Để làm rõ thêm bản chất cách mạng của nền giáo dục dân tộc, dân chủ của nước Việt Nam trong giai đoạn 1945 - 1954, luận văn đề cập đến tình hình giáo dục phản động, nô dịch của thực dân
Trang 1-*** -
LÊ THÙY LINH
HỒ CHÍ MINH VỚI SỰ PHÁT TRIỂN
GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
(1945 - 1954)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Trang 2-*** -
LÊ THÙY LINH
HỒ CHÍ MINH VỚI SỰ PHÁT TRIỂN
GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
(1945 - 1954)
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS LÊ MẬU HÃN
HÀ NỘI - 2008
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH LÊN ÁN
2.1.1 Chủ trương mới về giáo dục của Hồ Chí Minh 33
2.1.2 Cải tổ và xây dựng bước đầu hệ thống giáo dục phổ thông
mới
40
2.2 Giáo dục phổ thông đồng hành với kháng chiến (1946 -1950) 47
2.2.1 Chủ trương giáo dục phổ thông phục vụ kháng chiến, kiến
quốc
47
Trang 4CHƯƠNG 3: GIÁO DỤC PHỔ THÔNG THEO TINH THẦN
3.2 Củng cố và phát triển giáo dục phổ thông phục vụ kháng
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
John Dewey (1859 - 1952) - người khởi xướng trào lưu Tân giáo dục
Mỹ có câu nói nổi tiếng: “Giáo dục chính là bản thân cuộc sống” (Education
is life itself) Bởi giáo dục chính là cuộc sống nên ở bất kỳ thời đại nào, hoàn cảnh nào, quá trình giáo dục cũng luôn diễn ra Ở đâu có cuộc sống con người, ở đó có giáo dục Sự khác nhau là ở trình độ, phương pháp giáo dục ở mỗi thời điểm và không gian mà thôi
Liên hệ với thực tế Việt Nam từ xưa đến nay, dù có những thăng trầm bởi chiến tranh, địch họa nhưng giáo dục vẫn luôn là quá trình liên tục Đặc biệt, khi Việt Nam là dân tộc hiếu học, có truyền thống học để làm người Bởi vậy, từ trong lịch sử, cha ông ta đã thấy được vai trò của giáo dục nên việc học hành, thi cử được các nhà nước phong kiến kế tiếp nhau chăm lo phát triển
Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta xác định trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII: “Khoa học và giáo dục đóng vai trò then chốt
trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là một động lực đưa đất nước thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới”
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cũng
khẳng định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” Trong bài phát biểu trước Đại học Sư phạm thuộc Đại học Quốc Gia Hà Nội ngày 19 - 1- 1996, Tổng Bí thư Đỗ Mười khẳng định: “Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi đầu tư vào con người là đầu tư cơ bản nhất; đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển”[36, 11] Sự tiến thoái của một quốc gia ngày càng phụ thuộc chặt chẽ vào trình độ phát triển của khoa học, kĩ thuật, suy cho cùng là bởi yếu tố con người Bởi vậy, chiến lược phát triển con người được đặt ra, trong đó, lĩnh
Trang 6vực đầu tiên là giáo dục, đào tạo là nhu cầu tất yếu và cấp thiết Giáo dục vừa
là động lực, vừa là mục tiêu xây dựng đất nước văn minh, giàu mạnh
Từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ ý nghĩa của sự nghiệp giáo dục đối với sự tồn vong của dân tộc Ngay trong năm đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ, giữa những chồng chất khó khăn, Người xác định dốt cũng là một thứ giặc mà mức độ nguy hiểm của nó không thua kém gì giặc đói và giặc ngoại xâm Cả cuộc đời Người đấu tranh không ngừng nghỉ cũng vì mục đích duy nhất “dân ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” Người từng nói nước độc lập mà không đem lại hạnh phúc cho nhân dân thì độc lập đó chẳng có ý nghĩa gì Bởi thế, ngay sau khi cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, cùng với việc xây dựng nước Việt Nam mới, vừa kháng chiến chống Pháp, vừa kiến quốc, Hồ Chí Minh lãnh đạo toàn dân đồng sức, đồng lòng xây dựng nền giáo dục quốc dân
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục phổ thông đóng vai trò đặc biệt quan trọng, là nền tảng đầu tiên và cũng là tối ưu chuẩn bị cho con người
ở những bước phát triển tiếp theo trong cuộc đời Hiểu theo nghĩa hẹp, giáo dục phổ thông là một thể chế xã hội (tức nhà trường phổ thông) có nhiệm vụ đào tạo thế hệ trẻ từ tuổi có khả năng học tập đến tuổi có khả năng lao động thành những nhân cách của một chế độ xã hội nhất định, từ đó mà trở thành người lao động, người công dân theo lý tưởng của xã hội đó Giáo dục phổ thông được đánh giá là nền tảng văn hóa của một nước, đóng vai trò quyết định trong sự hình thành con người mới và là sức mạnh tương lai của dân tộc [11, 6 - 10]
Nhận thức được quan điểm của Hồ Chí Minh về giáo dục và tầm quan trọng của giáo dục, đặc biệt của giáo dục phổ thông trong cuộc sống nói chung và bối cảnh hiện nay nói riêng, được sự chỉ bảo của các thầy giáo, trước hết là sự hướng dẫn tận tâm của PGS Lê Mậu Hãn, tôi thực hiện luận
văn Thạc sỹ Hồ Chí Minh với sự phát triển giáo dục phổ thông (1945 - 1954)
Trang 72 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Các công trình nghiên cứu về giáo dục Việt Nam nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng chiếm một số lượng khá lớn và quan trọng Số công trình nghiên cứu về Hồ Chí Minh với sự nghiệp giáo dục Việt Nam cũng không nhỏ, trong đó bao gồm cả những bài nói và viết của Hồ Chủ tịch về giáo dục Tựu trung lại có thể chia các công trình nghiên cứu trên thành các loại sau:
- Thứ nhất là tác phẩm của một số nhà lãnh đạo giáo dục Việt Nam từ
sau cách mạng Tháng Tám 1945 đến nay như:
Vũ Đình Hòe với “Những phương pháp giáo dục ở các nước và vấn đề cải cách giáo dục”(Thanh Nghị Tùng Thư xuất bản, Hà Nội, 1945)
Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên với “Những bài nói và viết
về giáo dục”, “Quá trình xây dựng nền giáo dục Việt Nam trong 16 năm qua”, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 1961 Con trai của cố Bộ trưởng, PGS TS
Nguyễn Văn Huy sưu tầm, tuyển chọn, biên soạn những bài viết, những chỉ
thị, nghị quyết liên quan đến giáo dục thành cuốn “Nguyễn Văn Huyên toàn tập, Văn hóa và giáo dục Việt Nam, tập 3”, nhà xuất bản Giáo Dục xuất bản
năm 2005
Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn có rất nhiều bài viết về giáo dục và sự
nghiệp giáo dục Việt Nam: “Giáo dục dân chủ mới” (Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản năm 1949), “Những vấn đề giáo dục” (Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản năm 1950), “Hai mươi năm xây dựng giáo dục” (Nhà xuất bản Giáo Dục,
Hà Nội, 1965), “Nền giáo dục Việt Nam lý luận và thực hành” (Nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội, 1991) “Hai mươi năm nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,
Sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể thao”, Nxb Sự Thật, Hà Nội,
1966, viết chung với Hoàng Minh Giám, Phạm Ngọc Thạch, Hoàng Văn Thái
Giáo sư Phạm Minh Hạc với “Vấn đề giáo dục và khoa học giáo dục” (Nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội, 1986), “45 năm phát triển nền giáo dục Việt
Trang 8Nam” (Nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội, 1990), “Education in Vietnam (1945
- 1991)” (Hà Nội, 1991), “Sơ thảo lịch sử giáo dục Việt Nam (1945 - 1990)”
(Nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội, 1992)
Võ Thuần Nho có công trình nghiên cứu “35 năm phát triển sự nghiệp giáo dục phổ thông” (Nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội, 1990)
Bộ trưởng Giáo dục Trần Hồng Quân với “50 năm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo (1945 - 1995)” (Nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội,
1995)…
- Thứ hai là công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu lịch sử, văn
hóa, một số nhà văn, nhà báo…
“Hồ Chủ tịch, Nhà giáo dục vĩ đại”, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà
Nội, 1990 của Giáo sư Nguyễn Lân đã hệ thống được toàn bộ quan điểm của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh về giáo dục
Nguyễn Q Thắng với “Khoa cử và giáo dục Việt Nam” (Nhà xuất bản
Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1993)
Phan Trọng Báu với “Nền giáo dục Việt Nam thời cận đại” (Nhà xuất
bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994)
“Hồ Chí Minh với nền văn hóa mới Việt Nam trước 1954” của Bùi
Đình Phong, nhà xuất bản Lao động xuất bản năm 1994
“Lịch sử giáo dục Việt Nam trước cách mạng Tháng Tám 1945” của
Nguyễn Đăng Tiến, Nguyễn Tiến Doãn, Hồ Thị Hồng…, Nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội, 1996
- Thứ ba, một số luận văn, luận án viết về giáo dục như:
Đỗ Thị Nguyệt Quang với Luận án Phó Tiến sỹ Khoa học Lịch sử
“Quá trình xây dựng và phát triển nền giáo dục Việt Nam mới từ tháng 9 -
1945 đến tháng 7 - 1954”, Hà Nội, 1996
Trang 9“Đảng lãnh đạo và tổ chức mặt trận văn hóa kháng chiến (1945 - 1954)”, Luận văn Thạc sỹ Khoa học Lịch sử của Trần Thị Thanh Giang, Hà
Nội, 2006
“Hồ Chí Minh với sự nghiệp giáo dục kháng chiến kiến quốc (1945 - 1954)”, Luận văn Thạc sỹ Khoa học Lịch sử của Phạm Nguyên Phương, Hà
Nội, 2007
Bên cạnh đó, còn có nhiều bài viết in trên các tạp chí của các tác giả khác
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài “Hồ Chí Minh với sự phát triển giáo dục phổ thông (1945 - 1954)”, đối tượng nghiên cứu là giáo dục phổ thông trong những năm 1945 -
1954 trong sự tiến triển, vận động không ngừng với cuộc kháng chiến chống Pháp của toàn dân
Khung thời gian nghiên cứu được giới hạn từ khi cách mạng Tháng Tám 1945 thành công đến hết năm 1954 - năm đánh dấu thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
Phạm vi không gian được mở rộng trong cả nước, ở khắp miền Bắc, miền Trung và miền Nam
Để làm rõ thêm bản chất cách mạng của nền giáo dục dân tộc, dân chủ của nước Việt Nam trong giai đoạn 1945 - 1954, luận văn đề cập đến tình hình giáo dục phản động, nô dịch của thực dân Pháp thực thi trên đất nước ta trong giai đoạn trước Qua đó, gợi lên sự so sánh để thấy được tính khác biệt
về bản chất của hai nền giáo dục cách mạng và giáo dục thực dân, khẳng định tính ưu việt của nền giáo dục dân chủ
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này, luận văn đã sử dụng các nguồn tài liệu sau:
Trang 10- Các bài nói và bài viết về giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh
được tập hợp trong “Hồ Chí Minh toàn tập” (Nhà xuất bản Chính trị Quốc
Phương pháp so sánh lịch sử được học viên sử dụng nhằm làm sáng tỏ
sự khác biệt của giáo dục phổ thông trong mỗi giai đoạn 1945 - 1946, 1946 -
1950, 1950 - 1954; cụ thể hơn là dùng so sánh số liệu của các năm học với nhau
5 Đóng góp chính của luận văn
Luận văn có các mục tiêu nghiên cứu rõ ràng Những tư liệu lịch sử, những nhận định, đánh giá về tình hình giáo dục phổ thông 1945 - 1954 rất phong phú Tư liệu, đánh giá đó có khi chuyên sâu, có khi khái lược nhưng nhìn chung, chưa cung cấp được cho chúng ta cái nhìn toàn diện, liền mạch
và chi tiết về các cấp học phổ thông thời gian này, đặc biệt trong việc khẳng định vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh Bởi vậy, với đề tài nghiên cứu này, chúng tôi hệ thống hóa các nguồn tài liệu nói về giáo dục phổ thông giai đoạn 1945 - 1954 Trên cở sở đó, chúng tôi trình bày quá trình hình thành, phát triển và những thành tựu của giáo dục phổ thông 1945 - 1954 theo
Trang 11dòng chảy liên tục của thời gian 9 năm và trong góc độ giáo dục phổ thông dưới tư tưởng và sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Thông qua những căn cứ khoa học, luận văn làm rõ quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với giáo dục, phân tích vai trò của Chủ tịch trong việc xây dựng nền giáo dục phổ thông mới và tác dụng đối với công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc
Qua đó, luận văn rút ra một số nhận xét, bài học kinh nghiệm góp phần
phục vụ công cuộc xây dựng nền giáo dục hiện nay
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Phần mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương chính:
- Chương 1: Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh lên án nền giáo dục thực dân
- Chương 2: Hồ Chí Minh với việc tổ chức xây dựng nền giáo dục phổ thông mới (1945 - 1954)
- Chương 3: Giáo dục phổ thông dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh
và tinh thần cải cách giáo dục (1950 - 1954)
Phần Phụ lục và Tài liệu tham khảo
Trang 12CHƯƠNG 1 NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH LÊN ÁN
NỀN GIÁO DỤC THỰC DÂN 1.1 Thực trạng giáo dục phổ thông dưới ách thống trị của Pháp, Nhật
“Làm cho dân ngu để dễ trị”, đó là chính sách mà các
nhà cầm quyền ở các thuộc địa của chúng ta ưa dùng nhất
- Hồ Chí Minh -
“Pháp luật chỉ đàn áp được một thời gian, chỉ có giáo dục mới chinh phục được con người mãi mãi” Đuymuchiê - một tổng sứ dưới quyền của Pôn Be (Paul Bert) đầy ẩn ý khi trích dẫn câu nói nổi tiếng của Khang Hi, bổ sung vào đó tinh thần của chủ nghĩa thực dân trong bối cảnh mới Dưới mỗi thời Toàn quyền, dù thành văn hay không thành văn, dù được phát biểu thành lời hay ẩn sau những hành động, tư tưởng đồng hóa của thực dân Pháp cũng
đã thể hiện rõ ngay từ khi Pháp xâm lược và đặt ách thống trị lên đất nước ta Giáo dục trở thành một trong những lợi khí để thực dân Pháp chinh phục thuộc địa Chỉ thị của Bộ Thuộc địa Pháp ngày 10 - 10 - 1920 chỉ rõ: “Học chính bản xứ trước hết phải có tính chất thực nghiệm và thực tế Trước hết cần phải nghĩ đến lợi ích kinh tế của việc giáo dục quần chúng, và để đạt mục đích ấy, những cố gắng của chính phủ bảo hộ trước hết phải nhắm vào sự phát triển ngành sơ học, kỹ thuật và chuyên môn”[32, 168] Chính sách giáo dục thực dân Pháp thực thi trên đất nước ta không nằm ngoài mục đích:
- Đào tạo những người bản xứ phục vụ cho bộ máy cai trị
- Đồng hóa nhân dân Việt Nam nhằm biến họ thành người ngoan ngoãn, phục tùng sự thống trị của Pháp
Trang 13- Truyền bá tư tưởng nô dịch trong nhân dân
Thực dân Pháp chinh phục đất đai còn chưa đủ mà còn muốn chinh phục tâm hồn nữa Chúng muốn nhân dân Việt Nam phải hoàn toàn quy phục nước Pháp, muốn đất và người Việt Nam là đứa con dưới quyền của “nước mẹ” Pháp Việt Nam hoàn toàn lệ thuộc vào Pháp cả về vật chất và tinh thần
Trong một bức thư mật đề ngày 1 - 3 - 1899 của một thống sứ gửi cho viên Toàn quyền Đông Dương thể hiện rõ tư tưởng nô dịch của chúng trong giáo dục: “thật không thể nào để cho người An Nam được học lịch sử và đọc sách của chúng ta mà không gây cho họ lòng yêu nước, yêu tự do Kinh nghiệm của các dân tộc Châu Âu khác cũng đã chỉ rõ rằng việc truyền bá một nền học vấn đầy đủ cho người bản xứ là hết sức dại dột”[62, 17] Những lời trắng trợn của thực dân Pháp đầy rẫy trên các ấn phẩm sách báo thời bấy giờ,
ví như: “Đối với cái giống nòi Annamít ấy, chỉ có một cách tốt để cai trị nó -
đó là ách thống trị bằng sức mạnh Truyền học vấn cho bọn Annamít hoặc cho phép chúng tự chúng có học vấn, tức là một mặt cung cấp cho chúng những súng bắn nhanh để chống chúng ta, và mặt khác đào tạo những con chó thông thái gây rắc rối hơn là có ích ”[17, 7] “Cái giống người An Nam” vốn
đã bị thực dân Pháp coi là hạ đẳng Dưới chế độ cai trị của chúng, chúng tìm mọi cách, kể cả những cách đê tiện nhất để dìm những con người đáng thương này vào vũng bùn khổ hạnh hơn nữa, ngu dốt, tối tăm và hạ đẳng hơn nữa
Thực dân Pháp thừa khôn ngoan để nhận thấy sự nguy hại khi cung cấp một nền học vấn đầy đủ cho các dân tộc thuộc địa Xâm lược Việt Nam, vấp phải những cuộc đấu tranh quyết liệt của cả một dân tộc, thực dân Pháp hiểu rằng không dễ dàng quy phục ngay được những con người bề ngoài có vẻ cam chịu nhưng bên trong lại tiềm tàng một sức mạnh có thể chống lại chúng bất
cứ lúc nào Vì vậy, sau khi chiếm được Việt Nam một cách căn bản, thực dân Pháp đã nhanh chóng thực hiện tư tưởng: sau khi người lính đã hoàn thành sự
Trang 14nghiệp của mình thì đến lượt người giáo viên thực hiện sự nghiệp của họ Tư tưởng xuyên suốt trong chính sách giáo dục thực dân Pháp là “Nếu chúng ta muốn đặt được vĩnh viễn ảnh hưởng của nước Pháp lên phần đất này (Việt Nam) của thế giới, thì phải làm cho họ (người Việt Nam) tiêm nhiễm tư tưởng của chúng ta (Pháp), dạy cho họ tiếng nói của chúng ta và do đó phải bắt đầu
từ nhà trường và trước tiên chú ý đến trẻ em”[47, 180 - 181]
Trong quá trình xâm lăng và bình định, thực dân Pháp đã tìm cách loại
bỏ dần dần nền giáo dục truyền thống của người Việt Nam Từ năm 1867, ở Nam Bộ đã bãi bỏ các khoa thi chữ Nho Năm 1915, bãi bỏ thi Hương ở Bắc
Bộ và năm 1918 là ở Trung Bộ Phép học cũ và chế độ khoa cử cáo chung:
“Thi tàn học cũng tàn theo” Người Pháp không chỉ thành công trong việc chia cắt nước Việt Nam thành các xứ Bắc, Trung, Nam mà còn thay đổi lối học tập của người Việt Luật học mới được thay thế, chính thức ban hành ngày 21 - 12 - 1917 đặt ra nền học Pháp Việt thay cho nền học cũ*1 Thực tế, bản chất của nền giáo dục này không hoàn hảo, đẹp đẽ như cái tên “Pháp Việt” bình đẳng, thân thiện và đầy thiện chí các nhà cầm quyền đưa ra Một nền giáo dục không ra Pháp, không ra Việt bởi tính chất của nó thấm đẫm màu thực dân, suy cho cùng vì mục đích kinh tế hơn vì giáo dục và sự phát triển con người Việt Nam
*1 Thực tế cho thấy dưới sự chỉ đạo của người Pháp, một số điểm của Luật học mới đã được đưa ra sớm hơn
Từ năm 1908, dưới thời vua Duy Tân (1907-1916), Hội đồng cải lương học vụ đã sửa đổi lại chương trình học và thi cho phù hợp với chính sách cai trị của thực dân Pháp ở Đông Dương Hội đồng cải lương học vụ còn gọi là Cải cách học vụ hội đồng, do Pháp đề nghị và chuẩn y Nội dung đạo Dụ ngày 31-5-1906 quy định phép học thi chia làm 3 bậc như sau:
- Ấu học: dạy ở các trường Tổng sư và lấy bằng Tuyển sinh làm bằng tốt nghiệp
- Tiểu học: dạy ở các trường phủ huyện (Giáo thọ, Huấn đạo) và các trường quy thức ở tỉnh lỵ, tốt nghiệp với
bằng Khoá sinh
- Trung học: dạy ở các trường tỉnh (trường Đốc) để luyện học trò đi thi Hương Chương trình học vần lấy chữ Hán làm chuyển ngữ, nhưng có học thêm các môn cách trí (khoa học thường thức) sử kí, địa dư, toán pháp bằng chữ Quốc ngữ và một ít tiếng Pháp (Tham khảo: Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, Bộ
Quốc Gia Giáo Dục, Sài Gòn tái bản, 1957) (Xem Nguyễn Q Thắng, Khoa cử và giáo dục Việt Nam, Nxb
Trang 15Đào tạo một số người bản xứ phục vụ trực tiếp cho công cuộc thống trị
là một trong những động lực thúc đẩy thực dân Pháp thực hiện nhanh những chính sách giáo dục thực dân Những cuộc xâm lược và cai trị trên nhiều miền đất, nhiều châu lục khác nhau đã cho kẻ thực dân già giàu kinh nghiệm những bài học quý giá về sự thống trị Không thể nắm được một thuộc địa nếu không hiểu về lãnh thổ cũng như tâm tính con người của chính thuộc địa đó Không thể cai trị một quốc gia nếu lòng người không quy thuận, nhất là những người nắm quyền lại là kẻ lạ mặt ở miền đất xa xôi nào tới “Thay thế một cách đột ngột tận gốc rễ bộ máy cai trị An Nam bằng một số lớn sĩ quan (người Pháp)
mà phần lớn không biết đến cả tiếng nói và phong tục tập quán của xứ này thì người ta chỉ gây ra một sự hỗn loạn Việc cai trị bằng người bản xứ đặt dưới
sự kiểm soát của chúng ta là cách tốt nhất để giải quyết vấn đề”[47, 183 - 184] Người Pháp nhận thức được những khó khăn khi tự mình cai trị xứ sở thuộc địa đầy nóng bỏng này cũng như những thuận lợi khi đào tạo ra một số người bản xứ thừa hành ngoan ngoãn Hơn nữa, việc cai trị bằng những người địa phương giúp thực dân Pháp tiết kiệm được ngân sách thuộc địa vì phải trả lương ít hơn Toàn quyền Đông Dương Anbe Xarô nhấn mạnh: “Sự khôn ngoan của một sự minh mẫn sơ đẳng về chính trị đặt cho chúng ta nhiệm vụ phải duy trì (những người bản xứ) làm những kẻ trung gian giữa chúng ta (thực dân Pháp) và dân chúng”[62, 15 - 16]
Với thực dân Pháp, việc mở rộng nền giáo dục của Pháp trở thành một nhu cầu cấp thiết nhất để có thể đào tạo được những người giúp việc có khả năng như lời của tướng Bôna nhận định
Trong báo cáo đề ngày 18 - 4 - 1912, Pêran (Peralle) - giám đốc Học chính Bắc Kỳ - gửi cho Toàn quyền Đông Dương đã nói rõ việc tổ chức giáo dục ở thuộc địa là: “đào tạo những công chức bản xứ hạ đẳng, những giáo viên sơ cấp, những thông ngôn và thư ký để làm cho các bộ máy cai trị, cho
Trang 16các nhà buôn”[54, 10] Đào tạo nên những nhân viên phục vụ trực tiếp cho công cuộc khai thác thuộc địa đã được thực dân Pháp đặt thành một nhiệm vụ trong việc thực hiện chính sách giáo dục trên đất nước ta
Trong tay những kẻ đi xâm lược, giáo dục không nhằm phục vụ quần chúng nhân dân đông đảo mà là công cụ phục vụ cho một số ít người Thực dân Pháp bóp méo tính chất cao quý và chân thực của giáo dục, sử dụng giáo dục vào mục đích thực dụng xấu xa là thực hiện từng bước chính sách đồng hoá thâm độc và khai thác tối đa những nguồn lợi tài nguyên, nhân lực trên những phần thuộc địa
Chủ trương giáo dục bắt đầu từ nhà trường và trước tiên chú ý đến trẻ
em nhằm phục vụ mục đích của thực dân đã quy định nội dung và tổ chức giáo dục trong giai đoạn này
Trong vấn đề chữ viết, người Pháp vấp phải vô vàn khó khăn trong quá trình thực hiện Đối với thực dân Pháp, thật quá khó để học chữ Hán và chữ Nôm Việc tổ chức được đầy đủ giáo viên dạy tiếng cho các lớp học cũng không đơn giản Kinh phí đầu tư cho việc đào tạo này rất tốn kém bởi học sinh muốn đạt được trình độ đọc thông viết thạo cũng phải mất khoảng thời gian tương đối dài Điều này lại mâu thuẫn với những kế hoạch của thực dân Pháp muốn đào tạo nhanh một số người bản xứ để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa và cai trị trước mắt “Dạy cho họ tiếng nói của chúng ta” cũng không dễ dàng như người Pháp nghĩ Thái độ chung của người Việt Nam là tẩy chay, chống đối nên số người tình nguyện theo học tiếng Pháp thật quá ít ỏi Tư tưởng đi học tiếng Pháp - thứ ngôn ngữ của kẻ thù cướp nước là theo Pháp, làm tay sai cho giặc, là vong tổ, phản quốc, đi ngược lại quyền lợi của quần chúng nhân dân rất sâu đậm trong nhân dân Những vần thơ hài
hước “Không học vần Tây” của nhà thơ Tú Xương tỏ rõ thái độ phản đối
quyết liệt chữ Pháp:
Mợ bảo vần Tây chẳng khó gì,
Trang 17Cho tiền đi học để chờ thi
Thôi thôi lạy mợ “xanh căng” lạy!
Mả tổ tôi không táng bút chì!
Đạo học của người Việt lâm vào thảm cảnh:
Đạo học ngày nay đã chán rồi, Mười người đi học, chín người thôi [27, 487, 492]
Do đó, trong con mắt của người Pháp, “tình hình bước đầu của những trường học quả là vất vả Dân chúng mới bị chinh phục và chưa thích nghi với
sự quan tâm của các quan cai trị, không hiểu và không thể hiểu nổi tư tưởng rất đỗi quảng đại của chúng ta Do đó, những lời kêu gọi đối với những người chủ gia đình cho con em đi học đều được coi là một cách bắt lính, chủ làng đi bắt trẻ con như người ta bắt thuế”[2, 37]
Người Pháp đứng trước bức tranh giáo dục thật ảm đạm Dù trước đây,
có nghèo khổ, người dân Việt Nam cũng cố gắng cho con em theo thầy đồ học chữ, học lấy đạo làm người Nhà khá giả hơn thì mời thầy về nhà dạy dỗ, kèm cặp con em họ Giờ đây, những cố gắng tạo lập một nền giáo dục theo ý muốn của thực dân Pháp vấp phải sự phản kháng thầm lặng nhưng hết sức quyết liệt bởi người dân Việt Nam hiểu rõ “tư tưởng rất đỗi quảng đại” của chúng là gì
Để tháo gỡ những khó khăn đó, Pháp buộc phải tiến hành một cách từ
từ, phải đành lòng dùng những phương tiện vừa có sức thuyết phục, lại vừa là những phương tiện ít tốn kém, đồng thời chính trị hơn, vững chắc hơn [62, 15]
Với chữ Nho, thực dân Pháp tỏ thái độ không quyết liệt ngăn cấm mà dùng những cách thức tinh vi hơn để giảm tối đa sự phản kháng của người Việt đối với nền học Pháp - Việt Ban đầu, chữ Nho vẫn được duy trì trong các cấp học nhưng có sự quản lý rất lỏng lẻo Đối với những học trò trường
Sơ đẳng Tiểu học (không toàn cấp), học sinh ai muốn học hay không thì tuỳ
Trang 18ý Trái lại, lại là sự quản thúc sít sao đối với thầy dạy Thầy đồ phải là người
do nhà trường và Hội đồng kì mục xã lựa chọn Thầy đồ phải đến tận trường
để dạy và mỗi tuần chỉ được một tiếng rưỡi đồng hồ (90 phút) vào sáng thứ 5 hàng tuần Hiệu trưởng không được phép vắng mặt tại trường vào các buổi sáng thứ 5 đó, nhất là không bao giờ được để thầy đồ đến lớp một mình mà nhất thiết phải có người giám sát việc dạy chữ Nho của thầy đồ sao cho đúng
với “Phương pháp dạy chữ Nho” đã được Tổng Thanh tra Học chánh thông
qua Với trường Tiểu học toàn cấp, chỉ nơi nào phụ huynh và giới cầm quyền địa phương yêu cầu thì chữ Nho mới được giảng dạy sau khi đã tham khảo ý kiến của Hội đồng hàng tỉnh Thời gian học cũng rất hạn chế và chỉ là môn bắt buộc với hai lớp cuối cấp*2
Đồng thời, thực dân Pháp chủ trương không vội vàng dạy ngay tiếng Pháp cho người Việt mà dùng chữ quốc ngữ làm chuyển ngữ trong một vài lớp đầu tiên rồi mới chuyển sang học tiếng Pháp Không phải ngẫu nhiên mà thực dân Pháp sử dụng chữ quốc ngữ như một công cụ mới phục vụ đắc lực cho chiến lược lâu dài xây dựng trên thuộc địa này một nền giáo dục thực dân hoàn hảo Từ đó, chinh phục con người và vùng đất này một cách vĩnh viễn như kế hoạch và tham vọng của những kẻ cầm quyền Thấy được khó khăn của việc dạy và học chữ Hán, chữ Nôm, thấy được sự bất khả thi của việc truyền dạy tiếng Pháp Người Pháp nhanh chóng nhận ra giá trị và sự tiện lợi khi sử dụng chữ quốc ngữ: “Việc người bản xứ có thể đọc viết bằng chữ quốc ngữ đối với chúng ta hết sức có lợi Các công chức của chúng ta, các nhà buôn của chúng ta có thể học rất dễ dàng cách kí hiệu đó, và sự liên hệ của chúng ta với người bản xứ sẽ dễ dàng hơn nhiều” Đuymuchiê nói rõ hơn:
*2 Chú thích: Bậc tiểu học Pháp-Việt gồm 5 lớp: lớp Đồng ấu (7 tuổi), lớp Dự bị (8 tuổi), lớp Sơ đẳng Tiểu
học (9 tuổi), lớp Trung đẳng Tiểu học (10 tuổi), lớp Cao đẳng Tiểu học (11 tuổi) Trường nào mở đủ cả 5 lớp
đó gọi là trường Tiểu học toàn cấp (école Primarie de plein exercise) Trường nào không mở đủ 5 lớp đó gọi
là trường Sơ đẳng Tiểu học (école Primarie élémentaire) (Tham khảo: Nguyễn Q Thắng, Khoa cử và Giáo
Trang 19“Bất cứ một người cai trị nào, với một cuốn từ điển cũng cĩ thể dịch được dễ dàng, sự trung gian của một nhà nho trở nên vơ ích và sự trung gian của một người thơng ngơn cũng khơng cịn là điều bắt buộc nữa”[47, 183]
Rõ ràng, chủ trương dạy chữ quốc ngữ cho người Việt Nam khơng chỉ đem lại tiện ích kinh tế và thời gian cho người Pháp mà cịn cĩ ý nghĩa chính trị rất cụ thể Nâng cao vai trị của chữ quốc ngữ, đồng thời hạ thấp giá trị của chữ Hán, chữ Nơm, người Pháp nhằm loại bỏ vai trị của những nhà nho - những trí thức Việt Nam - người sớm nhận thức được âm mưu của thực dân Pháp và là những người đầu tiên thấm thía nỗi nhục mất nước, nặng lịng cứu nước cứu dân, âm mưu chống lại người Pháp quyết liệt nhất Loại bỏ Hán học, thực dân Pháp cịn nhằm ngăn chặn những luồng tư tưởng tiến bộ tràn vào nước ta qua con đường Trung Quốc và Nhật Bản
Với mục đích giáo dục nơ dịch, tiếng Pháp dần trở thành thứ tiếng được dùng chủ yếu trong hầu hết các cấp học Nhất là hai lớp cuối cấp phải hồn tồn dùng tiếng Pháp Theo lời kể của Giáo sư Hồng Xuân Hãn - con người sống gần trọn thế kỷ XX, được chứng kiến và chịu sự tác động của cơng cuộc
cai trị và đồng hố của thực dân Pháp - thì chế độ trường Primaire Franco - Annamite (Trường Pháp - Việt mà dân gian gọi là Rì-me - cĩ nghĩa nơm: chăn
bị con) thực ra là một trường hồn tồn dạy bằng Pháp ngữ Tơi năm 1917,
vào lớp nhỏ nhất, đã phải trả lời thầy câu hỏi: Où est ta tête? Đợt thứ hai là Primaire Complémentaire (Trường Rì-me-cịm) sau đổi lại Primaire Supérieure Rồi đến bực Baccalauréat Local, học ba năm và chương trình cĩ
văn hố Việt Nam nhưng dạy hồn tồn bằng Pháp ngữ, mà đĩ cũng là ngoại ngữ độc nhất đối với ta Năm 1936, tơi về dạy tốn học tại trường Bưởi cũ
nhưng nay đã đổi ra loại Lycée với hồn tồn chương trình trung học
“Tây”[46, 315 - 316] Ở trường trung học Pháp - Việt hệ 4 năm, chủ yếu học chữ Pháp, mỗi tuần cĩ 12 giờ chuyên học tiếng Pháp Ngược lại, tiếng Việt -
Trang 20tiếng nói của dân tộc Việt Nam bị xem nhẹ, được giảng dạy giống như một ngoại ngữ trong chương trình
Nội dung giáo dục cho thấy rõ thực dân Pháp đã thực hiện chính sách ngu dân đối với dân tộc Việt Nam thâm độc như thế nào Không một yếu tố dân tộc nào được đề cập đến trong nội dung giảng dạy của các nhà trường dưới chế độ thực dân Sau này, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn từng phản ảnh: “Từ khi vào các trường Vinh hay Hà Nội, tôi đã sớm nhận thấy hoàn toàn thiếu phần “Quốc học”, và càng lên càng thấy phần quốc học suy đồi, anh em ít người chú tâm; đến cả thầy giáo cũng vừa non nớt, vừa uể oải”[46, 315] Những yếu tố tốt đẹp mang tính chất đặc trưng dân tộc bị vùi dập, bị bóp méo sai với thực tế Việc giảng dạy và học tập không có được một chương trình khoa học mà tùy tiện, chắp vá Các môn học thể hiện sâu sắc tinh thần dân tộc như văn học, sử học được giảng dạy hạn chế với sự sai lạc rất lớn về tinh thần
dân tộc Một áng thiên cổ hùng văn như “Bình Ngô đại cáo” chưa bao giờ
được giảng dạy một cách chính thức trong nhà trường Kho tàng văn học vô cùng phong phú là nơi chuyển tải tinh thần và ngôn ngữ trong sáng của dân
tộc không được đưa vào chương trình dạy học Mấy tập Quốc văn giáo khoa
bậc sơ học mà không có được một câu ca dao ca ngợi cảnh đẹp, lịch sử hay con người của quê hương đất nước mà chỉ có vài bài giáo huấn và nói chuyện buôn bán, đi lính Lịch sử Việt Nam chỉ được tổ chức giảng dạy một cách sơ sài Đến năm thứ ba của cao đẳng tiểu học, môn này bị cắt bỏ và không được xếp lịch trong thời khóa biểu Không những thế, những giá trị lịch sử bị phủ nhận một cách trắng trợn Tấm gương các danh nhân, những anh hùng dân tộc
bị bôi nhọ Sức mạnh của phong trào quần chúng không những bị phủ nhận
mà còn bị mạt sát Trái lại, bè lũ Việt gian bán nước lại được ngợi ca và hành động xâm lược của thực dân được tô vẽ lên bởi những mỹ từ khai hóa, gieo rắc văn minh Học trò mới 9, 10 tuổi đã bị nhồi nhét vào đầu những vấn đề
Trang 21của môn lịch sử như: Công cuộc chiếm đóng xứ An Nam của người Pháp, người Pháp đã chiếm đóng xứ An Nam từ bao giờ và đã chiếm đóng như thế nào, người Pháp đã làm gì cho xứ An Nam, công việc bình định và tổ chức cai trị của người Pháp 10 tuổi, học sinh phải học: triều Nguyễn, Trịnh - Nguyễn phân tranh, cuộc khởi loạn của Tây Sơn, người Pháp ở xứ Đông Dương, giám mục Adran, sơ lược về tổ chức cai trị của người Pháp ở ba kì 11 tuổi, môn Luân lý, học sinh phải học: bổn phận đối với nước Pháp [46, 292] Rõ ràng, đối với thế hệ trẻ, hấp thụ nền giáo dục đó là phải gánh chịu sự thiệt thòi quá lớn vì họ không có điều kiện để hiểu về truyền thống dân tộc, đất nước và con người ở chính mảnh đất mình sinh ra, lớn lên Nguy hại hơn, những
tư tưởng này gieo rắc vào những thế hệ trẻ kế cận của đất nước về sự cúi đầu cam chịu phục tùng, tôn sùng kẻ mạnh hơn và tôn thờ một Tổ quốc không phải Tổ quốc mình
Người Pháp từng lo lắng “thật không thể nào để cho người An Nam được học lịch sử và đọc sách của chúng ta mà không gây cho họ lòng yêu nước, yêu tự do Kinh nghiệm của các dân tộc Châu Âu khác cũng đã chỉ rõ rằng việc truyền bá một nền học vấn đầy đủ cho người bản xứ là hết sức dại dột”[62, 17] Với lối suy nghĩ và những hành động theo lối suy nghĩ đó cho thấy “làm cho dân ngu để dễ trị” mới là thực chất của cái gọi là “chính sách giáo dục” của thực dân Pháp ở Việt Nam Ngay cả đến một văn sĩ Pháp - Mácxơ cũng thấm nhuần tư tưởng này và phát biểu một cách trắng trợn rằng:
“Chỉ cần dạy tiếng Pháp cho người An Nam, dạy cho họ biết đọc, biết tính toán chút ít, biết nhiều hơn chỉ là thừa và vô ích”[62, 21] Hạn chế tối đa sự hiểu biết của dân thuộc địa - chính sách giáo dục ngu dân Pháp thực thi trên đất nước ta là triệt để
Không chỉ thế, thực dân Pháp còn ra sức ngăn trở những luồng tư tưởng tiến bộ, những thành tựu giáo dục của nhân loại vào Việt Nam Chương trình
Trang 22triết học ở bậc trung học không bao giờ nhắc tới chủ nghĩa Mác, có chăng thì cũng chỉ là sự xuyên tạc, bóp méo bản chất của học thuyết Ngay đến cuộc Đại cách mạng Pháp 1789 được ca ngợi hết lời ở trên nước Pháp thì với người Pháp ở Việt Nam, có lúc sự kiện này bị xem là hiện tượng lịch sử sai trái Khi giảng dạy cho học sinh bản xứ, thầy giáo không được viết chữ Révolution với chữ R hoa Sự chuyển dịch về vị trí địa lý liệu có làm lật ngược bản chất của một sự kiện đã từng diễn ra trong lịch sử? Câu trả lời đích thực chỉ có thể căn
cứ vào tâm địa của những nhà cầm quyền Pháp ở xứ An Nam mà thôi! Trong tay thực dân, giáo dục không chỉ phục vụ cho công cuộc khai thác kinh tế thuộc địa mà còn là phương sách để phòng ngừa tối đa những cuộc nổi loạn
có thể có của người bản xứ, hòng triệt tiêu cả những mầm mống nảy nở trong
tư tưởng của thế hệ trẻ đang ngồi trên ghế nhà trường Nội dung giảng dạy có
sự phân biệt giữa chương trình “chính quốc” và chương trình “bản xứ” Tất cả những điều đó đủ cho thấy sự bưng bít, sự hẹp hòi đến mức nào trong chính sách giáo dục mà thực dân Pháp thực thi tại Việt Nam Với nội dung giáo dục
nô lệ, trình độ thấp kém về dân trí sẽ làm hạn chế tinh thần đấu tranh của quần chúng nhân dân Sự vây hãm một dân tộc trong vòng lạc hậu giúp cho chúng
dễ bề cai trị vốn là mục tiêu xuyên suốt của thực dân Pháp không chỉ đối với thuộc địa Việt Nam
Ngoài những tác dụng nhất định đối với nền giáo dục cổ truyền Việt Nam, mái trường thực dân phần lớn làm hỏng đi tính nết của người học Báo chí hàng ngày thời bấy giờ đưa không ít tin về những cô cậu tiểu học, thành chung nhảy xuống sông hoặc uống thuốc ngủ tự tử Chỉ nhìn vào hiện tượng này thôi cũng đã thấy bản lĩnh của người học trở nên yếu ớt và xa rời cuộc sống thực tại Môi trường giáo dục thực dân tạo ra bầu không khí ngột ngạt đối với người học bởi chương trình học nặng nề (như đã trình bày ở trên), bởi
Trang 23thời lượng học quá dài và căng thẳng*3 Điều đó không chỉ tạo áp lực đối với học sinh mà còn là thử thách kinh tế đối với nhiều bậc phụ huynh muốn cho con em mình ăn học “đến nơi đến chốn” Bởi thế, với nhiều nguyên nhân khác nhau, số lượng học sinh học lên cao ngày càng rơi rụng dần Thật đúng với mưu đồ của thực dân Pháp không muốn cho người dân Việt Nam học rộng, hiểu sâu sẽ chỉ là “những bài học về phiến loạn”! Bên cạnh đó giáo dục thực dân đẩy nhà trường ra ngoài nhiệm vụ xã hội, tạo ra tính xa rời thực tế, vị kỷ, học không để mở mang kiến thức phục vụ xã hội mà theo bằng cấp, danh lợi như sau này Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận xét: “Dưới chế độ thực dân phong kiến, mục đích đi học là cốt được mảnh bằng để làm ông thông, ông phán, lĩnh lương nhiều, ăn ngon, mặc đẹp Thế thôi, số phận dân tộc thế nào, tình hình thế giới biến đổi thế nào, không hay, không biết gì hết”[23, 398] Rõ ràng, giáo dục thực dân đã làm nặng thêm những căn tính do nền giáo dục phong kiến để lại trên đất nước ta
Với tất cả những đặc điểm trên cho thấy tinh thần chủ đạo xuyên suốt nội dung giảng dạy trong các trường Pháp - Việt là phản dân tộc, nô dịch, thấp kém, đầy rẫy tư tưởng phản động, đặc biệt là thiếu tính khoa học và xa rời quần chúng nhân dân
Quy mô giáo dục rất bé nhỏ, số lượng trường học ít ỏi Để vây hãm dân
ta trong vòng ngu dốt, thực dân Pháp hạn chế tối đa việc mở trường nên nạn thiếu trường học diễn ra trầm trọng Việc học trở thành một đặc quyền của những tầng lớp trên trong xã hội, của các con em thực dân và tay sai thân
*3 Muốn tốt nghiệp Trung học, trẻ em Việt phải học:
- 3 năm sơ học để thi tốt nghiệp yếu lược rồi thi lên lớp nhì
- 3 năm tiểu học để thi cơ thuỷ (C.E.P.F.I) rồi thi lên đệ nhất
- 4 năm cao đẳng tiểu học để thi thành chung rồi thi lên đệ nhị trung học
- 2 năm trung học để thi nửa trung học (bán phần tú tài)
- 1 năm chuyên khoa và thi tốt nghiệp trung học (tú tài tây hoặc tú tài bản xứ)
Như vậy tổng cộng là 13 năm học và 8 kỳ thi Trong khi một trẻ em Pháp học trường Li-xê chỉ học một mạch
11 năm và qua 1 kỳ thi (Vũ Ngọc Khánh, Tìm hiểu nền giáo dục Việt Nam trước 1945, Nxb Giáo Dục, Hà
Nội, 1985, tr.160)
Trang 24Pháp Đến trường học chỉ còn là giấc mơ xa vời của nhân dân lao động bởi họ không thể vượt qua được gánh nặng kinh tế cũng như những sự đảm bảo ngặt nghèo do nhà trường thực dân đề ra
Trong “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra:
“Thế mà người An Nam lại có những 10 trường học, những 1500 đại lý rượu
và thuốc phiện cho 1000 làng kia đấy!”[18, 38]
Trong thực tế, con số trường lớp thật sự bi thảm!
Thực trạng giáo dục Việt Nam dưới thời Pháp thuộc trở nên tồi tệ hơn khi Toàn quyền Meclanh - con người từng bỏ ra ba mươi sáu năm của đời mình để nhồi nhét cái văn minh đầy ân huệ của nước Pháp vào đầu óc người bản xứ [18, 44] - cho thực thi chính sách giáo dục không gì phản động và phản khoa học hơn: “chỉ cung cấp cho nhân dân Việt Nam một sự giáo dục nhỏ giọt, phát triển theo chiều nằm chứ không theo chiều đứng”[32, 161] Với nhãn quan thực dân, Meclanh cho rằng 9/10 học sinh nông thôn Việt Nam không đủ sức theo học hết bậc sơ học nên chỉ cần mở nhiều trường thuộc bậc
sơ học, những trường cao hơn là không cần thiết Thực tế cho thấy Meclanh
hô hào “phát triển giáo dục theo chiều nằm” không đồng nghĩa với việc hệ thống giáo dục cấp thấp sẽ được Pháp chú trọng mở mang và phát triển đầy
đủ Một số ít trường sơ cấp có một, hai lớp đầu của bậc tiểu học được mở ở một số xã thôn ở Bắc Kỳ gọi là trường hương học (école communale), ở Trung Kỳ gọi là trường dự bị (école préparatoire) và ở Nam Kỳ gọi là lớp phù trợ dự bị (cours auxiliaire préparatoire) Với những tên gọi khác nhau, người
ta dễ nhầm tưởng là sự đa dạng trong các cấp học nhưng về bản chất chúng chỉ là một mà thôi Còn các trường tiểu học hoàn chỉnh (trường kiêm bị) tương đương với trình độ lớp bốn cấp I chỉ được mở ở một số thị trấn huyện
và thị xã (ở miền núi có nhiều huyện chưa có)
Số học sinh đi học rất ít ỏi Người ta tính bình quân cứ 100 người dân thì có 0,4 học sinh tiểu học, chiếm tỷ lệ có 0,4% trong dân số Bậc sơ học
Trang 25được coi là khả dĩ hơn trong thời Pháp thuộc thì cũng chỉ chiếm 2% Bậc tiểu học, năm 1924 - 1925, ở những nơi giáo dục phát triển nhất thì cũng chỉ có 1/12 em trai và 1/100 em gái, còn các nơi khác thì có 1/20 trẻ em được nhận vào học [47, 213]
Bảng số liệu trong Đông Dương niên giám thống kê tập VII 1936 -
1937 cho thấy rõ điều này [47, 209]:
Bậc học Số làng Diện tích
bình quân
Bình quân dân số Số trường học
- Bắc Kỳ với 8.700.000 dân có 8 trường
- Trung Kỳ với 5.656.000 dân có 4 trường
- Nam Kỳ với 4.616.000 dân có 4 trường [47, 210]
Tính bình quân dân số cứ 1.200.000 dân mới có 1 trường cao đẳng tiểu học với số học sinh bình quân là 263 người và 4,5 tỉnh mới có 1 trường Tỷ lệ học sinh cao đẳng chỉ chiếm một con số vô cùng khiêm tốn là 0,02% dân số
Bậc trung học cũng chỉ có ở Hà Nội và Sài Gòn Số lượng trường và học sinh dường như có thể đếm được trên đầu ngón tay Mang danh khai hoá văn minh cho người An Nam mà đến năm 1917, trên toàn Việt Nam mới có 5
Trang 26trường Trung học: 1 Trường Trung học Chasseloup-Laubat ở Sài Gòn (mở năm 1874); 2 Trường Trung học Bảo hộ ở Hà Nội (Collège du Protectorat à Hanoi) mở năm 1908 - sau đổi là Chu Văn An; 3 Trường Quốc học Huế (mở năm 1896); 4 Trường Trung học Le Myre de Viler ở Mĩ Tho (mở năm 1879), sau đổi là trường Nguyễn Đình Chiểu; 5 Trường áo Tím (Sài Gòn) mở năm
1913 [46, 293]
Với chủ trương phát triển giáo dục theo chiều nằm, không theo chiều đứng, cộng với chất lượng và quy mô giáo dục như thế, các trường phân bố không đều giữa các nơi nên trường lớp và người theo học rất ít ỏi Càng lên cao, số người học lại càng bị rơi rụng dần
Bảng thống kê sau cho thấy trong năm 1936 - 1937 chỉ có 3 trường trên
cả nước Việt Nam [39, 211]:
Số tỉnh Số trường Số tỉnh Số trường Số tỉnh Số trường
29
1(Trung học Bảo hộ Hà Nội)
18
1(Trung học Khải Định Huế)
24
1(“Pêtơruýt”
Kí Sài Gòn)
Theo “Niên giám thống kê Đông Dương”, tập 7, năm 1942, số trường
và số học sinh bản xứ trong năm học 1941-1942 như sau [42, 14]:
Số học sinh (%)
Trung học 3 (0,032) 652 (0,012)
Cao đẳng Tiểu học 16 (0,172) 5521 (0,12) 49 (4,12) 11203 (12,52) Tiều học 503 (5,41) 58629 (10,64) 234 (19,68) 29573 (33,06)
Sơ học 8775 (94,39) 486362 (88,24) 906 (76,20) 48675 (54,42)
Trang 27Tổng cộng (%) 9296 (100%) 551164 (100%) 1189 (100%) 89451 (100%)
Trước sự đấu tranh quyết liệt của nhân dân ta, từ năm 1930, chính quyền bảo hộ cho phép mở trường tư cấp Tiểu học và Trung học nhưng quy định đặt ra rất chặt chẽ Mọi quy chế đều do Thống sứ (hoặc Thống đốc, Khâm sứ) duyệt y Mở trường Trung học phải được Toàn quyền quyết định Việc giảng dạy có thể có chương trình, sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy riêng nhưng tuyệt đối không được trái với luân lý, thể chế, pháp luật của nhà nước Thực tế đây chỉ là chiêu bài của thực dân Pháp nhằm xoa dịu cuộc đấu tranh của nhân dân ta, không phải sự thay đổi theo thiện ý của người Pháp nên kết quả đem lại không đáng kể Số học sinh gồm cả trường tư cũng chỉ chiếm 2,6% dân số
Hạn chế mở trường nhưng thực dân Pháp lại cũng ra sức ngăn cấm việc
đi du học của những người có mong muốn học cao hơn Theo chúng “con đường sang Pháp là con đường chống Pháp”[47, 188] nên chúng ra sức gây khó dễ Toàn quyền Xarô nói rõ: “Để cho người thượng lưu trí thức đi đào tạo
ở nước ngoài, thoát khỏi vòng kiềm tỏa của chúng ta, chịu ảnh hưởng văn hóa
và chính trị các nước khác thì thật là nguy hiểm vô cùng”[56, 32] Người nào muốn sang Pháp du học phải được phép của quan Toàn quyền, không những thế còn bị theo dõi sát sao và bị đưa vào các trường học chẳng ra gì do các tên thực dân đầu sỏ “kèm cặp”
Thực dân Pháp coi giáo dục là công cụ quan trọng để chinh phục thuộc địa và là “lợi khí của bọn thực dân để thực hiện mục đích đầu độc các thế hệ thanh niên”[29, 5] nên kết quả thu được rất hạn chế Cụ Huỳnh Thúc Kháng
đã tổng kết: “Trên vài mươi năm, khoa cử đã bỏ xó mà cái trò Hán học càng lan theo điều đó đã đành Còn nói về Tây học thì trường nọ, trường kia, bằng cao, bằng thấp ( ) thế mà xét về thực tế thì trừ công việc viết thuê nói mướn
Trang 28và làm công ở các sở ra nào ai đã mấy lưu tâm đến chỗ triết lý tìm được chỗ tinh tuý Âu học mà tự lập lấy mình và du nhập cho bà con đâu? Chẳng qua ngày trước nói Khổng Mạnh thì ngày nay thay vào Hi Lạp, La Mã, Mạnh Đức, Lô Thoa, đổi cái lối “chi hồ giả giã” mà bước sang “a, b, c, d” cũng chỉ
là ngoài biểu diện”[46, 148 - 149] Sự đổi mới trong nền giáo dục Việt Nam
mà thực dân Pháp vẫn ca ngợi là khai hoá văn minh thực chất chỉ là sự khai hoá giả hiệu
Trước cách mạng Tháng Tám 1945, giáo dục được thực dân Pháp sử dụng như một lợi khí thực hiện chính sách ngu dân phục vụ cho công cuộc cai trị và khai hoá của chúng trên toàn cõi Đông Dương nói chung, Việt Nam nói riêng Đó thực sự là nền giáo dục nô dịch phản động được che đậy bằng luận điệu “Người Pháp đến đây để nâng cao đời sống nông nghiệp, công nghiệp, kinh tế và còn nâng cao cả đời sống tinh thần bằng giáo dục”[2, 55] Trên thực tế, thực dân Pháp đã để lại những di hại nặng nề đối với nền giáo dục, đời sống văn hoá và tinh thần của người Việt Nam Điển hình là cả một dân tộc bị thất học là kết quả của 80 năm “khai hoá” của người Pháp ở Việt Nam
1.2 Nguyễn Ái Quốc đấu tranh chống nền giáo dục thực dân
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh có ý thức rất sâu sắc về vai trò, tác dụng của giáo dục Sinh thời, trong những bài nói và viết của Người cũng như những hoạt động cụ thể cho thấy dù ở hoàn cảnh nào, Người cũng đặc biệt quan tâm đến giáo dục Quan điểm của Người thể hiện sâu sắc như một triết
lý trong bài thơ “Dạ bán”:
Thụy thì đô tượng thuần lương hán, Tỉnh hậu tài phân thiện, ác nhân;
Thiện, ác nguyên lai vô định tính,
Đa do giáo dục đích nguyên nhân
Dịch:
Trang 29ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[20, 161] Hồ Chí Minh coi đó là tôn chỉ của cuộc đời mình nên đã gắn cuộc đấu tranh giành độc lập với cuộc đấu tranh chống chế độ giáo dục
nô lệ, đòi một nền giáo dục dân tộc tiến bộ [63, 18]
Ngay từ thời gian mới tham gia hoạt động cách mạng, Nguyễn Ái Quốc
đã có nhiều bài viết, bài nói và hành động lên tiếng tố cáo chính sách ngu dân của thực dân Pháp Đó là nỗi trăn trở, canh cánh trong lòng nên không chỉ một lần Người bàn về nội dung này mà phản ánh ở nhiều hoàn cảnh, địa điểm với những hình thức, văn phong khác nhau Người tổng kết thành những
luận điểm có sức tố cáo mạnh mẽ: “Làm cho u mê để thống trị”, đó là
phương pháp mà nhà cầm quyền ở các nước thuộc địa của chúng ta ưa dùng nhất” “Thâm ý của họ chỉ là đẩy người An Nam vào vòng ngu tối”[17,155, 398] “Làm cho dân ngu để dễ trị, đó là chính sách mà các nhà cầm quyền ở các thuộc địa của chúng ta ưa dùng nhất”[18, 99]
Năm 1919, người thanh niên trẻ Nguyễn Ái Quốc gửi tới hội nghị
Vecxay bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” gồm 8 điểm đòi những quyền
tự do tối thiểu cho người dân Trong đó, điểm thứ 6 ghi: “Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ”[17, 435] Những yêu sách đó tuy không được đáp ứng nhưng đã gây
Trang 30được tiếng vang lớn trên thế giới lúc bấy giờ Người Pháp coi hành động đó giống như một quả bom, với người Việt ở Pháp, đó là tiếng sấm mùa xuân xua tan đi màn sương mù vây bọc, thức tỉnh lòng yêu nước trong họ
Khi đã là thành viên của Đảng Xã hội Pháp, Người tích cực hoạt động trong các tổ chức, viết sách báo nhằm vạch trần tội ác của chủ nghĩa thực dân,
đế quốc đối với các dân tộc thuộc địa Trong Đại hội Tua năm 1920, Nguyễn
Ái Quốc đã thẳng thắn phát biểu ý kiến: “Trong vài phút, tôi không thể vạch được hết những sự tàn bạo mà bọn tư bản ăn cướp đã gây ra ở Đông Dương: nhà tù nhiều hơn trường học và lúc nào cũng chật ních Chúng tôi phải sống trong cảnh ngu dốt tối tăm vì chúng tôi không có quyền tự do học tập”[17, 22
- 23] Trong “Đông Dương”, Người viết rõ thêm: “Sự thật là người Đông
Dương không có một phương tiện hành động và học tập nào hết”[17, 27] Người lên án Pháp trong việc hạn chế mở trường cho người An Nam: “Người
ta bảo ngân sách không cho phép chính phủ mở trường mới Không hẳn thế đâu Trong số 12 triệu đồng của ngân sách Nam Kỳ, thì 10 triệu đã tìm đường chui sâu vào túi các ngài viên chức rồi”[18, 99] Vì thế, trường học thiếu một cách nghiêm trọng Người đưa ra một thực tế là “Mỗi năm, vào kỳ khai giảng, nhiều phụ huynh phải đi gõ cửa, chạy chọt mọi nơi thần thế, có khi chịu trả gấp đôi tiền nội trú, nhưng vẫn không tìm được chỗ cho con học Và hàng ngàn trẻ em đành chịu ngu dốt vì nạn thiếu trường”[18, 98] Thiếu trường học trở thành vấn nạn nhức nhối dưới thời Pháp thuộc Dân An Nam khát trường học như người đi giữa hoang mạc khát nước! Và chính phủ bảo hộ nhân từ chỉ
mở nhỏ giọt mà thôi bởi một lẽ thật dễ hiểu rằng “nhiệt tình của người An Nam đối với nền giáo dục hiện đại làm cho chính phủ bảo hộ lo sợ Bởi thế, chính phủ đóng cửa các trường làng, biến trường học thành chuồng ngựa cho các quan nhà binh, đuổi học trò và bỏ tù thầy giáo”[18, 112]
Trang 31Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ mâu thuẫn trong việc hạn chế mở trường với việc kiềm toả những ai có ý định đi du học Hình thức là mâu thuẫn nhưng thực chất là sự thống nhất trong việc thực hiện chính sách ngu dân của thực dân Pháp: “Chính phủ Pháp cố đưa du học sinh An Nam vào học ở những trường phản động nhất Những sách vở báo chí mà anh ta đọc, những hoạt động giao thiệp hàng ngày của anh ta đều bị kiểm soát, theo dõi Người ta giao cho những tên thực dân ba que già đã về hưu trông nom ”[17, 401]
Tố cáo chính sách nô dịch của thực dân Pháp, trong bài “Vấn đề người bản xứ” viết năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần thái độ khinh miệt của
thực dân phơi bày đầy rẫy trong những sách báo: “Đối với cái giống nòi Annamít ấy, chỉ có một cách tốt để cai trị nó - đó là ách thống trị bằng sức mạnh Truyền học vấn cho bọn Annamít hoặc cho phép chúng tự chúng có học vấn, tức là một mặt cung cấp cho chúng những súng bắn nhanh để chống chúng ta, và mặt khác đào tạo những con chó thông thái gây rắc rối hơn là có ích ”[17, 7]
Nội dung giáo dục “không phải để giáo dục cho thanh niên Việt Nam một nền học vấn tốt đẹp và chân thực, mở mang trí tuệ và phát triển tư tưởng cho họ, mà trái lại càng làm cho họ đần độn thêm Ngoài mục đích giáo dục
để đào tạo tuỳ phái, thông ngôn và viên chức nhỏ đủ số cần thiết phục vụ cho bọn xâm lược, người ta đã gieo rắc một nền giáo dục đồi bại, xảo trá và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát nữa, vì một nền giáo dục như vậy chỉ làm hư hỏng mất tính nết của người đi học, chỉ dạy cho họ một lòng “trung thực” giả dối, chỉ dạy cho họ biết sùng bái những kẻ mạnh hơn mình, dạy cho thanh niên yêu một Tổ quốc không phải là Tổ quốc của mình và đang áp bức mình Nền giáo dục ấy dạy cho thanh thiếu niên khinh rẻ nguồn gốc, dòng giống mình Nó làm cho thanh thiếu niên trở nên ngu ngốc”[17, 399] Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ trường thuộc địa chẳng qua là nơi “chế tạo” ra những nhà khai hóa tương lai
Trang 32mà thôi! Người đã nhìn thấu những âm mưu thâm độc của thực dân Pháp dưới lớp vỏ bọc gieo rắc văn minh Người vạch trần tính chất thực dân của nền giáo dục đó, thấy được tác hại, sự nguy hiểm đối với mỗi con người và với toàn dân tộc Thật sâu sắc khi Người nhắc lại lời của tên đại tá Bécna: “Về phương diện tinh thần, người Pháp không tổ chức một nền giáo dục mới thay thế cho nền giáo dục An Nam mà họ đã bỏ đi Họ chỉ xây dựng được một ít trường học để đào tạo ra những con vẹt, những người vong bản thiếu đạo đức
và thiếu cả kiến thức phổ thông” Người dẫn ra lời báo cáo của tướng Pênơcanh như một sự tố cáo đanh thép: “Trong 50 năm chiếm đóng ở Nam
Kỳ và 25 năm chiếm đóng ở Bắc Kỳ, những trường học Pháp không đào tạo lấy được một người An Nam thật sự có học thức” và bình luận về lời của một văn sĩ thuộc địa - Mácxơ - đã “lột tả được đúng tư tưởng đang thống trị trong đầu óc của các nhà cai trị của chúng ta” khi ông này lên tiếng bày tỏ quan điểm về sự “truyền bá giáo dục, khai hóa văn minh” cho người An Nam:
“Chúng ta chỉ cần dạy tiếng Pháp cho người An Nam, dạy cho họ biết đọc, biết tính toán chút ít thôi; biết hơn nữa chỉ là thừa vô ích”[17, 399] Sự thật
mà Bécna và Pênơcanh đưa ra là kết quả tất yếu của cái gọi là tư tưởng giáo dục như Mácxơ đã phát biểu và là hậu quả tất yếu của nền giáo dục nô lệ trình
độ thấp Dưới nhiều hình thức khác nhau, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định điều đó: “Điều gì có thể rèn luyện được cho học sinh biết suy nghĩ, biết phân tích thì người ta không dạy ở nhà trường Vấn đề nào có liên quan đến chính trị, xã hội và có thể làm cho người ta tỉnh ngộ đều bị bóp méo và xuyên tạc đi
Có học lịch sử nước Pháp đi nữa, thì người ta không hề đả động đến chương nói về cách mạng Người ta cấm học sinh đọc tác phẩm của Huygô, Rútxô và Môngtexkiơ Nói tóm lại, trường học thật là xứng với chế độ đã khai sinh ra nó”[17, 400]
Trong khi đó, kết hợp với giáo dục trong nhà trường là hàng loạt những hoạt động khác bổ sung cho việc thực hiện chính sách ngu dân Phương tiện
Trang 33hữu hiệu nhất là rượu cồn và thuốc phiện: “Rượu cồn và thuốc phiện cùng báo chí phản động của bọn cầm quyền bổ sung cho cái công cuộc ngu dân của chính phủ”[17, 28] Có khi Người lại viết một cách mai mỉa: “May mắn thay! Tuy chúng tôi thiếu trường học, nhưng nước Pháp đã ban cho chúng tôi rất nhiều nhà thổ, tiệm hút thuốc phiện và ty rượu”[17, 314]; “Trong tất cả những
cố gắng của các nhà khai hóa nhằm làm cho nòi giống An Nam lành mạnh
hơn và đưa họ lên con đường tiến bộ (?), phải kể đến việc cưỡng bức mua rượu ty”[18, 111] Và như thế, tất cả đàn ông, đàn bà, người già, trẻ nhỏ đến
cả phụ nữ mang thai cũng bị bắt phải uống rượu cồn pha nước Bất kể họ ăn ngày 3 bữa hay 1 bữa cũng phải để tiền ra mua rượu cho đủ số doanh thu của nhà nước bảo hộ đã đặt ra Thuốc phiện được nhà nước khuyến khích mua bán công khai Dựa trên một vụ án tàng trữ, buôn bán thuốc phiện ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc đi đến kết luận bi hài: “Tốt lắm! Tính sơ qua cũng thấy một kilogram thuốc phiện đáng ba mươi sáu tháng tù!” Người liên hệ đến sự việc đang diễn ra trên Tổ quốc mình: “Giá mà mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, như người ta thường nói, thì tuổi thọ của ông Xarô, toàn quyền Đông
Dương phải dài ghê lắm mới đủ để cho ông ngồi hết hạn tù Vì rằng mỗi năm ông sẽ bị phạt ít ra là một triệu ba mươi lăm vạn (1.350.000) tháng tù về tội mỗi năm bán cho người An Nam trên mười lăm vạn kilôgam thuốc phiện”[18,
95] Hài hước, châm biếm mà sâu cay là nghệ thuật đả kích, tố cáo rất tài tình của Nguyễn Ái Quốc
Thực dân Pháp ra sức bóc lột, bòn rút của cải và sức lực của người dân nên nhân dân Việt Nam bị bần cùng hoá Trước thực trạng đó, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Người Pháp đến đã làm thay đổi tất cả” “Nói chung, người An Nam đều phải è ra mà chịu công ơn bảo hộ của nước Pháp Riêng người nông dân An Nam càng phải è ra mà chịu sự bảo hộ ấy một cách nhục nhã hơn: là người An Nam, họ bị áp bức, là người nông dân, họ bị tước đoạt”[18, 82] Hệ quả tất yếu là “họ phải chống đói đã rồi mới có thể nghĩ đến chuyện học
Trang 34hành”[17, 398] Người đã nhìn ra được nguyên nhân sâu xa và thủ phạm cuối cùng gây nên sự thất học của người dân An Nam Đó là sự thực không thể chối cãi!
Lên án thực dân Pháp ngược đãi giáo viên người bản xứ được Nguyễn
Ái Quốc nói đến trong nhiều bài viết Tội ác của thực dân được phơi bày Năm 1907, dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu tiến bộ, phong trào cải cách bằng con đường hòa bình diễn ra sôi nổi ở các đô thị, nhất là Hà Nội Nội dung của phong trào chủ yếu là mở trường học, truyền bá tư tưởng mới, cổ động bỏ hủ tục và lồng vào đó tư tưởng yêu nước, chống Pháp Vì thế, phong trào bị sự đàn áp quyết liệt của thực dân Pháp Không những các trường học bị đập phá
mà giáo viên bị bắt, bị trói giật cánh khuỷu và bị dẫn từng xâu lên tỉnh lỵ trong khi họ đầu trần, chân đất, nhịn đói nhịn khát và bị đánh đập như trâu ngựa Dù là giáo viên nhưng nếu họ làm trái ý những nhà cầm quyền thì ngay lập tức sẽ bị thuyên chuyển công tác như trường hợp một loạt giáo viên ở một tỉnh Nam Kỳ Không những thế, họ còn bị lăng mạ, làm nhục và bị “dọa đánh vào mõm”[17, 402] Vì sao có sự đối xử tàn tệ đến như vậy đối với những con người đáng ra được trân trọng? Nguyên nhân rất đơn giản: họ là giáo viên người bản xứ! Đã là người bản xứ thì kể cả là giáo viên cũng hạ đẳng như những người bản xứ khác mà thôi! Thêm nữa, họ lại còn là những kẻ phiến loạn!
Sự bất công trong chế độ tiền lương cũng như các mặt của cuộc sống giữa giáo viên bản xứ và giáo viên người Pháp là điều dễ hiểu Bất luận là ai,
dù chỉ là giám thị trong nhà trường nhưng trên đất thuộc địa thì người Pháp đương nhiên được hưởng một đời sống đế vương Trong công việc, dù có cùng cấp bậc thì người da trắng cũng là cấp trên Điều Nguyễn Ái Quốc gọi là
“dân chủ” được thể hiện như sau: một giáo viên bản xứ lĩnh 555 phrăng và một giáo sư người bản xứ lĩnh 1.200 phrăng mỗi tháng Còn một giáo viên người Pháp lĩnh những 3.750 phrăng và một giáo sư người Pháp lĩnh những
Trang 356.000 phrăng mỗi tháng Đấy là chưa kể mọi thứ phụ cấp mà chỉ riêng giáo viên và giáo sư người Pháp mới được hưởng [18, 344] Tính độ chênh lệch sẽ thấy lương giáo sư người Pháp gấp 5 lần lương giáo sư bản xứ và lương giáo viên người Pháp gấp tới gần 7 lần lương giáo viên bản xứ Thực là những con
số biết nói! Nguyễn Ái Quốc rất sâu sắc khi dẫn ra những con số này mà chẳng mất mấy lời bình
Tố cáo thực dân Pháp, ngòi bút của Nguyễn Ái Quốc trở nên linh hoạt, sắc bén chĩa thẳng vào kẻ thù, vạch trần những tội ác của chúng Khi châm biếm, khi sâu cay nhưng bằng những bằng chứng xác thực, Người đã lên tiếng
tố cáo mạnh mẽ Với nhiều bài viết trong những thời điểm khác nhau nhưng trước sau đều làm nổi bật lên tư tưởng chống nền giáo dục thực dân của Nguyễn Ái Quốc
Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở việc tố cáo chính sách ngu dân của thực dân Pháp mà Người đã đấu tranh đòi Chính phủ Pháp phải mở mang
giáo dục Người gửi bản “Yêu sách của nhân dân An Nam" tới hội nghị
Vecxay đòi quyền tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ Khi có điều kiện, Người đưa ra chủ trương, hành động cụ thể để xây dựng nền giáo dục toàn dân và kêu gọi mọi người đồng lòng thực hiện
Trong tác phẩm “Đường kách mệnh”, Người chỉ rõ khi Công hội có
tiền thì nên làm 7 việc, trong đó 3 việc đầu tiên là trong lĩnh vực giáo dục:
1 Lập trường học cho công nhân
2 Lập trường cho con cháu công nhân
3 Lập nơi xem sách báo [18, 307]
Như vậy, ngay từ khi chưa có được một tổ chức lãnh đạo thống nhất trong cả nước, mới chỉ có định hướng cho con đường cách mạng Việt Nam
Trang 36nhưng Nguyễn Ái Quốc đã có quan điểm cụ thể quan tâm đến việc đào tạo con người và phát triển nền giáo dục nước nhà
Năm 1930, Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam
Sự kiện đó đánh dấu một mốc son tạo nên những bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam Ngay sau đó, Người ra lời kêu gọi: “Từ nay anh chị em chúng ta cần phải gia nhập Đảng, ủng hộ Đảng và đi theo Đảng”[20, 10] Mục đích lớn nhất là để giành độc lập dân tộc, thực hiện các quyền tự do dân chủ, thực hành giáo dục toàn dân Đây là điều kiện cơ bản để chúng ta chống lại nền giáo dục thực dân của Pháp và đặt nền móng cho việc xây dựng nền giáo dục mới của nước Việt Nam khi kết thúc cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc
Xuyên suốt trong thời gian chuẩn bị giành chính quyền (1939 - 1945),
Hồ Chí Minh vẫn đặc biệt quan tâm tới vấn đề giáo dục cho quần chúng nhân dân Người chủ trương:
1 Huỷ bỏ giáo dục nô lệ, lập nền quốc dân giáo dục, cưỡng bách giáo dục đến bực sơ đẳng, cho các dân tộc được quyền dùng tiếng mẹ đẻ mình, phổ thông trong việc giáo dục mình
2 Lập các trường chuyên môn quân sự, chính trị, kỹ thuật để đào tạo các lớp nhân tài
3 Giúp đỡ, khuyến khích các hạng trí thức để họ được phát triển tài năng của họ [23, 151]
Người chỉ đạo phong trào Việt Minh phát triển tới đâu, tổ chức học văn hoá ở đó Chính Người cũng tích cực tham gia vào hoạt động giảng dạy với phương pháp cụ thể, dễ nhớ, dễ học Đó là biểu hiện sinh động chủ trương của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh chống nền giáo dục nô dịch của Pháp không chỉ nằm trong tư tưởng mà đã biến thành hành động cụ thể trong thực tiễn
Sau này, Người khẳng định lại: “Trước hết phải ra sức tẩy sạch ảnh hưởng giáo dục nô dịch của thực dân còn sót lại, như: thái độ thờ ơ với xã hội,
Trang 37xa rời đời sống lao động và đấu tranh của nhân dân; học để lấy bằng cấp, dạy theo lối nhồi sọ Và cần xây dựng tư tưởng: dạy và học để xây dựng Tổ quốc, phục vụ nhân dân”[24, 80]
Chủ trương chống nền giáo dục thực dân, xây dựng nền giáo dục dân tộc và dân chủ của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là xuyên suốt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người Đấu tranh vì một nước Việt Nam có trình độ dân trí cao luôn luôn song hành với cuộc đấu tranh giành độc lập và bảo vệ độc lập dân tộc Đó chính là một tiền đề quan trọng quyết định trực tiếp đối với công cuộc xây dựng một nền giáo dục mới của nước Việt Nam trong các giai đoạn sau dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trang 38CHƯƠNG 2
HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC TỔ CHỨC XÂY DỰNG NỀN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI (1945 - 1950)
“Kháng chiến bằng Văn hóa”
“Văn hóa của Kháng chiến”
Hồ Chí Minh
-2.1 Giáo dục phổ thông trong năm đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945 - 1946)
2.1.1 Chủ trương mới về giáo dục của Hồ Chí Minh
Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đã gặp muôn vàn khó khăn Chính quyền cách mạng ở vào một tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”
Một thách thức nghiêm trọng đối với cách mạng Việt Nam trong thời điểm này là đối phó cùng lúc với nhiều thế lực quân sự đối địch của các nước lớn có mặt tại Việt Nam và các lực lượng chống lại chế độ mới ở trong nước
Ở phía Bắc, vĩ tuyến 16, khoảng 20 vạn quân Tưởng đóng ở hầu khắp các thành phố, thị xã, thị trấn đến biên giới Việt - Trung Với danh nghĩa quân Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật, quân Tưởng còn tìm mọi cách để tiêu diệt Đảng Cộng sản, phá Việt Minh, lật đổ chính quyền nhân dân để lập ra chính quyền phản cách mạng làm tay sai cho chúng
Bên cạnh chúng là lực lượng Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc) và Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) Một số tổ chức phản động khác đều ngóc đầu dậy chống phá chính quyền cách mạng, đòi cải tổ chính phủ của nước ta Lực lượng của Tưởng và bọn tay sai phản động là kẻ thù nguy hiểm đang đe dọa hàng ngày, hàng giờ đối với chính quyền cách mạng
Trang 39Quân đội Nhật tuy đã thất trận nhưng vẫn còn trên đất nước ta với số lượng tới 6 vạn lính, cùng với quân Pháp có thể nổi dậy chống phá bất cứ lúc nào
Từ nam vĩ tuyến 16 trở vào, đế quốc Anh có khoảng 26.000 quân với danh nghĩa Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật đã tiếp tay cho Pháp quay lại xâm lược Đông Dương
Các đế quốc cùng nhau tranh chiếm Việt Nam, mâu thuẫn về quyền lợi nhưng lại hết sức thống nhất với nhau về âm mưu xâm lược Tính chất nguy hiểm vì thế càng tăng lên gấp bội Sự có mặt đồng thời của hơn 30 vạn quân đội nước ngoài thuộc bốn thế lực đối địch với cách mạng Việt Nam đã tạo nên chênh lệch lớn trong cán cân lực lượng, hết sức bất lợi cho cách mạng Việt Nam
Tình hình trong nước sau cách mạng làm khó khăn lại chồng chất khó khăn Chính quyền cách mạng vừa mới thành lập chưa được củng cố
Lực lượng vũ trang của ta tăng từ 5.000 lên 50.000 nhưng vẫn còn non yếu, tổ chức, trang bị và kinh nghiệm chiến đấu còn ít
Nền kinh tế, tài chính của nước ta đang ở trong tình trạng kiệt quệ, xơ xác Vào lúc Chính phủ lâm thời thành lập, ngân sách Đông Dương đã hụt
185 triệu đồng và nợ tới 564 triệu đồng Trong ngân khố trung ương chỉ còn lại 1.230.000 đồng nhưng có tới 586.000 đồng là tiền hào rách nát Tưởng lại
ép ta tiêu tiền quan kim, quốc tệ Đó thực là những khó khăn khổng lồ về nạn tài chính quẫn bách [45, 179]
Thêm vào đó, lũ lụt, hạn hán kéo dài làm cho 50% diện tích ruộng đất ở miền Bắc bị bỏ hoang [45, 178] Nạn đói đe dọa khắp mọi nơi trong khi tâm
lý của quần chúng nhân dân chưa hết bàng hoàng vì nạn đói đầu năm Ất Dậu (1945) đã cướp đi sinh mạng của hơn 2 triệu đồng bào ta Thực tế đó được
Văn Tạo và Furuta Moto tái hiện một cách sinh động trong tác phẩm “Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam” qua các số liệu và hình ảnh Tiêu biểu như tỉnh Thái
Trang 40Bình, nơi nạn đói diễn ra trầm trọng nhất, số người chết đói lên tới 280.000 Thảm trạng đó được Vespy khắc họa trong bức thư của ông viết tháng 4 năm 1945: “Họ đi thành rặng dài bất tuyệt gồm cả gia đình, già lão có, trẻ con có, đàn ông có, đàn bà có, người nào người ấy rúm người dưới sự nghèo khổ, toàn thân lõa lồ, gầy guộc giơ xương ra run rẩy, ngay đến cả những thiếu nữ
đã đến tuổi dậy thì đáng lẽ hết sức e thẹn cũng thế”[44, 16 - 17]
Công nghiệp đình đốn làm hàng vạn công nhân bị thất nghiệp, đời sống
vô cùng khó khăn thiếu thốn
Văn hóa - giáo dục còn nhiều hậu quả nặng nề Các tệ nạn xã hội cũ như nghiện rượu, hút thuốc phiện, mê tín dị đoan rất trầm trọng và phổ biến Nổi bật trong những hậu quả về văn hóa - giáo dục thực dân Pháp để lại là hơn 90% nhân dân Việt Nam mù chữ
Tất cả những khó khăn đó là cản trở lớn đối với nhân dân Việt Nam trong việc xây dựng đất nước
Bên cạnh những khó khăn chồng chất, nước ta có được một số thuận lợi căn bản là tiền đề quan trọng cho công cuộc kháng chiến kiến quốc và việc xây dựng nền giáo dục nước nhà
Với thắng lợi của cách mạng Tháng Tám, nước ta hoàn toàn xóa bỏ chế
độ phong kiến ngự trị trên đất nước ta gần 10 thế kỷ, hoàn toàn xóa bỏ chủ nghĩa thực dân Pháp và phát xít Nhật Một kỷ nguyên mới được mở ra, kỷ nguyên của độc lập, tự do Đây là điều kiện thiết yếu, nền tảng cơ bản cho việc xây dựng một nền giáo dục dân tộc, dân chủ
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời là thành quả to lớn của thắng lợi cách mạng Tháng Tám Người dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ một quốc gia độc lập Tinh thần chung của cả dân tộc
là tin tưởng, phấn khởi với thành quả của cách mạng và quyết tâm bảo vệ chính quyền