1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Giới thiệu Sự phát triển giáo dục 2010

137 222 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Phân tích được nguồn gốc hình thành và các quan điểm phát triển giáo dục trong tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh - Nêu và phân tích, đánh giá được một số quan điểm phát triển giáo dục hiện

Trang 2

Thời lượng: 2 Tín chỉ

Môn học: Bắt buộc

Đối tượng: Học viên cao học về GD/QLGD

Các môn học có liên quan: Triết học; Giáo dục học;

- Trình bày được lược sử phát triển và các đặc trưng của các tư tưởng, quan điểm giáo dục Phương Đông truyền thống (Nho giáo, Phật giáo.)

- Trình bày và phân tích được quá trình phát triển các tư tưởng, quan điểm giáo dục trong quá trình phát triển của nền Văn minh Phương Tây qua một số tác giả tiêu biểu trong các thời kỳ

- Phân tích được nguồn gốc hình thành và các quan điểm phát triển giáo dục trong tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh

- Nêu và phân tích, đánh giá được một số quan điểm phát triển giáo dục hiện đại ( 4 trụ cột của nền Giáo dục thế kỷ 21; Các mối quan

hệ cơ bản trong phát triển giáo dục; Giáo dục trong nền kinh tế tri thức và nhà trường tương lai.) Liên hệ với thực tiễn giáo dục Việt Nam hiện nay trong quá trình đổi mới và phát triển hội nhập quốc tế )

Trang 3

1.2 Về kỹ năng:

- Rèn luyện và phát triển kỹ năng tư duy phân tích lý luận về sự phát triển các quan điểm giáo dục trong quá trình phát triển của đời sống

xã hội Rèn luyện tư duy khoa học, biện chứng và phê phán

- Rèn luyên kỹ năng thu thập tài liệu, xử lý thông tin, đọc hiểu tài liệu, phân tích, so sánh và tổng hợp các vấn đề, nội dung liên quan đến sự phát triển của các quan điểm giáo dục

- Rèn luyện kỹ năng giao tiếp, trình bày, tranh luận qua các hoạt động nhóm, thảo luận, trao đổi trên lớp

1.3 Về Thái độ

- Hình thành và củng cố ý thức và trách nhiệm xã hội; tinh thần cầu thị, thái độ khách quan, trung thực trong nghiên cứu những vấn đề giáo dục và xã hội

- Góp phần phát triển những phẩm chất nhân cách của một nhà giáo dục, nhà quản lý giáo dục, nhà khoa học giáo dục

2 Nội dung cơ bản :

1 Các khái niệm cơ bản và các cách tiếp cận nghiên cứu xã hội và giáo dục

2 Nền văn mình và sự phát triển của các tư tưởng, quan điểm giáo dục Phương Đông và Phương Tây

3 Sự phát triển của các quan điển giáo dục ở Việt Nam thời thuộc Pháp và tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh

4 Xã hội và các quan điểm phát triển giáo dục hiện đại

3 Phương pháp dạy-học

Trang 4

- Giảng viên trình bày, phân tích các nội dung cơ bản, có hệ thống trên lớp Hướng dẫn cách tự học, tự nghiên cứu theo các chủ đề, câu hỏi thảo luận

- Học viên nghe giảng và nắm những vấn đề cơ bản trên lớp Tự học,

tự nghiên cứu theo cá nhân và trao đổi trong nhóm; tham gia trình bày và thảo luận chung trên lớp

4 Các phương tiện dạy học: Máy chiếu, Micro, bảng Mica và Bút dạ Giấy A0

và A4

MỤC LỤC

Trang 5

Trang

Mở đầu 6

CHƯƠNG I MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VÀ CÁC CÁCH TIẾP CẬN

NGHIấN CỨU XÃ HễI VÀ GIÁO DỤC ……… 9

CHƯƠNG II NỀN VĂN MINH VÀ CÁC QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN

GIÁO DỤC PHƯƠNG ĐễNG VÀ PHƯƠNG TÂY……… 23

CHƯƠNG III SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC QUAN ĐIỂM GIÁO DỤC Ở

VIỆT NAM VÀ TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC HỒ CHÍ MINH…… 60

CHƯƠNG IV xã hội và CÁC QUAN ĐIỂM giáo dục hiện đạI 85

Trang 6

Mở đầu

Tập giáo trình này được biên soạn nhằm phục vụ yêu cầu giảng dạy và nghiên cứu trong khuôn khổ của môn học “ Các quan điểm phát triển giáo dục “ trong chương trình đào tạo thạc sĩ các chuyên ngành về giáo dục và quản

lý giáo dục của Trường Đại học giáo dục-Đại học quốc gia Hà Nội

Dựa trên chương trình khung của môn học đã được các cấp có thẩm quyềnphê duyệt, giáo trình này được biên soạn nhằm cung cấp cho học viên các kiếnthức cơ bản và tương đối có hệ thống quá trình hình thành và phát triển của các

tư tưởng, quan điểm phát triển giáo dục gắn liền với quá trình hình thành vàphát triển của các hinh thái kinh tế-xã hội và các nền văn minh trên thế giới nóichung và ở phương Đông và Phương Tây nói riêng Giáo trình cũng dành mộtphần đáng kể trình bày tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh- sự kết tinh của các giátrị văn hóa-giáo dục truyền thống và hiện đại của Phương Đông và PhươngTây Những nội dung cơ bản của các tư tưởng, quan điểm phát triển của nềngiáo dục trong đời sống xã hội hiện đại với sự phát triển nhanh chóng của cuộccách mạng khoa học-công nghệ hiện đại; xã hội thông tin và nền kinh tế trithức cùng những quan điểm, mô hình phát triển nhà trường- tế bào cơ bản củacác hệ thống giáo dục trong tương lại theo 6 kích bản phát triển của OECDcũng đã được trình bày trong chương cuối của tập giáo trình này

Để đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp đào tạo ở bậc sau đại học,gắn giảng dạy với quá trình nghiên cứu và tự học, nâng các năng lực tư duykhoa học và thực tiễn của học viên, các nội dung được trình bày trong giáo trìnhnày chú trọng việc phát triển năng lực nêu và phân tích, tổng hợp vấn đề mộtcách có logic và hệ thống, liên hệ với thực tiễn giáo dục Việt Nam Cuối mỗichương và cuối giáo trình có đưa ra các câu hỏi gợi mở các suy nghĩ cho học

Trang 7

viên trong quá trình học tập, tham khảo, nghiên cứu tài liệu và thảo luận, traođổi theo các chủ đề.

Tập giáo trình này được biên soạn dựa trên Tập bài giảng của môn họcnày và các sách chuyên khảo về giáo dục và quản lý giáo dục của Tác giả đãviết và biên soạn trong nhiều năm qua Đồng thời, tác giả giáo trình này cótham khảo và sử dụng nhiều nguồn thông tin, tư liệu; các sách chuyên khảo củanhiều tác giả khác trong và ngoài nước Trong đó, đặc biệt là các tập Bài giảng

về Triết lý giáo dục, tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh của PGS.TS Đặng QuốcBảo; Tập bài giảng về “Tư tưởng giáo dục hiện đại” của TS Nguyễn Quốc Chí

và GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc trong các năm 2004-2006; Các tài liệu chuyên

đề về giáo dục và lịch sử giáo dục của PGS.TS Đặng Bá Lãm; PGS.TS Hà NhậtThăng; GS.TSKH Lâm Quang Thiệp….Tác giả cuốn giáo trình này xin chânthành cảm ơn tất cả những ai đã góp phần vào việc biên soạn Tập giáo trìnhnày

Sự phát triển của các tư tưởng, quan điểm giáo dục từ truyền thốngđến hiện đại- một nội dung quan trọng của triết lý giáo dục là một vấn đề lớn,rất phức tạp cả trên bình diện không gian và thời gian diễn tiến cũng như cáclĩnh vực có liên quan về chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế, khoa học và côngnghệ… trong các giai đoạn phát triển của lịch sử nhân loại Vấn đề này có tính

đa ngành, liên ngành, xuyên ngành cao và cũng đã được đề cập đến ở các khíacạnh khác nhau trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo, giáo trình

về triết học giáo dục, giáo dục học, lịch sử giáo dục, lịch sử các nền văn minhthế giới, xã hội học giáo dục v.v

Với một vấn đề lớn và phức tạp như vậy, việc biên soạn Tập giáo trìnhnày chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Tác giả xin trântrọng cảm ơn và mong nhận được những góp ý và chỉ giáo của các nhà giáo, các

Trang 8

nhà khoa học, cán bộ nghiên cứu có quan tâm đến vấn đề này cùng đông đảonghiên cứu sinh, học viên các lớp cao học về giáo dục và quản lý giáo dục

Hà Nội, Mùa thu năm 2010

Tác giả

Chương một

Trang 9

MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VÀ CÁC CÁCH TIẾP CẬN

NGHIÊN CỨU XÃ HỘI VÀ GIÁO DỤC

Giáo dục là một loại hình, lĩnh vực hoạt động xã hội rộng lớn

được hình thành do nhu cầu phát triển, tiếp nối các thế hệ trong đời sống xã hộithông qua quá trình truyền thụ tri thức và kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xãhội của các thế hệ trước cho các thế hệ sau Cũng như bất kỳ một hoạt động xãhội nào, hoạt động giáo dục được tổ chức, phát triển nhằm thực hiện có hiệu

quả mục đích và các mục tiêu giáo dục phù hợp với các triết lý, tư tưởng, quan điểm giáo dục từng giai đoạn phát triển của xã hội, của các nền văn minh nói chung và của các thể chế chính trị-xã hội ở các quốc gia nói riêng

Theo Từ điển Giáo dục học (NXB Từ điển bách khoa - 2001) thuậtngữ giáo dục được định nghĩa là " Hoạt động hướng tới con người thông quamột hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinhnghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiếtcho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cáchphù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sảnxuất và đời sống xã hội Đây là một hoạt động đặc trưng và tất yếu của xã hộiloài người, là điều kiện không thể thiếu được để duy trì và phát triển con người

và xã hội Giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức laođộng xã hội, mà con người được giáo dục là nhân tố quan trọng nhất, vừa làđộng cơ, vừa là mục đích của phát triển xã hội "

Với vai trò là các hình thái ý thức xã hội thượng tầng, các triết lý tưtưởng, quan điểm giáo dục vừa là sản phẩm của thực tiễn đời sống xã hội vừa lànhân tố thúc đẩy quá trình vận động và phát triển của xã hội nói chung và của

Trang 10

thực tiễn giáo dục nói riêng trong các giai đoạn phát triển kinh tế-xã hôi và cácnền văn minh.

Từ “triết lý” (philosophy) có nhiều nghĩa Theo Từ điển Pháp văn của PaulRobert thì từ triết lý có đến 8 nghĩa khác nhau Theo nghĩa thứ tư trong đó thì:

“Triết lý là nguyên tắc chung làm cơ sở cho việc thực hiện, vận hành một hệ

thống”1

Theo Giáo sư Lê Thạc Cán thì triết lý giáo dục (philosophy of education)thuộc phạm trù ngữ nghĩa này Các xã hội phát triển đến một mức độ nhất địnhđều có hệ thống giáo dục (hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả giáo dục và đào tạo)của mình Hệ thống này được thiết kế, xây dựng, tổ chức và vận hành, quản lýdựa trên một triết lý nhất định Cũng như đối với các hệ thống xã hội khác, để đạtmục đích của nền giáo dục với hiệu quả cao, việc thiết lập cơ cấu, cơ chế cùng vàđiều hành, quản lý hệ thống giáo dục đều phải dựa trên triết lý giáo dục đã xácđịnh

Trên cơ sở triết lý sẽ xây dựng được một cách nhất quán đường lối (policy

có nghĩa là đường lối - chính sách để tránh nhầm lẫn với các chính sách cụ thể),các chiến lược, các quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án cụ thể để quản lý

hệ thống Mối quan hệ giữa triết lý và các công cụ quản lý hệ thống có thể trìnhbày sau đây: (Xem hình 1)

Hình 1 Mối quan hệ giữa “triết lý giáo dục” với các

công cụ quản lý hệ thống giáo dục

Triết lý Giáo dục

1 / “Principe général sur lequel se fondent la réalisation, le fonctionnement d’un système” P Robert

Dictionnairre de la langue francaise, Paris, 1977, page 1423.

Trang 11

- Quan hệ với - Cơ cấu hệ thống - Đường lối - chính sách

các hệ thống - Cơ chế quản lý - Chiến lược

xã hội khác hệ thống - Quy hoạch, kế hoạch,

chương trình, dự án

Theo một số tác giả2 thì thuật ngữ “triết lý giáo dục” còn được sử dụngxuất phát từ nhận định về tầm quan trọng và tính phức tạp của hệ thống giáo dụccủa một xã hội Hệ thống này đặt ra những câu hỏi lớn như: giáo dục ai ? giáodục gì? giáo dục như thế nào? Để giải đáp những câu hỏi này không thể chỉ dùngcác phương pháp thực nghiệm dựa trên dữ liệu và sự kiện đã có trong thực tế.Cùng với các phương pháp này còn phải dùng các phương pháp suy luận triếthọc Một thí dụ về triết lý giáo dục thường được dẫn giải là chủ thuyết củaPlaton, triết gia vào giữa thế kỷ thứ 5 và thứ 4 trước công nguyên, về phân loạiđối tượng giáo dục Platon cho rằng con người đã được sinh ra với những khảnăng khác nhau về trí lực và thể lực Giáo dục phải phù hợp với năng khiếu bẩmsinh của con người Do đó hệ thống giáo dục tốt, trong một xã hội lý tưởng doPlaton giả định, phải gồm 3 loại: giáo dục cho người lao động sản xuất, giáo dụccho lính tráng và giáo dục cho người cai quản xã hội Chủ thuyết này của Platon

đã gây nhiều tranh cãi từ lúc mới ra đời, trong thực tế chủ yếu là dựa vào suyluận triết học của Platon Xã hội trong đó Platon thiết kế mô hình hệ thống giáodục là một xã hội do Platon tưởng tượng ra và đặt tên là “Nước cộng hoà”( Republic)

Theo Từ điển Giáo dục học (NXB Từ điển Bách khoa -2001) thuật ngữ

tư tưởng được giải nghĩa là: “hình thức phản ảnh các hiện tượng của thực tiễn

2 / Nel Noddings, Philosophy of Education,

Trang 12

khách quan vào trong tư duy của con người, thể hiện ở sự hiểu rõ được mục

đích của sự nhận thức thế giới khách quan và việc cải tạo nó Tư tưởng bao gồm những quan điểm, những suy nghĩ khái quát về những kinh nghiệm của

quá trình phát triển tri thức trước đó và nay được dùng như những nguyên tắc

để giải thích các hiện tượng khách quan và để làm những căn cứ xử lý chúng

trong thực tiễn” Khái niệm quan điểm giáo dục được giải nghĩa là:“ điểm xuất phát mang tính định hướng cho cách xem xét, đánh giá các mối quan hệ

giữa giáo dục (đối tượng) với các yếu tố có liên quan có thể chi phối con đườngvận động của giáo dục…Quan điểm giáo dục có nhiều cấp độ như cấp vĩ môliên quan đến nền giáo dục, hệ thống giáo dục hoặc vi mô - cơ sở giáo dục vànhiều mặt cụ thể như chương trình, nội dung, phương pháp… Như vậy cácquan điểm giáo dục là một bộ phận cấu thành tư tưởng giáo dục và là sự phảnánh điểm xuất phát mang tính định hướng (cách nhìn nhận, góc nhìn) về nhữngvấn đề cơ bản của giáo dục ở nhiều góc độ, cấp độ khác nhau từ bản chất, vaitrò, vị trí, tác động… của giáo dục trong đời sống xã hội… đến các vấn đề cụthể về hệ thống giáo dục, nhà trường, chương trình, quá trình giáo dục (mụctiêu, nội dung, phương pháp )

Cùng với quá trình vận động và phát triển của đời sống xã hội, củagiáo dục, các tư tưởng giáo dục nói chung và các quan điểm giáo dục nói riêng

cũng hình thành và phát triển gắn với các thời kỳ phát triển của đời sống xã

hội (theo các hình thái kinh tế-xã hội hoặc các giai đoạn phát triển của các nềnvăn minh) Quan điển giáo dục phản ánh các quan niệm, cách nhìn nhận đadạng về giáo dục của các nhà chính trị, nhà triết học, nhà tư tưởng, nhà giáo dục

…trong các thời kỳ lịch sử ở Phương Đông và Phương Tây (Địa- giáo dục)

1.2 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ CÁC ĐẶC TRƯNG CỦA GIÁO DỤC TRONG LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI

Trang 13

Lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử phát triển của các hìnhthái kinh tế-xã hội và các nền văn minh.

1.2.1 Tiếp cận theoquá trình phát triển của các hình thái kinh tế-xã hội.

Theo cách tiếp cận các hình thái kinh tế-xã hội, xã hội loài người trải qua

5 giai đoạn hay trình độ phát triển cơ bản và tương ứng với nó có 4 hệ tư tưởnggiáo dục là:

1 Giai đoạn cộng sản nguyên thủy Giai đoạn này loài người

sống trong điều kiện hoang dã Cuộc sống các tộc người dựa trên bản năng vàphụ thuộc vào tự nhiên (săn bắn và hái lượm), hình thái tổ chức xã hội giải đơn,trình độ phát triển thấp Giáo dục hình thành trong các hình thức sơ khai quatruyền thụ kinh nghiệm trực tiếp, giản đơn trong thực tiễn đời sống và sinh hoạt

ở các cộng đồng người nguyên thủy Giai đoạn này chưa hình thành các hệ tưtưởng xã hội nói chung và tư tưởng, quan điểm giáo dục nói riêng

2 Giai đoạn chiếm hữu nô lệ Cùng với quá trình phân chia xã

hội thành các giai cấp và hình thành nhà nước chủ nô, nhu cầu giáo dục trongchế độ chiếm hữu nô lệ cho các đối tượng, giai cấp khác nhau đã hình thành(chủ nô, binh lính, người lao động, nô lệ ).Trên cơ sở đó, hệ thống nhà trườnghình thành và phát triển phục vụ cho lợi ích của nhà nước cai trị và giai cấp chủ

nô Cùng với sự phát triển của xã hội đặc biệt là thời kỳ Hy-La ở Phương Tây,

đã xuất hiện các nhà triết học, nhà tư tưởng lớn về giáo dục như Platon,Aristote; Socrate….Ở Phương Đông vào cuối thời kỳ tan rã của chế độ nông nôcũng đã hình thành những mầm mống tư tưởng của Nho giáo (Khổng tử); Ấn

độ giáo, Đạo giáo

Trang 14

3 Giai đoạn phong kiến Chế độ phong kiến hình thành trên cơ

sở nền sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp với trình độ thấp, khoa học vàcông nghệ chưa phát triển Ở phương Đông (Trung Quốc; Việt Nam, Ấn Độ, ),nền giáo dục chịu sự chi phối các các hệ tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo

và Ấn độ giáo…Nền giáo dục Việt nam thời phong kiến chủ đạo là nền giáodục Nho học (Khổng giáo) với các nhà giáo, nhà tư tưởng giáo dục lớn như ChuVăn An; Thân Nhân Trung; Nguyễn Trường Tộ…Đồng thời, những tư tưởng,thiết chế giáo dục Phật giáo cũng được hình thành và phát triển đặc biệt ở thờiLý-Trần…

Nền giáo dục Phương Tây trong ” đêm dài trung cổ” từ thế kỷ thứ 6

đến thế kỷ 13-14 bị chi phối bởi các hệ tư tưởng của Nhà thờ Thiên chúa giáo,

Cơ đốc giáo Sang thế thế kỷ 15-17 (thời kỳ phục hưng và khai sáng) đã có cácchuyển biến lớn qua các cuộc cải cách tôn giáo, cách mạng khoa học, tiến bộ xãhội….với sự xuất hiện các nhà tư tưởng lớn về xã hội và giáo dục như F.RBacon ( 1214-1294) với các tư tưởng tiên phong về khoa học thực nghiệm; JeanHus (1360-1415) nhà cải cách giáo dục Tiệp, hiệu trưởng Trường Đại họcPraha; Komenxki (1592-1670) với tác phẩm “ Lý luận dạy học vĩ đại’’; JohnLocke (1632-1740) nhà triết học và giáo dục Anh; Triết gia, nhà khoa họcDescartes (1596-1650) với câu nói nổi tiếng “ Tôi tư duy có nghĩa là tôi tồn tại”

4 Giai đoạn phát triển Tư bản chủ nghĩa với sự ra đời của nhà

nước tư sản và nền sản xuất đại công nghiệp trên cơ sở của cuộc cách mạng kỹthuật và công nghiệp (thế kỷ 17-19) và cuộc cách mạng khoa học-công nghệhiện đại (thế kỷ 20 đến nay) Hệ thống giáo dục và nhà trường tư sản thời kỳđầu hình thành và phát triển trong sự mâu thuẫn và đối kháng gay gắt giữa Tưsản và Vô sản Giai cấp Tư sản với quyền lực nhà nước tư sản đã sử dụng nhàtrường như là một công cụ để củng cố địa vị thống trị của mình, phục vụ cho lợi

Trang 15

ích giai cấp tư sản Trong quá trình đấu tranh cho một xã hội dân chủ, côngbằng và tiến bộ đã xuất hiện nhiều nhà tư tưởng lớn, tiến bộ như J.J Rusouce(1712-1778) – nhà triết học, nhà khai sáng, nhà giáo dục tiến bộ Pháp nổi tiếng;Jean Piaget- nhà tâm lý-giáo dục tiên phong; Emile Durkheim (1858-1917) –nhà tư tưởng xã hội học giáo dục Pháp; Jonh Deway (1859-1952) nhà giáo dụcthực dụng Mỹ….

5 Giai đoạn cộng sản chủ nghĩa (với thời kỳ đầu là CNXH) với

sự ra đời của hệ thống XHCN (trước đây) đã hình thành và phát triển mô hình

nền giáo dục và nhà trường XHCN- một loại hình nhà trường kiểu mới phục vụlợi ích và nhu cầu học tập của đông đảo quần chúng nhân dân lao động Cùngvới hệ tư tưởng Mác-Lênin đã hình thành hệ tư tưởng giáo dục cộng sản chủnghĩa với các đại diện tiêu biểu của Liên xô (cũ) như Krupcaia; Macarencô…

Ở nước ta, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minhnói riêng là sự kết tinh của các giá trị tư tưởng giáo dục truyền thống và hiệnđại, của nhân loại cả ở phương Đông và phương Tây đồng thời mang đậm bảnsắc văn hoá dân tộc Việt Nam

1.2.2 Tiếp cận theo các nền văn minh

Anwin Toffer (1992) nhà dự báo Mỹ nổi tiếng đã phân tích lịch sử pháttriển của xã hội theo 3 làn sóng lớn (giai đoạn phát triển) chính, đó là:

1 Xã hội nông nghiệp

2 Xã hội công nghiệp

3 Xã hội hậu công nghiệp (thông tin, trí thức.)

Xã hội nông nghiệp là một xã hội mà nền kinh tế dựa vào nguồn tài

nguyên thiên nhiên và lao động giản đơn, sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ côngnghiệp (kinh tế sức người) Sản phẩm nông nghiệp dựa vào những điều kiện tự

Trang 16

nhiên (kinh tế tài nguyên) và con người làm việc theo kinh nghiệm với phươngpháp thử và sai Hệ thống giáo dục chưa phát triển và vì lý do đó, số lượngngười được đào tạo có trình độ học vấn ở mức thấp Các cơ sở giáo dục nhỏ bé

và chủ yếu dựa vào mô hình hệ thống nhà trường gia đình trong cộng đồng,

làng mạc Tài nguyên và giá trị của quốc gia dựa vào đất đai và dân số Ở châu

Á (bao gồm Việt Nam, Trung Quốc và Hàn Quốc…) đây là giai đoạn xã hộiđược xây dựng dưới chế độ phong kiến và chủ yếu theo nền giáo dục Nho giáocủa Khổng Tử Đồng thời, đây cũng là thời kỳ phát triển của các tư tưởng giáodục Phật giáo ở Ấn độ và lan tỏa sang nhiều quốc gia khác đặc biệt ở Châu á ỞChâu âu, trong thời kỳ này giáo dục chịu ảnh hưởng và chi phối bởi Nhà thờ vớicác hệ tư tưởng Thiên chúa giáo; Cơ đốc giáo; Đạo Tin lành…

Xã hội công nghiệp bắt đầu hình thành từ thế kỷ 17-18 ở Châu Âu

(Đức, Pháp, và Anh) với sự ra đời của cuộc cách mạng kỹ thuật và trên cơ sở

đó có sự phát triển nhanh về khoa học-công nghệ và các lĩnh vực sản xuất côngnghiệp như: cơ khí, luyện kim, hóa chất… Nền kinh tế chủ yếu dựa vào mạnglưới của các cơ sở khai khoáng, nhà máy cơ khí, sản xuất công nghiệp và mạnglưới giao thông vận tải đa dạng… Nền kinh tế thị trường và giao dịch thươngmại đó đã thiết lập nên thị trường hàng hóa, thị trường lao động trong phạm viquốc gia, khu vực và quốc tế Năng lực làm việc và sức lao động của con ngườitrở thành hàng hóa Giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu về việc gia tăng nhân

lực LĐKT và dịch vụ Hệ thống trường học theo mô hình nhà máy, đặc biệt là

hệ thống giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp Giá trị tài nguyên của quốc gia dựatrên nguồn vốn (tiền-tư bản) Con người (người công nhân, nhân lực) là chỉmột thành phần đầu vào của quá trình sản xuất Xã hội công nghiệp khởi đầu từthế kỷ 17-18 gắn liền với sự phát triển mạnh mẽ về nghệ thuật, khoa học vàcông nghệ của nền văn minh Phương Tây và chịu sự chi phối cùng ảnh hưởng

Trang 17

của hệ tư tưởng và triết lý phương Tây với các đại diện xuất xắc như Heghen;Kant… cùng các nhà tư tưởng giáo dục lớn như Jean Piaget (Thuy sĩ); EmileDurkheim (Pháp) John Dewey (Mỹ)….

Xã hội hậu công nghiệp hay còn gọi là xã hội thông tin, kinh tế tri thức bắt đầu hình thành từ sau giữa thế kỷ 20 (1960) với sự phát triển nhanh

chóng của khoa học hiện đại và công nghệ cao (Hi-tech) Nền kinh tế chính dựavào tri thức, điện tử hóa, tin học hóa và mạng lưới thông tin Giá trị hàng hóa vàdịch vụ phụ thuộc vào hàm lượng chất xám Hệ thống giá trị tài nguyên củaquốc gia dựa vào tri thức và kỹ thuật hiện đại Nguồn vốn con người là giá trịquan trọng nhất Giáo dục cùng với khoa học và công nghệ là thành phần, làđộng lực chính để phát triển đất nước

Xã hội hậu công nghiệp đã và đang phát triển mạnh mẽ với nhiều quanđiểm, tư tưởng giáo dục mới phù hợp với nhu cầu mới của thời đại kinh tế tri

thức như: Giáo dục cho mọi người; xây dựng xã hội học tập; học suốt đời; bốn trụ cột của nền giáo dục hiện đại (UNESCO); E-learning….

Trong giai đoạn này, trường học theo mô hình của cơ sở nghiên cứu vàsáng tạo, nhà trường thông minh (sáng tạo, khai phá, quá trình dạy học dựa vàomạng lưới thông tin…) Sự phát triển của xã hội và nhà trường tại mỗi giai đoạnđược trình bày theo hình 2

Những đặc trưng của nhà trường sẽ thay đổi khi nhà trường chuyển từnền giáo dục truyền thống sang hiện đại và hướng tới tương lai, bao gồm: cácloại hình trường, mục đích và nội dung giáo dục, phương pháp dạy và học, cáchđánh giá, mối liên hệ giữa nhà trường và cộng đồng Những đặc trưng trongtương lai của trường học theo các giai đoạn phát triển của xã hội được trình bày

ở bảng 1

Trang 18

Hình 2: Các bước của quá trình phát triển xã hội và mô hình nhà trường

Xã hội Công nghiệp

Mô hình nhà trường hiện đại( nhà trường kiểu nhà máy)

Xã hội Thông tin

Mô hình nhà trường tương lai( nhà trường thông minh)

Mục đích và

mục tiêu

- Không rõ ràng

- Tổng quát và rộng về phạm vi kiến thức

-Đào tạo tầng lớp quan lại

và tri thức tinh hoa

- Hẹp,chuyên môn hóa

Xã hội Thông tin

Mô hình nhà trường thông minh

Xã hội Công nghiệp

Mô hình nhà trường nhà máy

Xã hội Nông nghiệp

Mô hình nhà trường gia đình

Trang 19

độ

Nội dung - Truyền thụ/ lý thuyết

- Lý thuyết xã hội

- Giá trị văn hóa

- Học theo hiểu biết/

kinh nghiệm của thầy dạy

- Lựa chọn học theo khả năng và cá nhân -Nội dung tổng hợp

- Hội nhập

Phương pháp dạy

và học

- Nhóm học trò/ cá nhân

- Giảng giải/ Ghi chép

- Tập trung vào khả năng nhớ

- Đào tạo hàng loạt

- Dựa trên bài kiểm tra, kết quả

- Kết hợp đánh giá ngoài và đánh giá trong.

- Tự đánh giá

- Chất lượng hiệu quả

Trang 20

- Áp lực

- Tập trung vào kiểm soát

- Kiểm soát chất lượng

- Kết hợp trên –dưới và dưới - trên

Con người là“ Cấp dưới phụ thuộc và hệ thống phân cấp

Con người là

cá nhân tự chủ và linh hoạt

Thông tin và

kiến thức

Là lãnh địa riêng của quản lý

Bị nhà quản lý khống chế và hạn chế chia

sẻ

Được phổ biến rộng rãi

Mục đích

của công việc

Danh tính cá nhân bị xoá bỏ ( cá nhân mang tính xã hội hơn )

Xung đột Bị phá vỡ và né Được thoả hiệp và giải Là một phần

Trang 21

tránh quyết thông qua

thoả thuận của tập thể

bình thường của cuộc sống

Phân công

lao động

Nhà quản lý quyết định

Người làm công thực hiện

Nhà quản lý quyết định

Người làm công suy nghĩ và thực hiện

Nhà quản lý và Người làm công và cùng quyết

định và thực hiện

Quyền lực Tập trung ở cấp trên Bị giới hạn, có sự

Chia sẻ chức năng /trao quyền cho cấp dưới

Phân tán và được chia sẻ

Nguồn: Quản lý trong thế kỷ 21 (tr 308)

Câu hỏi ôn tập chương I

1 Anh( Chị) hãy nêu và phân tích nội hàm và mối quan hệ giữa các khái niệmthuật ngữ cơ bản về giáo dục, tư tưởng, triết lý và quan điểm trong

nghiên cứu sự phát triển của các quan điểm giáo dục

2 Anh( chị) hãy nêu và phân tích cách tiếp cận nghiên cứu sự phát triển của các tư tưởng, quan điểm phát triển giáo dục trong quá trình phát triển

Trang 22

của lịch sử xã hội loài người theo các hình thái kinh tế-xã hội

3 Anh( chị) hãy nêu và phân tích cách tiếp cận nghiên cứu sự phát triển của các tư tưởng, quan điểm phát triển giáo dục trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội loài người theo theo các nền văn minh

4 Anh( Chị) hãy phân tích đặc trưng của giáo dục và nhà trường theo các nềnvăn minh Liên hệ với thực tiễn GD Việt Nam

Chương hai NỀN VĂN MINH VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC QUAN ĐIỂM

GIÁO DỤC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY

2.1 NỀN VĂN MINH VÀ TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC PHƯƠNG ĐÔNG TRUYỀN THỐNG

Nền văn minh phương Đông đã sớm hình thành và phát triển trong

hàng ngàn năm trước đây ở các nước khu vực Châu á (Trung Quốc, Nhật Bản,Hàn Quốc, Việt Nam ) với sự phát triển của các kỹ thuật sản xuất và các công

Trang 23

cụ sản xuất đồ sắt, đồ đồng trong nền sản xuất lúa nước và các thể chế phongkiến tập quyền Nền văn minh phương Đông nổi tiếng không chỉ có các tiến bộ

kỹ thuật trong sản xuất và đời sống như kỹ thuật trồng trọt, thủy nông ; cácphát minh lớn về la bàn, thuốc súng, thuật in bản khắc gỗ… mà còn là cái nôicủa các hệ tư tưởng lớn chi phối sự phát triển của đời sống xã hội và giáo dụcnhư Nho giáo, Phật giáo; Đạo giáo…

2.1.1 Tư tưởng và hệ thống giáo dục Nho giáo

Nho giáo với tư cách là một hệ tư tưởng thống trị Trung hoa cổ đại hàngngàn năm đã hình thành và phát triển các cơ sở giáo dục Nho giáo để truyền bácác tư tưởng, triết lý của mình trước hết cho các tầng lớp tinh hoa, giới quan lạiTrung quốc Nền giáo dục Nho giáo Trung quốc có ảnh hưởng rất lớn đến giáodục nước ta Nho giáo có khởi nguyên từ thời Tây Chu ( TK XI-VIII TCN),được Khổng tử (555-479) thời Xuân Thu hệ thống hóa và truyền bá nhằm duytrì trật tự xã hội chiếm hữu nô lệ cũ đang tan rã Đến thời Chiến quốc, Mạnh tử(372-289 TCN) tiếp tục bổ sung và truyền bá tư tưởng của Khổng tử, hai ôngđược xem là thánh và á thánh Trừ một thời gian ngắn đời Tần (224-206 TCN)Tần Thủy Hoàng đốt sách, giết nhà nho, từ đời nhà Hán (206-220 TCN) đếncuối đời Thanh (1911) các triều đại phong kiến đều xem Nho giáo như quốcgiáo Qua quá trình phát triển, Nho giáo đã trải qua những biến đổi và bổ sunglớn: từ một hệ tư tưởng bắt nguồn trong xã hội chiếm hữu nô lệ, nó đã biếnthành hệ tư tưởng phục vụ cho việc củng cố chế độ phong kiến Vào thời TâyHán (206-24 TCN) Đổng Trọng Thư đưa thêm tư tưởng mệnh trời vào Nhogiáo, tăng thêm tính thần bí, làm cho Nho giáo thật sự biến thành một thứ tôngiáo Đến thời Tống, Trình Hạo (1032-1085), Trình Di (1033-1107) và Chu Hy(1130-1200) đã phát triển cơ sở triết học của Nho giáo, vay mượn tư tưởng củaPhật giáo và Đạo giáo.Các nhà Tống nho đã cố thuyết minh rằng những đạo đức

mà Nho giáo truyền bá là cái lý đương nhiên vĩnh hằng của trời đất Như vậy,

Trang 24

cho đến nay Nho giáo có lịch sử phát triển hơn 3000 năm Trật tự xã hội màNho giáo nêu thành giáo lý là “tam cương, ngũ thường” (tam cương: quan hệvua tôi, cha con, vợ chồng; ngũ thường: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín) Các tài liệugiáo khoa chính thống được sử dụng cho các trường học và các kỳ thi là Tứ thư,Ngũ kinh với sự chú giải và phát triển bởi Hán nho và Tống nho ( Lê văn

Giạng Lịch sử giản lược hơn 1000 năm nền giáo dục Việt Nam NXB Chính trị quốc gia, 2003)

Theo lịch sử thành văn, ở Việt Nam cổ xưa, nhà nước Âu Lạc tồn tại vàokhoảng thế kỷ thứ 3 trước công nguyên trong một xã hội đã manh nha có giaicấp.Tuy nhiên, quốc gia nhỏ bé này đã phải đương đầu với các thế lực phongkiến tập trung phương Bắc Năm 111 TCN Nhà Tần xâm chiếm Âu Lạc và mởđầu cho sự thống trị của của Trung Quốc kéo dài hơn một nghìn năm, đến năm

938 SCN với chiến thắng của Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán trên sôngBạch đằng,- mở ra kỷ nguyên độc lập, tư chủ của đất nước Trong thời kỳ Bắcthuộc, Nhà Tần chưa có hoạt động giáo dục nào ở Việt Nam được ghi lại NhàTần chủ trương cai trị bằng luật pháp, bài xích Nho giáo Sau khi Hán diệt Tần,Hán Cao tổ - Lưu Bang đã đưa Nho giáo thành quốc giáo Trong thời kỳ này,các thế lực phong kiến phương Bắc đã tiến hành các hoạt động giáo dục ở ViệtNam nhằm truyền bá Nho giáo Những người đầu tiên đã truyền bá Nho giáovào Việt Nam là Tích Quang, Nhâm Diên (đầu thế kỷ 2), Sỹ Nhiếp (cuối thế kỷ

2 đầu thế kỷ 3) Việc truyền bá nho giáo vào nước ta với mục đích đồng hóa, Hán hóa của các thế lực phong kiến phương bắc đã vấp phải sự phản kháng

mãnh liệt của các tầng lớp nhân dân, sĩ phu yêu nước và có tinh thần độc lập và

tự tôn dân tộc Quá trình Hán hóa và chống Hán hóa kéo dài nhiều thế hệ và sự

ra đới của chữ Nôm là một minh chứng cụ thể

Nho giáo đã trở thành quốc giáo ở Việt Nam trong suốt thời kỳ Bắc thuộc.Sau khi dành lại độc lập các nhà nước phong kiến Việt Nam đã nhận thấy Nho

Trang 25

giáo phù hợp với thể chế phong kiến tập quyền nên đã coi Nho giáo là quốcgiáo và thực hiện chế độ giáo dục Nho giáo đối với toàn dân.

Mặc dù vậy đối với nhân dân lao động thì Phật giáo lại có ảnh hưởng sâusắc và rộng lớn hơn bởi tính nhân bản cao và hướng sự quan tâm chủ yếu vàotầng lớp nhân dân lao động nghèo khổ trong khi Nho giáo chủ yếu hướng vàotầng lớp tinh hoa, các đẳng cấp cai trị Phật giáo có ảnh hưởng mạnh mẽ đếnđời sống chính trị-xã hội và văn hóa-tinh thần trong suốt chiều dài lịch sử củađất nước đặc biệt là thời Lý-Trần với các nhân vật tỉêu biểu như Thiền sư VạnHạnh (thời nhà Lý) và Phật Hoàng Trần Nhân Tông –Người khai sáng Thiềnphái Trúc Lâm-Yên tử

2.1.1.1 Tính chất của Nho giáo

Nho giáo là một học thuyết đạo đức – chính trị với nội dung được xâydựng và biến đổi qua nhiều thời kỳ, nhiều tác giả khác nhau

Nho giáo ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu cứu vãn nhà nước phong kiến tậpquyền nhà Chu đang suy tàn với các cuộc chiến tranh giành quyền lực giữa cácnước chư hầu Chủ trương của Nho giáo là vạch ra trật tự nền nếp, xử lý cácmối quan hệ trong xã hội phong kiến và dần dần trở thành công cụ duy trì vàcủng cố xã hội phong kiến cũng như đào tạo tầng lớp quan lại cai trị trong xãhội đó Nội dung chính của Nho giáo là đạo tam cương ngũ thường được chứađựng trong tứ thư, ngũ kinh Nho giáo đã xâm nhập vào Việt Nam theo châncủa những tập đoàn phong kiến bành trướng phương Bắc

Giai cấp phong kiến Việt Nam trong quá trình Hán hóa và chống Hán hóacũng đã lợi dụng Nho giáo để duy trì một trật tự xã hội đẳng cấp mang đặctrưng của Việt Nam và luôn đấu tranh cho sự tồn tại như một quốc gia độc lậpbên cạnh Trung Quốc rộng lớn Nho giáo khi vào Việt Nam cũng đã được chọnlọc cho phù hợp với các giá trị truyền thống của người Việt như đề cao tinh thầntrung quân - ái quốc, cổ vũ tinh thần hiếu học… Nho giáo có tác dụng thúc đẩy

Trang 26

sự hình thành và tồn tại của nhà nước phong kiến tập quyền và duy trì sự tồn tạiđộc lập của dân tộc Việt Nam trước các thế lực ngoại xâm.

Nhược điểm của Nho giáo là trọng chữ nghĩa, khoa cử và thiếu tính thiếtthực Phương pháp thì rập khuôn và giáo điều, thuộc lòng, triệt tiêu sự sáng tạo

và phát triển Những nhược điểm đó làm cho các xã hội chịu ảnh hưởng củaNho giáo trì trệ hàng ngàn năm Những tàn dư xấu của Nho giáo còn ảnh hưởngsâu sắc đến tận ngày nay

và trẻ, giữa quân tử và tiểu nhân

- Đào tạo tầng lớp trí thức tinh hoa, các quan lại cho hệ thống quản chế xã hội Trong thời kỳ phong kiến độc lập đó là phổ biến các giáo lý của xã hộiphong kiến và đào tạo tầng lớp trí thức- quan lại phong kiến trung với vua,phục vụ chế độ phong kiến

2.1.1.3 Chính sách giáo dục

Các thế lực phong kiến phương Bắc thực hiện chính sách đồng hoá bằnggiáo dục: cho người Hán di cư ở lẫn với người Việt, dạy chữ Hán và truyền báNho giáo và văn hoá Trung Hoa cho người Việt, mở trường để dạy học cho con

em các quan lại người Việt và người Hán theo ngôn ngữ và luật pháp TrungHoa để đào tạo quan lại

Trang 27

Trong thời kỳ độc lập, nhà nước phong kiến Việt Nam có ý thức xâydựng một quốc gia độc lập nên đã chú trọng phát triển giáo dục và trọng dụngnhân tài theo tư tưởng giáo dục nho giáo.

Tuy nhiên, do nguồn lực nhà nước có hạn nên nhà nước phong kiến chỉ

mở rất ít các trường học công cho con em các quan lại và hoàng thân quốcthích Việc tổ chức trường lớp và công việc giảng dạy chủ yếu do nhân dân,cộng đồng làng, xã lo liệu Nhà nước chỉ tập trung tổ chức và quản lý chặt chẽ

hệ thống thi tuyển để lựa chọn quan lại Những mong muốn thi đỗ và được làmquan đã kích thích dân cư tại các hương thôn từ trẻ tới già đầu tư vào việc họchành và tạo ra một truyền thống hiếu học và chăm lo cho thi cử của Việt Nam

Đặc biệt, nhà nước phong kiến thực hiện chính sách rộng mở trong giáodục, không phân biệt tuổi tác, ai cũng được tham dự thi cử để chọn nhân tài.Tuy vậy, cũng có vai hạn chế như phụ nữ, con nhà đào hát không có vị trí tronghọc hành và bổ dụng làm quan

2.1.1.4 Nội dung và phương pháp giảng dạy

Nội dung giáo dục là các giáo điều của Nho giáo (Tứ thư, Ngủ kinh).

Nhà nước tổ chức thi cử theo nội dung đó để lựa chọn người đỗ đạt, còn trường

sở do các tầng lớp dân cư bản địa Việt Nam tự lo liệu Tuy nhiên, nhà nước caitrị hạn chế đào tạo trình độ cao cho người Việt

Năm 1076, được coi là điểm mốc đánh dấu sự ra đời của hệ thống giáo

dục Nho học, với việc nhà Lý khởi lập Quốc Từ Giám- Nhà trường của Hoàng

tộc và được coi là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam Ban đầu, Quốc Tử

Giám tổ chức giảng dạy dỗ cho con em trong hoàng tộc, đến năm 1253, đổithành Quốc Tử Viện, giảng dạy cho cả con em thường dân học giỏi ở các tỉnh,huyện Hệ thống giáo dục Nho giáo bắt đầu mở rộng ra ở các địa phương vớiđối tượng rộng rãi hơn trong các tầng lớp nhân dân

Trang 28

Hệ thống giáo dục Nho học, trên cơ sở lấy kinh điển Nho giáo làm nội

dung giảng dạy, thông thường phân thành các bậc học như sau:

8 tuổi học sách Hiếu kinh, Trung kinh;

12 tuổi học sách Luận Ngữ, Trung dung, Đại học;

15 tuổi học sách Thi, Thư, Dịch, Lễ, Xuân thu, Chư tử

Tứ thư, ngũ kinh nguyên bản chữ Hán hoặc dịch sang chữ Nôm là nộidung cơ bản của giáo dục Nho giáo thời phong kiến độc lập

Người Việt cũng soạn ra một số sách nhưng chủ yếu vẫn lấy nội dungtrong tứ thư, ngũ kinh

Các bài thi chủ yếu:

- Ám tả cổ văn

- Kinh nghĩa (Nghị luận).Thực chất là bình luận một đoạn văn nào đó trong tứthư ngũ kinh nhưng không được có ý kiến riêng của mình mà chỉ thuật lại ýkiến người xưa

- Văn sách là bài bình luận về một chủ đề nhất định căn cứ vào các luận điểmtrong tứ thư ngũ kinh

- Chiếu, Chế, Biểu là các văn bản hành chính các cấp Chiếu, Chế là các dạngquyết định của vua, còn Biểu là văn bản trình lên vua

- Thơ và phú theo những niêm luật được quy định chặt chẽ

- Thời Hồ Quý Ly có thêm trường thi toán pháp

Phương pháp học tập chủ yếu là học thuộc lòng (thuật nhi bất tác tức là

thuật lại chứ không được phép thêm bớt, tầm chương trích cú tức là tìm và trích dẫn theo sách), không sáng tạo, xa rời thực tế

Có hai loại hình trường: trường công và trường tư Trong đó, nhà nước chỉquản lý trực tiếp đối với các trường công ở kinh đô và một số ít trường công ở

Trang 29

các tỉnh, phủ và huyện; Trường tư phổ biến ở các làng xã do nhân dân đóng gópxây dựng, tự hoạt động ngoài sự quản lý của nhà nước phong kiến tập quyền

Qua vài nét sơ lược trên đây chúng ta thấy: cơ cấu bậc học, cấp độ quản

lý của hệ thống giáo dục Nho học là hết sức đơn giản, mang tính chất ước lệ Vìyếu tố có tính cốt yếu trong hệ thống giáo dục Nho giáo chính là hệ thống khoa

cử Thực ra, dưới thời phong kiến có nhiều hình thức thi cử: thi văn, thi võ vàthi lại viên, nhưng thi văn hay còn gọi là khoa cử Nho học vẫn là quan trọngnhất

Có thể khái quát cơ cấu hệ thống khoa cử thời phong kiến bằng sơ đồ

dưới đây: (Xem hình 3)

Nhìn vào Hình 3 chúng ta thấy: hệ thống khoa cử Nho học được chia làm

3 cấp: thi Hương, thi Hội, thi Đình Thi Hương là thi cấp địa phương (huyện,phủ); thi Hội là thi ở trung ương do triều đình tổ chức; thi Đình là kỳ thi do nhàvua trực tiếp đứng ra tổ chức, chấm thi và xếp loại

Muốn tham dự kỳ thi Hương, các sĩ tử trước hết phải qua một kỳ thi sát

hạch gọi là khảo thí, được Lý trưởng ở địa phương xác nhận nhân thân và gửi

danh sách lên hội đồng thi Hương.Thi Hương chia làm bốn trường, trong đó thí

sinh phải đỗ đủ cả 4 trường đạt bậc Cử nhân trở lên mới được tham gia thi Hội,

đỗ đầu gọi là Giải nguyên, đỗ bậc cao gọi là Cử nhân, đỗ bậc dưới gọi là Tú tài Thi Hội được phân ra làm 4 trường, trong đó thí sinh phải đỗ cả 4 trường đủ

điều kiện tham gia thi Đình Thi Đình không chia ra làm các trường như thiHương, thi Hội nhưng phân ra thành nhiều cấp bậc đỗ đạt từ cao thấp như sau:

- Đệ nhất giáp (hay còn gọi là Tam khôi) có 3 hạng: đỗ đầu là

Trạng Nguyên, thứ đến Bảng nhãn, Thám hoa

- Đệ nhị giáp có một hạng duy nhất là Hoàng giáp

Trang 30

Đệ Tam giáp cũng có 3 hạng: Tiến sĩ suất thân, Đồng tiến sĩ suất thân,

- Soạn sách Minh đạo, phê phán Khổng tử, chê trách Tống Nho

- Bắt sư dưới 50 tuổi phải hoàn tục Ai thi đỗ Kinh Phật mới được làm sư

- Ngăn cấm nghề phương thuật

- Đề cao chữ Nôm, sử dụng chữ Nôm trong văn bản hành chính, sáng tácthơ phú

- Sửa đổi thi cử: Đề ra thi Hương ở địa phương, thi Hội, thi Đình Quy định

4 trường thi tức 4 môn trong mỗi kỳ thi Thay thi ám tả cổ văn bằng thikinh nghĩa sát thực tế Mở môn thứ 5 là viết chữ và toán

- Đặt Học quan ở các lộ và cấp ruộng công cho giáo dục

Thực chất, khoa cử chỉ là một trong những loại hình đánh giá, gắn liềnvới việc phân biệt thứ hạng cao thấp thông qua hệ thống văn bằng, cấp bậc…

Ví dụ, trong hệ thống khoa cử Nho học tương đương với 3 cấp thi hương, thi

Trang 31

hội, thi đình thì có 3 loại bằng cấp tiến sĩ, cử nhân, tú tài Tuy nhiên, trong mỗi

cấp lại phân ra thành các bậc cao thấp, đỗ cao nhất trong thi tiến sĩ thì gọi là

Trạng nguyên, thứ đến là Bảng nhãn, Thám hoa v.v…

Giáo dục phong kiến đặc biệt đề cao khoa cử vì đây là biện pháp quan

trọng bậc nhất để phát hiện và tuyển chọn hiền tài ra làm quan cai trị giúp vua

giúp nước Thái độ đề cao đối với giáo dục – khoa cử của các vua chúa phong

kiến đó được sử sách ghi lại

Hình 3 HÖ thèng thi cö thêi phong kiÕn (*)

+ Đôc bậc dưới: Sinh đồ (Tú tài)

* Đệ nhất giáp: Tam khôi

1 Tiến sĩ xuất thân

2 Đồng tiến sĩ xuất thân

3 Phó bảng (từ thời Nguyễn)

Trang 32

Năm 1434, Lê Thánh Tông chiếu định phép thi hương và thi Tiến sĩ có

đoạn: “Muốn có nhân tài trước hết phải chọn người có học, phép chọn người

có học thì thi cử là hàng đầu” 1

Sắc dụ năm 1499 dưới thời Lê Hiến Tông chỉ ra rằng: “Nhân tài là

nguyên khí của Nhà nước, nguyên khí mạnh thì thế đạo mới thịnh Khoa mục là đường thẳng của quan trường, đường thẳng mở thì chân nho mới có Cho nên đời xua mở khoa thi chọn người tài giỏi tất phải nghiêm ngặt về quy tắc trường thi, cẩn thận về việc dán tên giữ kín, có lệnh cấm không được bảo nhau nghĩa sách, không được viết thư trao đổi với nhau…”2

Đến thế kỷ XIX, triều Nguyễn rất mực chú tâm phát triển giáo dục - khoa

cử Năm 1822, sau khi lên nối ngôi, vua Minh Mệnh có lời dụ về việc khoa cử

1 Phan Huy Chú, Lịch Triều Hiến chương loạI chí, Khoa Mục chí – TIII, tr10

Trang 33

như sau: “Khoa thi Hội này là khoa thi đầu tiên, là điển lễ quan trọng, các

ngươi nên nhất mực công bằng, đừng phụ lời khuyên của trẫm”3

Tuy nhiên, thái độ đề cao khoa cử qúa mức đã làm cho nền giáo dụcphong kiến bị hư hoại Những hoạt động đóng góp về tư tưởng – học thuậtkhông được chú ý tới, thay vào đó là thói háo danh, hữu danh vô thực Khoa cửtrở thành những nấc thang tiến thân của một bộ phận giới trí thức háo danh vớinhiều tệ nạn sách vở, hư danh, kinh viện, xa rời thực tiễn giáo dục Có thể coiđây là một trong những hạn chế có tính cố hữu của hệ thống giáo dục Nho họctồn tại dai dẳng ở nước ta trong suốt thời kỳ phong kiến

Về đội ngũ giáo viên

Thời kỳ bắc thuộc: Đội ngũ giáo viên chủ yếu là người Hán Về sau một

số người Việt đỗ cao cũng được giảng dạy

Thời kỳ độc lập: Đội ngũ giáo viên là các ông đồ Nho ở các hương, phủđảm nhiệm việc giảng dạy Ở các cơ sở giáo dục của Triều đình (Quốc tử giám)

đã hình thành một đội ngũ các nhà khoa bảng, đỗ đạt cao (Trạng nguyên, Tiến

sĩ ) đảm nhiệm các vai trò tổ chức quản lý và giảng dạy

Học sinh.

Thời kỳ bắc thuộc: Phong kiến Trung Hoa về cơ bản không kiểm soát số

lượng người đi học, nhưng trên thực tế chúng chỉ dạy cho dân Việt biết chữ đểthực hiện các mệnh lệnh cai trị nên số ngưòi đi học chủ yếu thuộc tầng lớp trên.Việc hạn chế số lượng người đi thi trình độ cao trên thực tế nhằm kìm hãm sựphát triển đối với người Việt

3 Trích theo Phan Đại Doãn, Một số vấn đề về quan chế triều Nguyễn, Nxb Thuận Hoá, 1997, Tr 173

Trang 34

Thời kỳ độc lập: Không hạn chế bất kỳ điều kiện nào trừ phụ nữ bị cấm

học hành, thi cử, và con nhà đào hát không được bổ dụng làm quan Tuy nhiên,trên thực tế chỉ những nhà có điều kiện nuôi thầy mới tổ chức được việc họchành thi cử tốn kém cho con cái

2.1.1.5 Đào tạo quân sự thời phong kiến độc lập

- 1253 Nhà Trần lập Giảng Võ đường đào tạo và thi tuyển quan võ

- 1429 Nhà Lê tổ chức khảo thí võ quan ở thành Đông Kinh theo 3 môn: Bắncung, ném lao, lăn khiên Người đỗ cao được phong Võ uý

- 1721 Chúa Trịnh Cương cho mở trường dạy võ Giáo viên gọi là giáo thụ

- 1724 Mở kỳ thi võ tuyển chọn võ quan tại Thịnh Quang

- 1836 Vua Minh Mạng nhà Nguyễn đặt khoa thi võ theo 3 cấp Hương Võ,Hội võ, Đình võ, với độ khó ngày càng tăng Nội dung thi gồm 3 trường tức

3 môn : Trường 1- thi võ kinh chủ yếu là theo sách Tôn Tử, Trường 2 thi võnghệ tức kỹ thuật chiến đấu, Trường 3 thi võ sách tức mưu lược chiến đấu

2.1.1.6 Sự tham gia của các giai tầng xã hội trong giáo dục.

Tham gia hệ thống giáo dục Nho giáo ở Việt Nam thời Bắc thuộc chủyếu là người thuộc tầng lớp quan lại giàu có, có điều kiện nuôi các thầy giáo và

tổ chức ra ra trường lớp Đa số nhân dân lao động vẫn ở trong tình trạng ngumuội để bọn chúng dễ bề cai trị

Thời kỳ độc lập: Do chế độ đẳng cấp phân biệt giầu nghèo, quân tử tiểu

nhân trong đó quân tử là người có học- lao tâm, tiểu nhân là người vô học- laolực, quan cai trị dân, học để làm quan, thi đỗ để vinh quy bái tổ… hệ thống giáotrị này đã thúc đẩy mọi người hăng hái tham gia học hành thi cử để mong đỗ đạtlàm quan, thay đổi số phận Nhân dân đóng góp phần lớn của cải nuôi đội ngũgiáo viên tại nhà, tại làng

2.1.1.7 Những tác dụng tích cực và tiêu cực của Nho giáo ở Việt Nam

Trang 35

Đề cao lý tưởng độc lập, tư tưởng trung quân ái quốc giúp bảo tồn chế độphong kiến tập quyền Việt Nam đồng thời cũng đề cao sự học, khuyến khíchnhân tài, trật tự kỷ cương và các giá trị đạo đức xã hội-nhân văn Tuy nhiên, dohạn chế lịch sử mà nền giáo dục Nho giáo có nhiều tiêu cực như:

- Lối học giáo điều, nhồi nhét, sách vở, khuôn sáo

- Hạn chế sáng tạo, nệ cổ, coi chân lý là ở người xưa

- Học tập chữ nghĩa, văn chương phù phiếm, đề cao văn chương

- Học vì hư danh, chạy theo học vị, bằng cấp, không phải để dùng vào thực tế

mà vì mũ áo, cờ quạt, chức tước vua ban Học để làm quan, để cả nhà và cả

Trang 36

Đặc điểm nổi bật nhất của giáo dục thời kỳ phong kiến độc lập ở ViệtNam là Tam giáo đồng hành tức Nho, Phật, Lão giáo chung sống và cùng tácđộng vào đời sống cộng đồng Nhà nước phong kiến Việt Nam có nhiều kỳ lấyTam giáo làm nội dung thi.

Đặc điểm thứ hai là nhà nước phong kiến chủ yếu quản lý việc thi cử vàmột số trường công giành cho con em tầng lớp quan lại, còn việc học tập chủyếu do nhân dân tự đảm nhiệm theo chế độ dân lập, hình thành một mạng lướicác cơ sở giáo dục tự phát ở các làng,xã, thôn, bản …và đội ngũ Thầy đồ tự dotruyền thụ cho các tầng lớp học trò theo hiểu biết và kinh nghiệm cá nhân

Đặc điểm thứ ba là nhà nước gắn việc thi cử và đỗ đạt với chế độ bổnhiệm quan lại Vì thế mà xã hội đã đề cao quá mức việc học hành, khoa cử và

đỗ đạt làm quan, coi nhẹ mục tiêu mở mang dân trí và vận dụng kiến thức vàothực tiễn Đặc điểm này còn ảnh hưởng tiêu cực đến ngày nay, nhiều người đặtmục tiêu học tập là thăng quan tiến chức

Bảng 3 Các sự kiện chính của giáo dục Nho giáo ở Việt Nam

(Từ thời đại Hùng Vương đến năm 938).

1 Thế kỷ 3 TCN Thời đại các vua Hùng dựng nước.

Tồn tại giáo dục dân gian và văn hoá cổ truyền.

Sự hình thành và truyền các nghề nông nghiệp và thủ công nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, đúc kim loại…

Giáo dục ý thức và văn hoá cộng đồng, truyền thống giữ nước và bảo tồn văn hoá dân tộc.

2 111 TCN Nhà Tần xâm chiếm nước Âu Lạc, tạo tiền đề cho sự xâm nhập của

chữ Hán và Nho giáo vào Việt nam.

Trang 37

Thời kỳ này nhà Tần chủ trương bài trừ Nho giáo.

Đầu công nguyên

Nhà Hán cho người sang ở lẫn với người Việt để dạy chữ và truyền bá văn hoá Trung hoa.

Tích Quang và Nhâm Diên cho lập trường học đầu tiên ở nước ta.

4 221- 227 Lý Ông Trọng thi đỗ và làm quan ở Lạc Dương- kinh đô nhà Hán.

5 220- 280 Thời Đông Hán, Sỹ Nhiếp chiêu mộ danh sỹ truyền bá Nho giáo.

Nhiều trường học tư nhân được mở với các thầy giáo từ Trung Hoa

và cả Việt nam.

- Thi Tiến sỹ không quá 8 người.

- Thi Minh kinh không quá 10 người.

-Bảng 4 Các sự kiện chính của giáo dục Việt Nam thời kỳ phong kiến

độc lập ( từ 938- 1858 )

thời kỳ phong kiến độc lập ở Việt nam.

2 Đầu thế kỷ 10 Xuất hiện việc dùng âm Hán Việt để thực hiện việc giáo dục thay cho

âm chữ Hán đã đánh dấu sự bảo tồn văn hoá dân tộc Việt Nam.

3 1009 - 1076 Nhà Lý cho mở mang , xây dựng chùa chiền và phát triển giáo dục Phật Giáo

5 1076 Lập Quốc Tử Giám, đào tạo quan lại cao cấp Đây là trường học quốc lập

đầu tiên của Việt nam.

Trang 38

10 1253 Nhà Trần lập Viện Quốc học.

Khuyến khích mở trường tư thục

Hồ Quý Ly cải cách giáo dục, phê phán Khổng Tử, đề cao nền giáo dục độc lập.

Truyền dạy chữ Nôm, chữ Nôm thay thế chữ Hán trong đời sống chính trị , văn học xã hội.

12 1414 Nhà Minh đô hộ Việt Nam, thực hiện chính sách đồng hoá Phát triển

giáo dục Nho giáo.

Hành Nhân Hạ Thanh và Tiến sỹ Hạ Thì thu sách vở và tài liệu về văn hoá

và lịch sử Việt Nam.

13 1419 Nhà Mnh đô hộ đặt ty nho học ở 16 phủ, 21 châu, 87 huyện.

Nhà Minh đô hộ đặt ty y học ở 6 phủ, 13 châu, 35 huyện, đặt trường y ở

3 phủ, 1 châu.

Nhà Minh đô hộ thành lập các tăng chính và đạo chính để thao túng Phật giáo, Lão giáo.

14 1417 Nhà Minh đặt luật cống nho sinh vào Quốc tử giám nhà Minh để khai thác

nhân tài đất Việt.

16 1428 Lê Lợi kháng chiến thành công, đánh nhà Minh, thành lập nhà Lê.

17 1428 Nhà Lê mở lại Quốc tử giám và cho mở trường học ở các phủ huyện.

18 1435 Nhà Lê Tổ chức thi tuyển, thải loại giáo viện yếu kém, nâng cao chất lượng

đào tạo.

19 1446 Nhà Lê mở trường đến các lộ phủ đặt các chức danh cho giáo viên gọi là

giáo thụ, về sau gọi là giáo huấn đạo Muốn làm huần đạo phải trúng tuyển

kỳ thi hội và trải qua 4 kỳ thi nữa và đủ 35 tuổi

20 1473 Do giáo dục phát triển, cần tuyển nhiều huấn đạo, nhà Lê đã cho mở kỳ thi

chọn huấn đạo

21 1434,1437, 1444 Tổ chức các kỳ thi lại điển chọn quan lại.

Tạ Bưu để đánh giá năng lực giảng dạy cho các Hoàng tử và sau đó thải 2 người này.

23 1467 Lê Thánh Tông cho đánh giá các quan bằng kỳ thi để thải loại các quan yếu

kém.

24 1527- 1592 Nhà Mạc tổ chức 22 khoa thi tiến sỹ.

Trang 39

25 1723 Vua Lê Dụ Tông cấp ruộng cho các trường quốc học.

Cho in sách để cấp phát cho các trường, cấm dùng sách do Trung Quốc in.

26 1789 Vua Qung Trung nhà Tây Sơn cho mở các kỳ thi tuyển chọn nhân tài và

thúc đẩy việc học, sử dụng chữ Nôm thay chữ Hán.

27 1802 Vua Gia Long cho chấn hưng Nho học Đặt các chức quan: đốc học,

giáo thụ, huấn đạo để quản lý giáo dục và thi cử.

Trường học được phát triển đến các hương, phủ, huyện Cả nước có 158 trường quốc học.

Vua Minh Mạng quy định kiến trúc nhà học để bảo đảm chất lượng giáo dục.

28 1919 Kỳ thi Nho học cuối cùng, chấm dứt hoàn toàn hệ thống giáo dục Nho học.

Bảng 5 Kết quả giáo dục thời phong kiến độc lập.

2.1.2 Tư tưởng giáo dục Phật giáo

Đạo Phật là một tôn giáo lớn và lâu đời trên thế giới có ảnh hưởng đến

nhiều nước ở châu Á Phật giáo là một học thuyết mang nhiều tính duy tâm chú

trọng đời sớng tâm linh và có một tinh thần nhân bản, hướng thiện cao cả

Nền văn minh Ấn độ là khởi nguồn của các tư tưởng, triết lý Phật giáo

mang nặng tinh thần từ bi, hỷ xả, hướng thiện Con người tu tâm, dưỡng tính

nơi trần tục để hưởng phúc trên cõi Niết bàn Để truyền bá và phát triển các tư

tưởng, triết lý của mình, các tổ chức Phật giáo đã đã hình thành các loại hình

Trang 40

trường vihares của đạo Phật để đào tạo cho các sư sãi ở Ấn Độ Các triết lý, tư

tưởng Phật giáo hình thành, phát triển và lan tỏa ra nhiều nước, nhiều khu vựctrên thế giới trong đó đặc biệt là ở các nước Châu á như Trung Quốc, Việt Nam,Thái Lan, Campuchia…

Phật giáo vào Việt Nam bằng nhiều con đường khác nhau, bao gồm 2trường phái chính là tiểu thừa và đại thừa và đã được người Việt Nam tiếp nhận

có chọn lọc phù hợp với những phong tục văn hoá Việt Nam Để tuyên truyềncho Phật pháp, các nhà tu hành đã xây dựng hệ thống chùa chiền trên khắp đấtnước Việt Nam Phật giáo đã có nhiều đóng góp cho giáo dục đạo đức và tâmlinh của người Việt Nam Hoạt động giáo dục của Phật giáo chủ yếu diễn ratrong các chùa chiền gắn với các hoạt động tôn giáo và quá trình tu luyện củacác tăng ni, phật tử, các bậc cao tăng Tư tưởng, triết lý và các nội dung giáodục được phản ánh trong các Bộ kinh sách Hiện nay, còn lưu giữ được những

bộ kinh Phật được người Việt Nam khắc bằng chữ Hán trên các bản gỗ Đây lànhững bộ sách lớn của Việt Nam về Phật giáo còn được lưu lại

Những đóng góp của Phật giáo cho văn hoá và giáo dục Việt Nam cònchưa được nghiên cứu đánh giá đúng mực và đầy đủ

Bảng 6 Các sự kiện giáo dục Phật giáo chính

Hán

Hình thành trung tâm Phật giáo lớn là Luy Lâu.( Thuận Thành, Bắc Ninh hiện nay )

Hà Nội ngày nay.

Phật giáo Xây dựng nhiều chùa chiền.

Văn hoá Phật giáo được truyền bá sâu rộng trong nhân dân

Ngày đăng: 31/12/2015, 13:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2: Các bước của quá trình phát triển xã hội và mô hình nhà trường - Giới thiệu Sự phát triển giáo dục 2010
Hình 2 Các bước của quá trình phát triển xã hội và mô hình nhà trường (Trang 18)
Hình thức học  - Cá nhân/Nhóm-Thầy - Giới thiệu Sự phát triển giáo dục 2010
Hình th ức học - Cá nhân/Nhóm-Thầy (Trang 19)
2. Bảng nhãn - Giới thiệu Sự phát triển giáo dục 2010
2. Bảng nhãn (Trang 31)
Bảng 4. Các sự kiện chính của giáo dục Việt Nam  thời kỳ phong kiến - Giới thiệu Sự phát triển giáo dục 2010
Bảng 4. Các sự kiện chính của giáo dục Việt Nam thời kỳ phong kiến (Trang 37)
Hình thành trung tâm Phật giáo lớn là Luy Lâu.( Thuận Thành, - Giới thiệu Sự phát triển giáo dục 2010
Hình th ành trung tâm Phật giáo lớn là Luy Lâu.( Thuận Thành, (Trang 40)
Bảng 8. CÁC SỰ KIỆN CHÍNH CỦA GIÁO DỤC VIỆT NAM - Giới thiệu Sự phát triển giáo dục 2010
Bảng 8. CÁC SỰ KIỆN CHÍNH CỦA GIÁO DỤC VIỆT NAM (Trang 61)
Hình 8. Các kịch bản về nhà trường cho tương lai (OECD- 2002) - Giới thiệu Sự phát triển giáo dục 2010
Hình 8. Các kịch bản về nhà trường cho tương lai (OECD- 2002) (Trang 117)
Bảng 12.  Các đặc trưng cơ bản ở các mô hình nhà trường đại học - Giới thiệu Sự phát triển giáo dục 2010
Bảng 12. Các đặc trưng cơ bản ở các mô hình nhà trường đại học (Trang 129)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w