1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của chi tiêu công đến sự phát triển giáo dục ở các nước đông nam á

107 145 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xét về khía cạnh thực nghiệm, nhiều công trình nghiên cứu ngoài nước đã sử dụng cả dữ liệu dưới dạng bảng lẫn dạng chuỗi thời gian tổng thể để đánh giá tác động của chi tiêu công đến sự

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

- -

NGUYỄN THỊ TRANG

TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU CÔNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN

GIÁO DỤC Ở CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS DƯƠNG THỊ BÌNH MINH

Tp Hồ Chí Minh - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, bài luận văn: “Tác động của Chi tiêu công đến sự phát triển giáo dục ở các nước Đông Nam Á” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của GS.TS Dương Thị Bình Minh

Nguồn dữ liệu nghiên cứu các nước đang phát triển khu vực Đông Nam Á từ năm 2002 đến năm 2016 được lấy từ nguồn cơ sở dữ liệu của Worldbank Bài luận văn chưa được tác giả công bố tại bất kỳ tài liệu nghiên cứu nào Các thông tin về tài liệu tham khảo và kết quả tính toán được tác giả đề cập trong phần phụ lục để người đọc theo dõi và kiểm chứng

Tp Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 10 năm 2018

Tác giả

Nguyễn Thị Trang

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ ngữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

Mở đầu 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu chung 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 3

3 Câu hỏi nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Kết cấu của luận văn 5

7 Ý nghĩa của luận văn 5

Chương 1-Tổng quan lý thuyết về tác động của chi tiêu công đến sự phát triển giáo dục ……… 7

1.1 Tổng quan lý thuyết về chi tiêu công………7

1.1.1 Khái niệm chi tiêu công 7

1.1.2 Đặc điểm chi tiêu công 8

1.1.3 Phân loại chi tiêu công……….……….… 9

1.2 Vai trò của phát triển giáo dục đối với kinh tế - xã hội và các chỉ tiêu đo lường 11

1.3 Các yếu tố tác động đến sự phát triển giáo dục……… … 15

Trang 4

1.4 Lược khảo các nghiên cứu trước có liên quan……… … 16

Tóm tắt chương 1……… 18

Chương 2-Phương pháp và mô hình nghiên cứu 20

2.1 Mô hình và các giả thuyết nghiên cứu……… … 20

2.1.1 Mô hình nghiên cứu……… …… ……… 20

2.1.2 Các giả thuyết nghiên cứu……….……… 22

2.2 Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu ……… 22

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu ……… ……… 22

2.2.2 Dữ liệu nghiên cứu ……… ……… 24

Tóm tắt chương 2 ……… … 25

Chương 3-Thực trạng về phát triển giáo dục và các yếu tố tác động đến phát triển giáo dục tại các nước Đông Nam Á……… 27

3.1 Thực trạng về sự phát triển giáo dục tại các nước Đông Nam Á …… 27

3.1.1 Tỷ lệ nhập học tiểu học đúng độ tuổi ……… … … 27

3.1.2 Tỷ lệ nhập học trung học cơ sở đúng độ tuổi ……… … 29

3.1.3 Tỷ lệ người lớn biết chữ ……… ……… 31

3.2 Thực trạng về các yếu tố tác động đến phát triển giáo dục tại các nước Đông Nam Á 33

3.2.1 Chi tiêu công cho giáo dục ……… 33

3.2.2 Chi tiêu công cho y tế ……… 36

3.2.3 GDP bình quân đầu người ……….…… 38

3.2.4 Tỷ lệ dân số đô thị ……… … 40

Tóm tắt chương 3 ……….…… …… 42

Chương 4-Kết quả nghiên cứu tác động của Chi tiêu công đến sự phát triển giáo dục tại các nước Đông Nam Á ……….…… 43

4.1 Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu ……….…… 43

4.2 Kết quả kiểm định các giả định hồi quy ……… 44

Trang 5

4.2.1 Phân tích tương quan ……… …… 44

4.2.2 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến các biến độc lập ………… … 45

4.2.3 Kiểm định hiện tượng tự tương quan ……… … 45

4.2.4 Kiểm định hiện tượng phương sai sai số không đổi … …… ……… 46

4.2.5 Kiểm định phân phối chuẩn của phần dư ……….… …… 46

4.3 Kết quả ước lượng các hệ số hồi quy ……… 51

4.4 Thảo luận kết quả nghiên cứu ……… … 55

Tóm tắt chương 4 ……….…… 57

Chương 5-Kết luận và khuyến nghị ……… 58

5.1 Tóm tắt các kết quả chính của đề tài ……… … 58

5.2 Khuyến nghị về chi tiêu công cho giáo dục nhằm hỗ trợ cho sự phát triển giáo dục tại các nước Đông Nam Á ……… ……… 60

5.3 Khuyến nghị về chi tiêu công cho y tế nhằm hỗ trợ cho sự phát triển giáo dục tại các nước Đông Nam Á ……… …… 63

5.4 Khuyến nghị nhằm nâng cao GDP bình quân đầu người tại các nước Đông Nam Á ……… … … 65

5.5 Khuyến nghị về quá trình đô thị hóa gắn liền với hỗ trợ phát triển giáo dục tại các nước Đông Nam Á ……….……… … 66

5.6 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu trong tương lai ………… …… 68

Tóm tắt chương 5 ……….…69

Kết luận ……… … 70 Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations) ECM: Mô hình hiệu chỉnh sai số (Error correction model)

FEM: Mô hình tác động cố định(Fixed Effects Model)

FGLS: Bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (Feasible General Least Square)

GDP: Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)

GEE: Chi tiêu công cho giáo dục (Government expenditure on education)

GEH: Chi tiêu công cho lĩnh vực y tế (Government expenditure on health)

HDI: Chỉ số phát triển con người (Human Development Index)

Co-OLS: Phương pháp bình phương bé nhất (Ordinary Least Squares)

PCI: GDP bình quân đầu người của các quốc gia (GDP per capital)

PSE: Tỷ lệ nhập học tiểu học (Primary school enrolment rate)

REM: Mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effects Model)

SSE: Tỷ lệ nhập học trung học cơ sở (Secondary school enrolment rate)

THPT: Trung học phổ thông

UNDP: Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (United Nations Development Programme)

Trang 7

UNESCO: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization)

UPR: Tỷ lệ người dân ở thành thị trên tổng số dân(Urban population rate)

VECM: Mô hình hiệu chỉnh sai số vector (Vector error correction model)

WB: Ngân hàng thế giới (Worldbank)

WHO: Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)

Trang 8

Bảng 4.1 Thống kế mô tả dữ liệu nghiên cứu của mô hình

Bảng 4.2 Kết quả kiểm định sự tương quan giữa các biến trong mô hình

Bảng 4.3 Kết quả kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến các biến độc lập

Bảng 4.4 Kết quả kiểm định hiện tượng tự tương quan

Bảng 4.5 Kết quả kiểm định hiện tượng phương sai sai số không đổi

Bảng 4.6 Tổng hợp kết quả hồi quy đối với mô hình biến phụ thuộc PSE

Bảng 4.7 Tổng hợp kết quả hồi quyđối với mô hình biến phụ thuộc SSE

Bảng 4.8 Tổng hợp kết quả hồi quyđối với mô hình biến phụ thuộc LIT

Bảng 5.1 Tổng hợp kết quả hồi quy đối với ba mô hình nghiên cứu

Trang 9

Hình 4.1 Biểu đồ Histogramcủa mô hình với biến phụ thuộc PSE

Hình 4.2 Biểu đồ Histogram của mô hình với biến phụ thuộc SSE

Hình 4.3 Biểu đồ Histogram của mô hình với biến phụ thuộc LIT

Hình 4.4 Biểu đồ P – P Plot của mô hình với biến phụ thuộc PSE

Hình 4.5 Biểu đồ P – P Plot của mô hình với biến phụ thuộc SSE

Hình 4.6 Biểu đồ P – P Plot của mô hình với biến phụ thuộc LIT

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Giáo dục và đào tạo luôn có vai trò vô cùng quan trọng ở bất kỳ nền kinh tế, bất kỳ quốc gia nào Đầu tư cho giáo dục và đào tạo là điều bắt buộc để tạo động lực cho nền kinh tế gia tăng năng suất lao động và đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế Giáo dục giúp nâng cao số lượng lao động có trình độ chuyên môn bằng cách trang bị kiến thức

và kỹ năng làm việc Hơn nữa, giáo dục còn giúp điều chỉnh cơ cấu ngành nghề, giảm mức thất nghiệp trong nền kinh tế, tăng năng lực và năng suất lao động của quốc gia, cải thiện việc tiếp cận thông tin sức khoẻ làm tăng tuổi thọ, đồng thời quản lý tỷ lệ sinh Do đó, giáo dục có khả năng nâng cao năng suất sản xuất và chất lượng hàng hoá

và dịch vụ của một quốc gia Khi thế giới bước vào thời đại kinh tế tri thức, giáo dục

và nguồn nhân lực nói chung đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và bền vững, đặc biệt là ở các nước đang phát triển và các nền kinh tế mới nổi

Mặt khác, các khoản chi tiêu công cho giáo dục đã được các nhà khoa học công nhận là một phần quan trọng của các khoản chi tiêu công ở hầu hết các nước đang phát triển trên thế giới Điều này chủ yếu là vì giáo dục và nguồn nhân lực đã được tìm thấy

có một tác động tích cực và có ý nghĩa đối với tăng trưởng kinh tế Khi xem xét các yếu tố bên ngoài tác động đến sự phát triển của giáo dục, các nhà khoa học thừa nhận rộng rãi rằng nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo phân phối công bằng các cơ hội giáo dục cho toàn bộ dân cư Điều này đặc biệt quan trọng ở các nước đang phát triển có mức nghèo đói, bất bình đẳng và sự không hoàn hảo của thị trường

Sự can thiệp từ khu vực công bằng các khoản chi tiêu cho lĩnh vực giáo dục có thể tạo

ra cơ hội học tập bình đẳng cho tất cả mọi người dẫn đến sự cải thiện trong tương lai của các cá nhân, nâng cao trình độ tri thức cho cả cộng đồng

Trang 11

Bên cạnh đó, cho đến hiện tại trên thế giới đã có những nghiên cứu đánh giá về mối tương quan giữa chi tiêu công và sự phát triển của giáo dục cả ở khía cạnh lý thuyết và thực nghiệm Xét về khía cạnh thực nghiệm, nhiều công trình nghiên cứu ngoài nước

đã sử dụng cả dữ liệu dưới dạng bảng lẫn dạng chuỗi thời gian tổng thể để đánh giá tác động của chi tiêu công đến sự phát triển giáo dục thông qua nhiều chỉ tiêu khác nhau như tỷ lệ nhập học hoặc tỷ lệ hoàn thành ở các cấp học, tỷ lệ người lớn biết chữ Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại chưa có các công trình nghiên cứu trong nước hoặc trong khu vực được thực hiện có liên quan đến đề tài Hơn nữa, chiều hướng tác động của chi tiêu công đên các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của giáo dục có thể ngược chiều (-) hoặc cùng chiều (+) tùy theo bộ dữ liệu của nghiên cứu thực nghiệm

Do đó, việc nghiên cứu tác động của chi tiêu công đến sự phát triển của giáo dục tại khu vực Đông Nam Á gồm chủ yếu các nước đang phát triển đang là vấn đề rất cấp

thiết Chính vì vậy, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài: “TÁC ĐỘNG CỦA CHI

TIÊU CÔNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC Ở CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM

Á” để thực hiện luận văn thạc sĩ của mình nhằm giúp các nhà hoạch định chính sách có

cái nhìn khách quan và khoa học để đề ra những chính sách phù hợp về việc quản lý và

sử dụng chi tiêu công cho lĩnh vực giáo dục một cách hiệu quả, góp phần nâng cao trình độ tri thức của người dân, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực nhằm gia tăng năng suất và chất lượng sản xuất hàng hóa, dịch vụ, tạo động lực cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế tại các nước Đông Nam Á trong thời gian tới

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Ước lượng mức độ tác động của chi tiêu công đến sự phát triển giáo dục tại các quốc gia Đông Nam Á Trên cơ sở lý thuyết và kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số khuyến nghị nhằm giúp các nhà hoạch định chính sách quyết định chính sách chi tiêu công hợp lý để giúp lĩnh vực giáo dục ngày càng phát triển theo chiều hướng tích cực,

Trang 12

mang đến cơ hội học tập cho mọi người dân, góp phần vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế tại các nước Đông Nam Á trong tương lai

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa khung lý thuyết về chi tiêu công và vai trò của sự phát triển giáo dục đối với đời sống kinh tế - xã hội cũng như các chỉ tiêu định lượng phản ánh sự phát triển của lĩnh vực giáo dục

- Xây dựng mô hình nghiên cứu và ước lượng chiều hướng cũng như mức độ tác động của chi tiêu công cũng như các yếu tố kiểm soát khác trong mô hình đến sự phát triển của giáo dục ở các nước Đông Nam Á

- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề xuất khuyến nghị giúp các nhà hoạch định chính sách quyết định chính sách chi tiêu công hợp lý nhằm hỗ trợ cho sự phát triển ngày càng tích cực của lĩnh vực giáo dục ở các nước Đông Nam Á

3 Câu hỏi nghiên cứu

Trên cơ sở các mục tiêu nghiên cứu cụ thể, tác giả đặt ra các câu hỏi nghiên cứu gồm:

- Các yếu tố nào trong mô hình tác động đến sự phát triển giáo dục? Chiều hướng và mức độ tác động của từng yếu tố, trong đó có chi tiêu công đến sự phát triển giáo dục như thế nào ở các nước Đông Nam Á?

- Các nhà hoạch định chính sách cần làm gì để có chính sách chi tiêu công hợp lý nhằm hỗ trợ cho sự phát triển ngày càng tích cực của lĩnh vực giáo dục ở các nước Đông Nam Á?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu: Tác động của chi tiêu công đến sự phát triển giáo dục ở các nước Đông Nam Á

 Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu tác động của chi tiêu công đến kết quả giáo dục dựa trên tỷ lệ nhập học của học sinh các cấp và tỷ lệ người lớn biết chữ Trên cơ sở lý

Trang 13

thuyết về tác động của chi tiêu công đến sự phát triển của giáo dục ở các nước Đông Nam Á, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu để lượng hóa tác động của biến độc lập chi tiêu công cho giáo dục và các biến kiểm soát khác bao gồm GDP bình quân đầu người, chi tiêu công cho y tế, tỷ lệ dân thành thị trên tổng số dân đến kết quả giáo dục được thể hiện qua hai biến phụ thuộc là tỷ lệ nhập học của học sinh các cấp và tỷ lệ người lớn biết chữ Tác giả đã chọn các biến kiểm soát dựa vào một số lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm trước có liên quan

- Không gian nghiên cứu: các quốc gia đang phát triển của khu vực Đông Nam Á

- Thời gian nghiên cứu: tác giả thu thập dữ liệu trong 15 năm từ 2002 đến 2016

5 Phương pháp nghiên cứu

Trước tiên, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính như tổng hợp và phân tích để hệ thống các lý thuyết và các nghiên cứu tranh luận trên thế giới về chiều hướng tác động của chi tiêu công cho giáo dục cũng như các biến kiểm soát khác đến sự phát triển của lĩnh vực giáo dục để từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp với đề tài Ngoài ra tác giả sẽ sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phân tích thực trạng của vấn đề nghiên cứu

Tiếp theo, tác giả sử dụng phương pháp định lượng để tiến hành phân tích hồi quy

mô hình nghiên cứ Dữ liệu được tác giả sử dụng để tiến hành hồi quy là dữ liệu bảng (panel data) Do đó, tác giả sẽ xử lý “dữ liệu bảng bằng ba phương pháp ước lượng khác nhau là: mô hình ước lượng OLS thô (Pooled OLS), mô hình tác động cố định (Fixed Effects Model) và mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effects Model) để lượng hóa mức độ ảnh hưởng của biến độc lập và các biến kiểm soát trong mô hình nghiên cứu đến sự phát triển trong lĩnh vực giáo dục thể hiện bởi hai biến phụ thuộc là

tỷ lệ nhập học của học sinh các cấp và tỷ lệ người lớn biết chữ Bên cạnh đó, để chọn lựa mô hình phù hợp nhất với mô hình và dữ liệu nghiên cứu, tác giả sẽ sử dụng các kiểm định Breusch-Pagan Lagrangian và kiểm định Hausman cũng như so sánh các chỉ

Trang 14

tiêu về khả năng giải thích sự biến thiên của biến phụ thuộc của mô hình để lựa chọn giữa ba phương pháp ước lượng

Mặt khác, để đảm bảo tính hiệu quả của các hệ số hồi quy và tính đại diện cho tổng thể của mô hình nghiên cứu, tác giả sẽ thực hiện kiểm định một số giả định hồi quy của

mô hình bao gồm: hiện tượng đa cộng tuyến; hiện tượng tự tương quan; phương sai sai

số không đổi; phần dư có phân phối chuẩn

6 Kết cấu của luận văn

Luận văn được kết cấu như sau:

- Chương 1: Tổng quan lý thuyết về tác động của chi tiêu công đến sự phát triển giáo dục

- Chương 2: Mô hình và phương pháp nghiên cứu

- Chương 3: Thực trạng về sự phát triển giáo dục và các yếu tố tác động tại các nước Đông Nam Á

- Chương 4: Kết quả nghiên cứu tác động của chi tiêu công đến sự phát triển giáo dục ở các nước Đông Nam Á

- Chương 5: Kết luận và khuyến nghị

7 Ý nghĩa của luận văn

- Về mặt lý luận: Nghiên cứu góp phần hệ thống hóa nền tảng lý thuyết về tác động

của chi tiêu công đến sự phát triển giáo dục của các nước đang phát triển Thông qua việc lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm trước có liên quan, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu tác động của chi tiêu công đến sự phát triển giáo dục phù hợp với tình hình thực tế tại các quốc gia khu vực Đông Nam Á

- Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác

động của chi tiêu công đến sự phát triển trong lĩnh vực giáo dục thể hiện qua ba biến phụ thuộc là tỷ lệ nhập học của học sinh tiểu học, tỷ lệ nhập học của học sinh trung học

và tỷ lệ người lớn biết chữ tại các nước Đông Nam Á để từ đó các nhà hoạch định chính sách có thể đưa ra các quyết định chi tiêu ngân sách phù hợp để đầu tư cho sự

Trang 15

nghiệp giáo dục và đào tạo của quốc gia Đông Nam Á, góp phần hướng đến xây dựng nền kinh tế tri thức có tốc độ tăng trưởng cao và bền vững trong tương lai.

Trang 16

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA

CHI TIÊU CÔNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC

1.1 Tổng quan lý thuyết về chi tiêu công

1.1.1 Khái niệm chi tiêu công

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam có nhiều cách tiếp cận khác nhau để định nghĩa

về chi tiêu công Tác giả đã tổng hợp một số khái niệm về chi tiêu công như sau:

Theo Robert Barro và Vittorio Grilli (1994), chi tiêu công bao gồm tất cả các khoản thanh toán tiêu dùng, đầu tư và chuyển nhượng của chính phủ để mua hàng hóa và dịch

vụ nhằm sử dụng để đáp ứng trực tiếp nhu cầu của cộng đồng

Theo Valentino Piana (2001), chi tiêu công là các khoản chi được thực hiện bởi nhà nước và các cơ quan của nhà nước trong việc cung cấp hàng hóa công cho xã hội Theo Dương Thị Bình Minh (2005), chi tiêu công là các khoản chi tiêu của nhà nước nhằm thực hiện các chức năng vốn có của nhà nước trong việc cung cấp hàng hóa công, phục vụ lợi ích kinh tế - xã hội cho cộng đồng Điều này xuất phát từ chức năng quản lý toàn diện nền kinh tế xã hội của nhà nước

Theo Nguyễn Thị Cành (2006), chi tiêu công phản ánh trị giá của các loại hàng hóa

mà chính phủ mua vào để qua đó cung cấp các loại hàng hóa công cho xã hội nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước Bên cạnh đó, chi tiêu công thực hiện chính sách tái phân phối thu nhập

Theo Dương Đăng Chinh (2009), chi tiêu công là quá trình phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhằm thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước trong từng thời kì Nội dung của chi tiêu công rất đa dạng, điều này xuất phát từ vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước trong việc phát triển kinh tế - xã hội

Trang 17

Theo Sử Đình Thành (2012), chi tiêu công được khái niệm hoàn toàn dựa vào ý niệm về kinh tế xã hội, đó là: quyền lực, ảnh hưởng của nhà nước và các cơ quan công quyền đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội

Theo Ogbole & Momodu (2015), chi tiêu công (hay chi tiêu của chính phủ) là khoản tiền mà chính phủ của bất kỳ quốc gia nào chi ra để thực hiện trách nhiệm hiến pháp của mình trong việc cung cấp các phúc lợi xã hội cho công dân của mình và bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của mình Bên cạnh đó, chi tiêu công là các khoản chi được thực hiện bởi nhà nước và các cơ quan của nhà nước trong việc cung cấp hàng hóa công

Tóm lại, tác giả đúc kết khái niệm về chi tiêu công như sau: Chi tiêu công là các khoản chi tiêu của các cấp chính quyền, các đơn vị quản lý hành chính, các đơn vị sự nghiệp được sự kiểm soát và tài trợ bởi Chính phủ Về mặt bản chất, chi tiêu công là quá trình phân phối và sử dụng các quỹ tài chính công nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

1.1.2 Đặc điểm chi tiêu công

Theo Giáo trình Tài chính công (2006) của Nguyễn Thị Cành, chi tiêu công có những đặc điểm cụ thể như sau:

Điểm nổi bật của chi tiêu công là nhằm phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng dân cư ở các vùng hay phạm vi quốc gia Điều này xuất phát từ chức năng quản lý toàn diện của nền kinh tế - xã hội của nhà nước và cũng chính là quá trình thực hiện chức năng đó của nhà nước đã cung cấp một lượng hàng hóa công cộng khổng lồ cho nền kinh tế

Chi tiêu công luôn gắn liền với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà nhà nước thực hiện Các khoản chi tiêu công do chính quyền các cấp đảm nhận theo nội dung đã được quy định trong phân cấp quản lý ngân sách nhà nước và các khoản chi tiêu này nhằm đảm bảo cho các cấp chính quyền thực hiện các chức năng quản lý, phát triển kinh tế - xã hội Song song đó, các cấp của cơ quan quyền lực nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định cơ cấu, nội dung, mức độ của các khoản chi

Trang 18

tiêu công cộng nhằm thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ kinh tế, chính trị xã hội của quốc gia

Các khoản chi tiêu hoàn toàn mang tính công cộng Chi tiêu công tương ứng với những đơn đặt hàng của Chính phủ về mua hàng hóa, dịch vụ nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước Đồng thời đó cũng là những khoản chi cần thiết, phát sinh tương đối ổn định như: chi lương cho công chức nhà nước, chi hàng hóa dịch vụ công đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của người dân,

Các khoản chi tiêu công cộng mang tính không hoàn trả hay hoàn trả không trực tiếp Điều này thể hiện ở chỗ không phải mọi khoản thu với mức độ và số lượng của những địa chỉ cụ thể đều hoàn lại dưới hình thức các khoản chi tiêu công cộng Điều này được quyết định bởi những chức năng tổng hợp về kinh tế - xã hội của nhà nước

1.1.3 Phân loại chi tiêu công

Việc phân loại chi tiêu công nhằm mục đích sau:

- Giúp cho Chính phủ thiết lập được những chương trình hành động

- Tăng cường tính hiệu quả trong việc chấp hành NSNN nói chung và chi tiêu công nói riêng

- Quy định tính trách nhiệm trong việc phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính Nhà nước

- Cho phép phân tích ảnh hưởng của những hoạt động tài chính của Nhà nước đối với nền kinh tế

Theo Giáo trình Quản lý Tài chính công (2009) của Dương Đăng Chinh và Phạm Văn Khoan, có thể xem xét một số tiêu thức phân loại sau:

- Căn cứ theo chức năng của Nhà nước, chi tiêu công được chia làm các loại như:

Xây dựng cơ sở hạ tầng, tòa án và viện kiểm soát, hệ thống quân đội và an ninh xã hội,

hệ thống an sinh xã hội, hệ thống giáo dục…Trong đó, chi tiêu công dành cho giáo dục

là một vấn đề trọng tâm đối với chi tiêu công của Chính phủ Chi tiêu cho giáo dục tại Việt Nam hiện nay bao gồm các nguồn kinh phí từ NSNN (bao gồm cả công trái giáo

Trang 19

dục, vay nợ, viện trợ); các nguồn ngoài NSNN (học phí, thu dịch vụ KHCN, đóng góp của các tổ chức, cá nhân) Trong đó, đầu tư từ NSNN có vai trò chủ đạo

- Căn cứ theo tính chất kinh tế, chi tiêu công được chia thành chi thường xuyên và

chi đầu tư phát triển Đây là cách phân loại phổ biến vì qua đây nhà nước sẽ biết được những thông tin về sự ảnh hưởng của chính sách chi tiêu công đối với mọi hoạt động kinh tế xã hội, qua đó giúp chính phủ thiết lập các chương trình chi tiêu nhằm nâng cao hiệu quả chi tiêu công

+ Chi thường xuyên: Đây là nhóm chi phát sinh thường xuyên cần thiết cho hoạt

động của các đơn vị khu vực công Chi thường xuyên bao gồm chi thanh toán tiền lương, tiền công, phụ cấp, bảo hiểm; chi về hàng hóa, dịch vụ (như điện nước, vật tư văn phòng, đồng phục, in ấn…); chi trả lãi tiền vay; các khoản chi khác như bổ sung quỹ dự trữ tài chính, chi xử lý tài sản được xác lập sở hữu nhà nước…

+ Chi đầu tư phát triển: Đây là nhóm chi gắn liền với các chức năng phát triển

kinh tế của nhà nước Chi đầu tư phát triển gồm có chi xây dựng cơ sở hạ tầng; đầu tư

hỗ trợ các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực then chốt của nền kinh tế có sự quản

lý và điều tiết từ nhà nước, chi hỗ trợ cho các quỹ hỗ trợ tài chính của nhà nước, chi dự trữ quốc gia

- Căn cứ theo trình tự lập dự toán NSNN, chi tiêu công được chia thành:

+ Chi tiêu công theo các yếu tố đầu vào:

Nhà nước xác lập mức kinh phí cho các khoản chi tiêu công dựa trên danh sách liệt kê các khoản mua sắm những phương tiện cần thiết cho hoạt động của các cơ quan, đơn vị, thông thường cho các khoản mục cơ bản sau: chỉ mua tài sản cố định, chi mua tài sản lưu động, chi tiền lương và các khoản phụ cấp, chi bằng tiền khác

+ Chi tiêu công theo các yếu tố đầu ra:

Kinh phí phân bổ cho đơn vị cơ quan, không căn cứ vào các yếu tố đầu vào mà dựa vào khối lượng công việc đầu ra và kết quả tác động đến mục tiêu hoạt động của đơn vị

Trang 20

1.2 Vai trò của phát triển giáo dục đối với kinh tế - xã hội và các chỉ tiêu đo lường

Trong đời sống xã hội, giáo dục và đào tạo là lĩnh vực có vai trò quan trọng đối với mọi quốc gia, dân tộc ở mọi thời đại Trong xu thế phát triển tri thức ngày nay, giáo dục - đào tạo được xem là chính sách, biện pháp quan trọng hàng đầu để phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển Nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia, dân tộc từ tài nguyên, sức lao động cơ bắp là chính chuyển sang nguồn lực con người có tri thức là cơ bản nhất Giáo dục góp phần nâng cao dân trí ở mọi quốc gia, dân tộc, cung cấp nguồn nhân lực có trình độ góp phần phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Trong nền kinh tế tri thức hiện nay, tri thức là sản phẩm của giáo dục và đào tạo, đồng thời là tài sản quý giá nhất của con người và xã hội Sở hữu tri thức trở thành sở hữu quan trọng nhất được các nước thừa nhận và bảo hộ Các quốc gia muốn phát triển kinh tế một cách nhanh chóng thì cần phải chú trọng phát triển giáo dục bởi vì các nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế từ lâu đã nhận thấy rằng vốn con người đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và giáo dục chính là cách thức cơ bản để tích lũy vốn con người Trong thời gian qua, các nghiên cứu về vai trò kinh tế của giáo dục đã phát triển mạnh thông qua việc thực hiện ước lượng về lợi suất tính bằng tiền của giáo dục trên cơ sở nền tảng kinh tế lao động vi

mô Các kết quả nghiên cứu cho thấy thành tích của giáo dục là một biến quan trọng xác định thu nhập ở tầm vi mô Từ một phân tích về dữ liệu tổng điều tra năm 1995 của Indonesia, người ta đã kết luận rằng tỉ lệ thu hồi của giáo dục là 6,8-10,6% Theo Permani (2009), giáo dục cũng là một nhân tố quan trọng ở Singapore khi nước này bắt đầu quá trình tăng trưởng ban đầu là một trung tâm lao động có mức lương thấp, nhưng ngay sau đó mức lương đã tăng lên cùng với việc mở rộng giáo dục Ở Malaysia, giáo dục cũng là một nhân tố quan trọng quyết định thu nhập, ngoài biến số là giới tính và dân tộc (Milanovic, 2006).” Tại Đài Loan, thu hồi của giáo dục đối với những người lao động có bằng cao đẳng đã tăng lên kể từ năm 1980 (Lin và Orazem, 2004)

Trang 21

Thật vậy, sự phát triển của giáo dục đã đem đến nhiều lợi ích về kinh tế cho mỗi người dân và cho cả quốc gia Theo Okonkwo (2014), những người có trình độ học vấn cao hơn sẽ có nhiều việc làm hơn và ít có khả năng bị mất việc làm Tỷ lệ tham gia lao động gia tăng cùng với trình độ giáo dục đạt được của các cá nhân Những người có trình độ cao nhất sẽ có thu nhập cao nhất Những người có trình độ học vấn cao có nhiều khả năng sẽ có việc làm hơn và ít bị mất việc làm hơn, nếu họ làm việc hiệu quả

Tỷ lệ tham gia lao động tăng cùng với trình độ học vấn của từng cá nhân Những người

có trình độ cao nhất có thu nhập cao nhất

Các phân tích về hiệu quả của giáo dục thường có xu hướng phân biệt sự khác biệt trong thu nhập cá nhân với sự đóng góp khác nhau của mỗi người vào kết quả lao động Theo Mincer, J (1958), các lý thuyết truyền thống về nguồn nhân lực chỉ rõ rằng người lao động được hưởng lợi dựa trên năng suất biên của họ và các công nhân có trình độ học vấn cao hơn sẽ kiếm được lương cao hơn bởi vì họ được cho là có năng suất cao hơn

Theo Solow (1956), trong các mô hình tăng trưởng, tăng trưởng dài hạn phụ thuộc vào tiến bộ công nghệ, trong đó vai trò quan trọng của giáo dục vẫn được đề cập như là một yếu tố quan trọng góp phần vào tiến bộ công nghệ của các nước Tương tự, Gurgand (2003) cho rằng các quốc gia nỗ lực trong việc giáo dục công dân của họ trở nên có trình độ chuyên môn tốt hơn nhằm thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế bằng cách thiết lập sự tương đồng giữa vốn con người và vốn vật chất, nghĩa là xem con người là một nhân tố tích lũy tăng mức sản xuất hoặc giả định rằng nguồn nhân lực trực tiếp ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng thông qua các tiến bộ công nghệ Nelson,

R & Phelps, E (1996) cho rằng vì giáo dục về cơ bản là khả năng hiểu được thông tin mới và thích nghi với hành vi của một người, nên các nền kinh tế có số lượng công nhân có tay nghề cao nhất sẽ nhanh chóng áp dụng và thực hiện các công nghệ hiệu quả nhất Theo họ, đó là trình độ giáo dục làm tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế bằng cách thúc đẩy sự đồng hóa tiến bộ công nghệ

Trang 22

Một cơ chế khác sau đó được xác định bởi Romer (1990) - người đã kiểm tra sự liên quan của hoạt động nghiên cứu và phát triển kinh tế Kết quả nghiên cứu của Romer chỉ ra rằng tích lũy một kho kiến thức làm cho người sở hữu nó có thể tăng hiệu quả làm việc, tạo ra sự giàu có thông qua lao động và vốn Nâng cao trình độ học vấn của người dân để tạo ra số lượng công nhân có trình độ cao có thể tham gia tích lũy kiến thức sẽ làm tăng khả năng làm việc và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Do đó, để đất nước có sự phát triển vượt trội về kinh tế thì rất cần đầu tư vào sự nghiệp giáo dục Theo đó, sự nghiệp giáo dục cần phát triển theo hướng để mọi người đều được có cơ hội học tập một cách bình đẳng, chất lượng giảng dạy ngày càng được nâng cao, đáp ứng nhu cầu về chất lượng nguồn nhân lực cung cấp cho các ngành nghề trong xã hội Sự phát triển của lĩnh vực giáo dục thường được đánh giá thông qua chỉ

số giáo dục Theo tài liệu của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) về Báo cáo Phát triển Con người, chỉ số giáo dục là một trong ba chỉ số được dùng để xác định chỉ số phát triển con người (HDI) Chỉ số giáo dục hay còn gọi là HDI2 được xây dựng trong báo cáo này dựa trên trên tỷ lệ nhập học đúng tuổi theo các bậc học và tỷ lệ người lớn biết chữ (từ 15 tuổi trở lên) gộp lại với tỷ lệ người lớn biết chữ chiếm 2/3 hệ

số và tỷ lệ nhập học đúng tuổi theo các bậc học chiếm 1/3 (theo UNDP, 2003) Trong

đó hai chỉ tiêu này được định nghĩa và tính toán cụ thể như sau:

- Tỷ lệ nhập học đúng tuổi theo cấp học (%):

Theo kho dữ liệu của WorldBank, tỷ lệ đi học đúng tuổi theo cấp học X được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa số học sinh trong độ tuổi cấp học X đang đi học cấp học X so với tổng số người trong độ tuổi cấp học X Công thức tính được xác định như sau:

Tỷ lệ đi học đúng tuổi cấp học X (%) = (Số học sinh trong độ tuổi cấp học X đang học cấp X/ Số người trong độ tuổi cấp học X) x 100%

Chỉ số này sử dụng để giám sát việc thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục các cấp học được xác định rõ ràng trong Mục tiêu Thiên niên kỷ và trong Các sáng kiến Giáo dục Chỉ tiêu này chỉ ra số trẻ em ở độ tuổi các cấp từ tiểu học đến trung học được đến

Trang 23

trường Tỷ lệ nhập học đúng tuổi chỉ tính cho số trẻ em có tuổi chính thức phải đến trường theo quy định của ngành giáo dục mỗi nước Tỷ lệ nhập học đúng tuổi nhỏ hơn 100% cho ta biết một tỷ lệ trẻ em đến tuổi đi học nhưng không được đến trường

- Tỷ lệ người lớn biết chữ:

Tỉ lệ biết chữ không có nghĩa đơn giản là tỉ lệ biết đọc biết viết Theo định nghĩa khái niệm “kỹ năng biết chữ của người lớn” trong cuộc khảo sát quốc tế về tình trạng biết chữ của người trưởng thành được thực hiện từ 1994 - 1998 (IALS, International Adult Literacy Survey), nó có nghĩa là “sự hiểu biết và khả năng sử dụng thông tin để

có thể vận dụng một cách hiệu quả các kiến thức đòi hỏi trong một xã hội tri thức của thế kỷ 21” Nói cách khác, biết chữ có nghĩa là kiến thức và kỹ năng xử lý thông tin mà con người cần phải có khi đọc các tài liệu thường gặp hằng ngày trong công việc làm, ở gia đình hay trong cộng đồng

Khi thực hiện cuộc khảo sát này để tính tỉ lệ biết chữ của một nước, người ta không

đo lường cá nhân về kiến thức lý thuyết hay khả năng nhớ thuộc lòng các thông tin, mà chỉ khảo sát khả năng triển khai và giải thích ý nghĩa của các tài liệu dưới nhiều dạng khác nhau: văn xuôi, văn vần, các tài liệu hướng dẫn, các thông báo, biểu mẫu xin việc, bảng biểu thống kê, tài liệu định lượng, các tính toán Căn cứ trên điểm số các thang

đo lường ấy, người ta phân chia dân chúng trong mỗi nước theo các mức biết chữ và tính tỉ lệ trong từng mức, từ 1 (thấp nhất) đến 5 (cao nhất) Trong đó, mức 3 đòi hỏi kỹ năng tương đương với tốt nghiệp THPT và năm đầu đại học Mức 4 và 5 đòi hỏi kỹ năng xử lý thông tin cao hơn, tương đương với trình độ đại học

Hiện nay, dường như chưa có dữ kiện thống kê nào cho biết được các tỉ lệ theo các mức này ở từng quốc gia Ngân hàng Thế giới (World Bank - WB) chỉ có dữ liệu thống

kê chung về tỷ lệ biết chữ ở người lớn Theo trang điện tử của Tổ chức thống kê (UNESCO Institute for Statistics) (2000), tỷ lệ này được xác định là tỷ lệ phần trăm những người từ 15 tuổi trở lên có thể đọc và viết với sự hiểu biết một tuyên bố ngắn

Trang 24

gọn về cuộc sống hàng ngày của họ Do đó, tác giả sẽ tạm chấp nhận sử dụng dữ liệu này của WB cho nghiên cứu của luận văn

1.3 Các yếu tố tác động đến sự phát triển giáo dục

- Yếu tố chi tiêu công là yếu tố được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về sự tác động của các yếu tố đến phát triển giáo dục, cụ thể là tỷ lệ chi tiêu công cho giáo dục trên GDP và tỷ lệ chi tiêu công cho y tế trên GDP Lý giải cho điều này, Todaro & Smith (2009) cho rằng việc chi tiêu công cho giáo dục thể hiện khá rõ ràng vai trò của

nó đối với kết quả giáo dục Nếu chính phủ chi tiêu nhiều hơn cho giáo dục chủ yếu ở một nước nghèo sẽ giúp cho nhiều người được tiếp cận với trường lớp; nó có thể làm giảm tỷ lệ bỏ học ở trường, đồng thời dẫn đến kết quả giáo dục tốt hơn Tuy nhiên, kết quả này chỉ có được khi chi tiêu công cho giáo dục được sử dụng có hiệu quả và đúng mục đích, không bị chiếm đoạt hay lãng phí Ngoài ra, cũng theo Todaro & Smith (2009), tiêu chuẩn sức khoẻ được cho là có liên quan chặt chẽ với tiêu chuẩn giáo dục Nếu mọi người khỏe mạnh, họ sẽ dành nhiều thời gian hơn để đến trường học cũng như làm tốt hơn công việc học tập, do đó cải thiện kết quả giáo dục Vì vậy nếu chi tiêu công cho y tế cao hơn sẽ cải thiện được tiêu chuẩn sức khoẻ, nó cũng có thể cải thiện kết quả giáo dục Điều này một lần nữa phụ thuộc vào việc quản lý và sử dụng chi tiêu công đúng mục đích và thực sự có hiệu quả, ngăn chặn những hành vi lãng phí và tham nhũng

- Ngoài ra, sự phát triển giáo dục còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố kinh tế - xã hội khác như GDP bình quân đầu người và tỷ lệ dân số đô thị Yếu tố GDP bình quân đầu người dùng để đo lường mức thu nhập trung bình của một quốc gia Theo Ude, D., & Ekesiobi, S (2014), việc tăng GDP đầu người cho thấy chất lượng cuộc sống ở một quốc gia cao hơn, nhưng không thể hiện rằng mọi người được bình đẳng với nhau về mọi cơ hội học tập Vì vậy, việc thay đổi mức thu nhập bình quân đầu người sẽ có ảnh hưởng đến kết quả giáo dục trong một chừng mực nhất định do chất lượng cuộc sống của người dân thay đổi sẽ tác động đến nhu cầu và điều kiện học tập của họ Cuối

Trang 25

cùng, tỷ lệ dân số đô thị trên tổng số dân cũng được xem là một yếu tố kiểm soát có tác động đến kết quả giáo dục bởi vì nó có thể có xu hướng gợi ý mức độ thay đổi cuộc sống của một quốc gia (Charles Uchenna Obi và cộng sự, 2016) Nói chung, người ta tin rằng khi người di chuyển từ nông thôn ra thành thị, họ có mức sống cao hơn, do đó

mà mức chi trả của họ cũng cao hơn Mức sống là một yếu tố kinh tế rất quan trọng ảnh hưởng đến kết quả giáo dục, bởi nó ảnh hưởng đến khả năng chi trả để người đi học có được những điều kiện cần thiết tham gia vào việc học tập Các khoản chi phí liên quan đến giáo dục gồm học phí, các khoản đóng góp cho nhà trường và lớp, các khoản tiền mua sách vở, mua đồ dùng học tập, mua quần áo đồng phục và các khoản chi phí khác

có liên quan Một lần nữa kể từ khi có bất cứ điều gì làm thay đổi mức thu nhập có thể thay đổi đầu tư vào giáo dục và kết quả giáo dục, do đó yếu tố này được đưa vào mô hình nghiên cứu để đánh giá sự thay đổi địa điểm ảnh hưởng như thế nào đến kết quả giáo dục, bởi vì ở các nước đang phát triển, quá trình đô thị hóa gắn liền với mức sống được cải thiện

1.4 Lược khảo các nghiên cứu trước có liên quan

Theo Mukherjee, A N (2007), khi xem xét các ngoại tác phổ biến trong giáo dục,

người ta thừa nhận rộng rãi rằng nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo phân phối công bằng các cơ hội giáo dục cho toàn bộ công dân Điều này đặc biệt quan trọng ở các nước đang phát triển có mức nghèo đói, bất bình đẳng và sự không hoàn hảo của thị trường Sự can thiệp của nhà nước vào giáo dục thông qua chi tiêu công cho giáo dục có thể dẫn đến sự cải thiện tương lai của các cá nhân, cho phép phân bổ công bằng cơ hội được học tập dẫn đến gia tăng khả năng tìm kiếm việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân

Mối quan hệ giữa chi tiêu công và sự phát triển của giáo dục đặc biệt được quan tâm

ở các quốc gia đang phát triển, nơi cuộc sống người dân còn gặp nhiều khó khăn, ít có

cơ hội được học tập Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện ở các quốc gia để làm rõ mối

Trang 26

quan hệ này Do đó tác giả thực hiện lược khảo các nghiên cứu trước có liên quan để làm cơ sở đề xuất mô hình nghiên cứu của luận văn

Ude, D., & Ekesiobi, S (2014) đã thực hiện nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng

của các loại chi tiêu công xã hội đến sự phát triển trong từng lĩnh vực xã hội với sự nhấn mạnh đặc biệt về lĩnh vực giáo dục ở Nigeria Nghiên cứu sử dụng bảng dữ liệu

từ 36 tiểu bang của liên bang Dữ liệu bảng được thu thập từ năm 2009 đến năm 2013 Nghiên cứu áp dụng phương pháp ước lượng cố định và ước lượng ngẫu nhiên để phân tích mô hình nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy các chi tiêu của tiểu bang đối với giáo dục có ảnh hưởng đáng kể đến tổng số học sinh nhập học tiểu học, tổng số học sinh nhập học và đăng ký học ở người lớn tại Nigeria ở cả hai phương pháp ước lượng

Adowaa, B (2014) đã nghiên cứu về tầm quan trọng của quản lý chi tiêu công đối

với kết quả giáo dục tiểu học ở các trường công ở hai tỉnh Nam Phi (Gauteng và North West) Sử dụng dữ liệu bảng từ 175 trường tiểu học công lập và 13 văn phòng giáo dục địa phương, phân tích hồi quy tuyến tính OLS cho thấy sự chậm trễ của chính phủ trong việc giải ngân vốn đến các trường học có tương quan với tỷ lệ bỏ học lớp 5 Nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng về chi tiêu công và tổng tài nguyên (bao gồm

cả đóng góp của nhà nước và tư nhân) tác động đến kết quả giáo dục

Okeke, B C (2014) đã sử dụng cơ chế hiệu chỉnh sai số vector (VECM) để điều tra

tác động của chi tiêu của chính phủ đối với tổng số trẻ nhập học và tỷ lệ tử vong ở trẻ

em dưới 5 tuổi ở Nigeria trong giai đoạn 1980-2010 Kết quả cho thấy chi phí y tế của chính phủ làm giảm đáng kể tỷ lệ tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi trong khi chi tiêu của chính phủ cho giáo dục không ảnh hưởng đáng kể đến tổng số trẻ nhập học

Mussagy, I H., & Babatunde, M A (2015) tập trung vào tác động của chi tiêu

giáo dục của chính phủ và tăng trưởng kinh tế ở Mozambique bằng cách sử dụng dữ liệu hàng quý Phân tích đồng liên kết đã được sử dụng để kiểm tra mối quan hệ dài hạn giữa các biến trong khi phân tích ECM được áp dụng để đánh giá tác động trong ngắn hạn Nghiên cứu phát hiện ra rằng chi tiêu của chính phủ cho giáo dục ở

Trang 27

Mozambique khá thấp và có ảnh hưởng yếu đến sự phát triển giáo dục và tăng trưởng kinh tế

Charles Uchenna Obi và cộng sự (2016) thực hiện nghiên cứu về tác động của chi

tiêu công cho giáo dục của chính phủ đến kết quả giáo dục tại Nigeria từ năm 1970 đến năm 2013 Sử dụng phương pháp phân tích đồng liên kết và ước lượng OLS, nghiên cứu cho thấy rằng chi tiêu công cho giáo dục có tác động tích cực và có ý nghĩa đối với kết quả giáo dục ở Nigeria Chi phí y tế công cộng và tăng trưởng dân số đô thị cũng có ảnh hưởng tích cực đến kết quả giáo dục nhưng không đáng kể trong việc xác định kết quả giáo dục Nghiên cứu đề nghị rằng chính phủ nên chi tiêu nhiều hơn cho giáo dục bên cạnh đó cần phải được xác định được các mục tiêu mong muốn được thực hiện Bên cạnh đó, chính phủ cần kiểm soát chặt chẽ vấn đề tham nhũng và tham ô quỹ công trong quá trình chi tiêu cho giáo dục ở Nigeria

Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại chưa có các công trình nghiên cứu trong nước hoặc trong khu vực được thực hiện có mô hình nghiên cứu định lượng cụ thể Tại Việt Nam, nghiên cứu về “Chi tiêu công cho y tế, giáo dục và giao thông công cộng ở một

số tỉnh tại Việt Nam” được thực hiện bởi tổ chức ACTIONAID Việt Nam (2016) chỉ mới tiếp cận vấn đề bằng cách đánh giá thực trạng của tình hình chi tiêu công cho giáo dục cũng như những khó khăn, hạn chế trong vấn đề này chứ chưa có mô hình định lượng để đánh giá mức độ tác động của chi tiêu công đến sự phát triển giáo dục thể hiện qua các chỉ tiêu cụ thể

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Chương 1 trình bày nền tảng lý thuyết về chi tiêu công bao gồm: khái niệm chi tiêu công, các đặc điểm của chi tiêu công và các tiêu chí để phân loại chi tiêu công Bên cạnh đó, tác giả cũng trình bày về vai trò cùa sự phát triển giáo dục đối với đời sống kinh tế - xã hội cũng như các chỉ số phản ánh sự phát triển của lĩnh vực giáo dục Cuối

Trang 28

cùng tác giả trình bày sự tác động của chi tiêu công cho giáo dục đến sự phát triển giáo dục thông qua việc lược khảo các công trình nghiên cứu có liên quan trên thế giới để có cái nhìn tổng quan về vấn đề nghiên cứu này

Trang 29

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1 Mô hình và các giả thuyết nghiên cứu

2.1.1 Mô hình nghiên cứu

Tác giả đã thực hiện lược khảo các nghiên cứu trước có liên quan để từ đó làm cơ sở

đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp để lượng hóa sự tác động của chi tiêu công và các biến kiểm soát khác đến sự phát triển của giáo dục tại các nước đang phát triển khu vực Đông Nam Á Các biến trong mô hình được kế thừa từ ý tưởng của các nghiên cứu trước, đặc biệt là nghiên cứu của Charles Uchenna Obi và cộng sự (2016) do mô hình của nghiên cứu này thể hiện khá đầy đủ các yếu tố tác động đến kết quả giáo dục Yếu

tố chi tiêu công tác động đến sự phát triển giáo dục trong mô hình này không chỉ có chi tiêu công cho giáo dục như các nghiên cứu khác mà còn bổ sung biến chi tiêu công cho

y tế dựa trên cơ sở những lập luận đã được trình bày trong mục 1.3 Ngoài ra, mô hình nghiên cứu này còn có những biến kiểm soát là các yếu tố vĩ mô có liên quan khá chặt chẽ đến sự phát triển giáo dục Đó là những lý do mà tác giả đã lựa chọn mô hình nghiên cứu này làm nền tảng cho đề tài nghiên cứu của mình Tác giả sử dụng phân tích hồi quy tuyến tính đa biến để ước lượng mức độ tác động của biến độc lập và các biến kiểm soát trong mô hình đến sự phát triển giáo dục của các nước Đông Nam Á Phương trình hồi quy được sử dụng trong nghiên cứu có dạng như sau:

Y it = α i + β 1 GEE it + β 2 GEH it + β 3 PCI it + β 4 UPR it + ε it (0)

Trong đó:

- Biến phụ thuộc Y thể hiện sự phát triển của giáo dục được lượng hóa qua các

chỉ số là tỷ lệ nhập học tiểu học (Primary school enrolment rate - PSE), tỷ lệ nhập học trung học cơ sở (Secondary school enrolment rate - SSE) trên tổng số trẻ em trong độ tuổi và Tỷ lệ người lớn biết chữ (Literacy rate – LIT) Cách tính toán của các biến này

Trang 30

đã được trình bày cụ thể trong mục 1.2 Sự lựa chọn các chỉ số này làm biến phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu được tác giả giải thích như sau:

+ Tỷ lệ nhập học tiểu học và trung học cơ sở được lựa chọn thể hiện cho kết quả giáo dục là vì trong một số nghiên cứu trước đây đã sử dụng tỷ lệ hoàn thành các cấp học, tuy nhiên việc sử dụng tỷ lệ nhập học sẽ phù hợp hơn về thời gian nghiên cứu và

có đầy đủ dữ liệu để tiến hành nghiên cứu, bên cạnh đó tỷ lệ nhập học cũng có tương quan khá chặt chẽ với tỷ lệ hoàn thành các cấp học (Ude, D., & Ekesiobi, S., 2014) Trong các nghiên cứu của Ude, D., & Ekesiobi, S (2014) và Charles Uchenna Obi và cộng sự (2016) đều sử dụng biến tỷ lệ nhập học của các cấp học tiểu học và trung học

cơ sở để đại diện cho kết quả phát triển giáo dục

+ Ngoài ra, tác giả đã lựa chọn thêm biến tỷ lệ người lớn biết chữ làm biến phụ thuộc của mô hình nghiên cứu để phản ánh kết quả phát triển giáo dục Đây là biến mới được tác giả bổ sung so với mô hình nghiên cứu của Charles Uchenna Obi và cộng sự (2016) Lý giải cho sự lựa chọn này, tác giả cho rằng ở các nước đang phát triển, chính phủ thường khuyến khích và nỗ lực cung cấp sự tiếp cận với giáo dục nhằm đạt được mục tiêu giúp mọi người dân biết và sử dụng thành thạo chữ viết Khi những nỗ lực đó thành công cũng khiến tỷ lệ nhập học ở trường cao hơn

- Các biến kiểm soát trong mô hình bao gồm:

+ GDP bình quân đầu người của các quốc gia, kí hiệu là PCI (GDP per

capital);

+ Tỷ lệ người dân ở thành thị trên tổng số dân, kí hiệu là UPR (Urban

population rate);

Trang 31

- t đại diện cho năm nghiên cứu

- α là hệ số tự do

- ε là sai số của mô hình

Từ phương trình (0) ta có thể tách ra làm 3 phương trình với 3 biến phụ thuộc đại diện cho các chỉ tiêu thể hiện sự phát triển của lĩnh vực giáo dục như đã trình bày cụ thể như sau:

PSE it = α i + β 1 GEE it + β 2 GEH it + β 3 PCI it + β 4 UPR it + ε it (1) SSE it = α i + β 1 GEE it + β 2 GEH it + β 3 PCI it + β 4 UPR it + ε it (2) LIT it = α i + β 1 GEE it + β 2 GEH it + β 3 PCI it + β 4 UPR it + ε it (3)

Các biến độc lập và biến kiểm soát trong mô hình vẫn được giữ nguyên ở cả ba phương trình trên, chỉ có biến phụ thuộc Y sẽ được cụ thể hóa bởi các chỉ tiêu định lượng là PSE, SSE và LIT tương ứng với ba phương trình (1), (2) và (3)

2.1.2 Các giả thuyết nghiên cứu

Trên cơ sở lý thuyết đã trình bày và các biến trong mô hình nghiên cứu đã đề xuất, tác giả đưa ra các giả thiết như sau:

- Giả thuyết H1: Chi tiêu công cho giáo dục có tác động tích cực đến sự phát triển

2.2 Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu được tác giả sử dụng để tiến hành hồi quy là dữ liệu bảng (panel data) Đây

là loại dữ liệu phù hợp để tiến hành đo lường mức độ ảnh hưởng của biến độc lập và

Trang 32

các biến kiểm soát trong mô hình nghiên cứu đến sự phát triển trong lĩnh vực giáo dục thể hiện qua ba biến phụ thuộc là tỷ lệ nhập học của học sinh tiểu học, tỷ lệ nhập học của học sinh trung học và tỷ lệ người lớn biết chữ Đối với dữ liệu bảng, các nhà nghiên cứu thường sử dụng mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS), mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM) và mô hình hồi quy tác động cố định (FEM) Trong ba phương pháp trên, phương pháp hồi quy OLS là đơn giản nhất Với ước lượng OLS, các giả định về đa cộng tuyến, hiện tượng tự tương quan, hiện tượng phương sai sai số thay đổi không được xem xét tới Tùy thuộc vào mục tiêu nghiên cứu, đặc điểm dữ liệu, đặc điểm của mô hình, các nghiên cứu sẽ lựa chọn các mô hình hồi quy khác nhau Do những hạn chế nêu trên của ước lượng OLS, nghiên cứu này sử dụng thêm hai phương pháp hồi quy cho dữ liệu bảng là FEM và REM

- Mô hình Pooled OLS: dùng để kiểm định ảnh hưởng của các biến độc lập đối với

biến phụ thuộc Mô hình Pooled OLS thực chất là việc sử dụng dữ liệu bảng để phân tích bằng hình thức sử dụng tất cả dữ liệu bằng cách sắp xếp chồng không phân biệt từng cá thể riêng, tức là mô hình này sử dụng dữ liệu như một phân tích OLS thông thường Phương pháp bình phương bé nhất (OLS) được sử dụng để ước lượng đường thẳng hồi quy bởi vì nó cho phép sai số cực tiểu giữa các điểm ước lượng trên đường thẳng hồi quy và những điểm quan sát thực tế của đường thẳng hồi quy là phù hợp nhất (Giáo trình Kinh tế lượng - Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc Dân, 2012)

- Mô hình tác động cố định (FEM – Fixed effects model): Mô hình ảnh hưởng cố

định đưa ra giả thuyết cho rằng mỗi đối tượng nghiên cứu sẽ có những đặc điểm riêng

có tác động đến biến giải thích Mô hình này xem xét sự tương quan giữa phần dư của mỗi đối tượng nghiên cứu với biến giải thích từ đó loại bỏ ảnh hưởng của đặc điểm riêng của các đối tượng nghiên cứu khỏi các biến giải thích để ước lượng những ảnh hưởng thực của biến giải thích lên biến được giải thích (biến phụ thuộc) (Giáo trình Kinh tế lượng - Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc Dân, 2012)

Trang 33

- Mô hình tác động ngẫu nhiên (REM – Random Effects Model): Nếu giả định

của mô hình FEM là có sự khác biệt giữa các đối tượng và có sự ảnh hưởng lên biến giải thích thì giả định của mô hình REM chính là đặc điểm riêng giữa các đối tượng nghiên cứu là ngẫu nhiên và không tương quan đến các biến giải thích Như vậy, sự khác biệt giữa mô hình FEM và mô hình REM ở đặc điểm riêng biệt của các đối tượng, nếu sự khác biệt giữa các đối tượng có ảnh hưởng đến biến giải thích thì sử dụng mô hình REM sẽ tốt hơn so với mô hình FEM (Giáo trình Kinh tế lượng - Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc Dân, 2012)

Với ba phương pháp ước lượng đã nêu, tác giả sẽ sử dụng các kiểm định Pagan Lagrangian, kiểm định Hausman và chỉ tiêu về mức độ giải thích của các biến trong mô hình nghiên cứu để lựa chọn giữa ba phương pháp ước lượng

Breusch-Ngoài ra, theo Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005) để đảm bảo kết quả hồi quy có ý nghĩa, các hệ số ước lượng thu được bằng phương pháp hồi quy là ước lượng hiệu quả (ước lượng có phương sai nhỏ nhất), có tính đại diện cho tổng thể nghiên cứu thì các giả định hồi quy của mô hình phải được đảm bảo không bị vi phạm Các giả định hồi quy cần được kiểm định bao gồm:

(1) Không có hiện tượng đa cộng tuyến;

(2) Khôngcó hiện tượng tự tương quan;

(3) Phương sai sai số không đổi;

(4) Phần dư có phân phối chuẩn

Nếu mô hình xảy ra các khuyết tật trên, phương pháp FGLS sẽ được tác giả sử dụng

để khắc phục các vi phạm này (Judge, Hill et al, 1988)

2.2.2 Dữ liệu nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kiểu dữ liệu bảng với tất cả dữ liệu đều được thu thập từ Worldbank trong giai đoạn 2002-2016 của 9 nước đang phát triển thuộc khu vực Đông Nam Á (trừ Singapore và Brunei là hai nước phát triển trong khu vực nên sẽ có sự khập

Trang 34

khiễng khi so sánh với các nước đang phát triển trong khu vực về mức độ chi tiêu công cũng như sự phát triển trong lĩnh vực giáo dục)

Dữ liệu về tỷ lệ nhập học đúng độ tuổi ở các cấp học được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa số học sinh trong độ tuổi cấp học X đang đi học cấp học X so với tổng số người trong độ tuổi cấp học X Dữ liệu về tỷ lệ người lớn biết chữ được xác định là tỷ lệ phần trăm những người từ 15 tuổi trở lên có thể đọc và viết với sự hiểu biết một tuyên bố ngắn gọn về cuộc sống hàng ngày của họ

Dữ liệu về chi tiêu công cho giáo dục, y tế được xác định bằng tỷ lệ % trên tổng GDP của các quốc gia Dữ liệu về GDP bình quân đầu người được tính bằng cách lấy tổng GDP chia cho tổng số dân theo năm Tỷ lệ dân số đô thị được xác định bằng tỷ lệ

số dân sống ở các khu vực đô thị trên tổng dân số của quốc gia

Theo Tabachnick & Fidell (2007) thì kích thước mẫu cần phải đảm bảo theo công thức: N ≥ 50 + 8m và để phân tích từng quan hệ riêng lẻ kích thước mẫu cần phải đảm bảo tối thiểu: N ≥ 104 + m (trong đó N là cỡ mẫu và m là biến độc lập của mô hình)

Dữ liệu nghiên cứu trong luận văn được thu thập trong thời gian 15 năm của 9 quốc gia Đông Nam Á, do đó kích thước mẫu nghiên cứu sẽ gồm 135 kì quan sát phù hợp với yêu cầu về kích thước mẫu tối thiểu để sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến Tác giả sẽ sử dụng phần mềm STATA 13 để phân tích dữ liệu

TÓM TẮT CHƯƠNG 2

Chương 2 “đề xuất mô hình nghiên cứu mức độ tác động của chi tiêu công đến sự phát triển giáo dục của các nước Đông Nam bao gồm các biến được kế thừa từ ý tưởng của các nghiên cứu trước, đặc biệt là của Charles Uchenna Obi và cộng sự (2016) Để tiến hành phân tích hồi quy, tác giả đã thực hiện các bước thu thập dữ liệu bảng từ nguồn dữ liệu đáng tin cậy của World Bank Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử

Trang 35

dụng ba phương pháp ước lượng là phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS), mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM) và mô hình hồi quy tác động cố định (REM)

để ước lượng mức độ tác động của chi tiêu công và các biến kiểm soát khác đến ba biến phụ thuộc là tỷ lệ nhập học của học sinh tiểu học, tỷ lệ nhập học của học sinh trung học và tỷ lệ người lớn biết chữ thể hiện sự phát triển của lĩnh vực giáo dục Sau

đó, tác giả đề xuất sử dụng các kiểm định phù hợp để lựa chọn giữa ba phương pháp ước lượng Ngoài ra khi tiến hành phân tích mô hình hồi quy tuyến tính, để đảm bảo tính vững của kết quả ước lượng, tác giả thực hiện kiểm định các giả định hồi quy để đảm bảo mô hình không bị vi phạm các giả định này

Trang 36

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TẠI

CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á

3.1 Thực trạng về sự phát triển giáo dục tại các nước Đông Nam Á

3.1.1 Tỷ lệ nhập học tiểu học đúng độ tuổi

Tỷ lệ nhập học tiểu học đúng độ tuổi phản ánh số trẻ em có tuổi chính thức phải nhập học tiểu học theo quy định giáo dục của mỗi nước trên tổng số trẻ em trong độ tuổi này Chỉ số này sử dụng để giám sát việc thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học Nếu tỷ lệ này nhỏ hơn 100%, có thể thấy được có một tỷ lệ trẻ em đến tuổi đi học nhưng không được đến trường Bảng 3.1 thể hiện chi tiết kết quả thống kê mô tả về tỷ

lệ nhập học tiểu học đúng độ tuổi tại các nước Đông Nam Á giai đoạn 2002 – 2016

Bảng 3.1 Thống kê mô tả tỷ lệ nhập học tiểu học đúng độ tuổi tại các nước Đông

Nam Á giai đoạn 2002 – 2016 Năm Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất Giá trị trung bình Độ lệch chuẩn

Trang 37

Theo kết quả thống kê từ bảng 3.1 cho thấy tỷ lệ nhập học tiểu học đúng độ tuổi của các nước Đông Nam Á có giá trị trung bình trong khoảng từ 87.7157% (năm 2002) đến 96.1108% (năm 2013) Nhìn chung, tỷ lệ nhập học tiểu học đúng độ tuổi của các nước Đông Nam Á có xu hướng tăng dần qua các năm và giữ ở mức ổn định từ 95% đến 96% Tỷ lệ này là khá cao so với các khu vực khác trên thế giới Kết quả này cho thấy công tác phổ cập giáo dục tiểu học đang được thực hiện khá tốt tại khu vực mặc

dù vẫn còn một phần nhỏ trẻ em không được nhập học tiểu học đúng độ tuổi (4% đến 5%) do hoàn cảnh khó khăn hoặc ở các vùng nông thôn kém phát triển

Tuy nhiên, tỷ lệ nhập học tiểu học đúng độ tuổi giữa các nước trong khu vực lại

có sự chênh lệch đáng kể Theo kết quả thống kê ở phụ lục 1 có thể thấy trong các nước đang phát triển được nghiên cứu, đa số các nước đều có tỷ lệ nhập học tiểu học cao hơn mức trung bình của khu vực, tuy nhiên có một số nước có tỷ lệ này khá thấp là Thái Lan, Lào, Myanmar và Indonesia Đông Timor tuy có một giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2008 có tỷ lệ nhập học tiểu học đúng độ tuổi khá thấp, chỉ từ 55.78% (năm 2007) đến 77.42% (năm 2008) nhưng kể từ sau năm 2008 tỷ lệ này đã tăng lên đáng kể, đạt mức bằng hoặc thậm chí cao hơn so với mặt bằng chung của khu vực nhờ chính phủ gia tăng đáng kể mức độ chi tiêu công cho giáo dục nhằm nâng cao công tác phổ cập giáo dục tiểu học cho trẻ em Ngoài ra, Việt Nam, Cambodia hay Malaysia là những nước có kết quả phổ cập giáo dục tiểu học khá tốt với tỷ lệ nhập học tiểu học đúng độ tuổi luôn cao hơn so với mặt bằng chung của khu vực, thậm chí có những năm đạt gần 100% (Malaysia)

Trang 38

Hình 3.1 Biểu đồ giá trị trung bình tỷ lệ nhập học tiểu học đúng độ tuổi tại các

nước Đông Nam Á giai đoạn 2002 - 2016

3.1.2 Tỷ lệ nhập học trung học cơ sở đúng độ tuổi

Tỷ lệ nhập học trung học cơ sở đúng độ tuổi thể hiện tỷ lệ trẻ em có tuổi chính thức phải nhập học trung học cơ sở theo quy định giáo dục của mỗi nước trên tổng số trẻ em trong độ tuổi này Chỉ số này sử dụng để đánh giá kết quả thực hiện công tác phổ cập giáo dục ở bậc trung học cơ sở Bảng 3.2 thể hiện chi tiết kết quả thống kê mô tả về tỷ

lệ nhập học trung học cơ sở đúng độ tuổi tại các nước Đông Nam Á giai đoạn 2002 –

2016

Bảng 3.2 Thống kê mô tả tỷ lệ nhập học trung học cơ sở đúng độ tuổi tại các nước

Đông Nam Á giai đoạn 2002 – 2016 Năm Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất Giá trị trung bình Độ lệch chuẩn

Trang 39

(Nguồn: Tính toán của tác giả bằng phần mềm STATA)

Kết quả thống kê từ bảng 3.2 cho thấy tỷ lệ nhập học trung học đúng độ tuổi của các nước trong khu vực Đông Nam Á có giá trị trung bình dao động trong khoảng từ 46.8389% (năm 2002) đến 65.1489% (năm 2016) Nhìn chung tỷ lệ này cũng có xu hướng tăng dần theo thời gian Tuy nhiên tỷ lệ nhập học trung học cơ sở đúng độ tuổi thấp hơn khá nhiều so với tỷ lệ này ở bậc tiểu học Điều này cho thấy công tác phổ cập giáo dục ở bậc học này của các nước còn khá kém so với ở bậc tiểu học Kết quả này cũng phản ánh trình độ dân trí của các nước trong khu vực còn khá thấp với số lượng trẻ em học trễ hoặc bỏ học ở cấp trung học cơ sở khá lớn, chiếm hơn 1/3 tổng số trẻ em trong độ tuổi

Ngoài ra, tỷ lệ nhập học trung học cơ sở đúng độ tuổi cũng có sự chênh lệch khá lớn giữa các quốc gia trong khu vực Kết quả tính toán ở phụ lục 2 cho thấy một số quốc gia làm khá tốt công tác phổ cập giáo dục ở bậc trung học cơ sở với tỷ lệ nhập học đúng độ tuổi ở cấp học này cao hơn mức trung bình khu vực khá nhiều, cụ thể là Việt Nam, Thái Lan và Indonesia Các nước ở mức trung bình là Malaysia và Philippines Các nước còn lại bao gồm Đông Timor, Lào, Myanmar và Cambodia có tỷ

lệ nhập học trung học cơ sở đúng độ tuổi khá thấp so với mức trung bình của khu vực Đây cũng là các nước nghèo, còn nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế nên chưa chú trọng đầu tư cho phát triển giáo dục trong nước dẫn đến tình trạng thiếu thốn trường lớp, giáo viên, trẻ em không có điều kiện đến trường học tập để hoàn thành các cấp học

Trang 40

Hình 3.2 Biểu đồ giá trị trung bình tỷ lệ nhập học trung học cơ sở đúng độ tuổi

tại các nước Đông Nam Á giai đoạn 2002 - 2016

3.1.3 Tỷ lệ người lớn biết chữ

Theo lý thuyết, khi khảo sát tỷ lệ người lớn biết chữ của một nước cần đánh giá khả năng triển khai và giải thích ý nghĩa của các tài liệu dưới nhiều dạng khác nhau: văn xuôi, văn vần, các tài liệu hướng dẫn, các thông báo, biểu mẫu xin việc, bảng biểu thống kê, tài liệu định lượng, các tính toán theo thang đo mức độ từ 1 (thấp nhất) đến

5 (cao nhất) Tuy nhiên việc thống kê các tỉ lệ theo các mức này trên diện rộng ở từng quốc gia là hết sức phức tạp và gặp nhiều khó khăn Do đó, WB chỉ thực hiện thống kê

dữ liệu về tỷ lệ người lớn biết chữ được xác định là tỷ lệ phần trăm những người từ 15 tuổi trở lên có thể đọc và viết với sự hiểu biết một tuyên bố ngắn gọn về cuộc sống hàng ngày của họ tương đương với mức thấp nhất là mức 1 Dữ liệu về tỷ lệ người lớn biết chữ được tác giả thực hiện thống kê mô tả nhằm phản ánh một phần nào đó thực

trạng của vấn đề này tại các nước khu vực Đông Nam Á trong bảng 3.3

Ngày đăng: 16/03/2019, 19:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm