Do đó các nhà khoa học, các trung tâm giống cây trồng chọn tạo ra được một số giống lạc mới, triển vọng và có thể phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, tập quán canh tác sản xuất tạ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
=== ===
NGUYỄN KIỀU TRANG
ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ CỦA MỘT SỐ GIỐNG LẠC MỚI TẠI VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
=== ===
NGUYỄN KIỀU TRANG
ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ CỦA MỘT SỐ GIỐNG LẠC MỚI TẠI VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 60.42.01.14
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Nguyễn Văn Đính
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 3tôi xin được đặc biệt bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy: PGS.TS Nguyễn Văn Đính, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô giáo khoa Sau Đại học và khoa Sinh học - KTNN - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
đã giành nhiều thời gian, công sức giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin cảm trại sản xuất giống cây trồng Mai Nham, đặc biệt là gia đình
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này
Vĩnh Phúc, ngày tháng năm
Tác giả luận văn
Nguyễn Kiều Trang
Trang 4kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Vĩnh Phúc, ngày tháng năm
Tác giả luận văn
Nguyễn Kiều Trang
Trang 51 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa của đề tài 3
PHẦN 2 NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Nguồn gốc và đặc điểm nông sinh học của cây lạc 4
1.2 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và Việt Nam 5
1.2.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới 5
1.2.2 Tình hình sản xuất lạc tại Việt Nam 6
1.2.3 Tình hình sản xuất lạc tại Vĩnh Phúc 7
1.3 Các kết quả nghiên cứu về đặc điểm nông sinh học của cây trồng 9
1.3.1 Các kết quả nghiên cứu về đặc điểm nông sinh học của cây trồng 9 1.3.2 Các kết quả nghiên cứu về đặc điểm nông sinh học của cây lạc 10 CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Đối tượng nghiên cứu 14
2.2 Nội dung và phạm vi nghiên cứu 15
2.3 Phương pháp nghiên cứu 16
2.3.1 Bố trí thí nghiệm 16
2.3.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu [2]: 17
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu thí nghiệm 21
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
3.1 Thời gian sinh trưởng của lạc 22
3.2 Một số đặc điểm sinh trưởng của các giống lạc thí nghiệm 24
Trang 63.3 Các yếu tố cấu thành năng suất 28
3.3.1 Số quả/cây và số quả chắc/cây của các giống lạc thí nghiệm 28
3.3.2 Khối lượng 100 quả và 100 hạt của các giống lạc thí nghiệm 31
3.3.3 Năng suất thực thu của các các giống lạc thí nghiệm 34
3.4 Các chỉ tiêu chất lƣợng 37
3.4.1 Tỷ lệ quả 1 hạt, 3 hạt và độ đồng đều quả của các giống lạc thí nghiệm 37
3.4.2 Hàm lƣợng protein, lipit trong hạt các giống lạc thí nghiệm 38
3.5 Khả năng nhiễm bệnh của các giống lạc khảo nghiệm 40
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42
1 KẾT LUẬN 42
2 KIẾN NGHỊ 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
PHỤ LỤC 50
Trang 7KHKTNN: Khoa học kỹ thuật nông nghiệp
Trang 8Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc tỉnh Vĩnh Phúc 8
Bảng 2.1 Đối tượng nghiên cứu 14
Bảng 2.2 Các chỉ tiêu nghiên cứu [2] 15
Bảng 3.1 Thời gian sinh trưởng của các giống lạc thí nghiệm 22
Bảng 3.2 Chiều cao và số cành cấp 1 của các giống lạc thí nghiệm 25
Bảng 3.3 Đặc điểm dạng cây, màu hạt của các giống lạc thí nghiệm 27
Bảng 3.4 Số quả/cây và số quả chắc/cây của các giống lạc thí nghiệm 28
Bảng 3.5 Khối lượng 100 quả và 100 hạt của các giống lạc thí nghiệm 31
Bảng 3.6 Năng suất thực thu của các các giống lạc thí nghiệm 34
Bảng 3.7 Tỷ lệ quả 1 hạt, 3 hạt và độ đồng đều quả của các giống lạc thí nghiệm 37
Bảng 3.8 Hàm lượng protein, lipit trong hạt các giống lạc thí nghiệm 39
Bảng 3.9 Khả năng kháng một số bệnh của các giống lạc thí nghiệm 41
Trang 9
Hình 3.1: chiều cao cây của các giống lạc thí nghiệm trong vụ xuân
và vụ đông 26 Hình 3.2: số quả/cây của các giống lạc thí nghiệm trong vụ xuân và
vụ đông 29 Hình 3.3: số quả chắc/cây của các giống lạc thí nghiệm trong vụ xuân và vụ đông 30 Hình 3.4: khối lƣợng 100 quả của các giống lạc thí nghiệm trong vụ xuân và vụ đông 32 Hình 3.5: khối lƣợng 100 hạt của các giống lạc thí nghiệm trong vụ xuân và vụ đông 33 Hình 3.6: năng suất thực thu của các giống lạc thí nghiệm trong vụ xuân và vụ đông 35 Hình 3.7: hàm lƣợng protein và lipit trong hạt các giống lạc thí nghiệm 40
Trang 10PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong các cây công nghiệp ngắn ngày đang được sản xuất ở Việt Nam thì cây lạc có một vị trí rất quan trọng Cây lạc, còn được gọi là đậu phộng
hay đậu phụng (tên khoa học là Arachis hypogaea), là một loài cây thực phẩm
thuộc họ Đậu có nguồn gốc tại Trung và Nam Mỹ Lạc là cây lấy lipit có giá
trị kinh tế cao, cây nguyên liệu quan trọng của công nghiệp chế biến
Ngoài ra, cây lạc còn là cây trồng có vai trò cải tạo đất nhờ các vi khuẩn nốt sần sống cộng sinh trên rễ Đồng thời cũng là cây có khả năng tạo tính đa dạng hóa cho sản xuất nông nghiệp bằng các hình thức trồng thuần, trồng xen canh, trồng nối vụ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp và che phủ bảo vệ đất chống xói mòn rửa trôi
Hạt lạc chứa từ 40% đến 50% chất béo, 24% đến 27% protein và nhiều khoáng chất Ca, Fe, Mg, P, K, Zn cùng với một lượng vitamin lớn, đặc biệt là vitamin B [20] Lipit của hạt lạc chủ yếu là axit béo chưa no (thành phần chủ yếu là axit béo Oleic, axit Linoleic) giúp cơ thể người hấp thụ và hạn chế Cholesteron trong máu Vì thế ngoài thức ăn giàu năng lượng, đủ protein người ta còn quan tâm đến tác dụng chữa bệnh của hạt lạc Ngoài tiêu dùng nội địa, sản phẩm của cây lạc còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao, mỗi năm Việt Nam xuất khẩu 100.000-135.000 tấn thu về 65-120 triệu USD [38]
Cây lạc được trồng phổ biến ở 115 nước trên thế giới với 25,6 triệu ha Ở Việt Nam, diện tích trồng lạc khoảng 216,3 nghìn ha (năm 2013), phân bố ở nhiều vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau nhưng chủ yếu ở đồng bằng Sông Hồng, trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền trung [28] Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam, sản lượng lạc năm
2013 của Việt Nam đã tăng 5% đạt 492 nghìn tấn Sự gia tăng này có được
Trang 11nhờ việc nâng cao năng suất, tăng 6,5% so với cùng kì năm trước đó mặc dù diện tích canh tác có giảm 1,4% so với năm 2012 Trong hơn 100 nước trồng lạc trên thế giới, Việt Nam đứng thứ 10 về diện tích và trong 25 nước trồng lạc ở Châu Á, Việt Nam đứng thứ 5 về diện tích gieo trồng sau Ấn Độ, Trung Quốc, Myanma, Indonesia [14]
Tuy nhiên, năng suất cây lạc ở Việt Nam còn thấp (ở Việt Nam năng suất bình quân 2,09 tấn/ha, Isarael 6,8 tấn/ha, Iran 3,5 tấn/ha, Mỹ 2,8 tấn/ha – năm 2008) [4] Chính vì vậy việc chọn ra các giống lạc có năng suất cao, thích nghi với các điều kiện sinh thái trên các vùng đất cụ thể để đưa vào sản xuất
là việc làm hết sức cần thiết
Tại Vĩnh Phúc hiện nay đang trồng một số giống lạc như giống L14 là giống nhập nội từ Trung Quốc được Viện KHKTNN Việt Nam đã tiến hành khảo nghiệm và chọn lọc từ năm 1996, được công nhận vào năm 2002 Giống lạc L18 do viện Khoa Học Nông nghiệp Việt Nam chọn tạo Giống sen lai (75/23) là giống lạc được công nhận giống Quốc gia năm 1990,…nhưng vẫn chưa cho năng suất thỏa mãn nhu cầu của người nông dân cũng như người tiêu dùng Do đó các nhà khoa học, các trung tâm giống cây trồng chọn tạo ra được một số giống lạc mới, triển vọng và có thể phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, tập quán canh tác sản xuất tại Vĩnh Phúc
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn đó, tôi chọn đề tài “Đánh giá đặc điểm sinh lý của một số giống lạc mới tại Vĩnh Phúc” nhằm chọn được một
giống lạc phù hợp để khuyến cáo sản xuất
2 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu một số đặc tính nông sinh học (hình thái; chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển; các yếu tố cấu thành năng suất; khả năng chống chịu với một số bệnh của 9 giống lạc mới
Trang 12- Xác định được giống có khả năng cho năng suất cao phù hợp với điều kiện tại Vĩnh Phúc nhằm khuyến cáo cho người sản xuất
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đánh giá một số đặc điểm nông sinh học của 9 giống lạc mới lấy giống L14 làm đối chứng dựa vào 15 chỉ tiêu sau:
5 Thời gian sinh trưởng 12 Độ đồng đều của hạt
6 Số quả/cây 13 Chỉ tiêu chất lượng (hàm lượng
protein, lipit)
7 Số quả chắc/cây 14 Mức độ nhiễm sâu bệnh
15 Năng suất của các giống
4 Ý nghĩa của đề tài
Vĩnh Phúc và các vùng sinh thái tương tự
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là nguồn tài liệu tham khảo cho người sản xuất lạc lựa chọn giống phù hợp với điều kiện sản xuất và là nguồn tài liệu bổ sung cho công tác giảng dạy về đặc điểm nông sinh học của các giống
lạc khác nhau
Trang 13PHẦN 2 NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Nguồn gốc và đặc điểm nông sinh học của cây lạc
Cây lạc có nguồn gốc Nam Mỹ nhưng hiện nay được phân bố rộng từ 400
vĩ độ Bắc đến 400
vĩ độ Nam Ngày nay, lạc được trồng ở hơn 100 nước trên thế giới Lạc đứng hàng thứ 2 sau cây đậu tương về diện tích và sản lượng trên thế giới
Cây lạc có mặt ở nước ta vào khoảng thế kỷ XVII-XVIII Theo Tổng cục thống kê năm 2009 [34], Việt Nam có chiều dài hơn 3000 km, trải dọc từ
8027’ đến 23023’ vĩ độ Bắc đây là vùng có các điều kiện khí hậu phù hợp với cây lạc Vì vây, cây lạc được trồng ở tất cả các vùng sinh thái nông nghiệp của cả nước
Cây lạc mọc từ hạt, sự phát triển của cây lạc chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố sinh thái như nhiệt độ, độ ẩm…Ở điều kiện nhiệt độ từ 250C đến 300
Rhizobium làm nhiệm vụ cố định đạm Vì vậy, việc trồng lạc vừa đem lại
nguồn kinh tế có giá trị vừa có tác dụng cải tạo đất [14]
Cây lạc bắt đầu có hoa khoảng từ 20 ngày đến 30 ngày sau khi nảy mầm Hoa lạc tự thụ phấn (thụ phấn chéo chỉ khoảng 1,0% - 3,9%) Hoa thường nở vào thời điểm có ánh sáng, khi thời tiết lạnh, ẩm ướt hoa có thể nở muộn hơn
Trang 14Trước khi hoa nở 7- 8 giờ, bao phấn nứt ra, nhụy chỉ tiếp nhận hạt phấn trước
24 giờ và sau 12 giờ khi hoa nở Khi thụ phấn được khoảng 6 giờ thì sự thụ tinh diễn ra hoàn toàn và sau khi thụ tinh, noãn phát triển xuyên qua hoa để lộ
ra tia củ dài, tia củ phát triển đâm xuống đất 2cm mới phát triển thành quả Nếu sự phát triển của tia củ đã dài tới 15cm mà không tiếp xúc được với đất
sẽ héo ngay Từ khi hoa lạc thụ tinh đến khi quả chín khoảng 60 ngày [14], [7]
Đối với cây lạc, sinh trưởng là một đặc điểm của kiểu gen mặc dù chịu ảnh hưởng rất lớn của mùa vụ và môi trường [7] Những ảnh hưởng rõ rệt của
sự thiếu nước đến cây lạc có thể dễ dàng quan sát như: thiếu nước làm giảm diện tích lá, thiếu nước làm cho cây có ngọn nhỏ hơn, cành và hoa ít hơn [7], [43] Ngoài ra, các yếu tố môi trường khác như: đất, mùa vụ, khí hậu, … cũng ảnh hưởng lớn tới năng suất và chất lượng của lạc
1.2 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới
Lạc là cây công nghiệp ngắn ngày, cây lấy lipit có giá trị kinh tế cao Cây lạc chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế thế giới không chỉ do được gieo trồng trên diện tích lớn ở hơn 100 nước, mà còn vì hạt lạc được sử dụng rất rộng rãi để làm thực phẩm và nguyên liệu cho công nghiệp [7]
Về diện tích: Diện tích trồng lạc toàn thế giới dao động từ 20,27 – 20,99
triệu ha/năm Trong đó, khoảng 90% diện tích trồng lạc tập trung ở lục địa Á Phi (ở Châu Á 60% và châu Phi 30%) Các nước có diện tích trồng lạc lớn là
Ấn Độ với diện tích trồng từ 5,91 – 6,30 triệu ha/năm, Trung Quốc với diện tích trồng từ 3,8 – 3,9 triệu ha/năm, Nigiêria có diện tích trồng từ 1,24 – 1,25 triệu ha/năm [45]
Về năng suất: Năng suất lạc trung bình của thế giới đạt từ 15,1 – 15,9
tạ/ha Nước có năng suất lạc cao nhất là Mỹ năng suất trung bình đạt 32,1 –
Trang 1535,7 tạ/ha, tiếp đến là Trung Quốc năng suất trung bình đạt 33,5 – 34,9 tạ/ha Nhìn chung, những nước có diện tích trồng lạc lớn lại có năng suất thấp và mức tăng năng suất không đáng kể trong thời gian qua Một số nước sản xuất lạc chính có mức tăng năng suất không nhiều Ấn Độ chỉ tăng 13%, Xênêgan, Trung Quốc năng suất hầu như không tăng Tình trạng chênh lệch năng suất giữa các nước rất đáng kể Trong khi năng suất lạc của Ixraen trong 20 năm vẫn luôn ổn định ở mức trên dưới 35 tạ/ha (trên diện tích nhỏ đạt tới 65tạ/ha) thì nhiều nước ở châu Phi và châu Á chỉ đạt năng suất 5 – 6 tạ/ha [7]
Về sản lƣợng: Trên 60% sản lượng lạc thuộc về 5 nước sản xuất lạc
chính, gồm: Trung Quốc chiếm khoảng 18,58%, Ấn Độ 30,01%, Mỹ 2,90%,Nigiêria 5,96%, Inđônêxia 3,57 % Các nước sản xuất lạc còn lại chỉ chiếm dưới 40% sản lượng lạc của toàn thế giới [45]
1.2.2 Tình hình sản xuất lạc tại Việt Nam
Trước đây Việt Nam còn thiếu về lương thực nên trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu tập trung vào sản xuất lương thực, vì thế cây lạc chưa được quan tâm chú trọng đúng, năng suất, sản lượng lạc thấp Những năm gần đây
do có sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng và sản xuất hàng hóa đã góp phần thúc đẩy tăng về diện tích, năng suất và sản lượng lạc Lạc là cây thực phẩm ngắn ngày có giá trị dinh dưỡng cao được dùng làm thực phẩm cho con người, là thức ăn chăn nuôi, đồng thời là cây cải tạo đất, là mặt hàng nông sản xuất khẩu đem lại lợi nhuận cao Vì vậy, cây lạc là một trong 10 chương trình ưu tiên phát triển của nước ta
Tỉnh có sản lượng lạc cao nhất là Tây Ninh (73.900 tấn) tiếp đến là Nghệ
An (52.100 tấn), Hà Tĩnh (44.600 tấn), Thanh Hoá (28.800 tấn)
Theo Đường Hồng Dật (2007) [8], những năm 1960 diện tích lạc miền Bắc là 41400 ha và năng suất lạc đạt 9,4 tạ/ha; các tỉnh phía Nam 28440 ha,
Trang 16năng suất 8,61 ta/ha Nhưng đến năm 1974 diện tích lạc miền Bắc là 37260
ha, năng suất đạt 8,59 tạ/ha, miền Nam là 39200 ha với năng suất 11,30 tạ/ha Những năm gần đây, nhà nước ta có chủ trương phát triển mạnh cây lạc, cho nên diện tích trồng lạc tăng lên đáng kể Năm 2008, diện tích trồng lạc của cả nước đạt 256000 ha, Năng suất lạc cũng tăng nhiều đạt 20,09 tạ/ha, với sản lượng đạt 533800 tấn
Cho đến nay, diện tích trồng lạc ở nước ta vẫn khá phân tán, diện tích manh mún, rải rác ở các hộ, cho nên sản lượng lạc không có điều kiện tập trung thành khối lượng hàng hoá lớn, chất lượng không đồng đều Ở một số địa phương đã hình thành một vài vùng trồng lạc tập trung như Diễn châu (Nghệ An), Hậu Lộc (Thanh Hoá), Hiệp Hoà, Lục Nam (Bắc Giang) Trong
cả nước chỉ có khoảng 5 - 6 tỉnh có diện tích trồng lạc trên 10.000 ha
Trong thời gian tới, lạc vẫn chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu cây trồng nước ta, đem lại hiệu quả kinh tế cao và có nhiều giá trị đa dạng Để nâng cao hiệu quả kinh tế cây lạc, phải tạo ra vùng sản xuất tập trung để nâng cao tỉ lệ lạc thương phẩm và phấn đấu nâng cao năng suất Cùng với việc hợp tác quốc tế, công tác nghiên cứu chọn tạo giống cần được chú trọng để làm tăng và ổn định năng suất lạc
1.2.3 Tình hình sản xuất lạc tại Vĩnh Phúc
Là một tỉnh đồng bằng ở đỉnh tam giác châu thổ đồng bằng Bắc Bộ nhưng Vĩnh Phúc lại có đầy đủ 3 vùng địa hình là: Đồng bằng, trung du và miền núi Diện tích đất canh tác toàn tỉnh là 53978,51 ha, bằng 57,83% diện tích đất tự nhiên Trong đó, diện tích các loại đất được xếp vào loại có vấn đề (gồm các loại đất: Đất cát, đất loang lổ chua bạc màu, đất xám bạc màu) 15722,8 ha, bằng 29,13% Các nhóm đất này có đặc điểm chung là: Đất có thành phần cơ giới nhẹ; đất chua; chất hữu cơ, đạm, lân tổng số từ nghèo đến
Trang 17trung bình; lân dễ tiêu, kali tổng số và kali dễ tiêu nghèo; tổng Ca và Mg trao đổi rất thấp; dung tích hấp thu thấp [14]
Hiện nay, trong cơ cấu cây trồng của tỉnh thì cây lạc vẫn đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá, đặc biệt là với các địa phương vùng trung du và miền núi, nhờ vậy diện tích, năng suất, sản lượng lạc của tỉnh vẫn tiếp tục tăng trong những năm gần đây [6]
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lƣợng lạc tỉnh Vĩnh Phúc
(giai đoạn 2008 - 2014)
Năm Diện tích
(nghìn ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
Năng suất lạc ở Vĩnh Phúc (tạ/ha)
Năng suất lạc trung bình cả nước (tạ/ha)
Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh có diện tích trồng lạc lớn của vùng
Đồng bằng Sông Hồng Theo số liệu thống kê từ năm 2008 đến 2014, diện tích tích trồng lạc toàn tỉnh từ 3,2 đến 4,6 nghìn ha Sản lượng đạt từ 5,9 đến 8,2 nghìn tấn Năng suất trung bình từ 16,8 tạ/ha đến 18,6 tạ/ha So với năng suất trung bình của cả nước (từ 20,8 tạ/ha đến 22,7 tạ/ha) thì năng suất lạc ở Vĩnh Phúc còn thấp Nguyên nhân chính là do chưa có bộ giống tốt và trình
độ thâm cành của người dân còn hạn chế [5]
Trang 181.3 Các kết quả nghiên cứu về đặc điểm nông sinh học của cây trồng
1.3.1 Các kết quả nghiên cứu về đặc điểm nông sinh học của cây trồng
Nhằm tìm ra các giống cây trồng mới có khả năng thích nghi tốt với điều kiện môi trường từng vùng nói chung và có cho năng suất cũng như chất lượng hiệu quả để khuyến khích trồng trên diện tích rộng thì hiện nay các nhà khoa học và các nhà chọn tạo giống không ngừng nghiên cứu để chọn tạo ra được những giống loài phù hợp
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hồng Minh và CS (2013) [17] với mục đích xác định các giống cà chua có khả năng chống chịu nóng, thích hợp trồng trên nhiều vùng đất, có thời gian sinh trưởng ngắn, chất lượng cao, khắc phục được một số nhược điểm của các giống nhập nội (chất lượng chưa cao, thời gian sinh trưởng dài,…) đã xác định các giống cà chua thích hợp để trồng ở các tỉnh miền Bắc vụ thu đông là T10, T12, T18, T19 và vụ xuân hè là T12, T16, T19, T26
Nguyễn Thị Phương và CS (2015) [23] đã tiến hành khảo nghiệm, đánh giá khả năng sinh trưởng và một số đặc điểm nông sinh học của 4 giống thanh long ruột đỏ và 1 giống thanh long ruột trắng trồng tại miền Bắc Việt Nam cho thấy các giống đều có tỷ lệ bật chồi cao, khả năng sinh trưởng tốt ở năm đầu tiên và đã chọn ra được 4 giống TL4, LĐ1, Đ-ĐL, T-TQ đều có tỉ lệ sống đạt 100%
Phạm Thị Ngọc và CS (2014) [21] khi đánh giá đặc điểm nông sinh học của các mẫu giống đậu cô ve nhập nội từ Mỹ trong hai vụ Xuân Hè và vụ Đông năm 2012 tại Gia Lâm, Hà Nội cho thấy: Các mẫu giống đều có thời gian sinh trưởng ngắn ngày phù hợp với công thức luân canh 3 vụ ở đồng bằng sông Hồng Có 4 mẫu giống có khả năng chịu nóng là CV44, CV54, CV59 và CV79 Một số mẫu giống có năng suất cao ở vụ Đông là CV56, CV65, CV67
Trang 19Nhằm tìm ra một số giống lúa chất lượng, khuyến cáo đưa vào sản xuất trên đất phù sa có tầng đỏ vàng tại cánh đồng Mường Thanh huyện Điện Biên, các nhà chọn tạo giống đã tìm ra giống HT6 cho năng suất cao, sức chống chịu sâu bệnh tốt, khả năng chống đổ tốt, hiệu quả kinh tế cao, có hàm lượng amylose thấp, độ bền gel lớn, đặc biệt chất lượng cơm tốt, có mùi thơm đặc trưng, ăn rất ngon và cơm có vị đậm (Hoàng Công Mệnh và CS (2013) [16])
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hữu Thọ [27] về đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống bưởi Diễn tại Thái Nguyên cho thấy: Giống bưởi diễn có khả năng sinh trưởng tốt tại vùng sinh thái Thái Nguyên, để điều chỉnh thời gian ra hoa cho giống bưởi Diễn vào tháng 11 hàng năm người ta áp dụng một số biện pháp kỹ thuật như khoanh vỏ, thụ phấn bổ sung hoặc trồng bổ sung giống bưởi khác trong vườn, ngoài ra phun
bổ sung GA3 ở nồng độ 50ppm ở thời điểm trước ra hoa, hoa nở rộ, sau khi hoa nở rộ và rụng quả sinh lý lần một sẽ cho tỷ lệ đậu quả cao nhất
Các kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Đính và CS từ năm 2003 đến
2004 [9], [10], [11], [12] trên các giống khoai tây trồng trên nên đất Vĩnh Phúc cho thấy: Trong 12 giống khoai tây nghiên cứu thì giống KT3 có khả năng sinh trưởng, trao đổi nước và quang hợp tốt nhất vì vậy giống KT3 cũng cho năng suất thực thu cao nhất
1.3.2 Các kết quả nghiên cứu về đặc điểm nông sinh học của cây lạc
Để khắc phục các yếu tố hạn chế, nhằm nâng cao năng suất, sản lượng lạc trên thế giới trong những thập kỷ qua, nhiều công trình nghiên cứu về đặc điểm nông sinh học cũng như chọn tạo các giống mới và các biện pháp kỹ thuật trồng lạc đã được thực hiện và đạt được kết quả tốt
Các giống lạc đã được nhiều nước và các tổ chức quốc tế thu thập, bảo tồn nguồn gen và để đánh giá năng suất chất lượng giống, qua đó chọn tạo ra
Trang 20được các giống mới có khả năng kháng được sâu bệnh và cho năng suất cao như: Ở Mỹ thu thập được 29.000 lượt mẫu giống (Banks, 1976) [32], Australia đã thu thập được 6.290 lượt giống (Arora R K., 1989) [31] ICRISAT là cơ sở nghiên cứu lớn nhất về cây lạc, tại đây các nhà khoa học đã thu thập được 13.915 lượt mẫu giống lạc từ 89 nước khác nhau trên thế giới đồng thời thu thập được 301 lượt mẫu giống lạc thuộc 35 loài dại của chi Arachis, đây là nguồn gen có giá trị trong công tác cải tiến giống theo hướng chống bệnh và chịu được môi trường đất bất lợi Cùng với thu thập đánh giá các giống lạc ICRISAT đã cung cấp 107.710 lượt mẫu giống lạc cho nhiều nước để làm nguyên liệu nghiên cứu chọn tạo giống mới (Mengesha,1993) [37] Nhờ vậy mà ICRISAT đã chọn tạo ra được nhiều giống mới có năng suất cao như: ICGV-SM 83005 [40], ICGV 89214, ICGV 91098, ICGV
88438, [36]; các giống lạc chín sớm ICGV 86015 [41], ICGV 86062, ICGS (E) [30] Nhờ nguồn vật liệu của ICRISAT, các nước đã tuyển chọn được các giống lạc phù hợp với điều kiện khí hậu của nước mình kháng được sâu bệnh hại cho năng suất cao như: Ấn Độ đã tạo được giống lạc ICGV 86014 (Sudhakar, 1995) [42], ICGV 86143 cho năng suất đạt 20 tạ/ha, khối lượng
100 hạt đạt 56g, hàm lượng lipit đạt 469g/kg hạt, protêin đạt 250g/kg hạt (Upadhyaya và cộng sự, 1997) [44] Theo Duan Shufen (1998) [33] tính đến năm 1991 Trung Quốc đã tạo ra được hơn 200 giống lạc có năng suất cao, trong đó có 50 giống được trồng phổ biến như giống Fushuasheng và Baisha
106 là hai giống chín sớm có năng suất cao đạt 10,33 tạ/ha…
Mỹ là nước luôn không ngừng cải tiến kỹ thuật, cơ cấu giống và đã tạo ra được nhiều giống có năng suất cao phẩm chất tốt, kháng được sâu bệnh như giống Florigant năng suất trung bình đạt 56,0 - 88,0 tạ/ha (Florkowski W J.,1994) [35]
Trang 21Ngoài ra các nước nước có trồng lạc cũng đã tạo ra được nhiều giống lạc
có năng suất cao như Hàn Quốc chọn tạo được giống lạc ICGS35 có năng suất trung bình là 56,0 tạ/ha (Nig và cs 1994) [39] Pakistan đã chọn được giống lạc thuộc nhóm chín sớm và có khả năng thích ứng tốt như BG1, BG2, BG3
Tiến hành thí nghiệm với 10 giống lạc địa phương trong vụ xuân năm
2009 tại Gia Lâm Hà Nội Kết quả thu được khá khả quan với: giống Bắc Ninh, Trốc Sư thích hợp làm vật liệu khởi đầu trong tạo giống chống bệnh và chọn giống có hàm lượng protein cao, giống Ninh Bình có hàm lượng đường cao thích hợp làm món ăn trực tiếp trong bữa ăn hằng ngày hoặc quà điểm tâm [25]
Nguyễn Thị Thanh Hải và CS (2011) [13] đã tiến hành đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của 6 giống lạc nhập nội và 3 dòng lạc lai được trồng trong vụ xuân và vụ thu từ năm 2008-2010 trên đất Gia Lâm - Hà Nội cho thấy: Các giống thí nghiệm sinh trưởng, phát triển tốt, các chỉ tiêu sinh lý đạt cao, khối lượng chất khô tích lũy lớn, nhiễm nhẹ các loại sâu bệnh Trong đó, ba giống S12, TB25, L08 là những giống có năng suất ổn định và cao nhất
Lê Văn Trọng và CS (2016) [29] đã nghiên một số chỉ tiêu sinh lí của một
số giống lạc năng suất cao và thấp trồng tại Triệu Sơn Thanh Hóa cho thấy: Nhóm giống lạc có năng suất cao: L26 (3,67 tấn/ha, giống TB25: 3,50 tấn/ha) Tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang đã tiến hành thí nghiệm bón phân liều lượng hợp lí và chọn ra được giống lạc L20 có năng suất thực thu cao nhất so với các dòng cùng khảo nghiệm (46,66 tạ/ha) [18] Giống 4329 được chọn tạo
từ xử lý đột biến gen trên giống Hoa17 bằng tia 5000r, chín trung bình, có năng suất trung bình 25 tạ/ha, khối lượng 100 hạt 50 – 55g, tỉ lệ nhân đạt 70 – 72%, thích hợp cho vùng đồng bằng, trung du Bắc bộ (Trần Đình Long, 2005) [19]
Trang 22Theo Nguyễn Thị Chính (2006) [3] Giống MD7 có khối lượng 100 hạt đạt 60 - 65 g, tỉ lệ nhân đạt 70 - 75%, có tính thích ứng rộng được trồng phổ biến ở nhiều vùng sinh thái của Việt Nam
Các kết quả nghiên cứu của Trần Đình Long và CS (2005) [19] cho thấy giống lạc VD1 chín sớm năng suất cao, kháng được nhiều sâu bệnh thích hợp cho các tỉnh phía Nam
Dương Thế Phùng, Dương Thị Thanh Hà (2006) [22] kết quả khảo nghiệm một số giống lạc mới trong vụ xuân tại huyện Phú Bình, Thái Nguyên, từ kết quả thí nghiệm các tác giả đã tìm ra được hai giống lạc là L14
và LVT có năng suất cao phù hợp với điều kiện khí hậu và đất đại của huyện Phú Bình và được nhiều bà con nông dân lựa chọn với năng suất cao nhất là 17,55tạ/ha
Lê Văn Quang, Nguyễn Thị Lan (2007) [24] xác định liều lượng lân, kali bón cho lạc xuân trên đất cát huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh, theo tác giả trên đất cát huyện Nghi Xuân bón 10 tấn phân chuồng + 30 kg N và 800 kg vôi bột/ha cho lạc Sen lai vụ xuân thì mức bón có lãi nhất là 90 kg P2O5 + 60 kg
K2O/ha Năng suất lạc có thể đạt từ 23,02 - 24,92 tạ/ha
Vũ Ngọc Thắng, Vũ Đình Chính (2007) [26] ảnh hưởng của một số vật liệu che phủ đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lạc L14 trong điều kiện vụ thu trên đất Gia Lâm - Hà Nội, theo tác giả những công thức che phủ nilon có tổng số quả đạt cao nhất so với che phủ bằng trấu và thấp nhất là không che phủ
Trang 23CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
* Đối tượng thực vật
Trong đề tài chúng tôi tiến hành nghiên cứu 9 giống lạc mới và 1 giống đối chứng được thể hiện ở bảng 2.1
Bảng 2.1 Đối tượng nghiên cứu
2 SVL1 Công ty TNHHMTV giống cây trồng Quảng Bình
3 L28 Trung tâm nghiên cứu và phát triển đậu đỗ
4 L29 Trung tâm nghiên cứu và phát triển đậu đỗ
9 LCM1 Trung tâm nghiên cứu và phát triển đậu đỗ
10 LCM2 Trung tâm nghiên cứu và phát triển đậu đỗ
- Giống L14 (đối chứng) Do Trung tâm Nghiên cứu đậu đỗ - Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam chọn tạo được công nhận giống năm 2002 Có thể gieo trồng ở cả 2 vụ: vụ xuân và vụ thu đông
+ Thời gian sinh trưởng từ 120 – 125 ngày ở vụ xuân, 105 – 110 ngày trong vụ thu đông
+ Thân đứng không màu, góc phân cành hẹp, lá dày màu xanh đậm, lá hình elíp
+ Năng suất quả 35 – 45 tạ/ha, có khối lượng 100 quả đạt 160 – 165 gam, khối lượng 100 hạt đạt 56 – 60 gam Tỷ lệ hạt/quả 70 – 72%
Trang 24+ L14 có hàm lượng lipit 52,4%, hàm lượng prôtêin 31,2%, vỏ lụa màu hồng, hạt căng đều
+ L14 kháng bệnh lá và bệnh héo xanh vi khuẩn khá cao
* Dụng cụ và hóa chất nghiên cứu
Cân cơ học, máy đo độ ẩm, máy phân tích hàm lượng chất v.v
2.2 Nội dung và phạm vi nghiên cứu
* Nội dung nghiên cứu
Trong đề tài này chúng tôi tập trung nghiên cứu 15 chỉ tiêu của 9 giống lạc mới trồng 2 vụ (Vụ xuân và vụ đông) trên đất Tam Dương – Vĩnh Phúc được thể hiện ở bảng 2.2
Bảng 2.2 Các chỉ tiêu nghiên cứu
5 Thời gian sinh trưởng 12 Độ đồng đều của hạt
6 Số quả/cây 13 Chỉ tiêu chất lượng (hàm lượng
protein, lipit)
7 Số quả chắc/cây 14 Mức độ nhiễm sâu bệnh
15 Năng suất của các giống
Trang 252.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Bố trí thí nghiệm
- Theo quy chuẩn “Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống Lạc” QCVN01-57:2011/BNNPTNT [2].Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn Trồng không che phủ nilon Diện tích ô 7,5m2 (5m x 1,5m), mặt luống rộng 1,2m; rãnh 0,3m; xung quanh thí nghiệm có một luống bảo vệ Số lần nhắc lại: 03 Mật độ khoảng cách trồng: 27 cây/m2 Sơ đồ thí nghiệm:
Trang 262.3.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu [2]:
TT Chỉ tiêu Giai
đoạn
Đơn vị tính hoặc điểm
Mức độ biểu hiện Phương pháp
đánh giá
1 Ngày
Ngày có khoảng 50% số cây/ô có 2 lá mang xoè ra trên mặt đất
lá giữa và gốc chuyển màu vàng và rụng
Quan sát các cây
có quả) mọc từ thân chính của
Trang 2710 cây mẫu/ ô
100 quả khô ở
độ ẩm hạt khoảng 12%, lấy 1 chữ số sau dấu phẩy
Trang 28100 hạt
(g)
không bị sâu, bệnh được tách
từ 3 mẫu quả (chỉ tiêu 10), mỗi mẫu 100 hạt ở độ ẩm khoảng 12%, lấy 1 chữ số sau dấu phẩy
3
5
7
Rất đồng đều Trung bình Không đồng đều
Quan sát độ đồng đều của hạt
Trang 291
2
3
<30% số cây bị bệnh 30-50% số cây bị bệnh
>50% số cây bị bệnh
Số cây bị bệnh/Tổng số cây điều tra Điều tra toàn bộ
1
2
3
<30% số cây bị bệnh 30-50% số cây bị bệnh
>50% số cây bị bệnh
Tỷ lệ quả thối/số quả điều tra Điều tra ít nhất 10 cây đại diện trên ô theo phương pháp 5 điểm chéo góc
Trang 3019 Năng suất
quả khô
Sau thu hoạch
Tạ/ha
Thu riêng từng
ô, bỏ quả lép, non chỉ lấy quả chắc, phơi khô (độ ẩm hạt khoảng 12%), cân khối lượng (gồm cả hạt của 10 cây mẫu) để tính năng suất trên
ô, sau đó quy
ra năng suất tạ/ha
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu thí nghiệm
Số liệu được xử lí bằng chương trình Excel 2010 theo mô tả của Nguyễn Văn Mã (2013) theo các tham số thống kê giá trị trung bình, độ lệch chuẩn Ảnh hưởng của nhân tố thí nghiệm được thực hiện bằng phân tích ANOVA 1 chiều, kiểm tra sự sai khác bằng LSD0,05, giá trị thể hiện trong bảng số liệu là giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn Các chữ cái theo sau trong
cùng cột thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê với α=0
Trang 31CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thời gian sinh trưởng của lạc
Sinh trưởng phát triển của cây trồng nói chung và cây lạc nói riêng phụ thuộc chủ yếu vào đặc tính của giống Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào điều kiện khí hậu như nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa, dinh dưỡng …
Thời gian và các giai đoạn sinh trưởng phát triển là đặc tính của giống
nó có ý nghĩa quan trọng trong việc chọn giống Thông thường những giống
có khả năng mọc nhanh, ra hoa sớm, tập trung thường cho nhiều quả chắc và chín tập trung Mặt khác, xác định các thời kỳ sinh trưởng phát triển của giống còn là cơ sở để bố trí mùa vụ và tác động các biện pháp kỹ thuật để tăng năng suất cây trồng trong những điều kiện trồng trọt nhất định
Kết quả theo dõi số ngày mộc mầm, ngày ra hoa và thời gian sinh trưởng của 10 giống lạc nghiên cứu được trồng trong vụ xuân và vụ đông tại Vĩnh Phúc được thể hiện ở bảng 3.1
Bảng 3.1 Thời gian sinh trưởng của các giống lạc thí nghiệm
Tên
giống
Ngày mọc (ngày)
Ngày ra hoa (ngày)
Tỷ lệ
2 vụ (2/1) (%)
Thời gian sinh trưởng
(ngày)
Tỷ
lệ
2 vụ (2/1) (%)
Vụ
xuân
(1)
Vụ đông (2)
Vụ xuân (1)
Vụ đông (2)
Vụ xuân (1)
Vụ đông (2)
L14 (ĐC) 8 6 43,0b±1,3 45,0c±0,4 104,6 115,1±0,5 105,0d±0,6 91,3 SVL1 8 6 48,1a±0,4 49,0a±0,4 101,8 116,0±0,6 112,1a±0,4 96,5 L28 8 6 43,0b±0,5 45,0c±0,6 104,6 115,1±0,4 110,1b±0,6 95,5 L29 8 6 43,0b±30 45,1c±0,5 104,6 115,1±0,4 110,0b±0,7 95,5 ĐM1 8 6 43,1b±0,4 45,1c±0,4 104,4 114,9±0,4 110,0b±0,7 95,5 ĐM2 8 6 43,2b±0,4 46,1c±0,6 106,4 115,1±0,5 108,1c±0,8 93,8 ĐM3 8 6 43,0b±0,3 45,2c±0,4 104,6 114,9±0,5 108,2c±0,5 93,9 ĐM4 8 6 43,1b±0,3 48,0ab±0,5 111,3 115,0±0,5 108,0c±0,6 93,9 LCM-1 8 6 48,0a±0,5 45,2c±0,4 93,7 116,1±0,3 108,0c±0,6 93,0 LCM-2 8 6 42,9b±0,4 45,0c±0,5 104,8 115,1±0,3 108,0c±0,5 93,9
Ghi chú: Chữ cái khác nhau (a, b) trong cột thể hiện sự sai khác có ý nghĩa với α = 0,05