- Bất nội ngoại nhân: Do ăn uống không điều độ, đàm ẩm, ứ huyết, lao động quá sức là những nguyên nhân bất nội ngoại nhân giống ở nam giới, bên cạnh đó còn do tình dục quá độ, lấy chồng
Trang 1Nội kinh viết:
- 7 tuổi (7 x 1): Thận khí thịnh, thay răng tóc dài.
- 14 tuổi (7 x 2): Thiên quý đến, mạch Nhâm thông, mạch Thái xung thịnh, có kinh nguyệt và có khả năng sinh con.
- 21 tuổi (7 x 3): Thận khí cân bằng, răng khôn mọc.
- 28 tuổi (7 x 4): Gân cốt mạnh, cơ thể cường tráng, sức lực sung túc.
- 35 tuổi (7 x 5): Dương mạch suy, da nhăn, xạm, tóc rụng.
- 42 tuổi (7 x 6): Tam dương mạch suy, da nhăn, tóc bạc.
- 49 tuổi (7 x 7): Nhâm mạch hư, mạch Thái xung suy, Thiên quý kiệt, địa đạo không thông, không có khả năng sinh con.
Câu 1: ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SẢN PHỤ KHOA THEO YHCT
1 - Thận khí:
- Thận khí là gốc của tiên thiên, là nguồn gốc của sinh khí, bẩm thụ từ tiên thiên, được tạo thành do sự kết hợp tinh huyết của cha mẹ
- Thận khí tiên thiên thường xuyên được nuôi dưỡng bởi khí của hậu thiên do Tỳ Vị hóa sinh từ đồ ăn thức uống Nếu Tinh huyết hậu thiên đầy đủ thì Thận khí được bổ sung mạnh và vượng, nếu hậu thiên không đủ thì Thận khí sẽ suy yếu
- Thận khí có tác dụng thúc đẩy quá trình sinh trưởng, phát dục
2 - Thiên quý:
- Thiên quý là một chất nguyên âm, được sinh ra khi Thận khí đã thịnh, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của cơ thể và sự sinh sản của con người
- Ở nữ giới 7 x 2 = 14 tuổi thì Thận khí thịnh, thiên quý đến làm cho mạch Nhâm thông, mạch Thái Xung thịnh, có kinh nguyệt và có khả năng có con
- Nhưng đến năm 7 x 7 = 49 tuổi thì mạch Nhâm hư, mạch Thái Xung suy, thiên quý kiệt, mãn kinh và khó có khả năng sinh con
3 - Vai trò của mạch Xung, Nhâm, Đốc, Đới:
Trang 2- Mạch Xung: Là nơi hội tụ khí huyết của 12 kinh mạch, bể của ngũ tạng, lục phủ Là
bể của huyết (Xung vi Huyết hải) Bắt đầu từ hội âm, gắn với bào cung, có liên quan tới kinh nguyệt, thai sản
- Mạch Nhâm: là chủ của các kinh âm Nhâm mạch chủ bào cung, có liên quan tới kinh nguyệt, thai sản
- Mạch Đốc: Thống đốc các kinh dương, là bể của các kinh dương Thông qua mạch Xung, Nhâm có liên hệ với sinh lý của người nữ giới
- Mạch Đới: Vòng một vòng quanh thân mình như thắt dây lưng, gắn bó hoạt động của các kinh mạch với nhau, các kinh mạch của toàn thân đều cần liên hệ với nó, và mạch Đới còn làm cho quan hệ của các mạch Xung, Nhâm, Đốc, Đới thêm mật thiết
- Hoạt động của 4 mạch này có liên quan trực tiếp tới sinh lý của người nữ giới, khi chúng rối loạn có thể gây bệnh lý về kinh nguyệt và thai sản
4 - Kinh nguyệt:
- Thường con gái tới 14 tuổi thì có kinh, do Thận khí thịnh, thiên quý đến, mạch Nhâm thông, mạch Thái xung thịnh, bào cung thay đổi
- Kinh nguyệt là hiện tượng ra máu có chu kỳ ở bộ phận sinh dục nữ giới
- Mỗi tháng thấy kinh một lần thì gọi là kinh nguyệt, ba tháng mới thấy một lần là cự kinh, một năm mới thấy kinh một lần gọi là tỵ niên, không có kinh mà vẫn có con là
ám kinh, nếu có thai mà đến kỳ kinh vẫn có ra ít máu và thai vẫn phát triển bình thường gọi là kích kinh Đó là những hiện tượng sinh lý, không phải bện lý.
- Kinh nguyệt do huyết mà chuyển thành, huyết liên quan tới ngũ tạng Tỳ là gốc của hậu thiên, là nguồn sinh hóa ra huyết, đồng thời cũng nhiếp huyết, không cho huyết
đi sai đường Huyết cũng do tinh sinh ra, mà tinh được tàng ở Thận Huyết lại chịu sự chi phối của Tâm, do Tâm chủ huyết mạch Đồng thời Can tàng huyết, chủ về sự điều đạt, điều tiết huyết dịch Phế lại chủ khí, mà khí lại là soái của huyết, huyết nhờ có khí mà mới lưu hành được Do đó, có thể nói ngũ tạng đều có ít nhiều liên quan tới huyết qua đó liên quan tới kinh nguyệt Ví như Tỳ hư mà kinh nguyệt ít và nhạt màu
do huyết thiếu, hoặc sinh chứng rong kinh do không nhiếp được huyết
Trang 3- Như vậy, kinh nguyệt sinh có do Thận khí thịnh, thiên quý đến, nhưng chịu sự chi phối trực tiếp của ngũ tạng, mạch Xung, mạch Nhâm và bào cung
5 – Thai sản:
- Khi sự phát dục trưởng thành, kinh nguyệt mỗi tháng đến tức là khi đó người đàn bà
có thể mang thai được
- Cơ quan chứa đựng thai nhi là bào cung, và việc chứa đựng và nuôi dưỡng thai nhi
do hai mạch Xung Nhâm Xung chủ về huyết hải, Nhâm chủ về bào thai
- Do đó mà trong thời kỳ mang thai người phụ nữ không có kinh vì khi này huyết đổ dồn vào 2 mạch Xung Nhâm tới Bào cung để nuôi dưỡng thai nhi
- Trong thời kỳ mang thai, nếu thai khí nghịch ảnh hưởng tới tới Tỳ Vị gây Vị khí nghịch nên thai phụ có hiện tượng buồn nôn, ăn uống khác thường
- Sản là hiện tượng sinh lý bình thường Vì vậy người phụ nữ không nên bối rối quá mức Cổ nhân có 6 chữ khẩu quyết trong lúc lâm bồn dành cho người phụ nữ là
“thụy, nhẫn, thống, mạn, lâm bồn”, thụy tức là trước khi để nên ngủ nghỉ ngơi để có sức; nhẫn là nên nhẫn lại, không nên thúc dục cưỡng bách; thống tức là muốn nói phải cố chịu đau và không nên rặn bậy bạ vô ích làm mất khí, tới lúc lâm bồn không còn sức; mạn là chậm, tức là không nên vội vàng lâm bồn, đợi khi đứa con xuống lâm bồn
- Kinh và sữa đều có nguồn gốc từ thức ăn, từ tinh hoa của thức ăn hóa thành, khi có thai huyết tới nuôi dưỡng thai mà kinh nguyệt không ra, tới khi sau đẻ cho con bú thì tinh hoa thức ăn chuyển thành sữa nên cũng không có kinh nguyệt
- Phụ nữ khi sinh mất huyết, mất khí nhiều làm khí huyết hao tổn nên sau sinh cơ thể thường hư nhược
Câu 2: ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ SẢN PHỤ KHOA THEO YHCT
1- Nguyên nhân gây bệnh ở nữ giới:
- Nội nhân: Thất tình là nguyên nhân ảnh hưởng tới người nữ giới làm mất cân bằng
về âm dương, khí huyết, tạng phủ mà gây bệnh Người phụ nữ đặc biệt là người phụ
nữ á đông có đặc điểm là nhường nhịn, kìm nén, do đó khí thường uất, hơn nữa lại
Trang 4hay lo nghĩ, buồn phiền, do đó mà thường công năng của tạng Can và Tỳ hay bị ảnh hưởng từ đó mà sinh bệnh
- Ngoại nhân: Lục dâm là sáu thứ khí phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa, trong đó hàn, thấp, nhiệt là nguyên nhân gây bệnh phụ khoa nhiều nhất
- Bất nội ngoại nhân: Do ăn uống không điều độ, đàm ẩm, ứ huyết, lao động quá sức
là những nguyên nhân bất nội ngoại nhân giống ở nam giới, bên cạnh đó còn do tình dục quá độ, lấy chồng sớm, nạo hút, chửa đẻ nhiều, sẩy thai làm ảnh hưởng tới bào cung mà sinh bệnh, và do mất vệ sinh vùng sinh dục cũng gây bệnh,…
2 – Cơ chế sinh bệnh:
*Khí huyết không đều hòa:
- Người phụ nữ lấy huyết làm gốc, kinh nguyệt, thai sản, nuôi con đều có quan hệ mật thiết với huyết, đều là nguyên nhân gây mất huyết, đặc biệt là kinh nguyệt Do đó người phụ nữ luôn trong tình trạng huyết thường không đủ, còn khí thì thừa, khí huyết không điều hòa
- Khí lại là soái của huyết, khí hành thì huyết hành, khí ngưng thì huyết trệ, khí nhiệt thì huyueets nhiệt, khí thăng thì huyết nghịch, khí hạ thì huyết hạ Do đó mà bất cứ nguyên nhân nào làm khí huyết không điều hòa đều có thể gây bệnh
*Chức năng tạng phủ không bình thường:
- Phụ nữ lấy huyết làm gốc, huyết bởi vậy các nguyên nhân gây tổn thương tới các tạng thì đều gây ra bệnh lý ở phụ nữ, bởi ngũ tạng đều có liên quan tới huyết, Tâm chủ huyết mạch; Tỳ sinh huyết và nhiếp huyết; Can tàng huyết, Phế chầu bách mạch, vận hành khí huyết; Thận tàng tinh, tinh là nguồn sinh hóa huyết
- Ở phụ nữ, nguyên nhân gây tình trạng rối loạn chức năng của tạng phủ thường do tình chí uất ức, lao tâm quá độ, làm việc quá nặng nhọc, ăn uống không điều độ; bởi khi tình chí uất ức làm Can khí tổn thương gây Can khí uất kết, làm cho khí trệ, gây thống kinh, bế kinh, kinh nguyệt không định kỳ; Lao tâm quá độ làm tổn thương tâm huyết, huyết hư sẽ gây kinh nguyệt không đều sau kỳ, bế kinh, thai động thai lậu; hoặc do suy nghĩ quá nhiều, lao động quá nặng nhọc, ăn uống không điều độ làm Tỳ
Trang 5hư, Tỳ hư không sinh được huyết, và không nhiếp huyết được gây rong kinh, thai lậu,
ác trở
*Hai mạch Xung Nhâm bị tổn thương:
- Phụ nữ khác với nam giới là có thêm chức năng kinh nguyệt, thai sản, bú mớm Mà mạch Xung là bể của huyết, mạch Nhâm là chủ bào cung Bởi vậy các nguyên nhân làm tổn thương tới hai mạch Xung Nhâm sẽ gây ra bệnh ở phụ nữ về kinh nguyệt, thai sản, sự tiết sữa,…
- Các nguyên nhân làm tổn thương Xung Nhâm thường là phòng dục quá độ, chửa đẻ nhiều, nạo thai quá dày hoặc nhiều,… hoặc cũng có thể do tổn thương công năng cảu tạng phủ làm ảnh hưởng tới hai mạch Xung Nhâm nhất là tạng Thận và Can
Câu 3: TRÌNH BÀY NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ BỆNH SẢN PHỤ KHOA THEO YHCT
1 Nguyên tắc chung:
- Điều trị bệnh phụ khoa cũng như các khoa khác là “Trị bệnh cầu bản”, tức là chữa bệnh phải tìm tới gốc bệnh mà trị Song cũng cần xem xét sự hoãn cấp của bệnh mà trị liệu gốc ngọn cho phù hợp
- Bên cạnh đó do phụ nữ có các đặc điểm về sinh lý và bệnh lý riêng như: phụ nữ đa khí thiểu huyết, tính hay chịu đựng, dễ cảm động làm tổn thương tới Can khí… cho nên cũng cần có các phương pháp điều trị riêng biệt
- Nói tóm lại trong phép điều trị bệnh sản phụ khoa theo YHCT cần chú ý:
*Điều hòa khí huyết: Bởi phụ nữ lấy huyết là chủ, thường khí huyết rối loạn do các
nguyên nhân mà sinh chứng bệnh về kinh nguyệt và thai sản Do đó, chữa bệnh sản phụ khoa theo YHCT trước tiên cần lấy điều hòa khí huyết làm chủ
*Hòa Tỳ Vị: Bởi Tỳ Vị là gốc của hậu thiên, là nguồn sinh hóa khí huyết của toàn
thân Huyết có đủ thì kinh nguyệt mới không rối loạn, Thai mới được nuôi dưỡng đầy
đủ Nên khi chữa bệnh phụ nữ cần chú ý tới công năng của Tỳ Vị
*Sơ Can khí: Phụ nữ đa phần tính tình nhường nhịn, chịu đựng, bụng để trong lòng,
do đó mà thường mà ảnh hưởng tới sự sơ tiết của Can, thường làm Can khí uất kết
Trang 6Khí uất trệ thì huyết cũng không lưu thông được, thêm vào đó khí uất lại hóa hỏa, mà hỏa thì âm huyết càng bị tổn thương, bởi vậy cho nên trong phép chữa thường có sơ Can khí
*Dưỡng Can Thận: Can Thận một chứa huyết, một chứa tinh, kinh mạch lại liên
quan chặt chẽ với Xung, Nhâm, hai mạch có quan hệ khăng khít với Kinh nguyệt của phụ nữ, cũng như thai sản Can tàng huyết, Thận lại tàng tinh là nguồn sinh hóa huyết, kết hợp với Thận khí là điều kiện để có kinh nguyệt, và để dưỡng thai nhi khi
có thai Do đó khi Can Thận bị tổn thương cũng đồng nghĩa với Xung Nhâm, khí huyết bị rối loạn, từ đó mà sinh bệnh sản phụ khoa Nên trị bệnh sản phụ khoa theo YHCT cần dưỡng Can Thận
2 Nguyên tắc điều trị các chứng bệnh sản phụ khoa:
* Bệnh kinh nguyệt:
- Trong điều trị bệnh kinh nguyệt trước tiên cần phân biệt có mắc thêm bệnh khác không, và cần xác định nếu là do bệnh kinh nguyệt mà sinh bệnh đó thì cần điều trị bệnh kinh nguyệt thì tắc bệnh kia cũng tự khỏi, hoặc nếu là do bệnh đó mà gây ra rối loạn kinh nguyệt thì cần điều trị bệnh đó thì kinh nguyệt tự khắc hết rối loạn, đây cũng là dựa theo nguyên tắc trị bệnh tìm tới gốc mà chữa
- Trong điều hòa kinh nguyệt cần chú ý lý khí, bởi khí là soái của huyết, nên khí hành thì huyết hành, khí uất thì huyết trệ Lý khí thường là lý khí khai uất là chính, song cũng không nên dùng quá nhiều thuốc phương hương mà làm hao khí và ráo huyết Cũng cần chú ý thêm dưỡng huyết, tư âm
- Cần chú ý tới Tỳ vị, vì Tỳ vị không những là gốc của hậu thiên, nguồn hóa sinh ra khí huyết mà còn có công năng cố nhiếp huyết dịch Tỳ Vị có mạnh thì huyết mới sinh, Xung Nhâm mới đầy đủ mà kinh nguyệt mới không rối loạn, Tỳ khí có mạnh thì huyết mới được cố nhiếp mà không thoát ra khỏi mạch và không sinh các chứng băng lậu
- Cuối cùng cần chú ý tới Thận, bởi Thận là gốc của tiên thiên, Thận khí có thịnh thì mới thúc đẩy thiên quý ra đúng kỳ, kinh nguyệt mới không rối loạn
*Bệnh đới hạ:
Trang 7- Bệnh đới hạ rất hay gặp ở phụ nữ, và cổ nhân có câu “mười đới thì chín hư”, hư ở đây thường là Tỳ hư không vận hóa được thấp, khiến thấp dồn xuống mà sinh chứng đới hạ, da vậy trong điều trị cần kiện Tỳ trừ thấp là chính
- Cũng cần sơ Can khí vì Can khí uất làm thấp nhiệt càng uất trệ
- Nếu khí hư nhiều sinh đới hạ thì phải bổ khí thăng đề, nếu bệnh lâu ngày cần phải
cố sáp
- Trong dùng thuốc thanh nhiệt táo thấp quá nhiều để điều trị vì thuốc quá ráo dễ gây hao tổn tân dịch, thương âm; cũng không nân có sáp quá nhiều dễ gây thấp ứ trệ
- Trong điều trị chứng đới hạ nên cấm cử giao hợp để cho bộ phận sinh dục luôn được sạch sẽ
*Điều trị bệnh thai sản:
- Trong thời kỳ mang thai, huyết tập chung nuôi dưỡng cho thai nhi, nếu huyết không đầy đủ dễ gây thương âm, sinh nội nhiệt, dễ gây động thai lậu huyết
- Trong điều trị bệnh thai sản cần xác định bệnh là do mẹ hay do thai nhi, nếu do bệnh của mẹ mà gây
- Chọn thuốc trong điều trị cần chú ý tránh dùng các thuốc có hại cho thai nhi
- Cũng nên khuyên thai phụ kiêng ăn các thức ăn cay nóng, giữ cho tinh thần thoải mái, vui vẻ, lạc quan, nên đi tập luyện nhẹ nhàng để lúc lâm bồn dễ dàng
*Điều trị bệnh hậu sản:
- Phụ nữ khi sinh mất huyết, mất khí nhiều làm khí huyết hao tổn nên sau sinh cơ thể thường hư nhược nên sau sinh phụ nữ cần được tránh lạnh, tránh gió, để tránh bị phong hàn xâm nhập, và cần được nghỉ ngơi và bồi bổ
- Cũng cần chú ý tới huyết hôi sau sinh, nếu huyết hôi sau sinh ra không hết có thể gây ra chứng băng huyết, huyết hôi ra không dứt
- Sau đẻ khí huyết hư nhược gây âm hư huyết táo, khí hư không thông giáng đại tiện được nên dễ gây đại tiện táo
- Bởi vậy sau đẻ cần bổ huyết dưỡng âm, ích khí Cũng cần tránh các thuốc có tính hao tán bởi khí, huyết vốn đã hư sau đẻ
Trang 8- Trong điều trị hậu sản cần nhớ 3 điều: khong nên hàn, không nên hạ, không nên lợi tiểu quá nhiều