ lại là một cái nhìn khác, đó là những ngày thức khuya chuẩn
bị nguyên liệu làm món ăn, sáng mai dậy sớm nấu thật nhiều món ngon bày biện cho mâm cơm của gia đình, là những ngày giáp Tết bận bịu với việc đi chợ, dọn dẹp, chuẩn bị tươm tất cho gia đình mà quên mất bản thân mình cũng chưa có gì mới!
Với người phụ nữ thì Tết chính là lịch trình “nghỉ Tết” dài dằng dặc với những ngày nấu nướng dọn rửa trong khi đấng mày râu ngồi quanh mâm cỗ ung dung trò chuyện, chén rượu đi chén rượu về Ngày Tết mọi người đều được nghỉ nhưng người phụ nữ làm việc không lương ít nhất 5h/ 1 ngày Điều này vốn đã diễn ra từ xưa đến nay, nhưng rất ít người nhận thức và thay đổi thậm chí là nhận thức nhưng không hề thay đổi
2 Tính cấp thiết của vấn đề.
Trong thời gian gần đây, vấn đề bất bình đẳng giới đang được toàn thế giới quan tâm Bởi vì bất bình đẳng giới không chỉ ở phạm vi gia đình, mà còn trên toàn xã hội Bất bình đẳng giới là một trong những nguyên nhân hạn chế sự phát triển của kinh tế-xã hội của nhiều nước trên thế giới, làm tăng đói nghèo, thay đổi sự chăm sóc sức khỏe sinh sản, và tạo ra nhiều tổn thất khác Theo số liệu thống kê của Quỹ dân số Liên Hợp Quốc(UNFP), dân số thế giới đã tăng lên rất nhiều, trong đó phụ nữ chiếm 51.8% dân số và 52% lực lượng lao động Tuy nhiên chính sự bất bình đẳng giữa nam và nữ đã khiến cho hàng loạt nữ giới có trình độ học vấn, có tài năng không có công ăn việc làm, hay phải làm những công việc không đúng chuyên ngành, khả năng của mình Quan niệm người phụ nữ chỉ cần lo việc bếp núc, sinh con trai, quán
Trang 8xuyến gia đình đã ăn sâu vào trong suy nghĩ của nhiều thế hệ Điều đó không chỉ cản trở sự phát triển của người phụ nữ mà còn gây nên áp lực rất lớn với nam giới Do đó, bất bình đẳng giới, không phải vấn đề quá mới mẻ nhưng cũng không hề cũ kĩ, nó vẫn luôn là vấn đề gây ra nhiều tranh cãi trong dư luận mà vẫn chưa đi được đến thống nhất chung
3 Thực trạng bất bình đẳng giới trên thế giới.
Tình trạng bất bình đẳng giới đang có xu hướng tăng ở một số nước, một
số lĩnh vực Theo Báo cáo thường niên Khoảng cách giới toàn cầu (GGG)
2013 do Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) công bố, chưa có quốc gia nào đạt được bình đẳng giới như nhân loại mong muốn Thông tin từ báo chí cho biết, theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì tình trạng bất bình đẳng trong lao động và thu nhập tại các công ty ở châu Âu đang tăng mạnh Sự phân biệt đối
xử với công nhân nữ rõ hơn khi nguy cơ bị sa thải cao hơn công nhân nam, hoặc họ phải chịu mức lương thấp hơn, nhất là trong điều kiện khủng hoảng kinh tế, phải áp dụng các biện pháp khắc khổ và cải cách lao động Ngoài ra, theo báo cáo của Tổng Công đoàn quốc tế (ITUC), ở châu Âu trung bình phụ
nữ thu nhập ít hơn 14,5% so với nam giới, trong khi đó, ở Mỹ khoảng cách này là 22,4%, ở Đức là 21,6%, ở Ca-na-đa là 27,5%, ở Nhật Bản là 33,4%
và ở các nước châu Á và Mỹ la-tinh, khoảng cách này còn lớn hơn nữa Tại các nước là thành viên Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), tỷ lệ nhân viên nữ thấp hơn 13% so với nhân viên nam, và lương của nữ thấp hơn 16% so với nam trong cùng một loại công việc Đặc biệt, tỷ lệ lãnh đạo nam vẫn nhiều hơn nữ, trong lĩnh vực chính trị, nữ giới cũng ít được tham gia giữ
vị trí cao trong nhà nước…
Trong gia đình, phụ nữ vẫn phải làm việc nhiều hơn nam giới, vẫn phải chịu bạo hành và là nạn nhân của nhiều vụ xâm hại tình dục Tất nhiên, không thể phủ nhận là các nước này đã và đang nỗ lực bền bỉ, có hiệu quả, để cải thiện tình trạng bất bình đẳng giới, nhưng để hoàn toàn xóa bỏ bất bình đẳng giới
có lẽ cần những giải pháp bền vững, toàn diện hơn nữa
Trang 9Theo báo cáo do Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) công bố trước thềm Ngày Quốc tế phụ nữ 8/3, thế giới tuy đã đạt được một số tiến bộ trong việc thu hẹp tình trạng bất bình đẳng giới trong 20 năm qua, song nữ giới vẫn có ít cơ hội tiếp cận việc làm hơn, có xu hướng phải chấp nhận những việc làm chất lượng thấp nhiều hơn, và phải đối diện với nhiều rào cản trong bổ nhiệm vào các chức vụ quản lý
Báo cáo "Triển vọng Xã hội và việc làm của thế giới: Những xu hướng cho phụ nữ năm 2018 - khái quát" của Liên hợp quốc (LHQ) cho thấy tỷ lệ phụ nữ tham gia lực lượng lao động toàn cầu là 48,5% trong năm 2018, thấp hơn 26,5% so với tỷ lệ của nam giới Báo cáo cũng cho thấy tỷ lệ thất nghiệp của phụ nữ trên toàn thế giới là 6% trong năm 2018, cao hơn khoảng 0,8% so với
tỷ lệ của nam giới Tính trung bình, cứ 10 nam giới có việc làm thì chỉ có sáu phụ nữ được tuyển dụng Phó Tổng Giám đốc ILO, bà Deborah Greenfield cho biết mặc dù thế giới đã được một số tiến bộ và đưa ra những cam kết cải thiện tình trạng bất bình đẳng giới, song cơ hội phát triển của phụ nữ trong công việc vẫn còn thua xa các đồng nghiệp nam giới
Ở những khu vực như các nước Arab và Bắc Phi, tỷ lệ phụ nữ không có việc làm vẫn cao gấp đôi tỷ lệ ở nam giới, trong khi những quan niệm xã hội phổ biến tiếp tục ngăn cản phụ nữ có được những việc làm được trả lương Ngược lại, phụ nữ ở Đông Âu và Bắc Mỹ có tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn so với nam giới Phụ nữ cũng phải đối diện với sự chênh lệch đáng kể về chất lượng công việc Số phụ nữ làm việc kinh doanh gia đình cao gấp đôi số nam giới
Điều này có nghĩa là phụ nữ đóng góp vào hoạt động kinh doanh gia đình theo định hướng thị trường, song họ thường xuyên phải chịu những điều kiện lao động nhiều rủi ro do không có hợp đồng bằng văn bản, thỏa thuận tập thể
và sự tôn trọng đối với luật lao động Kết quả là tại các quốc gia đang phát triển, phụ nữ vẫn chiếm đa số lực lượng lao động không chính thức Báo cáo trên lưu ý trên phạm vi toàn cầu, số nam giới đảm nhận vai trò chủ lao động cao gấp 4 lần nữ giới trong năm 2018 Phụ nữ tiếp tục phải chịu những rào cản trong việc tiếp cận các vị trí quản lý
Trang 10ILO kết luận giải quyết tình trạng phân biệt đối xử giới tính trong lĩnh vực việc làm vẫn phải là ưu tiên hàng đầu nếu như thế giới muốn tới năm 2030 đạt được bình đẳng giới và trao quyền cho mọi phụ nữ và bé gái Tin tức cho hay trên phạm vi toàn thế giới, thu nhập trung bình của phụ nữ thấp hơn nam giới tới 23% Với tốc độ hiện tại, thế giới sẽ cần tới 70 năm để chấm dứt tình trạng này
và hai giới sẽ có mức thu thập ngang nhau Ngày 7/3, Cơ quan Thống kê châu
Âu (Eurostat) cho biết thu nhập trung bình của phụ nữ tại các nước thành viên Liên minh châu Âu (EU) thấp hơn nam giới khoảng 16% trong năm 2016 Cụ thể, nếu nam giới kiếm được 1 euro trong một giờ làm việc, con số này ở nữ giới chỉ được trung bình là 84 cent.Tại châu Âu, Đức và Anh đứng đầu về mức chênh lệch trong thu nhập giữa nam và nữ - lên tới 21% Romania, Italy và Luxembourg ghi nhận số liệu tích cực hơn (5%) trong khi tại Pháp, một nền kinh
tế lớn khác của châu Âu, phụ nữ thu nhập kém nam giới 14%
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế, bất bình đẳng thu nhập giữa hai giới tại Mỹ thậm chí còn cao hơn châu Âu, với trung bình lao động nữ được trả lương thấp hơn lao động nam tới 20% Năm ngoái, nước Mỹ đã chứng kiến hơn 2 triệu phụ
nữ xuống đường tuần hành tại nhiều thành phố đòi bảo vệ quyền của nữ giới Trước đó, ngày 6/3, có 15 trong tổng số 28 thành viên của Ủy ban châu Âu
đã ra tuyên bố tái khẳng định bình đẳng giới là một trong những hòn đá tảng của EU
4 Bất bình đẳng giới tại Việt Nam
a Trong gia đình
Người xưa có câu “Trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng”, hay quan niệm người phụ nữ xuất giá sống làm người của nhà chồng, chết làm ma của nhà chồng Thậm chí khi họ bị bạo hành, đánh đập, đối xử tệ bạc cũng không thể lên tiếng Tiêu chuẩn cho một người phụ nữ cũng khá khắt khe,tư tưởng “công dung ngôn hạnh” vẫn còn tồn tại đến bây giờ
Đối với trẻ em thì nữ giới không được học hành quá nhiều, chỉ cho nam giới
đi học Việc sinh con trai cũng là “gánh nặng” đối với những người phụ nữ Nhà nghèo đẻ nhiều con gái nhưng vẫn phải cố đẻ cho được con trai để rồi