Toàn cầu hoá là xu thế tất yếu của thế giới xuất hiện vào những năm cuối của thế kỷ XX. Toàn cầu hoá là quá trình diễn ra do sự thay đổi về công nghệ, tăng trưởng dài hạn liên tục về đầu tư nước ngoài và nguồn lực quốc tế và sự hình thành trên phạm vi rộng lớn với quy mô toàn cầu những hình thức về các mối liên kết quốc tế giữa các công ty và các quốc gia. Sự liên kết này làm tăng quá trình hội nhập giữa các quốc gia và thay đổi bản chất của cạnh tranh toàn cầu.
Trang 1MỐI QUAN HỆ GIỮA SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VỚI SỰ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THEO TINH THẦN
NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG HAI KHOÁ VIII
MỞ ĐẦU
Toàn cầu hoá là xu thế tất yếu của thế giới xuất hiện vào nhữngnăm cuối của thế kỷ XX Toàn cầu hoá là quá trình diễn ra do sự thayđổi về công nghệ, tăng trưởng dài hạn liên tục về đầu tư nước ngoài vànguồn lực quốc tế và sự hình thành trên phạm vi rộng lớn với quy môtoàn cầu những hình thức về các mối liên kết quốc tế giữa các công ty vàcác quốc gia Sự liên kết này làm tăng quá trình hội nhập giữa các quốcgia và thay đổi bản chất của cạnh tranh toàn cầu
Về mặt khoa học kỹ thuật, công nghệ, toàn cầu hoá là kết quả phát triểnnhanh chóng của khoa học kỹ thuật và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thôngtin và viễn thông toàn cầu Khoảng cách về không gian và thời gian là khôngcòn ý nghĩa với các hoạt động của con người và các tổ chức
Ngày nay, các quốc gia đều tiến hành xây dựng chiến lược phát triểndựa trên cơ sở huy động tối đa năng lực nội sinh, tạo được những khả năngcảm nhận (yếu tố tri thức, trí tuệ) và khả năng phản ứng thích nghi (yếu tố cơcấu và tổ chức xã hội) với môi trường toàn cầu hoá đầy biến động Trong khikhoa học và công nghệ có những bước phát triển nhảy vọt, khối lượng tri thứcnhân loại ngày càng lớn, đòi hỏi giáo dục phải thường xuyên cập nhật cácthành tựu mới đồng thời phải chuyển dần từ việc học để tiếp nhận tri thứcsang học để biết cách tìm kiếm và tích luỹ tri thức một cách nhanh chóngnhất, chính xác nhất và hiệu quả nhất Hiện nay nhiều nước trên thế giới đang
có xu hướng chuyển dịch sang nền kinh tế tri thức - nền kinh tế mà các sảnphẩm của nó đều chứa đựng một hàm lượng chất xám cao Muốn xây dựngnền kinh tế tri thức phải dựa vào tiền đề phát triển giáo dục Vì vậy, hầu hết
Trang 2các nước đều ở trong cao trào đổi mới, canh tân, cải cách hoặc tiến hànhnhững điều chỉnh cho phù hợp với xu thế phát triển chung Như vậy, tiềm lựckhoa học và công nghệ và nguồn nhân lực được đào tạo có tri thức sẽ là thếmạnh không gì thay thế được, góp phần quyết định tạo dựng sức mạnh tổnghợp và năng lực cạnh tranh của quốc gia trong tiến trình hội nhập quốc tế Do
đó, đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, cũng như chogiáo dục và đào tạo có ý nghĩa quyết định đối với việc bảo đảm khả năng cạnhtranh của một nước Đó cũng chính là sự biện chứng của mối quan hệ giữakhoa học kỹ thuật và công nghệ - giáo dục và đào tạo - kinh tế Nói về mốiquan hệ này, người Hàn quốc trong những năm 80 của thế kỷ XX cho rằng:
“Cạnh tranh giữa các nước về sức mạnh kinh tế thực chất là cuộc đua tranh vềgiáo dục chất lượng cao trong khoa học và công nghệ” Hay R.Reagan lúcđương nhiệm Tổng thống nước Mỹ đã từng lo lắng: “Mỹ có nguy cơ trở thànhcường quốc hạng hai về kinh tế nếu như Mỹ cho phép mình làm mất đi vai tròdẫn đầu về công nghệ kỹ thuật do tình trạng giáo dục yếu kém”
Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nhằm đưa nước ta ra khỏi tình trạngkém phát triển vào năm 2010 và trở thành một nước công nghiệp vào năm
2020 đòi hỏi giáo dục phải phát triển mạnh mẽ để góp phần thúc đẩy côngnghiệp hoá, hiện đại hoá Việc chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa; sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ ; xuthế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế làm nhu cầu học tập ngày càngtăng của nhân dân vừa là thời cơ vừa tạo ra thách thức to lớn đối với giáo dụcnước ta Nhận thức sâu sắc vấn đề này Văn kiện Nghị quyết Đại hội Đảng toànquốc lần thứ VIII chỉ rõ: “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo
là quốc sách hàng đầu, nhằm nâng cao dân trí , đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhântài”1 Nghị quyết Hội nghị lần thứ Hai BCHTƯ Đảng (khoá VIII) về định hướng
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu to n qu àn qu ốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia,
1996, tr 107, H N àn qu ội.
Trang 3chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đạihoá tiếp tục khẳng định: “Thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu.Nhận thức sâu sắc giáo dục - đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là nhân
tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục đào tạo là đầu tư phát triển”2
Đảng ta đã khẳng định giáo dục có vai trò quyết định trong sự phát triểntrong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đồng thời trước hết bảnthân giáo dục cũng phải được “Hiện đại hoá”; Giáo dục cần hiện đại hoá về mụctiêu, về chương trình giáo dục, về đội ngũ, về cơ sở vật chất - sư phạm, vìkhông thể có một nền giáo dục vừa là mục tiêu vừa là sức mạnh của nền kinh
tế, đưa đất nước vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nếu bản thân nó khôngđược đầu tư thích đáng, không được hiện đại hoá
Như vậy, khoa học và công nghệ với giáo dục - đào tạo có mối quan
hệ khăng khít với nhau biện chứng với nhau và chế ước lẫn nhau, vừa lànội dung vừa là hình thức của nhau trong việc góp phần thúc đẩy sự pháttriển đất nước nhanh và bền vững
NỘI DUNG
I TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, coi như khởi đầuvào giữa thế kỷ 20, đang phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy nhiều lĩnh vực cónhững bước tiến vượt bậc và đang mở ra những triển vọng hết sức lớnlao trong thế kỷ 21 này
Nếu như thuật ngữ “Công nghệ giáo dục”, “Công nghệ quản lý” chưađược quen dùng trước đây thì những năm 60 của thế kỷ 20 trở lại đây nhữngthuật ngữ này đã trở nên rất quen thuộc với mọi người Khái niệm “công nghệgiáo dục” ngày càng được sử dụng rộng rãi với nhiều nội dung mới mẻ gópphần thúc đẩy sự phát triển lĩnh vực này
2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghi lần thứ hai BCHTƯ khoá VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, H N àn qu ội
1997, tr.28-31
Trang 4* Công nghệ giáo dục nghĩa hẹp và công nghệ giáo dục nghĩa rộng
Có nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau về khái niệm công nghệgiáo dục Tuy nhiên chúng ta có thể hiểu công nghệ giáo dục theo hai nghĩa:
“công nghệ giáo dục” theo nghĩa hẹp và “công nghệ giáo dục” theo nghĩa rộng
- Công nghệ giáo dục theo nghĩa hẹp
Những định nghĩa thuộc nhóm này chứa đựng một yếu tố cơ bản làđồng nhất công nghệ giáo dục với việc sử dụng trong giáo dục những phátminh, những sản phẩm công nghiệp hiện đại về thông tin và các phương tiệnnghe - nhìn Hiệu quả giáo dục được nâng cao thông qua việc sử dụng tổ hợptrong dạy học, phương tiện giao lưu đa dạng (multimedia)
Có thể kể đến một vài đại diện cho nhóm định nghĩa này:
+ Collier (1971) và nhiều cộng tác viên: “Công nghệ giáo dục với
nghĩa là áp dụng các hệ thống kỹ thuật và phương tiện hỗ trợ để cải tiến quátrình học nghề của con người”
+ Gass (1971) “công nghệ giáo dục là sự quan niệm và áp dụng có tổ
chức các hệ thống học nghề có lợi dụng những kỳ diệu của phương tiện hiệnđại trong thông tin Các phương tiện nghe - nhìn, các phương pháp về tổ chức
và giảng dạy của nhà trường”
+ Davis (1971) : “Nhìn thấy trong công nghệ giáo dục hai công nghệ:
một là yếu tố vật chất và một là các phương tiện giảng dạy”
- Công nghệ giáo dục nghĩa rộng
Từ những năm 1967 trở về đây, các nhà khoa học nghiên cứu vấn đềnày đã lần lượt đưa ra nhiều định nghĩa (hoặc quan điểm) với những thuộctính bản chất của khái niệm không chỉ đơn thuần là yếu tố phương tiện kỹthuật mà được mở rộng hơn nhiều và cũng rất đa dạng - Với lẽ đó đã xuất
Trang 5hiện khái niệm công nghệ giáo dục nghĩa rộng Một số đại diện của nhóm này
là:
+ Hội đồng quốc gia về công nghệ giáo dục - Anh (1967): Công nghệ
giáo dục là sự phát triển, ứng dụng và đánh giá các hệ thống kỹ thuật và hỗtrợ nhằm cải thiện quá trình học tập của con người
+ Báo cáo của CERI Pháp (1971): Dựa trên công việc của trung tâm
nghiên cứu và cải cách giáo dục thì “công nghệ giáo dục phải được hiểu nhưmột phần tích hợp của một hoạt động thường xuyên và tổ hợp nhằm làm xíchlại gần nhau một cách có kết quả giữa người dạy - người học và các phươngtiện kỹ thuật”
+ Januszkiewiez - Balan (1971): “Công nghệ dạy học là hệ thống các
chỉ dẫn sử dụng các phương pháp, phương tiện hiện đại, kết quả phải đào tạođược người tốt nghiệp theo mong muốn trong thời gian có thể ngắn nhất với
sự chi phí phương tiện một cách tối ưu”
+ Hội thảo ở Genève (10-16/5/1970), của tổ chức giáo dục UNESCO
định nghĩa: “Công nghệ giáo dục là khoa học về giáo dục xác lập các nguyêntắc hợp lý của công tác dạy học và những điều kiện thuận lợi nhất để tiếnhành quá trình giáo dục cũng như các phương pháp và phương tiện có kết quảnhất để đạt được mục đích đào tạo đề ra, với sự tiết kiệm sức lực của thầy vàtrò”
- Một số thuộc tính bản chất điển hình của khái niệm công nghệ giáo dục
Trang 6Sử dụng tích hợp - tổ hợp các hoạt động làm xích lại gần nhau giữathầy trò - phương tiện:
+ Cá biệt hoá học sinh, tăng cường bình đẳng trong giáo dục, tăngcường hiệu quả giáo dục
+ Hiện đại và tối ưu hoá nội dung, áp dụng phương tiện kỹ thuật, đánhgiá kết quả
+ Lặp lại kết quả đào tạo, chi phí tối ưu
Một cách tổng quan khác về công nghệ giáo dục là xem xét những quanniệm khung và sự phát triển có tính lịch sử như trong “Từ điển bách khoaquốc tế về giáo dục” là: Coi công nghệ giáo dục như một khái niệm công cụcủa giáo viên; công nghệ giáo dục như một khái niệm hệ thống; công nghệgiáo dục như một khái niệm về truyền thông đại chúng
* Quan niệm về công nghệ giáo dục của một số nhà khoa học, quản lý giáo dục ở Việt Nam
Phó giáo sư Lê Khánh Bằng đã phát biểu về bản chất của công nghệđào tạo: Công nghệ giáo dục là một khoa học giáo dục về con người Dựa trên
cơ sở tổng hợp những thành tựu của nhân loại từ trước tới nay, đặc biệt nhữngthành tựu hiện đại của các khoa học giáo dục và các khoa học liên quan nhưsinh học, tâm lý học, điều khiển học, lý thuyết tổ chức, logic học, kinh tế giáodục học Công nghệ giáo dục tổ chức một cách khoa học quá trình đào tạocon người bằng cách xác định một cách chính xác và sử dụng một cách tối ưuđầu ra (mục tiêu giáo dục), đầu vào (học sinh), nội dung dạy học, các điềukiện và phương tiện kỹ thuật dạy học, các tiêu chuẩn đánh giá, hệ phươngpháp tích cực hóa, chương trình hóa, qui trình hóa và cá thể hóa quá trình dạyhọc, nhằm đạt được mục đích giáo dục với sự chi phí tối ưu thời gian, sức lực,tiền của của giáo viên, học sinh, nhân dân và Nhà nước, nhằm đáp ứng kịpthời những yêu cầu của thời đại
Trang 7Tác giả Nguyễn Đức viết: Khảo sát hiện trạng, nguồn gốc hình thành,qui luật vận động và xu thế phát triển của công nghệ giáo dục, cho phép điđến nhận thức bản chất của nó như sau: công nghệ giáo dục xuất hiện và hìnhthành trên cơ sở tích hợp những thành quả tiên tiến của các khoa học giáo dụcvới những khoa học khác như: thông tin, tâm lý, ngôn ngữ học xác lập nên
các nguyên tắc hợp lý cho việc tổ chức khoa học quá trình đào tạo, trong đó
sử dụng rộng rãi các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại, tích hợp tối ưu và hiện đại hóa nội dung đào tạo, thay đổi hệ phương pháp chuyển từ hệ thông tin sang hệ phương pháp luận và tạo nên những định chuẩn đánh giá chính
xác kết quả đào tạo (từng phần và toàn bộ), điều chỉnh, điều khiển kịp thời,
lặp lại kết quả trong đào tạo, theo mục tiêu đã định.
Giáo sư Hồ Ngọc Đại nghiên cứu và thực nghiệm nhiều năm về giáodục bậc tiểu học, đã quan niệm về công nghệ giáo dục (được viết là CGD)theo một số ý sau, có thể là quan trọng nhất, trong khi tác giả chưa đưa ra mộtđịnh nghĩa về công nghệ giáo dục:
- Tâm lý học hiện đại coi hoạt động tinh thần và hoạt động vật chất là
giống nhau về nguyên tắc; đó là gốc lý luận của CGD.
- Sản phẩm của CGD trước hết là khái niệm CGD trước hết phải kiểm soát được quá trình hình thành khái niệm.
- Lõi của CGD, cốt “vật chất” của nhân cách, cái khung thép của toà
nhà cuộc đời cá nhân, là hệ thống khái niệm khoa học hiện đại CGD sẽ dựng
lên cái lõi, cái cốt vật chất cái khung ấy CGD cũng như công nghệ sản xuất
đều có lõi là một chuỗi thao tác sắp xếp tuyến tính trong thời gian.
Giáo sư Trần Hồng Quân, cho rằng trong bất cứ lao động nào của conngười, cũng có một công nghệ, dù tự giác hay không thự giác Không có côngnghệ thì không tác động vào đối tượng được Chỉ có đơn giản hoặc phức tạp,
Trang 8khoa học hoặc không khoa học, chứ không thể không có công nghệ Tương tựnhư vậy đối với giáo dục, cũng có công nghệ giáo dục Công nghệ giáo dục làmột phương tiện hoạt động có công cụ và đối tượng lao động Theo quanniệm mới các em học sinh vừa là đối tượng lao động vừa là người lao động,nghĩa là người tự đào tạo Các em đóng hai khâu trong qui trình lao động: vừa
là đối tượng lao động, vừa là khâu chiếm lĩnh của từng người trong quá trìnhlao động Nói công nghệ giáo dục không phải phủ nhận vai trò của các em
Tinh thần của công nghệ giáo dục mới là đề cao vai trò của học sinh, là việc
đi tìm phương pháp thích hợp để học sinh là trung tâm trong quá trình đào tạo Cái sáng tạo của người làm giáo dục là sáng tạo về phương pháp, sáng
tạo về công nghệ Còn sự sáng tạo trong nội dung, là sự biết lựa chọn, biết kế
thừa những tri thức về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, các giá trị về đạođức Xét cho cùng việc lựa chọn nội dung cũng nằm trong phạm trù phươngpháp
Từ những cách tiếp cận trên chúng ta có thể quan niệm: Công nghệgiáo dục là tập hợp những quá trình ổn định bao gồm các hoạt động, các thaotác có thể kiểm soát được để đưa quá trình giáo dục đạt tới mục tiêu Có nghĩa
là sử dụng các thiết bị kỹ thuật và các qui trình chặt chẽ về nội dung, vềphương pháp đảm bảo cho quá trình giáo dục đạt tới độ tin cậy khách quan
Cấu trúc của công nghệ giáo dục vẫn gồm hai phần: phần cứng là phần
kỹ thuật (phương tiện, thiết bị dạy học…); Phần phương pháp là phần mềm(thông tin, con người, quản lý…)
Mục đích công nghệ giáo dục là nghiên cứu chuyển hoá vào thực tiễngiáo dục những thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật và khoa học giáodục nhằm thiết kế được những hệ dạy học và giáo dục tối ưu vận hành theo
Trang 9nguyên lý mới đó là hướng vào việc phân hoá, cá thể hoá theo nhịp độ riêngcủa từng đối tượng giáo dục.
* Đặc trưng của công nghệ giáo dục:
Thứ nhất, công nghệ giáo dục phải định lượng hoá được mục tiêu giáo
dục, biến mục tiêu giáo dục thành đối tượng có thể đo lường được Mục tiêu giáo
dục nào được xác định đủ rõ để chỉ đạo được việc tổ chức quá trình đào tạo
thành qui trình ổn định và để làm chuẩn đo được kết quả đào tạo, qua đó đánh
giá được hiệu quả đào tạo, thì mục tiêu đó thường là lượng hoá được, đo đạc
được, quan sát được, và do đó có khả năng xây dựng được công nghệ giáo dục
Những mục tiêu có thể lượng hoá được, đo đạc được, quan sát được,thường là những mục tiêu thể hiện yêu cầu về kiến thức, về kỹ năng, về tháiđộ; cũng nên chú ý là không phải mọi yêu cầu về những mặt này đều đo đạcđược, quan sát được
Để hình thành công nghệ giáo dục ổn định, có thể kiểm soát được,chuyển giao được, đảm bảo thực hiện mục tiêu, cần có ba điều kiện tối thiểu là:
- Mục tiêu được xác định rõ, tức là làm được hai chức năng: chỉ đạo tổ
chức quá trình đào tạo và làm chuẩn đo kết quả đào tạo (tức là lượng hoáđược, đo đạc được, quan sát được) Mục tiêu này là yêu cầu đối với từngngười học (với cá nhân)
- Quá trình đào tạo, nhằm vào mục tiêu, phải được tổ chức thành những qui trình cụ thể, bao gồm những thao tác, bố trí thành những hành
động, hợp thành những công đoạn…có thể có sự hỗ trợ của những phươngtiện kỹ thuật, sắp xếp thành trật tự trước sau theo thời gian; quá trình này là sựkết hợp của các nhân tố: nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức…giáo dục nhằm vào mục tiêu đào tạo Những qui trình này là những qui trìnhdạy và những qui trình học, phải hướng vào người học, và giúp cho người học
tự giác thực hiện; người học bằng chính hoạt động của mình mà chiếm lĩnh
Trang 10kiến thức, kỹ năng, thái độ và có năng lực lựa chọn, quyết định, có cơ sở (tưtưởng về “học sinh là trung tâm của giáo dục”).
- Quá trình đánh giá, phải được tổ chức thành qui trình đánh giá Mỗi
qui trình gồm những yếu tố: chuẩn, tiêu chí đáng giá (suy từ mục tiêu đàotạo), nội dung đánh giá (suy từ nội dung đào tạo), phương pháp đánh giá (suy
từ phương pháp đào tạo), phương tiện đánh giá Qui trình đánh giá phải bámsát qui trình dạy - học ( tránh tình trạng dạy theo một kiểu, lại đánh giá theomột kiểu khác) Có những đánh giá mang tính kiểm tra để uốn nắn cách dạyhọc; có những đánh giá mang tính tổng kết về mức độ đạt yêu cầu để xácnhận trình độ, cấp văn bằng, chứng chỉ Trong qui trình đánh giá, về mặt xãhội (tránh tiêu cực) Có thể xây dựng qui trình tự đánh giá
Nếu mục tiêu mang tính định tính thì phải xây dựng các chỉ số, các tiêuchí để chuyển thành định lượng được
Thứ hai, những qui trình giáo dục có thể kiểm soát được, chuyển giao
được Phải thực hiện đúng qui trình thì mới chuyển giao được và ai cũng làmđược
Thứ ba, nội dung giáo dục có thể lắp ghép được Nội dung giáo dục
được phân chia thành những bộ phận vừa tuân theo hệ thống logic vừa có tínhđộc lập tương đối, có thể lắp ghép cơ động dọc hoặc ngang theo tình huống cụthể
Thứ tư, sử dụng các phương pháp, hình thức giáo dục tiên tiến theo
hướng phân hoá, cá thể hoá phát triển năng lực sáng tạo của người học
Từ những vấn đề cơ bản của “Công nghệ giáo dục” cho chúng ta thấycông nghệ giáo dục là một hướng cơ bản nâng cao hiệu quả giáo dục trên
những quan niệm cơ bản là: Tổ chức khoa học quá trình giáo dục; sử dụng hợp lý các phương tiện kỹ thuật trong quá trình giáo dục; Coi người học là
Trang 11chủ thể, tích cực chủ động và sáng tạo thực hiện qui trình giáo dục dưới sự hướng dẫn, cố vấn, trọng tài của người thầy…
Công nghệ giáo dục còn đang là một hướng mới còn nhiều vấn đề về
lý luận và thực tiễn chưa được giải quyết, cần được khai phá, nhưng dù saocũng là hướng tích cực trong cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đangxâm nhập vào mọi lĩnh vực, cần được khuyến khích ở ước ta, trong phạm
trù “cải cách mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục” Đó là một phạm
trù hiện đại của giáo dục.
II MỐI QUAN HỆ GIỮA SỰ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VỚI SỰ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THEO TINH THẦN
NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG HAI KHOÁ VIII
Để thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII, Hội nghị lần thứ hai Ban Chấphành Trung ương khoá VIII đã quyết định và định hướng chiến lược, mụctiêu, nhiệm vụ của nước ta trên hai lĩnh vực có ý nghĩa hết sức quan trọngtrước mắt cũng như lâu dài là giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ
1 Định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Phân tích thực trạng nền giáo dục Việt Nam và xu thế phát triển của thời đạiĐảng ta đã đề ra những tư tưởng chỉ đạo phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳcông nghiệp hoá, hiện đại hoá là :
- Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những
con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổquốc; công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trịvăn hoá của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; phát huytiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và pháthuy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiệnđại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp,
Trang 12có tính tổ chức và kỷ luật; có sức khoẻ, là những người thừa kế xây dựng chủnghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” như lời căn dặn của Bác Hồ.
- Giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong nội dung, phương pháp
giáo dục - đào tạo, trong các chính sách, nhất là chính sách công bằng xãhội Phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của cơ chếthị trường đối với giáo dục - đào tạo Chống khuynh hướng “thương mạihoá”, đề phòng khuynh hướng phi chính trị hoá giáo dục - đào tạo Khôngtruyền bá tôn giáo trong trường học
- Thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu Nhận thức
sâu sắc giáo dục - đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là nhân tố quyếtđịnh tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục - đào tạo
là đầu tư phát triển Thực hiện các chính sách ưu tiên ưu đãi đối với giáodục - đào tạo, đặc biệt là chính sách đầu tư và chính sách tiền lương Cócác giải pháp mạnh mẽ để phát triển giáo dục
- Giáo dục - đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân Mọi người đi học, học thường xuyên, học suốt đời Phê phán thói
lười học Mọi người chăm lo cho giáo dục Các cấp uỷ và tổ chức đảng, cáccấp chính quyền, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế xã hội, các giađình và các cá nhân đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệpgiáo dục - đào tạo, đóng góp trí tuệ, nhân lực, vật lực, tài lực cho giáo dục -đào tạo Kết hợp giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội,tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh ở mọi nơi, trong từng cộng đồng, từng tậpthể
- Phát triển giáo dục - đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, những tiến bộ khoa học - công nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh Coi
trọng cả ba mặt; mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát triển hiệu quả Thựchiện giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học, lý luận gắn với