Chế định bào chữa không những được quy định ừong Hiến pháp mà còn được cụ thể hoá hơn trong luật, theo Điều 11 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 có quy định: “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHÒA LUẬT 0O0—-
Sinh viên thực hiện:
NGUYỄN THỊ TỦYẾT NHUNG MSSV : 5062345
Lớp: Luật TM1 - K32
càn Thơ 4/2010
m
Trang 2Vai trò của người bào chữa trong tô tụng hình sự
LỜI MỞ ĐÀU
1 Lý do chọn đề tài
Trong chế độ Xã hội chủ nghĩa các quyền con người luôn được tôn trọng vàđược pháp luật bảo vệ Trong các quyền đó thì quyền bào chữa được ghi nhận trongHiến pháp là một điều quan trọng và cần thiết Ở Điều 132 Hiến pháp 1992 của nướcCộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quy định quyền bào chữa của bị cáo được bảođảm Quyền bào chữa là cơ sở của các quyền khác mà pháp luật quy định cho người bịtạm giữ, bị can, bị cáo khi tham gia tố tụng hình sự
Phát triển và cụ thể hoá nguyên tắc nói trên, pháp luật tố tụng hình sự đã quyđịnh một cách hệ thống các quyền tố tụng mà người bị tình nghi (người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo) có thể sử dụng để đưa ra những lý lẽ và chứng cứ để bào chữa cho mình
Điều 11 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định: “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có
quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cảo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật này ” Trong một số điều luật, đặc biệt là các
Điều 48- 49- 50 Bộ luật tố tụng hình sự, quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bàochữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đã được quy định tương đối đầy đủ Nhưchúng ta đã biết không phải bất cứ người bị tình nghi nào cũng có thể tự bào chữa chomình, mà thông thường họ thường nhờ người có khả năng hiểu biết pháp luật để bàochữa thay cho họ Luật gọi những người này là người bào chữa Vì vậy, để đảm bảoquyền bào chữa cho người bị tình nghi pháp luật tố tụng hình sự cho phép họ mờingười bào chữa Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa khi tham gia vào quá trình tốtụng hình sự cũng được luật quy định khá cụ thể ở các Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự2003
Đảm bảo quyền bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không chỉ là mộtnguyên tắc hiến định mà còn là một nguyên tắc quan trọng trong tố tụng hình sự Vìbất kỳ sự vi phạm nào về nguyên tắc này trong qúa trình giải quyết vụ án hình sự đều
có thể là một trong những nguyên nhân dẫn tới hậu quả xấu không chỉ đối với người bịtình nghi mà còn ảnh hưởng xấu đến uy tín của các cơ quan bảo vệ pháp luật nóichung và của Nhà nước nói riêng Với tinh thần của cải cách tư pháp hiện nay chúng tamuốn quán triệt Nghị quyết 08-TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về việc giảiquyết vụ án hình sự phải chủ yếu dựa vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa thì sự tôntrọng nguyên tắc nói trên càng mang tính chất thiết thực hơn bao giờ hết Và tầm quantrọng của người bao chữa cũng được xác định rõ hơn và quan trọng hơn
Xuất phát từ tầm quan trọng của người bào chữa là bảo vệ quyền và lợi ích họppháp của người bị tình nghi trong quá trình tố tụng hình sự và góp phần bảo vệ quá
Trang 3trình tố tụng được chính xác khách quan, tránh làm oan người vô tội, tránh bỏ lọt tội
phạm Do đó tôi chọn đề tài “Vai trò của người bào chữa trong tổ tụng hình 5ự” để
lảm luận văn tốt nghiệp cho mình
2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Khi nói đến người bào chữa là chúng ta luôn nghĩ đến họ gắn liền với việc giúpcho người bị tình nghi bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, bảo vệ quá trình tố tụng, trợgiúp pháp lý,
Với bài viết này tác giả chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận, chứcnăng, nhiệm vụ, bản chất pháp lý của người bào chữa, phân tích các quy định của phápluật và việc áp dụng các quy định này vào thực tiễn còn gặp nhiều khó khăn, vướngmắc và đề ra một số giải pháp
3 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở tham khảo một số bài viết và nghiên cứu một số tài liệu về vai tròcủa người bào chữa trong tố tụng hình sự, tác giả muốn đánh giá thực trạng về hoạtđộng của người bào chữa trong lĩnh vực tố tụng hình sự qua một số thành tựu, hạn chế
về vai trò của người bào chữa khi tham gia tố tụng hình sự, đồng thời đề ra phươnghướng hoàn thiện về vai hò của người bào chữa trong giai đoạn hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
về phương pháp nghiên cứu tác giả sử dụng một số phương pháp chính như
Lòi cảm ơn: Để hoàn thành được đề tài luận văn tốt nghiệp cử nhân luật trước hết tôi
xin gửi lời cảm ơn đến cô Mạc Giáng Châu đã tận tình hướng dẫn và đóng góp nhiều
ý kiến quý giá ừong quá trình nghiên cứu đề tài, đồng thời gửi lời cảm ơn đến tất cảquý thầy cô trong khoa luật Đại học cần Thơ cùng các bạn sinh viên đã giúp đỡ tôitrong quá trình tìm kiếm tài liệu
Trang 41 Từ điển luật học,do Nhà xuất bản Tư pháp và nhà xuất bản từ điển bách khoa xuất bản năm 2006.
Vai trò của người bào chữa trong tổ tụng hình sự
để làm rõ thế nào là người bào chữa chúng ta cần tìm hiểu những lý luận chung về bàochữa, quyền bào chữa, người bào chữa để thấy được vai trò quan trọng của người bàochữa trong tố tụng hình sự
l.l Khái niệm chung
Người bào chữa đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo (gọi chung là người bị tình nghi) ừong quá trình giải quyết vụ án hình sự
Đe làm rõ được vai trò của người bào chữa chúng ta phải làm rõ các khái niệm liênquan đến bào chữa, chức năng và nhiệm vụ của người bào chữa trong quá trình thamgia tố tụng hình sự
l.l.l Một số khái niệm cơ bản l.l.l.l Khái niệm bào chữa
Ở Việt Nam từ thời kỳ phong kiến người ta đã biết dùng những lời nói biện hộ chonhững hành vi sai ừái mà bản thân không thực hiện hoặc có thực hiện nhưng vẫn biện
hộ cho hành vi của mình là đúng để tránh bị phạt vạ hay trách móc của người khác gọi
là “bào chữa” Bào chữa là dùng lời nói hay đưa ra những chứng cứ để chứng minhmột vấn đề nào đỏ mà chính bản thân mình cho là đúng hoặc là những việc làm sai để
có được sự khoan hồng tha thứ từ người khác Trong bối cảnh xã hội hiện nay người
ta vẫn quen sử dụng cụm từ “bào chữa” để nói lên quyền được chống lại sự buộc tội
từ người khác hoặc từ cơ quan quyền lực Nhà nước Theo Từ điển luật học thì “bàochữa” được hiểu là “việc dùng lý lẽ, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích họp phápcủa người bị tạm giữ bị can, bị cáo”1 Từ “bào chữa” còn được sử dụng rộng rãi hơntrước, không chỉ được hiểu là dùng lời nói để biện hộ mà còn đưa ra những chứng cứ,vật chứng, nhân chứng, để bào chữa Không những thế mà còn được nâng lên thànhnhững điều luật cho phép người bị buộc là phạm tội, có thể chứng minh là mìnhkhông có lỗi, không có tội hay để giảm nhẹ hành vi lỗi hoặc tội mà mình gây ra
Bào chữa là một trong những chức năng quan trọng không thể thiếu trong quátrình tiến hành giải quyết các vụ án hình sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đángcủa người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Mà trong đó người bị tạm giữ, bị can, bị cáo sử
Trang 52003 trang 14.
3 Phan Văn Thiệu: về quyền bào chữa của bị cáo, Tạp chí Toà án Nhân dân, số 10, năm 2008 trang 3.
4Nguyễn Ngọc Chí: Giáo trình luật Tố tụng hỉnh sự, Nxb Đại học quốc gia Hà nội- 2001, trang 59.
Vai trò của người bào chữa trong tổ tụng hình sự
dụng chức năng này để tự mình bào chũa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình
Chế định về bào chữa cũng được quy định trong Hiến pháp tại Điều 132 như sau:
“Quyển bào chữa của bị cáo được bảo đảm ” Chế định bào chữa không những
được quy định ừong Hiến pháp mà còn được cụ thể hoá hơn trong luật, theo Điều 11
Bộ luật tố tụng hình sự 2003 có quy định: “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền
tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án
có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cảo thực hiện quyền bào chữa
của họ theo quy định của bộ luật này”.
Tóm lại, bào chữa là việc người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, tự mình đưa ra các lý lẽchứng cứ chứng minh vô tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp hoặc có thế nhờ người khác thực hiện chức năng bào chữa cho mình (gọi là
người bào chữa)
1.1.1.2 Khái niệm quyền bào chữa
Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là một trong những quyềnquan trọng nhất của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo ừong quá trình tố tụng giải quyết
vụ án hình sự Việc tôn trọng và bảo đảm thực hiện quyền bào chữa cho người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo là một trong những nguyên tắc quan trọng của hoạt động tư pháp
Trong giới luật gia có quan điểm cho rằng: “Quyền bào chữa của bị can, bị cáo là
tổng thể các quyền mà pháp luật quy định, cho phép bị can, bị cảo có thể sử dụng
Có quan điểm khác lại cho rằng “Quyền bào chữa của bị can, bị cảo là tổng thể
các quyền năng mà pháp luật quy định cho bị can, bị cảo, người đại diện hợp pháp
của bị can, bị cảo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc
tâm thần để họ sử dụng nhằm chổng lại một phần hay toàn bộ sự buộc tội, giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị
can, bị cảo ” 3
Một quan điểm khác nữa lại cho rằng: “Quyển bào chữa là tong hợp các hành vỉ tố
tụng của bị can, bị cảo trên cơ sở phù hợp với các quy định của pháp luật nhằm đưa
ra các chứng cứ để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước các cơ quan
tiến hành tổ tụng” 4
Các quan điểm trên đều đã phản ánh được nội dung của quyền bào chữa, nhưngchưa đầy đủ ở chỗ là chưa làm sáng tỏ được từ “quyền” và cụm từ “bào chữa” Để có
cơ sở khoa học định nghĩa về quyền bào chữa của bị can, bị cáo, cần phải làm sáng tỏ
nội dung của từ “quyền” và cụm từ “bào chữa”, đồng thời phải căn cứ vào các quy
Trang 6Từ điển luật học, Nxb Tư pháp và Nxb Từ điển bách khoa- 2006 hang 33 và hang 648.
6Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nắng 2006 trang 38.
Vai trò của người bào chữa trong tổ tụng hình sự
định của pháp luật tố tụng hình sự quy định về quyền bào chữa của người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo
Theo Từ điển Luật học thì “quyền” được hiểu là “khải niệm pháp lý để chỉ những
điều mà pháp luật công nhận và bảo đảm thực hiện đổi với cả nhân, tổ chức để theo
đó cả nhân, tố chức được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế” 5
Theo Từ điến Tiếng Việt thì: “Bào chữa là dùng lỷ lẽ và chủng cử để bênh vực cho
đương sự nào đó thuộc vụ án hình sự hay dân sự trước Toà án hoặc cho một việc làm đang bị lên án” 6
Như vậy quyền bào chữa trước hết phải là những điều được pháp luật ghi nhận vàbảo đảm thực hiện, có nghĩa là phải được pháp luật ghi nhận vế mặt pháp lý Những gìkhông được pháp luật quy định thì không được coi đó là quyền bào chữa Cùng vớiviệc ghi nhận, pháp luật còn xác định cơ chế đảm bảo cho chủ thể (cụ thể là người bịtạm giữ, bị can, bị cáo) thực hiện Các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành
tố tụng cũng như các cơ quan, cá nhân khác không được hạn chế, ngăn cản Thứ hai,quyền bào chữa gắn liền với chủ thể là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được thể hiệnthông qua quan hệ xã hội cụ thể là quan hệ pháp luật hình sự giữa một bên là Nhànước và bên kia là người bị tình nghi trong vụ án hình sự Thứ ba, nội dung của quyềnbào chữa là người bị buộc tội sử dụng mọi lý lẽ, chứng cứ, tài liệu để chống lại toàn
bộ hoặc một phần sự buộc tội của Nhà nước (cụ thể là cơ quan công tố) nhằm chứngminh sự vô tội, hoặc nhằm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc bảo vệ các quyền, lợiích hcrp pháp khác của mình
Từ sự phân tích và tổng họp tri thức về các khái niệm “quyền” và “bào chữa”, cóthể xây dựng khái niệm “quyền bào chữa” như sau: Quyền bào chữa là tổng thể cácquyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thựchiện trong việc sử dụng các lý lẽ, chứng cứ, tài liệu nhằm chứng minh sự vô tội, hoặcnhằm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc bảo vệ các quyền, lợi ích họp pháp khác củamình
1.1.1.3 Khái niệm người bào chữa
Quyền bào chữa là quyền quan trọng của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Người bịtạm giữ, bị can, bị cáo có thể sử dụng tất cả những biện pháp, phương tiện mà phápluật không cấm để chống lại, phủ nhận, bác bỏ toàn bộ hoặc một phần sự buộc tội củanhững cơ quan có thẩm quyền Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thường thì có trình độhiểu biết pháp luật thấp, khả năng thu thập chứng cứ, tranh luận và điều kiện về thờigian, về cơ sở vật chất của họ có hạn chế, nhất là những người bị tạm giữ, bị can, bị
Trang 7cáo bị tạm giam, trong đó quá trình giải quyết vụ án hình sự gồm nhiều vấn đề phứctạp thì việc tự bào chữa của không ít người bị tạm giữ, bị can, bị cáo gặp nhiều khókhăn, do vậy việc nhờ người bào chữa cho mình là rất cần thiết Tại Điều 5 sắc lệnh
số 13C-SL ngày 13/9/1945 về việc thiết lập các Toà án quân sự đã quy định: “Bị cáo
có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bênh vực cho Hiến pháp đầu tiên của nước
Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà năm 1946 cũng ghi nhận tại Điều 67: “Người bị cảo có
thể tự bào chữa hoặc nhờ luật sứ” Trong các bản Hiến Pháp 1959 và năm 1980 đều
ghi nhận quyền của bị cáo tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình.Quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa của bị cáo được ghi nhận đầy đủ tại
Điều 132 Hiếp pháp 1992 như sau: “Quyển bào chữa của bị cảo được bảo đảm Bị
cảo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình Tố chức luật sư được thành lập để giúp bị cảo và các đương sự khác bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của mình và góp phẩn bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa
Người bào chữa là người được pháp luật quy định tham gia vào quá trình tố tụnghình sự để bảo vệ lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, góp phần lảmsáng tỏ các tình tiết gỡ tội hay giảm nhẹ tội cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và bảo
vệ họ khỏi sự vi phạm có thể từ phía Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiếnhành tố tụng và những người tham gia tố tụng khác
Người bào chữa theo quy định của khoản 1 Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự 2003thì người bào chữa có thể là:
-Luật sư;
- Người đại diện họp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;
- Bào chữa viên nhân dân;
Khi tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa, thì luật sư, người đại diện họppháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bào chữa viên nhân dân đều có quyền vànghĩa vụ mà pháp luật quy định chung cho người bào chữa
a Luật sư bào chữa
Theo Điều 2 Luật Luật sư 2006 “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành
nghề theo quy định của luật này, thực hiện dịch vụ pháp lỷ theo yêu cầu của cả nhân,
cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng) ” Người muốn được hành nghề
luật sư phải gia nhập một đoàn luật sư phải có đủ các điều kiện theo quy định của LuậtLuật sư, để đạt tiêu chuẩn để trở thành luật sư hội đủ điều kiện được quy định tại Điều
10 Luật luật sư: “Công dân Việt Nam trung thành với To quốc, tuân thủ Hiến pháp và
pháp luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư,
có sức khỏe bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư ” Và khi đạt đủ
tiêu chuẩn tại Điều 10 còn phải hội đủ điều kiện hành nghề luật sư được quy định tại
Điều 11 Luật luật sư: “Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 10 của Luật này
Trang 8Vai trò của người bào chữa trong tổ tụng hình sự
muốn được hành nghề luật sư phải có chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư”.
Những luật sư được người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp phápcủa họ mời làm người bào chữa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ và luật sưnày không thuộc một trong những điều kiện không được bào chữa được quy định tại
Khoản 2 Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự: “Người đã tiến hành tổ tụng trong vụ án đó;
người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng trong vụ ản đó; Người tham gia trong vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giảm định hoặc người phiên dịch ”, thì luật sư được mời làm người bào chữa và được Cơ quan tiến hành tố
tụng đồng ý cấp giấy chứng nhận bào chữa thì luật sư được mời mới trở thành luật sưbào chữa trong vụ án hình sự Đây là hai điều kiện phải cùng tồn tại song song vớinhau có một bên chủ thể không đồng ý thì luật sư không thể trở thành luật sư bàochữa trong vụ án hĩnh sự
Tóm lại, luật sư bào chữa là người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định củapháp luật và đại diện cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của người mà luật sư bào chữa nhận lời bào chữa và phải được Cơ quan tiếnhành tố tụng cấp giấy chứng nhận bào chữa thì luật sư mới chính thức trở thành luật
sư bào chữa trong vụ án hình sự
b Người đại diện hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Người đại diện hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo: Người đại diện hợppháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo cũng có thế tham gia tố tụng với tư cách làngười bào chữa trong trường người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không tự mình bào chữađược hoặc trong trường hợp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niênhoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, người không có khả năng nhậnthức hoặc nhận thức kém cần có người đại diện về mặt pháp luật để giúp cho họ có thểtham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Người đại diện hợp phápcho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thể là cha mẹ hoặc người giám hộ của người bịtạm giữ, bị can, bị cáo
Người đại diện hợp pháp không chỉ là người đại diện cho người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo trong vai trò là người bào chữa mà người đại diện hợp pháp cũng có quyền thaymặt người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mời người bào chữa để giúp họ bảo về quyền vàlợi ích hợp pháp
Tóm lại, người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là ngườiđứng ra bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là ngườichưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất và họ phải tuânthủ theo những quy định mà pháp luật đặt ra cho người bào chữa (nếu người đại diệnhợp pháp thực hiện luôn chức năng bào chữa)
Trang 9c Bào chữa viên nhân dân
Người bào chữa trong tố tụng hình sự còn có thể là bào chữa viên nhân dân Chứcdanh bào chữa viên ở nước ta ra đời trên cơ sở sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949 vàchế định bào chữa viên nhân dân còn tồn tại đến ngày nay và được quy định trong Bộluật tố tụng hình sự tại Điều 56 về người bào chữa: Những người có thể là người bàochữa trong đó có chế định bào chữa viên nhân dân.7
Bào chữa viên nhân dân: Là người được Uỷ Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, tổchức thành viên của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cử người bào chữa cho thànhviên của tổ chức mình trong những trường họrp theo quy định của pháp luật, để đảmbảo quyền và lợi ích chính đáng của bị can, bị cáo trong những trường hợp do phápluật quy định Bào chữa viên nhân dân khi tham gia tố tụng với tư cách là người bàochữa, đều có các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật đã quy định chung cho người bào
chữa, về mặt pháp lý bào chữa viên nhân dân là một chủ thể tư pháp có tư cách của
người bào chữa trong tố tụng hình sự
Qua những phân tích trên bào chữa viên nhân dân là người được Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cửngười bào chữa cho thành viên của tổ chức mình theo quy định của pháp luật
Tóm lại, người bào chữa là người được người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người đạidiện hcrp pháp của họ mời, những người khác được người bị tạm giữ, bị can, bị cáo uỷquyền mời hay được Cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu đoàn luật sư phân công, vănphòng luật sư cử hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viêncủa Mặt trận cử để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, nhằm làm sáng tỏnhững tình tiết gỡ tội hoặc là giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo và giúp đỡ họ về mặt pháp lý cần thiết trong vụ án hình sự
1.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của ngưòi bào chữa
1.1.2.1 Chức năng của ngưòi bào chữa
a Tìm ra những chứng cứ gỡ tội hoặc giảm nhẹ tội cho ngưòi bị tạm giữ bị
7
Trang 10Vai trò của người bào chữa trong tổ tụng hình sự
kém, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không có khả năng tranh luận đối đáp với Cơquan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng Do đó trong những hoàn cảnhnhư vậy họ rất cần có người bào chữa để giúp họ thu thập chứng cứ, tranh luận, đốiđáp với những người thực hiện chức năng buộc tội
Cho nên chức năng quan trọng của người bào chữa là phải xem xét thật kỹ tình tiếtcủa vụ án, tham gia tích cực vào các quá trình tố tụng từ khởi tố, đến điều tra, truy tố,xét xử, và giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo tìm kiếm thu thập chứng cứ; thuthập lời khai của nhân chứng, người bị hại, mà quan trọng nhất là lời khai của người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo vì họ thường sẽ thành thật khai báo sự việc với người bảo vệmình; đế tìm ra những chứng cứ để chứng minh người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vôtội hoặc giảm nhẹ tội cho họ
Còn trong trường hợp hành vi của bị cáo là có lỗi có dấu hiệu phạm tội thì ngườibào chữa cần hướng dẫn họ khai báo theo hướng cỏ lợi nhất, khuyên họ thành khẩnkhai báo qua lời khai đó người bào chữa có thế giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáophát hiện những tình tiết có thể giúp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Môi trường,hoàn cảnh thực hiện hành vi, thái độ của bị hại đối với họ lúc xảy ra vụ việc như thếnào, nguyên nhân dẫn họ đến việc thực hiện hành vi phạm tội, trạng thái tinh thần của
họ và của bị hại như thế nào, Ngoài những tình tiết đó người bào chữa còn giúp chongười bị tạm giữ, bị can, bị cáo tìm ra những tình tiết về nhân thân có lợi cho việcgiảm nhẹ hình phạt như: Hoàn cảnh gia đình, chưa từng phạm tội, gia đình có côngvới cách mạng, những nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất (nếu có), độ tuổi thựchiện hành vi, để có thể giúp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo giảm nhẹ tráchnhiệm hình sự
b Bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của ngưòi bị tạm giữ, bị can, bị cáo
trong quá trình tố tụng
Trong quá trình tố tụng sự xuất hiện của người bào chữa đóng vai trò quan trọngđối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Vì người bào chữa sử dụng những hiểu biếtpháp luật của mình để bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo mà người bào chữa trực tiếp bảo vệ
Luật pháp quy định cho họ những quyền năng nhất định trong quá trình tố tụng màkhi bị tạm giữ hoặc bị can trong giai đoạn điều tra, bị cáo trong giai đoạn vụ án đượcđưa ra xét xử thì chính họ khó tự mình bào chữa cho chính mình nên rất cần ngườibào chữa Có đôi khi lợi ích họp pháp và quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáokhông được Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng tuân thủ theođúng pháp luật, hoặc thực hiện qua loa, sơ sài để vụ án nhanh chóng được kết thúc.Vìvậy, người bào chữa sẽ sử dụng những quyền mà pháp luật quy định để bảo vệ quyền
và lợi ích họp pháp cho người mà mình bào chữa một cách tốt nhất
Trang 11Trong vụ án hình sự người bị tạm giữ, bị can, bị cáo cũng được pháp luật quy địnhcho họ những quyền và nghĩa vụ nhất định Nhưng vì khả năng hiểu biết pháp luậtkém người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không hiểu và vận dụng được hết những quyền
mà pháp luật trao cho để tự bảo vệ quyền lợi của minh Do đó họ cần một người bàochữa với khả năng hiểu biết pháp luật người bào chữa sẽ giúp họ trong quá trình tốtụng, giúp họ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp dựa trên những quyền mà pháp luậttrao cho họ Vì vậy, sự xuất hiện của người bào chữa trong quá trình tố tụng là hết sứccần thiết để bảo vệ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và góp phần bảo vệ vụ án đượcchính xác khách quan
c Kỉến nghị vói các Ctf quan tiến hành tố tụng về việc áp dụng, vận dụng chính xác pháp luật
Việc áp dụng vận dụng đúng pháp luật góp phàn rất quan trọng trong việc bảo vệquyền và lợi ích họp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự,hạn chế tình trạng bị buộc tội oan, sai Trên thực tế có một số trường họp người tiếnhành tố tụng không làm đúng, vận dụng không chính xác pháp luật sẽ dẫn đến nhiềutrường họp oan, sai xảy ra
Nhưng khi có người bào chữa trong quá trình tố tụng thì bằng sự hiểu biết phápluật của mình, bằng những quy định mà pháp luật cho phép, người bào chữa sẽ pháthiện sự vận dụng không đúng pháp luật ừong việc giải quyết vụ án mà đề nghị lên cơquan tiến hành tố tụng điều chỉnh cho hợp lý, hoặc phải sửa chữa nếu có sai lầm xảy
ra Để giúp quyền lợi người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, không bị xâm phạm mà còngiúp quá ừình tố tụng được chính xác khách quan hơn
Ví dụ: Nhận được tin báo tại nhà Lê Thị Huệ (trú tại tổ 29, phường Duyên Hải,Thành phố Lào Cai) đang tổ chức đánh bạc, vào lúc 23hl5 ngày 8.10.2008, PhòngCảnh sát điều tra tội phạm về Trật tự xã hội - Công an Lào Cai ập vào nhà Huệ và bắtgiữ 11 người trong nhà Huệ gồm: Lê Thị Huệ, Trương Quốc Chiến, Đỗ Minh Toàn,
Lê Bích Thủy, Trần Thanh Thủy, Đặng Vũ Hiệp (là những người Việt Nam) và MãHiểu An, Lã Thanh Hải, Lộ Nguyên Phi, Đỗ Tuấn Học, Nghê Hải (là người nướcngoài); thu giữ quân bài, bát đĩa sứ dùng để đánh bạc và với số tiền là 518 triệu đồngtiền Việt Nam và 169.376 NDT (tiền Trung Quốc)
Sau thời gian tạm giữ, Cơ quan điều ừa đã thả tự do cho Đỗ Tuấn Học và NghêHải (người nước ngoài) vì cho rằng những người này không tham gia đánh bạc, chínngười còn lại đều khởi tố, bắt tạm giam
Sau 3 tháng điều tra, ngày 22.01.2009, Cơ quan điều tra không tìm đủ căn cứ đểkhởi tố bị can Lê Bích Thủy về hành vi đánh bạc, vi Thủy chỉ tình cờ có mặt tại nhà
Lê Thị Huệ mà không biết có vụ đánh bạc ở đó, nên đã ra quyết định thay đổi từ tội
"đánh bạc" sang tội "khai báo gian dối", vì khi công an bắt bạc, Thủy cũng bị tạm giữ
Trang 12Vai trò của người bào chữa trong tổ tụng hình sự
cùng với những con bạc lúc đó và trong thời gian này Đỗ Minh Toàn đề nghị Thủykhai nhận hộ Toàn số tiền 39.000 NDT và Thủy đã khai nhận như lời Toàn đề nghị.Tuy nhiên trong thời gian tạm giữ, Thủy đã khai lại đứng sự thật Thêm gần mộttháng bị giam giữ để điều tra, ngày 17.02.2009, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đã nhậnthấy: "Lê Bích Thủy có hành vi khai báo gian dối Tuy nhiên, sau đó bị can đã thànhkhẩn khai báo, hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa" và đã đình chỉ
vụ án đối với bị can Lê Bích Thủy Ngày 22.01.2009, Lê Bích Thủy được trả tự do.8
Trong vụ án này Lê Bích Thuỷ không mời người bào chữa cho mình Nếu cóngười bào chữa trong trường hợp này thì Cơ quan điều tra không thể bắt tạm giamThuỷ vì không đủ căn cứ khởi tố Lê Bích Thuỷ thì không được bắt tạm giam để điềutra Như vậy là Cơ quan điều tra đã vận dụng không đúng pháp luật Vì qua lời khaicủa Thuỷ và chứng cứ cho thấy Thuỷ không có hành vi đánh bạc Theo quy định củapháp luật thì khi có đủ căn cứ để xác định một người nào đó thực hiện hành vi phạmtội thì Cơ quan điều tra mới được ra quyết định khởi tố bị can Nhưng trong trườnghọp này Cơ quan điều tra chưa xác định được căn cứ phạm tội của Thuỷ đã ra quyếtđịnh khởi tố bị can là đã sai luật
1.1.2.2 Nhỉệm vụ của người bào chữa
a Tôn trọng sự thật khách quan và tôn trọng pháp luật
Người bào chữa được quyền sử dụng mọi biện pháp miễn là không vi phạm phápluật để bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Nhưngkhông vì thế mà làm sai lệch sự thật khách quan và không tôn trọng pháp luật, ngườibào chữa không được vì những mục đích nhất định mà không tôn trọng sự thật, tôntrọng chân lý
Pháp luật trao cho người bào chữa nhiều quyền là muốn tạo nên sự công bằng chotất cả mọi người Vì không ai bị coi là có tội nếu không có bản án của Toà án kết tội
họ cỏ hiệu lực pháp luật được quy định tại Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự: “ Không ai
bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Nên người bào chữa phải sử dụng những quyền mà pháp luật trao
cho để bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của người mình bào chữa, nhưng không được
vì lợi ích riêng như: lợi ích vật chất, có thể người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là ngườithân, bạn bè của người bào chữa hoặc có thế là người bào chữa từng có tranh chấp với
bị hại, mà tiếp tay với bị can, bị cáo, tạo ra những chứng cứ giả, mua chuộc nhânchứng cho lời khai có lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để có thể chứng minh bịcan, bị cáo vô tội Hành động như vậy chẳng những là không tôn trọng pháp luật, tôntrọng sự thật khách quan mà còn liên quan đến lương tâm, đạo đức của người bàochữa, hơn thế nữa nếu người bào chữa làm trái pháp luật sẽ bị truy cứu trách nhiệm
Trang 13hình sự, vì tại khoản 4 Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự có quy định: “Người bào chữa
làm trái pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa, xử lý kỷ luật, xử phạt hành chỉnh hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật” Đó là quy
định của người bào chữa nói chung còn riêng với luật sư thì theo quy định tại khoản 3
Điều 5 Luật luật sư về nguyên tắc hành nghề luật sư có quy định: “Độc lập, trung
thực, tôn trọng sự thật khách quan
Vì vậy, trong mọi trường hợp bào chữa người bào chữa phải luôn luôn bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của người mình nhận bào chữa và luôn tôn trọng sự thậtkhách quan và tôn trọng pháp luật tôn trọng chân lý
b Góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa
Người bào chữa tham gia bào chữa ừong vụ án hình sự không chỉ bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà còn góp phần bảo vệ phápchế xã hội chủ nghĩa được thực thi đầy đủ và công minh nhất Đây là hai vấn đề có tácđộng lẫn nhau và song song nhau, không mặt nào được coi nhẹ Bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo tốt, sẽ tạo điều kiện cho việc bảo vệpháp chế xã hội chủ nghĩa; ngược lại, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa sẽ tạo điềukiện cho việc cho việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo được thuận lợi
Nếu người bào chữa chỉ coi trọng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bịtạm giữ, bị can, bị cáo mà coi nhẹ pháp chế xã hội chủ nghĩa, thì dễ đi đến cho nguybiện, thậm chí xuyên tạc sự thật khách quan của vụ án hình sự, đi ngược lại công lí;ngược lại, nếu chỉ coi trọng bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, thì dễ biến thành “công
tố viên thứ hai”, buộc tội người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Ngoài ra, việc cho người bào chữa tham gia từ giai đoạn tạm giữ, giai đoạn điềutra không chỉ mở rộng những nguyên tắc dân chủ của tố tụng hình sự mà còn nâng caochất lượng điều tra, xét xử vụ án hình sự, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa ở giaiđoạn điều tra, xét xử Vì người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa có bản kết tội cuả Toà
án có hiệu lực pháp luật thì họ chỉ đang trong tình trạng “bị tình nghi” mà khômg phải
là tội phạm Đe bảo đảm tính công bằng của pháp luật đã quy định cho người bàochữa xuất hiện từ khi có quyết định tạm giữ, khởi tố bị can Vì một bên là cơ quanNhà nước có đày đủ quyền lực, được trang bị kiến thức pháp luật vững chắc còn mộtbên chỉ là một công dân bình thường đang trong trường hợp “bị tình nghi” trong vụ ánhình sự với kiến thức pháp luật thấp không thể tự mình bào chữa Cho nên sự có mặtcủa người bào chữa một mặt bảo vệ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo còn mặt khácngười bào chữa tham gia sẽ giúp nâng cao chất lượng điều tra hạn chế oan sai
Trang 14Vai trò của người bào chữa trong tổ tụng hình sự
c Thúc đẩy công tác điều tra, xét xử đầy đủ và khách quan
Sự tham gia của người bào chữa góp phần thúc đẩy công tác điều tra, xét xử đầy
đủ và khách quan Trong vụ án hình sự khi người bào chữa tham gia có thể giám sátcác hoạt động của Cơ quan điều tra, của Hội đồng xét xử để kịp thời phát hiện nhữngthiếu sót, sai làm (nếu có) để yêu cầu Cơ quan điều tra, Hội đồng xét xử sửa chữa,khắc phục những thiếu sót sai làm xảy ra trong quá trình giải quyết vụ án, để bảo đảmcho việc điều tra giải quyết vụ án được chính xác khách quan và đúng pháp luật
Ví dụ: Tại phiên toà phúc thẩm ngày 24.02.2009, Hội đồng xét xử Toà án nhândân tối cao Hà Hội đã tuyên huỷ bản án sơ thẩm có quá nhiều sai phạm này, trả hồ sơ
để điều tra lại Sau án sơ thẩm, chị Lê Thị Thu Huyền - vợ bị cáo và luật sư NguyễnVãn Thập thuộc Đoàn luật sư Hải Phòng là người bào chữa miễn phí cho bị cáo cùng
có đơn kháng cáo Toà Phúc thẩm, Toà án nhân dân Tối cao tại Hà Nội đã thụ lý vàquyết định trưng cầu giám định bổ sung tại Viện Giám định pháp y tâm thần Trungương Ngày 08.9.2008, từ Trại tạm giam Hải Phòng, Phạm Văn Thắng được đưa lênViện giám định pháp y tâm thần Trung ương Sau gần 2 tháng theo dõi giám định nộitrú, ngày 31.10.2008, Viện giám định pháp y tâm thần trung ương có biên bản giámđịnh pháp y tâm thần số 48/GĐPYTT
Theo đó, về tiền sử bệnh lý, biên bản xác nhận: Phạm Văn Thắng sinh năm 1980,trú quán xã Thái Sơn, huyện An Lão, Hải Phòng, có bố đẻ là ông Phạm Văn Bê - cựuchiến binh chống Mỹ cứu nước, bị nhiễm chất độc da cam Thắng cùng chị gái đang
có sổ điều trị bệnh tâm thần mạn tính tại Bệnh viện tâm thần Hải Phòng từ năm 2000.Ông Phạm Văn Bê được hưởng chế độ ừợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng.Tại biên bản giám định pháp y cũng ghi nhận về tình trạng bệnh lý của Phạm VănThắng trong suốt quá trình kể từ khi bị bắt giam ngày 07.12.2006: Các báo cáo củacán bộ quản giáo, của bác sĩ Trại tạm giam Hải Phòng, báo cáo của phạm nhân cùngbuồng cũng như qua theo dõi trực tiếp gần 2 tháng tại Viện giám định pháp y tâm thầntrung ương đều thấy bị cáo Thắng có các biểu hiện như hay la hét, nói lảm nhảm, xéquần áo, tự gây thương tích cho mình, uống nước cống, lấy phân bôi lên tường
Kết họp với thăm khám hiện tại, Viện giám định pháp y tâm thần trung ương kếtluận: "Bị cáo Phạm Văn Thắng mắc bệnh tâm thần phân liệt thể Pananoit Ngày24.02.2009, một lần nữa, bị cáo Thắng lại được đưa đến vành móng ngựa tại phiênphúc thẩm VỊ chủ toạ phiên toà bắt đầu thẩm vấn: "BỊ cáo tên là gì?" Tay chỉ thẳnglên trời, bị cáo Thắng dõng dạc: "Thái Sơn, An Lão, Hải Phòng!" Toà hỏi tiếp: "Bịcáo sinh năm bao nhiêu?" Mắt bị cáo ngơ ngác, cười một mình và lẩm nhẩm đọc tấmbảng trên bàn công tố viên: "Đại diện Viện Kiểm sát "
Những người tham dự phiên toà không khỏi bàng hoàng, tại sao bị cáo có biểuhiện của người bị tâm thần mà vẫn được toà đưa ra xét xử Tuy nhiên, những băn
Trang 15khoăn của người tham dự phiên toà cũng đã được giải tỏ bởi trong lời kết luận vụ án,ông Văn Trường Chinh- đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao giữ quyền công tố tạiphiên toà đã chỉ rõ: Tại hồ sơ vụ án thể hiện, ngay sau khi Phạm Văn Thắng bị bắtkhẩn cấp (ngày 07.12.2006), Cơ quan điều tra đã được gia đình bị cáo nộp sổ điều trịbệnh tâm thần mạn tính của Thắng được cấp từ năm 2000 Như vậy, Cơ quan điều tra
đã biết rõ Thắng bị bệnh tâm thần
Khoản 2 Điều 312 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: "Khi tiến hành tổ tụng, Cơ
quan điều tra phải bảo đảm có người bào chữa tham gia tố tụng từ khỉ xác định ỉà người có hành vi nguy hiểm cho xã hội mẳc bệnh tâm thần" Thế nhưng 3 biên bản hỏi
cung bị can được lập tại Công an quận Hồng Bàng không hề có luật sư tham gia Đây
là một vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
Do vậy, dù tại 3 biên bản hỏi cung này bị can có nhận tội chăng nữa cũng không
cỏ giá trị pháp lý, không thể coi là chứng cứ buộc tội Khi vụ án được chuyển lên Cơquan điều tra cấp thành phố theo thẩm quyền, nhưng cả hai lần Cơ quan điều tra -Công an thành phố Hải Phòng vào trại tạm giam để hỏi cung Phạm Văn Thắng cũngđều không có luật sư tham gia Cả hai lần hỏi cung này đều bất thành vì bị can trả lờilinh tinh, lảm nhảm
Điều ưa viên đã phải lập biên bản về việc hỏi cung bất thành Như vậy, ưong hồ sơ
vụ án chỉ có một chứng cứ duy nhất buộc tội cho Phạm Văn Thắng là lời khai của hai
kẻ đồng phạm ưong vụ án Từ nhận xét ưên, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tốicao đề nghị Hội đồng xét xử huỷ án sơ thẩm, ưả hồ sơ về cấp sơ thẩm để điều ưa lại.Kết thúc phiên toà, vì những vi phạm nghiêm trọng ưong thủ tục tố tụng, Hội đồngxét xử phúc thẩm tuyên: Huỷ án sơ thẩm, ưả hồ sơ để điều ưa lại.9
Do đó ưong vụ án này tại phiên toà sơ thẩm do không có sự tham gia của ngườibào chữa nên có xảy ra nhiều sai sót nhưng vi không có sự tham gia của người bàochữa nên những sai phạm này không được khắc phục Việc bị cáo bị bệnh tâm thần
mà Cơ quan điều ưa không phát hiện (hoặc biết nhưng vẫn để vậy) làm công tác điều
ưa không được tiến hành một cách khách quan và đầy đủ Còn việc khi tại toà bị cáo
có những biểu hiện không bình thường nhưng Hội đông xét xử sơ thẩm vẫn để vậy để
xử là vi phạm nghiêm ưọng thủ tục tố tụng Hội đồng xét xử đã không khách quanưong nhiệm vụ của mình chỉ sau cho vụ án mau chóng giải quyết xong là được
Tóm lại, việc điều ưa một vụ án nào đó dù phức tạp hay những vụ án đơn giản thìcũng dễ xảy ra sai sót, đôi khi Cơ quan điều ưa không khách quan, công tác điều ưakhông được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc ưong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét
xử không khách quan ưong lúc thực hiện nhiệm vụ, qua loa sơ sài (như vụ án ưên) thìquyền và lợi ích hcrp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo sẽ không được bảo đảm
9
Trang 16Vai trò của người bào chữa trong tổ tụng hình sự
Cho nên để vụ án được tiến hành một cách khách quan công tác điều tra được thực hiệnđúng và đầy đủ thì việc có người bào chữa tham gia vào quá trình tố tụng sẽ hạn chếđược những thiếu sót trên
d Góp phần xác định sự thật vụ án
Nhiệm vụ chính của công tác bào chữa không chỉ là bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của thân chủ mình mà còn góp phần xác định sự thật vụ án Vì việc xác định sựthật vụ án xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có tội hay không không phải lànhiệm vụ của người bào chữa mà là nhiệm vụ của người tiến hành tố tụng Vì theo
quy định tại Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự có quy định: “Cơ quan điểu tra, Viện
kiểm sát và Tòa án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ
án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng củ xác định có tội
và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tổ tụng Bị can, bị cảo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội” Do đó người bào chữa chỉ góp phần làm sáng tỏ vụ án chứ đây
không phải là nhiệm vụ của người bào chữa
Vấn đề xác định sự thật khách quan của vụ án liên quan đến đạo đức, đến tráchnhiệm nghề nghiệp của người bào chữa Nhưng đôi khi người bào chữa vì tiền hay vìmột lợi ích vật chất nào đó, hay vì người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người thân củamình nên người bào chữa cố tình không đưa ra những chứng cứ tài liệu mà trong quátrình điều tra người bào chữa đã phát hiện được liên quan đến sự thật của vụ án nhưnglại có hại cho người mà người bào chữa đang bảo vệ Việc điều tra và phát hiện chứng
cứ mới của người bào chữa không những góp phần chứng minh sự vô tội hoặc giảmnhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà còn góp phần làmsáng tỏ vụ án Nên khi người bào chữa điều tra được những chứng cứ mới, tình tiếtmới phải có trách nhiệm giao cho Cơ quan tiến hành tố tụng vì đây là nghĩa vụ củangười bào chữa mà luật đã quy định Theo điểm b khoản 3 Điều 58 Bộ luật tố tụng
hình sự có quy định: " Tuỳ theo mỗi giai đoạn to tụng, khi thu thập được tài liệu, đồ
vật liên quan đến vụ án, thì người bào chữa có trách nhiệm giao cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án Việc giao nhận tài liệu, đồ vật đó giữa người bào chữa và
cơ quan tiến hành tố tụng phải được lập thành biên bản theo quy định tại Điểu 95 của
bộ luật này; ”.
Vì vậy người bào chữa cần phải thực hiện đúng chức năng và nhiệm vụ của mình
là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà còn phảigóp phần bảo vệ sự chân thật, chân lý trong từng vụ án
Trang 17cáo, Tạp chí luật học số 10, năm 2008 trang 10
Vai trò của người bào chữa trong tổ tụng hình sự
1.2 Bản chất pháp lý của hoạt động bào chữa
Người bào chữa tham gia vào vụ án hình sự với vai trò là bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Mà cụ thể hom hoạt động bào chữa của
người bào chữa là chứng minh sự vô tội và làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong quá trình tố tụng
1.2.1 Chứng minh sự vô tội của ngưòi bị tạm giữ, bị can, bị cáo a.Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tính tiết xác định ngưòi bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội
Một quy định tồn tại xuyên suốt ừong tố tụng hình sự là không ai bị coi là có tộikhi chưa có bản kết tội của cơ quan có thẩm quyền Do đó việc tham gia của người
bào chữa trong vụ án sẽ giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo làm rõ những tình tiết để
xác định họ vô tội Đó là việc người bào chữa vận dụng kiến thức pháp luật của mình
kết hợp với công tác điều tra trong quá trình tham gia giải quyết vụ án để tìm ra những
chứng cứ, tình tiết, để chứng minh người mà minh bào chữa không có tội
Trong quá trình tố tụng ngoài Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố có chức năngbuộc tội thì để tạo sự công bằng cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thì pháp luật quy
định cho họ quyền được tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa cho mình (gọi là người
bào chữa) Khi có người bào chữa tham gia thì trách nhiệm của người bào chữa là
giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý không những bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp mà còn góp phần bảo vệ quá trình tố tụng được diễn ra công bằng,
nhanh chống khách quan không làm oan người vô tội
Ví dụ: như trong vụ án xảy ra ở Lâm Đồng ngày 15.6.2002, anh Đỗ Duy Minh làngười miền Bắc vào làm việc tại Đức Trọng- Lâm Đồng Anh Đỗ Duy Minh bị bắt vì
bị nhằm với Nguyễn Xuân Minh, người có hành vi trộm cắp nhiều lần Một cán bộ
của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã nói rằng: “Minh bị bắt và xử tù vì
không đưa ra được những bằng chứng vô tội”10 Vậy là Viện kiểm sát tỉnh Lâm Đồng
trong trường họp này đã vi phạm nguyên tắc xác định sự thật vụ án Neu trong vụ án
này có người bào chữa tham gia thì Viện kiếm sát sẽ không vi phạm nguyên tắc xác
định sự thật vụ án Vì người bào chữa sẽ yêu cầu Viện kiểm sát đưa ra những chứng
cứ để chứng minh cho việc bắt người là đúng, và người bào chữa sẽ làm sáng tỏ
những tình tiết để có thể xác định bị cáo không có tội
Do đó khi có người bào chữa tham gia vào các hoạt động khởi tố, điều ưa, truy tố,xét xử thì người bào chữa sẽ vận dụng những quy định của pháp luật ưao cho để tham
gia vào các hoạt động đó nhằm giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chứng minh rằng
họ vô tội và góp phần giúp Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng giải
Trang 18Vai trò của người bào chữa trong tổ tụng hình sự
quyết vụ án một cách công bằng và tích cực hơn
Vì vậy người bào chữa phải vận dụng những quyền mà pháp luật trao cho mộtcách tích cực và có hiệu quả nhất để làm sáng tỏ những tình tiết trong vụ án để chứngminh người bị tạm giữ,bị can, bị cáo vô tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ
và góp phần bảo vệ sự thật vụ án
b Bảo đảm sự có mặt của người bào chữa trong hoạt động tố tụng
Người bào chữa đã nhận lời bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mặc dù
là do họp đồng hay do bào chữa chỉ định của Cơ quan tiến hành tố tụng trong một sốtrường họp được pháp luật quy định thì người bào chữa cũng phải hoạt động tích cực
vì lợi ích của người mình bào chữa, chứ không phải bào chữa theo họp đồng sẽ thamtích cực còn bào chữa chỉ định thì qua loa sơ sài Do đó khi người bào chữa tham giatích cực vào từng giai đoạn trong quá trinh giải quyết vụ án nhất là việc người bàochữa cỏ mặt trong giai đoạn xét xử cũng như có mặt trong các hoạt động tố tụngkhông những bảo vệ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà còn góp phần giúp cho họ ổnđịnh về mặt tinh thần
Do đó sự tham gia của người bào chữa ừong quá trình tố tụng là hết sức quantrọng nhất là ở giai đoạn xét xử Vì chỉ khi người bào chữa tích cực tham gia tronggiai đoạn tố tụng thì mới nắm rõ vấn đề, tình tiết vụ án, các chứng cứ có được trongquá trình điều tra, nhất là tại phiên toà tâm lý của bị cáo đang hoang mang càn cóngười giúp họ bào chữa bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của họ Và với sự tham giacủa người bào chữa thì khi có những thiếu xót, vi phạm (nếu có) xảy ra từ phía Cơquan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng thì người bào chữa sẽ phát hiện vàyêu cầu Cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện đúng pháp luật
Vì vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáongười bào chữa cần phải tham gia tích cực vào các hoạt động tố tụng mà nhất là giaiđoạn xét xử tại phiên toà vì tại phiên toà thì việc bị cáo có tội hay vô tội thì sẽ được
xử lý chính thức tại đây Vì vậy, sự tham gia đầy đủ, tích cực của người bào chữa mớigiúp được người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp
c Quan điểm của ngưòi bào chữa không thể mâu thuẩn vói quan điểm của ngưòi bị tạm giữ,bị can, bị cáo
Người bào chữa có nhiều quyền đồng thời pháp luật cũng quy định trách nhiệmcủa họ Người bào chữa có nghĩa vụ sử dụng những biện pháp do pháp luật quy định.Trong mọi hoạt động của mình họ phải dựa ừên cơ sở pháp luật Những quy địnhmang tính nguyên tắc xác định vai trò của người bào chữa trong tố tụng, quan hệ của
họ đối với người được bảo vệ Đặc biệt có ý nghĩa quan trọng và phức tạp là vấn đềquan điểm của người bào chữa và người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Đây là vấn đề rấtquan trọng nó liên quan đến quyền và lợi ích họp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị
Trang 19cáo Vì nếu người bào chữa không đồng thuận với quan điểm của người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo thì việc bào chữa rất khó thực hiện được và không thể bảo vệ lợi ích củangười bị tạm giữ, bị can, bị cáo một cách toàn diện.
Neu người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà thật có tội theo những chứng cứ mà ngườibào chữa thu thập được thì người bào chữa phải giải thích cho bị cáo hiểu vấn đề vàchuyển hướng nhận tội để cỏ thể được giảm án, còn không thì yêu cầu bị cáo đề nghị
Cơ quan tiến hành tố tụng được thay đổi người bào chữa Còn trường hợp người bịtạm giữ, bị can, bị cáo đưa ra những chứng cứ và những lý do, nguyên nhân có tínhthuyết phục là họ không có tội, thì người bào chữa cần áp dụng mọi biện pháp hợppháp để nghiên cứu các tình tiết mà người bị tạm giữ, bị can, bị cáo dựa vào đó màbảo vệ sự vô tội của mình Đe qua đó có thể tìm ra những chứng cứ có lợi cho người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ
Vì vậy quan điểm của người bào chữa không thế mâu thuẫn với quan điểm củangười bị tạm giữ, bị can, bị cáo vì người bào chữa là người giúp người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo chứng minh là họ không có tội nên người bào chữa và người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo phải có cùng quan điểm nếu không thì không còn là bào chữa
d Ngưòi bào chữa không được hành động có hại cho ngưòi bị tạm giữ, bị can,
bị cáo, không được chuyển sang quan điểm buộc tội
Người bào chữa không được hành động có hại cho người bị tạm giữ, bị can, bịcáo, không được chuyển sang quan điểm buộc tội vì như thế là đi ngược lại với chứcnăng và nhiệm vụ của người bào chữa, xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp củangười bị tạm giữ, bị can, bị cáo Hành động có hại có thể là người bào chữa khôngthực hiện chức năng bào chữa mà quay sang buộc tội người họ, hay từ chối bào chữa
mà không có lý do chính đáng, đó là những việc người bào chữa không được làmtrong quá trình tố tụng
Nhiệm vụ của người bào chữa là phải thông tin cho người bị tạm giữ, bị can, bịcáo biết tình hạng của họ trong vụ án, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự,các chứng cứ mà người bào chữa thu thập được, Song người bào chữa không đượcđồng ý với sự buộc tội, ép người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhận tội Nếu người bàochữa làm như vậy thì sẽ không thể phát hiện thấy thiếu sót của việc buộc tội hoặckhông chứng minh được tính thiếu căn cứ của giả thiết buộc tội, có nghĩa là người bàochữa không thực hiện được nhiệm vụ của mình
Tóm lại, người bào chữa không có quyền hành động có hại cho người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo, không có quyền chuyển sang quan điểm buộc tội, người bào chữa phảithực hiện đúng chức năng là “bào chữa”, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngườimình bào chữa nhưng ngược lại người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không thể bắt ngườibào chữa hoạt động sai quy định của pháp luật, trái với lương tâm nghề nghiệp củangười bào chữa
Trang 20Vai trò của người bào chữa trong tổ tụng hình sự
1.2.2 Giảm nhẹ bản án của người được bào chữa
a Xác định rõ nhân thân của bị cáo trong yụ án hình sự
Đây là vấn đề hết sức quan trọng cho quá trình tìm kiếm những tình tiết có lợi cho
bị can, bị cáo để giảm nhẹ trách hình sự cho bị can, bị cáo Nhân thân của bị cáo cóthế hiếu như: Hoàn cảnh gia đình, trình độ học vấn, môi trương sinh sống, những biến
cố từng xảy ra trong cuộc sống của họ, Nó có ảnh hưởng rất lớn đến việc phạm tộicủa bị can, bị cáo
Ví dụ: Phát hiện hai thanh niên đang câu trộm chó, người dân xã Xuân Giang,huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh) hò nhau bắt lại rồi dùng hung khí đánh chết 4 đối tượngtrực tiếp tham gia đánh chết người bị tuyên tổng mức án 20 năm tù giam
Vào ngày 28/12/2009, Toà án nhân dân tối cao đã mở phiên toà xét xử phúc thẩmđối với Phan Thanh Cương (sinh năm 1958), Mai Văn Tình (sinh năm 1983), ĐặngViết Thắng (sinh năm 1982) và Phan Văn Thiện (sinh năm 1956), đều quê ở xóm AnTiên xã Xuân Giang huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh) về tội "giết người”
Theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân: Vào 21 giờ ngày 22/8/2009, PhanThanh Cương cùng với Mai Văn Tình, Đặng Viết Thắng và Phan Văn Thiện đã chuẩn
bị dây thừng, gậy ừe, ống tuýp nước tổ chức bắt người trộm chó
Đen khoảng 23h cùng ngày, cả nhóm phát hiện hai đối tượng đi trên xe máy cóbiển kiểm soát 37K- 9724 là Trần Đình Châu (trú khối I, thị trấn Nghi Xuân) và HồChí Trung (thôn Lam Thuỷ, xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân) đang câu trộm chó.Cương liền hô hoán mọi người xông ra đuổi và bắt được Châu, Trung Ngay lập tứcCương, Tình, Thắng, Thiện cùng nhóm người đã dùng gậy tre, ống tuýp nước đánhchết ngay tại chỗ Trần Đình Châu, còn Hồ Chí Trung chết trên đường đi cấp cứu
Ngày 24/9/2009, Tòa án Nhân dân tinh Hà Tĩnh đã xét xử, tuyên án Phan ThanhCương 8 năm tù, Mai Văn Tình 7 năm tù, Đặng Viết Thắng 5 năm 6 tháng tù và PhanVãn Thiện 5 năm 6 tháng tù về tội "giết người".11
Do đó việc người bào chữa giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo tìm ra các tình tiếtgiảm nhẹ liên quan đến nhân thân của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là vấn đề rấtquan trọng trong việc giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự Neu không có người bào chữa thi đôi khi người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thuộcmột trong những trường họp có nhân thân tốt được giảm án mà họ không biết để đềcập với Cơ quan tiến hành tố tụng để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho mình nhưngkhi có người bào chữa thì những tình tiết này sẽ được người bào chữa khai thác triệt để
để giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Nhiều bịcáo nhân thân tốt, có đóng góp cho xã hội, nhưng đôi khi chỉ vi những nông nổi nhấtthời mà dẫn đến vi phạm pháp luật, nhưng họ thành khẩn nhận tội, cố gắng khắc phục
Trang 21hậu quả minh gây ra, thì họ nên có một mức hình phạt nhất định để họ sớm hoà nhậpvới cộng đồng để góp phần phát triển xã hội.
b ĐỘ tuổi thực hiện hành vi của bị cáo trong vụ án hình sự
Theo tại Điều 12 Bộ luật hình sự có quy định: “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải
chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm Người từ đủ 14 tuối trở lên, nhưng chưa đủ
16 tuối phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ỷ hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng ” Vì việc quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự tuỳ
thuộc vào chỉ số phát triển con người, sự phát triển của xã hội, của từng quốc gia
Vì theo tiêu chuẩn của người Việt Nam thi độ tuổi chưa đủ 16 tuổi tuy không phải làcòn quá nhỏ nhưng cũng chưa đủ lớn để hiểu biết và nhìn nhận những vấn đề nhữngtình huống xảy ra cho bản thân một cách tốt nhất Nhưng đế xác định được chính xác
độ tuổi thực hiện hành vi thì thật là không dễ dàng Vì đôi khi những giấy tờ thườngđược sử dụng để làm căn cứ chứng minh độ tuổi lại không thật chính xác, do vậy việcxác định tuổi lại khó khăn hơn Vì nếu trẻ dưới 16 tuổi thì pháp luật cho rằng khảnăng nhận thức hành vi của những người này còn kém, thiếu hiểu biết, hay bắt chướcngười lớn hay phim ảnh chứ thật không nhận thức được tầm quan trọng và mức độnguy hiểm của hành vi mà mình thực hiện
Thông thường Cơ quan điều tra lại chỉ dựa vào chúng minh nhân dân hay sổ hộkhẩu để chứng minh độ tuổi của bị can, bị cáo (vì đây là những bằng chứng tốt nhất đểchứng minh độ tuổi) Nhưng chỉ dựa vào những dữ kiện này thì thường không thậtchính xác Vì vậy phải xác định thật rõ ràng tốt nhất là đi giám định độ tuổi thì sẽtương đối chính xác và khách quan hơn cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và choviệc giải quyết vụ án được chính xác hơn
Khi người bào chữa tham gia vào quá trình tố tụng thì độ tuổi thực hiện hành vicủa người bị tạm giữ, bị can, bị cáo sẽ được người bào chữa xem xét kỹ, vì đây là mộttrong những vấn đề rất quan trọng trong vụ án Vì chỉ cần có sự chêch lệch vài thángtuổi thôi thì trách nhiệm hình sự của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có sự thay đổi rấtlớn, theo hướng có lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Vì vậy, việc xác định đúng
độ tuổi thực hiện hành vi của bị can, bị cáo mới góp phần giải quyết vụ án được chínhxác, khách quan vụ án hình sự Cho nên người bào chữa phải dựa vào những tình tiết
đó để làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can, bị cáo Tránh trường họp vì bị cáochưa đủ tuổi chịu ừách nhiệm hình sự mà phải lãnh hình phạt
c Các tình tiết khác
Trong nhiều trường họp tội trạng của bị can, bị cáo đã quá rõ ràng nhưng nhữngngười này vẫn ngoan cố không nhận tội, không thành khẩn khai báo Thì người bàochữa trong trường họp này phải giải thích cho họ hiểu hành vi của mình, mức hìnhphạt mà họ có thể được nhận nếu như họ cứ chối quanh co làm mất thòi gian, không
Trang 22Vai trò của người bào chữa trong tổ tụng hình sự
có ý hối cải bị cáo vẫn không thành khẩn nhận tội Nếu như họ thành khẩn nhận tộithì sẽ hưởng được sự khoan hồng của pháp luật Vì theo điểm p Điều 46 Bộ luật hình
sự về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình quy định: “Người phạm tội thành khẩn
khai hảo, ăn năng hối cải; ” thì sẽ được giảm nhẹ hình phạt.
Còn trong trường họp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thực hiện hành vi vàthành khẩn nhận tội thì người bào chữa nên định hướng cho họ là nên bồi thường thiệthại cho gia đình nạn nhân hay cố gắng khắc phục hậu quả mà minh gây ra một cáchtốt nhất và hiệu quả nhất Vì theo quy định tại khoản 1 điểm b Điều 46 Bộ luật hình sự
có quy định: “Người phạm tội tự nguyên sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục
hậu quả; ” thì sẽ được giảm nhẹ hình phạt được sự khoan hồng của pháp luật vì người
phạm tội đã nhận ra mình sai và cố gắng sửa chữa những sai lầm mà người phạm tội
đã gây ra cho người bị hại
Trong lúc vụ án đang được làm rõ thì người bào chữa là người mà người bị tạmgiữ, bị can, bị cáo có thể tin tưởng nhất Neu thật sự những chứng cứ thu thập được từ
Cơ quan điều ừa, từ người bào chữa không có lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáothì người bào chữa phải giải thích những tình huống có thể xảy ra đối với họ, để họnói rõ sự thật với người bào chữa hoặc thành khẩn nhận tội (nếu có thực hiện hành vi
vi phạm pháp luật) Đe người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được hưởng những tình tiết cólợi nhất
Tóm lại, với những lý luận cơ bản về bào chữa, quyền bào chữa, người bào chữa
và bản chất pháp lý của hoạt động bào chữa chúng ta cũng có thể thấy được tầm quantrọng và sự cần thiết của người bào chữa trong hoạt động tố tụng nói chung và hoạtđộng bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói riêng
Trang 23Chương 2
VAI TRÒ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG TỐ TỤNG HÌNH sự
Người bào chữa đóng vai trò quan trọng ừong việc giải quyết vụ án hình sự Vaitrò của người bào chữa thể hiện rõ nhất là trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa người bị tình nghi (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) trong suốt quá trình tố tụng vàgóp phần bảo vệ quá trình tố tụng được chính xác, khách quan
2.1 Vai trò của ngưòi bào chữa trong việc bảo vệ ngưòi bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người bị tình nghi trong vụ án hình sự Vì họchỉ là người bị tình nghi chứ không phải tội phạm nên pháp luật cũng quy định chongười bị tạm giữ, bị can, bị cáo những quyền và nghĩa vụ nhất định trong quá trìnhgiải quyết vụ án, và một trong những quyền quan trọng là quyền được bào chữa hoặcnhờ người khác bào chữa Do đó, chúng ta cần phải làm rõ thế nào là người bị tạmgiữ, bị can, bị cáo và vai trò của người bào chữa trong việc bảo vệ người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo theo quy định của pháp luật hiện hành
2.1.1 Khái niệm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Đe tìm hiểu được vai trò của người bào chữa trong việc bảo vệ người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo thì trước hết chúng ta phải làm rõ thế nào là người bị tạm giữ, bị can, bịcáo Khi nào gọi người bị tình nghi là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong quá trình
tố tụng
2.I.I.I Người bị tạm giữ
Người bị tạm giữ: theo Điều 48 Bộ luật tố tụng hình sự có quy đinh: “Người bị
tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khấn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thủ, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ”
Người bị tạm giữ có thể là người chưa bị khởi tố về hình sự đó là những người bịbắt trong trường họp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, trường họp người phạm tội tựthú trước khi hành vi phạm tội bị phát hiện và khởi tố, đã có quyết định tạm giữ Mặc
dù họ chưa bị khởi tố về hình sự nhưng trên thực tế họ vẫn phải chịu sự cưỡng chế của
cơ quan đã tạm giữ Họ bị hạn chế quyền tự do, bị buộc phải khai báo hoặc trả lời cáccâu hỏi của cán bộ điều tra Chính vì lẽ đó, pháp luật coi người bị tạm giữ là ngườitham gia tố tụng, có các quyền và nghĩa vụ tố tụng nhất định
Người bị tạm giữ cũng có thể là người đã bị khởi tố về hình sự Bị can, bị cáo, người
bị kết án, người đang chấp hành án, nếu bị bắt theo quyết đinh truy nã hoặc ra đầu thú
và đã có quyết định tạm giữ đối với họ thì cũng là người bị tạm giữ Trong thời giantạm giữ, họ sẽ có các quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ Quyền và nghĩa vụ của
Trang 24Điều 48 Bộ luật tố tụng hình sự quy định quyền và nghĩa vụ của nguôi bị tạm giữ:
13 Điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự quy định quyền và nghĩa vụ của bị can: “1 Bị can là người đã bị khởi tố về
hình sự.
Vai trò của người bào chữa trong tổ tụng hình sự
người bị tạm giữ được quy định cụ thể tại Điều 48 Bộ luật tố tụng hình sự.12
2.1.1.2.BỊ can
Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự và tham gia tố tụng từ khi có quyết địnhkhởi tố bị can đối với họ Bị can tham gia vào giai đoạn điều tra, truy tố và một phần
giai đoạn xét xử sơ thẩm Tư cách tố tụng của bị can sẽ chấm dứt khi Cơ quan điều tra
đình chỉ điều ha; Viện kiểm sát đình chỉ vụ án; Toà án đình chỉ vụ án (trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử) đối với bị can; hoặc Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử Khi một
người bị khởi tố về hình sự (khởi tố bị can), họ trở thành đối tượng buộc tội trong vụ
án, điều đó không đồng nghĩa với việc xác định họ là người có tội
Đây là vấn đề có tính chất nguyên tắc, Điều 9 bộ luật Tố tụng hình sự có quy định
“Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà
án đã cỏ hiệu lực pháp luật” Các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ được phép tiến hành
các biện pháp tố tụng nhất định đối với họ để xác định sự thật Bên cạnh các nghĩa vụ,
bị can còn được pháp luật quy định cho các nguyên tắc tố tụng để họ có thể tự bảo vệ
mình trước các Cơ quan tiến hành tố tụng, bảo vệ các quyền và lợi ích họp pháp của
mình không bị xâm phạm Các quyền và nghĩa vụ của bị can được quy định tại Điều
49 Bộ luật tố tụng hình sự.13
2.1.1.3 BỊ cáo
Bị cáo là người bị Toà án quyết định đưa ra xét xử Bị cáo tham gia tố tụng từ khi
có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến khi bản án hoặc quyết định của Toà án có hiệu
" 1 Người bị tạm giữ là người bị băt trong trường hợp khôn câp, phạm tội quả tang, người bị băt theo qựyêt
định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đâu thủ và đôi với họ đã cỏ qụyêt định tạm giữ.
2 Người bị tạm giữ cỏ quyên:
a Được biêt ỉỷ do mình bị tạm giữ;
b Được giải thích quyên và nghĩa vụ;
c Trình bày lời khai;
d Tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa;
đ Đưa ra tài liệu, đô vật, yêu câu;
e Khiêu nại vê việc tạm giữ, quyêt định, hành vi tô tụng của cơ quan, người có thăm quyên tiên hành tô tụng.
3 Người bị tạm giữ cồ nghĩa vụ thực hiện các quy định vê tạm giữ theo quy định của pháp luật ”
2 Bị can có quy én:
a Được biêt mình bị khởi tô vê tội gì;
b Được giải thích vê quyên và nghĩa vụ:
c Trình bày lời khai;
d Đưa ra tỉa liệu, đô vật, yêu câu;
đ Đê nghị thay đôi người tiên hành tô tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này;
e Tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa;
g.Được nhận quyêt định khởi tô; quyêt định áp dụng, thay đôi hoặc hưỳ bỏ biện pháp ngăn chặn, bản két luận điêu tra; quyét định đình chi, tạm đình chi điêu tra; quyêt định đỉnh chỉ tạm đỉnh chi vụ án; bản cảo trạng,
quyết định truy to; các qưyểt định to tụng khác theo quy định của Bộ luật này.
h Khiêu nại qụyêt định, hành vi tô tụng của cơ quan, người cỏ thâm quyên tiên hành tô tụng.
3 Bị can phải có mặt theo giây triệu tập của Cơ quan điêu tra, Viện kiêm sát; trong trường hợp văng mặt không
có lý do chinh đáng thì cỏ thể bị áp giải; nếu bỏ trốn thì bị truy nã ”
Trang 25định đưa ra xét xử.
Vai trò của người bào chữa trong tổ tụng hình sự
lực pháp luật Cũng như khái niệm bị can, bị cáo cũng là khái niệm mang tính hình
thức, căn cứ vào văn kiện tố tụng được áp dụng đối với người đó Một người sẽ trở
thành bị cáo khi có quyết định đưa ra xét xử, quyết định đó có thể đúng cũng có thể
sai
Vì vậy, bị cáo không đồng nghĩa với chủ thể của tội phạm Trên thực tế bị cáocũng có thế không phải là chủ thế của tội phạm và ngược lại Bị cáo cũng không phải
là người có tội, bị cáo chỉ trở thành người có tội nếu sau khi xét xử họ bị Toà án ra
bản án kết tội và bản án đó đã có hiệu lực pháp luật Bị cáo cũng có một số quyền và
nghĩa vụ được pháp luật quy định tại Điều 50 Bộ luật tố tụng hình sự.14
2.1.2 Hoạt động bảo vệ ngưòi bị tạm giữ, bị can, bị cáo của ngưòi bào chữa
Sau khi tìm hiểu thế nào là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và họ có quyền vànghĩa vụ gì trong quá trình tố tụng Trong những quyền của người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo cỏ quyền bào chữa và nhờ người khác bào chữa Khi có người bào chữa tham
gia vào quá trình tố tụng, thì người bào chữa sẽ có những quyền và nghĩa vụ nhất định
mà pháp luật quy định cho người bào chữa khi tham gia tố tụng với tư cách người bào
chữa Người bào chữa sẽ vận dụng những quyền mà pháp luật trao cho để bảo vệ
quyền và lợi ích họp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong các giai đoạn tố
tụng: khởi tố, điều ưa, truy tố, xét xử, phúc thẩm, giám đốc thẩm
2.1.2.1 Hoạt động bảo vệ ngưòi bị tạm giữ, bị can, bị cáo của ngưòi bào chữa ở
giai đoạn khởi tố
Khởi tố là giai đoạn đàu tiên của quá ưình giải quyết vụ án hình sự Trước tiênchúng ta phải xác định rõ như thế nào là khởi tố vụ án hình sự và sự tham gia của
người bào chữa ưong việc bảo vệ người bị tạm giữ, bị can ở giai đoạn này
a Khái niệm khỏi tố vụ án hình sự
Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự, ở giai đoạn khởi tố
cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định
2 Bị cáo cỏ quyên:
a Được nhãn quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định áp dụng thạy đoi hoặc huỳ bỏ biện pháp ngăn chặn; quyêt định đỉnh chỉ vụ án; bản án, quyêt định của Toà án; các qựyêt định tô tụng khác theo quy định của
Bộ luật nậy;
b Tham gia phiên toà;
c Được giải thích vé quyên và nghĩa vụ;
d Đê nghị thay đôi người tiên hành tô tụng người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này;
đ Đưa ra tài liệu, đô vật, yêu câu;
e Tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa;
g Trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên toà;
h Nói lời sau cùng trước khi nghị án;
i Kháng cảo bản án, qưyét định của Toà án;
k Khiêu nại quyêt định, hành vi tô tụng của cơ quan, người có thâm qưyén tiên hành tô tụng.
3 Bị cáo phải có mặt theo giây triệu tập của Toà án; trong trường họp văng mặt không có lý do chinh đáng thì
có thê bị áp giải; nêu bỏv trôn thì bị trụy nã ”
Trang 26Vai trò của người bào chữa trong tổ tụng hình sự
khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án
Quyết định khởi tố vụ án là cơ sở pháp 11 đầu tiên để thực hiện việc điều tra Quyếtđịnh này làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng hình sự giữa cơ quan có thẩm quyền
và những người tham gia tố tụng Các hoạt động điều tra và việc áp dụng biện phápngăn chặn chỉ được tiến hành sau khi có quyết định khởi tố vụ án Tuy nhiên, trongtrường họp cần thiết phải làm sáng tỏ những tài liệu đầu tiên, xác định hoàn cảnh, địađiếm xảy ra tội phạm, thu thập những vật chứng và những tình tiết có giá trị cho việcphát hiện tội phạm thì tiến hành khám nghiệm hiện trường; trường họp khẩn cấp hoặcphạm tội quả tang thì bắt người trước khi khởi tố vụ án Đe quyết định khởi tố vụ ánhình sự khi tiếp nhận tin tức về tội phạm, cơ quan có thẩm quyền khởi tố phải xácđịnh có sự việc xảy ra hay không, nếu có sự việc xảy ra phải xem sự việc đó có haykhông có dấu hiệu tội phạm Giai đoạn khởi tố vụ án có nhiệm vụ xác định có haykhông có dấu hiệu tội phạm để khởi tố hoặc không khởi tố vụ án, bảo đảm không mộttội phạm nào không bị phát hiện, không một người vô tội nào bị truy cứu trách nhiệmhình sự oan
Do đó khởi tố vụ án hình sự có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình tố tụng Vìkhi có dấu hiệu tội phạm, cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án Nếu xácđịnh không có dấu hiệu tội phạm thì ra quyết định không khởi tố vụ án Trong trườnghọp đặc biệt, khi xác định “những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tínhchất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể ” thì không phải là tội phạm và được xử
lý bằng các biện pháp khác
Khởi tố vụ án bảo đảm cho việc phát hiện nhanh chóng mọi hành vi phạm tội Bởi
vì, chỉ thông qua những hoạt động kiểm tra, xác minh lập thời các nguồn tin về tộiphạm, mới có điều kiện làm rõ một sự việc xảy ra có dấu hiệu của tội phạm haykhông Nếu hoạt động tố tụng ở giai đoạn khởi tố vụ án không được tiến hành khẩntrương, đầy đủ sẽ có thể không phát hiện ra dấu hiệu tội phạm, dẫn đến việc ra quyếtđịnh không khởi tố vụ án, bỏ lọt tội phạm
Khởi tố vụ án là giai đoạn tố tụng mở đầu các hoạt động điều tra Chưa khởi tố vụ
án thì không được tiến hành các hoạt động điều tra, trừ một số trường họp đặc biệt
Do đó, không thể xem khởi tố vụ án hình sự như một hoạt động trong giai đoạn điềutra Khởi tố vụ án được tiến hành trong một thời gian nhất định (theo quy định tạiĐiều 103 Bộ luật tố tụng hình sự), có nhiệm vụ riêng, chủ thể và các hoạt động tốtụng độc lập với các giai đoạn tố tụng khác nên được coi là giai đoạn tố tụng độc lập.Hoạt động điều tra chỉ được tiến hành sau khi đã có quyết định khởi tố vụ án hình sự.Khởi tố vụ án tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động tố tụng tiếp theo Sau khikhởi tố vụ án, hoạt động điều tra không còn phải kiểm tra, xác minh để xác định dấuhiệu tội phạm nữa mà chỉ tập trung vào điều tra làm rõ các hành vi phạm tội và ngườithực hiện tội phạm
Trang 27Khởi tố vụ án góp phần bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân được pháp luậtbảo hộ Đe xác định dấu hiệu của tội phạm trong giai đoạn khởi tố vụ án cơ quan cóthẩm quyền không áp dụng biện pháp cưỡng chế, nên bảo đảm quyền tự do dân chủcủa công dân.
b Hoạt động bào chữa ở giai đoạn khỏi tố vụ án hình sự
Theo Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 có quy định: “Người bào chữa tham
gia to tụng từ khi khởi to bị can Trong trường hợp bắt người theo quy định tại Điều
81 và Điều 82 của Bộ luật này thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khỉ cỏ quyết định tạm giữ Trong trường hợp cần giữ bỉ mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia, thì Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định để người bào chữa tham gia tổ tụng từ khi kết thúc điểu tra” Theo quy định này thì sự xuất hiện của người bào chữa
ở giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là rất sớm và họp lý ừong việc bảo vệ quyền và lợiích họp pháp của người bị tạm giữ, bị can trong tố tụng hình sự Vì ở giai đoạn nàykhi người bào chữa tham gia sẽ giúp cho người bị tạm giữ, bị can nghiên cứu đánh giátính chính xác và có căn cứ khi Cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án hình sự đốivới họ Và với sự tham gia của người bào chữa ở giai đoạn khởi tố vụ án hình sự gópphần giúp Cơ quan điều tra xác định chính xác hơn quyết định khởi tố là có đủ căn cứ,chứng cứ để khởi tố chưa, có xác định đúng dấu hiệu tội phạm chưa, có sai sót gìtrong quyết định khởi tố không, Từ đó xác định đúng chính xác người bị khởi tốtránh làm oan người vô tội Nhưng theo pháp luật ở một số nước còn cho phép ngườibào chữa (thường là luật sư) được tham gia tố tụng từ khi người bị tình nghi phạm tội
bị bắt giữ có nghĩa là trước khi khởi tố bị can Người bị tình nghi có thể tự mình mờiluật sư hoặc thông qua Văn phòng luật sư
Người bào chữa tham gia ở giai đoạn này thường là do người bị tạm giữ, bị canmời hay do người thân thích người đại diện họp pháp của họ mời người bào chữatham gia để giúp cho người bị tạm giữ, bị can bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của
họ trong vụ án hình sự
Đối với người bị tạm giữ: đây là những người bị bắt trong trường họp khẩn cấp,phạm tội quả tang, người phạm tội đầu thú, tự thú, họ là đối tượng bị nghi vấn liênquan đến tội phạm nên người bào chữa cần hỏi kỹ về 11 do bị bắt, ai tiến hành bắt,hành vi đã thực hiện, những ai biết sự việc Neu phát hiện hành vi của họ không viphạm pháp luật hình sự hoặc là vi phạm nhưng chưa đến mức phải xử 11 về hình sự thìngười bào chữa hướng dẫn người bị tạm giữ về: định hướng khai báo với cơ quan cóthẩm quyền để làm rõ sự không liên quan đến tội phạm, xuất trình các chứng cứ, tàiliệu có lợi cho họ, làm đơn trình bày về sự việc trong đó phải nói rõ 11 do, nguyênnhân, điều kiện đã dẫn đến hành vi của người bị tạm giữ Người bào chữa đề nghịkhông xử lý về hình sự và huỷ bỏ ngay biện pháp ngăn chặn tạm giữ đối với họ Nếu
Trang 28Vai trò của người bào chữa trong tổ tụng hình sự
như Cơ quan điều tra có đủ căn cứ để khẳng định người đang bị các cơ quan có thẩmquyền tạm giữ đã thực hiện hành vi phạm tội, người bào chữa có thể đề xuất với Cơquan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ thực hiện một số hoạt động điều tra cho họđược tại ngoại hoặc áp dụng những biện pháp ngăn chặn khác ít nghiêm khắc hơnnhư: cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lãnh, đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm
Ngoài ra, ở giai đoạn khởi tố người bào chữa còn hướng dẫn bị can các công việc
mà bị can cần phải thực hiện như: làm đơn trình bày về sự việc mà bị can bị khởi tố;hướng dẫn bị can xuất trình các chứng cứ, tài liệu có lợi cho bị can; đề nghị các cơquan và người có thẩm quyền tố tụng thay đổi hoặc huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặnđối với bị can; người bào chữa còn giúp đỡ bị can làm thủ tục cấp giấy chứng nhậnbào chữa (theo khoản 4 Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự) nếu bị can có yêu cầu ngườibào chữa tiếp tục bào chữa cho bị can ở các giai đoạn tố tụng tiếp theo
Do đỏ sự đóng góp của người bào chữa trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là rấtquan trọng không những đối với người bị tạm giữ, bị can mà còn góp phần quan trọngtrong việc giải quyết vụ án Vì khi người bào chữa tham gia vào giai đoạn này để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can không bị xâm phạm vàđược thực hiện đầy đủ chính xác trong quá trình khởi tố Người bào chữa tham giavào việc xem xét những chứng cứ, kết quả điều tra ban đầu của Cơ quan điều tra nhằmphục vụ cho quá trình xác định dấu hiệu phạm tội có đầy đủ và tuân thủ những quyđịnh của pháp luật không Và qua đó giúp cho việc giải quyết vụ án hình sự đượcnhanh chóng, chính xác, khách quan và tuân thủ pháp luật không bỏ lọt tội phạmkhông làm oan người vô tội
Tóm lại, khởi tố vụ án hình sự là công việc đầu tiên và rất quan trọng trong quátrình giải quyết vụ án hình sự Vì có quyết định khởi tố vụ án thì những công đoạntiếp theo như điều tra, truy tố, xét xử mới được tiến hành Do đó việc xác định đúngchính xác những chứng cứ, dấu hiệu để khởi tố vụ án hình sự sẽ giúp cho việc giảiquyết vụ án chính xác hơn, khách quan hơn tránh tình ừạng bỏ lọt tội phạm và làmoan người vô tội
2.1.2.2 Hoạt động bảo vệ ngưòi bị tạm giữ, bị can, bị cáo của ngưòi bào chữa ở
giai đoạn điều tra
Sau khi có đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự thì chuyển qua giai đoạn điều tra vụ
án hình sự Đây là giai đoạn rất quan trọng trong vụ án, ở giai đoạn này người bàochữa sẽ tham gia vào các hoạt động của giai đoạn điều tra như: lấy lời khai, hỏi cung,thu thập chứng cứ, để tìm ra những tình tiết, chứng cứ chúng minh người bị tạmgiữ, bị can vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
a Khái niệm điều tra
Điều tra là giai đoạn tố tụng hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền áp dụng mọi
Trang 29biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người thựchiện hành vi phạm tội làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án Giai đoạn điều tra tạm chiathành hai giai đoạn: giai đoạn thứ nhất là khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự Cơquan điều tra tiến hành các hoạt động điều tra tìm ra những chứng cứ chứng minh cótội phạm xảy ra hay không; thứ hai là giai đoạn khởi tố bị can.
Để thu thập chứng cứ, trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra được tiến hànhcác hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Viện kiểm sát thựchành quyền công tố và kiểm sát điều tra bảo đảm mọi hoạt động điều tra đúng phápluật Hoạt động điều tra là cần thiết đối với tất cả các vụ án hình sự Thiếu hoạt độngđiều tra, Viện kiểm sát không có cơ sở để truy tố, Toà án không có cơ sở để xét xử vụ
án Đe Viện kiếm sát có thế ra bản cáo trạng, truy tố đúng người phạm tội, Toà án cóthể xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật thì trước đó, giai đoạn điều ha phảithu thập được những chứng cứ cơ bản, bao gồm cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡtội, chứng cứ xác định tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sựcủa bị can, cũng như chứng cứ xác định các tình tiết khác của vụ án Neu giai đoạnđiều tra không thu thập được đầy đủ chứng cứ hoặc việc thu thập chứng cứ có những
vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng thì Viện kiểm sát hoặc Toà án sẽ trả hồ sơ yêucầu điều tra bổ sung Cơ quan điều tra có trách nhiệm điều tra bổ sung đáp ứng yêucầu của Viện kiểm sát hoặc Toà án
Điều tra vụ án là giai đoạn thu thập chứng cứ để chứng minh, tội phạm, người thựchiện hành vi phạm tội, xác định tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây
ra Khi tội phạm xảy ra, do mới có một số tài liệu xác định dấu hiệu của tội phạm nênquyết định khởi tố vụ án của cơ quan có thẩm quyền chỉ sơ bộ xác định tội danh màchưa xác định được người phạm tội
Sau khi khởi tố vụ án, Cơ quan điều tra được áp dụng các biện pháp cưỡng chế tốtụng theo quy định (tại các điều ở Chương XII Bộ luật tố tụng hình sự) Bằng việc ápdụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng và tiến hành các hoạt động điều tra, Cơ quanđiều tra thu thập được đầy đủ các tài liệu, chứng cứ đẻ xác định có tội phạm xảy rahay không, nếu có thì đó là tội gì, thời gian, địa điểm và các tình tiết khác của hành viphạm tội Trong trường họp xác định được tội phạm đã khởi tố không đúng với hành
vi phạm tội đã xảy ra hoặc còn có thêm tội phạm khác thì Cơ quan điều tra ra quyếtđịnh thay đối hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự Cũng bằng hệ thống tàiliệu, chứng cứ đã thu thập được, chẳng những Cơ quan điều tra xác định đúng tộiphạm đã xảy ra mà còn làm rõ người phạm tội đã thực hiện hành vi như thế nào, có lỗihay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực chịu trách nhiệm hình sự hay không,mụch đích, động cơ phạm tội Từ đó ra quyết định khởi tố bị can (theo Điều 126 Bộluật tố tụng hình sự, và ở giai đoạn này người bào chữa phải xem xét xem Cơ quan
Trang 30Vai trò của người bào chữa trong tổ tụng hình sự
điều tra có gửi quyết định khởi tố bị can cho bị can hay không) Và cũng qua việc tiếnhành điều tra, Cơ quan điều tra còn có điều kiện làm rõ tính chất và mức độ thiệt hại
do hành vi phạm tội gây ra để làm cơ sở cho việc giải quyết bồi thường thiệt hại mộtcách thõa đáng
Khi kết thúc điều tra, nếu có căn cứ xác định tội phạm và bị can là người thực hiệnhành vi phạm tội đó thì Cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố.Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can khi vụ án đã được điều tra Kết quả điều tra là
cơ sở để Toà án xét xử đúng người, đúng tội
Toà án chỉ có thể xét xử vụ án trên cơ sở vụ án đã được điều tra, lập hồ sơ và quyếtđịnh truy tố bằng bản cáo trạng của Viện kiểm sát Thiếu hoạt động điều tra, không có
hồ sơ vụ án, Toà án không có cơ sở để xét xử Kết quả của hoạt động điều ưa càng cụthể, chính xác, càng thu thập được đầy đủ các chứng cứ bao gồm cả chứng cứ buộc tội
và chứng cứ gỡ tội, chứng cứ xác định tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ ưáchnhiệm hình sự của bị can, cũng như chứng cứ xác định các tình tiết khác của vụ án thìcàng tạo điều kiện cho Toà án xét xử đúng người, đứng tội, đúng pháp luật Nếu điều
ưa chưa thu thập được đầy đủ chứng cứ hoặc việc thu thập chứng cứ có những viphạm nghiêm ưọng thủ tục tố tụng thì Toà án không thể đưa vụ án ra xét xử mà phải
ưả lại hồ sơ để yêu cầu điều ưa bổ sung
b Hoạt động bào chữa ở giai đoạn điều tra
Theo quy định tại khoản 1 Điều 58 của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 có quy định:
“Người bào chữa tham gia to tụng từ khi khởi to bị can Trong trường hợp bắt người theo quy định tại Điểu 81 và Điều 82 của Bộ luật này thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ Trong trường hợp cần giữ bỉ mật điều tra đổi với tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, thì Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra ” Đây là một trong những
quy định mới và tiến bộ của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 Quy định này tạo điều kiệncho người bào chữa tham gia vào quá ưình giải quyết vụ án từ rất sớm (từ khi khởi tố
bị can) Vì khi tham gia vào giai đoạn điều ưa người bào chữa mới có thể nắm bắt rõràng từng chi tiết cụ thể, chứng cứ xác thực và hiểu hết toàn bộ vụ án để chứng minhngười bị tạm giữ, bị can không thực hiện hành vi hay những chứng cứ thu thập được
sẽ giúp người bị tạm giữ, bị can giảm nhẹ ưách nhiệm hình sự cho hành vi mà mình
đã thực hiện Và khi tham gia vào giai đoạn điều tra người bào chữa có thể giám sátcác công tác điều ưa có đày đủ, chính xác, khách quan không, có vi phạm những quyđịnh của pháp luật về công tác điều ưa góp phần xác định sự thật vụ án
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì người bào chữa được tham gia tố tụngkhi có điều kiện như sau: Thứ nhất, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc người thâncủa người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mời người bào chữa Thứ hai, Cơ quan tiến hành
Trang 31tố tụng yêu cầu Đoàn luật sư chỉ định một văn phòng luật sư và văn phòng luật sư này
sẽ cử luật sư tham gia tố tụng bào chữa cho bị can, bị cáo trong những trường họp vụ
án cần có người bào chữa Trong cả hai trường họp này người bào chữa thật sự trởthành người tham gia tố tụng với các quyền năng pháp lý được quy định trong Bộ luậthình sự 2003 khi được Cơ quan tiến hành tố tụng cấp giấy chứng nhận bào chữa
Sau giai đoạn xin cấp giấy chứng nhận bào chữa là lúc người bào chữa tham giavào công việc hỏi cung bị can Đây là giai đoạn rất quan trọng đối với bị can và cả với
Cơ quan tiến hành tố tụng Người bào chữa trong trường họp hỏi cung bị can sẽhướng dẫn cho bị can cách trả lời có lợi nhất cho bị can, giải thích cho bị can hiểu rõquyền và nghĩa vụ của bị can, tình trạng hiện tại của bị can (có lợi hay bất lợi) trong
vụ án Người bào chữa sẽ yêu cầu bị can trao đổi thẳng thắng về vụ án việc có thựchiện tội phạm hay không, để qua đó người bào chữa sẽ hướng dẫn bị can cách khaibáo, trả lời những câu hỏi của Điều tra viên Nếu bị có thực hiện hành vi phạm tội thìngười bào chữa đề nghị bị can thành khẩn khai báo để được hưởng sự khoan hồng củapháp luật Còn ngược lại bị can không phạm tội người bào chữa sẽ hướng dẫn bị cancách trả lời có lợi cho bị can, đề nghị bị can cung cấp những tài liệu, tình tiết, chứng
cứ có lợi cho việc chứng minh sự vô tội của bị can
Trong quá trình tham gia bào chữa từ giai đoạn điều tra nếu người bào chữa thấycần thiết phải đi thu thập những tài liệu, chứng cứ để bảo vệ người bị tạm giữ, bị canthì người bào chữa có thể đi thu thập và cung cấp cho Cơ quan điều tra để giúp choquá trình chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ tội cho bị can Vì theo quy định củapháp luật thì những tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến vụ án được người bào chữathu thập được xem là có giá trị như những tài liệu, đồ vật, tình tiết do Cơ quan điều trathu thập Vì vậy, việc người bào chữa tích cực, chủ động tự điều tra thu thập chứng cứ
là rất cần thiết Đây không chỉ là quyền của người bào chữa mà còn là nghĩa vụ theoquy định tại điểm a khoản 3 Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: Tuỳ theo mỗi giai đoạn to tụng, khỉ thu thập được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án, thì người bào chữa có trách nhiệm giao cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án Việc giao nhận các tài liệu, đồ vật đó giữa người bào chữa và cơ quan tiến hành tố tụng phải được lập thành biên bản theo quy định tại Điểu 95 Bộ luật này; Ngay sau khi thu
thập được những tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án, người bào chữa cần cung cấpngay cho Cơ quan điều tra bởi trong nhiều trường họp những tài liệu, đồ vật mà ngườibào chữa cung cấp cho Cơ quan điều tra có thể làm thay đổi toàn bộ nội dung vụ án(chứng minh người bị tạm giữ, bị can không phạm tội, thay đổi tội danh đối với người
bị tạm giữ, bị can) hoặc là căn cứ để Cơ quan điều tra có thể ra những quyết định cólợi cho thân chủ của mình như quyết định thay đối biện pháp ngăn chặn từ tạm giamsang biện pháp ngăn chặn khác, quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án
Trang 32Vai trò của người bào chữa trong tổ tụng hình sự
Khi tham gia bào chữa từ giai đoạn điều tra người bào chữa không những được hỏicung người bị tạm giữ, bị can mà còn được quyền tham gia vào các hoạt động điều trakhác như: thực nghiệm điều tra, khám nghiệm hiện trường, khai quật tử thi, kê biên tàisản, khám xét chổ ở, Khi tham gia bào chữa từ giai đoạn điều tra người bào chữa sẽthu thập được những thông tin, chứng cứ giúp cho quá trình bào chữa của mình mộtcách tốt nhất
Tóm lại, giai đoạn điều tra là giai đoạn rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ
án hình sự Người bào chữa tham gia ở giai đoạn điều tra góp phần làm sáng tỏ vụ ánbảo vệ quyền và lợi ích hcrp pháp của người bị tạm giữ, bị can
2.1.2.3 Hoạt động bảo vệ ngưòi bị tạm giữ, bị can của ngưòi bào chữa ở giai đoạn
a.Khái niệm truy tố
Truy tố là giai đoạn của tố tụng hình sự, trong đó Viện kiểm sát tiến hành các hoạtđộng cần thiết nhằm truy tố bị can trước Toà án bằng bản cáo trạng hoặc ra nhữngquyết định tố tụng khác để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự
Trong tố tụng hình sự, Viện kiểm sát có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo phápluật của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụnghình sự đồng thời thực hành việc công tố Nhà nước đảm bảo cho pháp luật được chấphành nghiêm chỉnh và thống nhất
Quyền công tố Nhà nước do Viện kiểm sát thực hiện gồm nhiều quyền năng tốtụng, trong đó quyền truy cứu trách nhiệm hình sự bị can ra trước Toà án trong giaiđoạn truy tố là quyền đặc trưng của Viện kiểm sát Quyền này được thực hiện bằngquyết định truy tố của Viện kiểm sát sau khi nhận được hồ sơ vụ án cùng bản kết luậnđiều tra, đề nghị truy tố của Cơ quan điều tra Qua đó ta thấy giai đoạn truy tố cũnggóp phần quan trọng và có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án như sau:
Tạo cơ sở pháp lý để Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử: luật tố tụng hình sựquy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành
tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự Chức năng của Toà án là xét xử.Tuy nhiên, đối với các vụ án hình sự, Toà án chỉ có thể thực hiện chức năng này khi
có quyết định truy tố của Viện kiểm sát Điều 196 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy
định: “Toà án chỉ xét xử những bị cảo và những hành vỉ theo tội danh mà Viện kiểm
Trang 33sát truy tổ và Toà án đã quyết định đưa ra xét xử” Như vậy, giai đoạn truy tố mặc
nhiên là tiền đề của giai đoạn xét xử, nếu Viện kiểm sát không truy tố thì Toà ánkhông có cơ sở pháp 11 để quyết định mở phiên toà xét xử đồng thời quyết định truy tốcủa Viện kiểm sát cũng xác định phạm vi xét xử, thẩm quyền và giới hạn xét xử củaToà án Việc truy tố của Viện kiểm sát kịp thời, chính xác sẽ tạo điều kiện thuận lợicho công tác xét xử, đảm bảo cho việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật vànâng cao hiệu quả đấu tranh phòng và chống tội phạm
Kịp thời sửa chữa và khắc phục những thiếu sót cũng như vi phạm pháp luật của
Cơ quan điều tra trong quá trình điều tra vụ án hình sự: cùng với việc nghiên cứu hồ
sơ xác định căn cứ lập cáo trạng, quyết định truy tố đối với bị can, Viện kiểm sát còntrực tiếp kiểm tra, xem xét phát hiện những thiếu sót hay vi phạm pháp luật của Cơquan điều tra, kịp thời sửa chữa hoặc đề nghị sửa chữa và khắc phục những thiếu sót
và vi phạm đỏ Nếu phát hiện việc điều tra chưa đầy đủ, chưa làm rõ những chứng cứquan trong, có ý nghĩa quyết định đến nội dung vụ án hay có vi phạm nghiêm trọng vềthủ tục tố tụng trong quá trình điều tra thì Viện kiểm sát quyết định trả lại hồ sơ yêucầu điều tra bổ sung; nếu phát hiện có những căn cứ không cho phép tiếp tục tiến hành
tố tụng đối với vụ án hoặc đối với bị can hay trường họp theo quy định của pháp luậtxét thấy không cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can thì Việnkiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án để bảo vệ quyền lợi cho bị can
b.Hoạt động bào chữa ở giai đoạn truy tố
Truy tố là một giai đoạn độc lập trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Ở giaiđoạn này thường không có nhiều hoạt động xảy ra nhưng mang tính chất rất quantrọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Người bào chữa ở giai đoạn này thườngkhông hoạt động nhiều như ở giai đoạn điều ừa hay ở giai đoạn rất quan trọng tiếptheo là xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Nhưng không phải vì vậy mà người bào chữakhông thực hiện chức năng bào chữa của mình Khi người bào chữa tham gia vào giaiđoạn này góp phần quan trọng trong việc giúp Viện kiểm sát xem xét thật chính xác
có nên truy tố bị can không Và giám sát xem việc Viện kiểm sát nhận hồ sơ vụ án mà
Cơ quan điều tra chuyển qua có đúng và đầy đủ như trong quá trình điều tra không, cónhững sai sót hay vi phạm gì không Nếu phát hiện việc điều tra chưa đầy đủ, chưalàm rõ những chứng cứ quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến nội dung vụ án hay có
vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra thì người bào chữa sẽđưa ra đề nghị Viện kiểm sát quyết định trả lại hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung; nếuphát hiện có những căn cứ không cho phép tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ ánhoặc đối với bị can hay trường họp theo quy định của pháp luật xét thấy không cànthiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can thì Viện kiểm sát ra quyết địnhđình chỉ vụ án để bảo vệ quyền lợi cho bị can Vì vậy, việc tham gia của người bào
Trang 34Điều 168 Bộ luật tố tụng hình sự: “ Viện kiểm sát ra qụyét định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để diều tra bổ
sung khi nghiên cứu hô sơ vụ án phát hiện thây: 1 cỏn thiêu những chứng cử quan trọng đôi vói vụ án mà Viện kiêm sát không thê tự mình bô sung được 2 Có căn cứ đê khải tô bị can vê một tội phạm khác hoặc cố người đông phạm khác 3 Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tô tụng Những vân đê cân được điêu tra bô sung phải được nêu rõ trong quyêt định yêu câu điêu tra bô sung"
Vai trò của người bào chữa trong tổ tụng hình sự
chữa ở giai đoạn truy tố giúp Viện kiểm sát không truy tố sai người, sai tội, không gây
ra oan sai giúp việc giải quyết vụ án được nhanh chóng chính xác tránh làm mất nhiều
thời gian cho người bị tạm giữ, bị can và cả thời gian của những Cơ quan tiến hành tố
tụng
Ở giai đoạn truy tố Viện kiểm sát sẽ xem xét những tài liệu chứng cứ mà Cơ quanđiều tra chuyển qua để xét xem có đủ căn cứ, chứng cứ để truy tố bị can không Nếu
trong giai đoạn này người bào chữa tìm ra những chứng cứ quan trọng có tính chất
quyết định đến nội dung vụ án thì người bào chữa có thể trao đổi với Viện kiểm sát để
Viện kiểm sát xem xét có nên truy tố hay không
Người bào chữa tham gia giai đoạn truy tố sẽ xem xét kỹ tài liệu, chứng cứ liênquan đến vụ án mà Cơ quan điều tra chuyển qua cho Viện kiểm sát có hoàn toàn chính
xác không, có những thiếu sót, sai phạm gì không Và phàn quan trọng nữa là xem vụ
án mà Cơ quan điều tra gửi qua cho Viện kiểm sát truy tố có đúng thẩm quyền của
Viện kiểm sát tiếp nhận không, nếu không thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát đó thì
người bào chữa yêu cầu Cơ quan điều tra chuyển cho Viện kiểm sát có thẩm quyền
Trong trường họp bị can bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn người bào chữa cóthể yêu cầu Viện kiểm sát huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn hoặc áp dụng những biện pháp
ngăn chặn ít nghiêm khắc hơn đối với bị can Người bào chữa có quyền yêu cầu Viện
kiểm sát trả hồ sơ để điều tra bổ sung nếu thuộc một ừong những trường họp càn trả
hồ sơ để điều tra bổ sung tại Điều 168 Bộ luật tố tụng hình sự15 Tuy theo quy định tại
điều này thì Viện kiểm sát có nhiệm vụ xem xét những căn cứ để trả hồ sơ để điều tra
bổ sung nhưng khi Viện kiểm sát không phát hiện mà người bào chữa phát hiện thì
yêu cầu Viện kiểm sát trả hồ sơ để điều tra bổ sung
2.1.2.4 Hoạt động bảo vệ ngườỉ bị tạm giữ, bị can, bị cáo của ngưòi bào chữa
Trang 35Quá trình tiến hành giải quyết vụ án hình sự trải qua nhiều giai đoạn khác nhau,trong đó có thể nói việc xét xử vụ án hình sự đóng vai trò quan trọng Tại phiên toà,trên cơ sở những chứng cứ đã được kiểm tra công khai, Toà án ra bản án xác định bịcáo có tội hay không có tội Neu bị cáo là người thực hiện hành vi phạm tội thì đó làtội gì, được quy định tại khoản nào của Bộ luật hình sự Ngoài việc ra bản án, Toà áncòn có quyền ra quyết định cần thiết khác nhằm giải quyết vụ án Theo nguyên tắcthực hiện chế độ hai cấp xét xử, bản án và quyết định sơ thẩm của Toà án có thể bịkháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật Bản án, quyết định sơ thẩm không
bị kháng cáo, kháng nghị trong thời giai luật định thì có hiệu luật pháp luật nhưng nếu
bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm Như vậy, có thể nóixét xử sơ thẩm là xét xử lần đầu do Toà án có thẩm quyền tiến hành theo quy định củapháp luật Toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được quy định bong
Bộ luật tố tụng hình sự là Tòa án nhân dân cấp huyện, Toà án quân sự khu vực, Toà
án nhân dân cấp tỉnh và Toà án quân sự cấp quân khu
Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được tiến hành sau khi Toà án nhận được cáo trạngquyết định truy tố bị can (quyết định truy tố bị can trong trường hợp áp dụng thủ tụcrút gọn) và hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát chuyển đến Do vậy, mọi chứng cứ đã cótrong hồ sơ vụ án chỉ là tài liệu để Toà án xem xét, kiểm tra nhằm đưa ra những phánquyết khách quan phù họp với quy định của pháp luật Tất cả những thông tin, tài liệu,
đồ vật thu thập được trong giai đoạn điều tra, truy tố đều được đưa ra xem xét côngkhai tại phiên toà thông qua việc xét hỏi và tranh luận Xét xử sơ thẩm là xét xử lầnđầu nên trong giai đoạn này Toà án phải giải quyết mọi vấn đề của vụ án trên cơ sởcáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố
b Hoạt động bào chữa ở giai đoạn xét xử Stf thẩm
Xét xử sơ thẩm là giai đoạn trung tâm, quyết định quá trình giải quyết vụ án từ khikhởi tố điều ha đến khi đưa bị cáo ra tòa Xét xử sơ thẩm là giai đoạn rất quan trọngtrong quá trình tố tụng, ở giai đoạn này vai trò của người bào chữa được thể hiện rõnhất và có hiệu quả nhất Sự có mặt của người bào chữa mang tính chất rất quan trọngtrong quá trình xét xử để bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của bị cáo, bảo vệ quátrình tố tụng giai đoạn xét xử sơ thẩm thường chia làm hai gia đoạn là chuẩn bị xét xử
và xét xử tại phiên toà
bl Chuẩn bị xét xử
Trước khi vụ án được đưa ra xét xử tại phiên toà thì ở giai đoạn chuẩn bị thì ngườibào chữa phải làm một số công việc quan bọng Trước khi vụ án được đưa ra xét xửtại phiên toà người bào chữa phải hỏi xem bị cáo có nhận các quyết định của Toà án(theo Điều 182 Bộ luật tố tụng hình sự), bị cáo có được giấy triệu tập của Toà ánkhông, thời gian có đúng với quy định hay không, bị cáo có được tống đạt bản cáo
Trang 36Vai trò của người bào chữa trong tổ tụng hình sự
trạng của Viện kiểm sát không, đây là một trong những công việc rất quan trọng Neu
bị cáo không được Viện kiểm sát giao cho bản cáo trạng thì khi đưa ra xét xử bị cáo sẽkhông biết được mình bị truy tố về tội gì có đúng với những gì trong giai đoạn điều trakhông, để bị cáo biết có sai sót gì để yêu cầu sửa chữa Ngoài bị cáo thì người bàochữa cũng phải được tống đạt cáo trạng của Viện kiêm sát để nghên cứu hồ sơ thựchiện chức năng bào chữa
Ở giai đoạn này người bào chữa phải gặp, trao đổi với bị cáo (theo quy định tạiđiểm e khoản 2 Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự) những vấn đề có liên quan đến vụ ánnhư: những điểm chưa rõ trong hồ sơ vụ án mà khả năng của bị cáo có thể làm rõđược; những điểm có mâu thuẩn trong lời khai của bị cáo; vị trí của bị cáo trong các
vụ án có đồng phạm; các tình tiết về hoàn cảnh phạm tội, động cơ, mục đích phạm tội;
vị trí của bị cáo trong các vụ án có đồng phạm; các tình tiết giảm nhẹ và những vấn đề
về nhân thân của bị cáo để người bào chữa và bị cáo thống nhất với nhau để côngviệc bào chữa đạt hiệu quả
Người bào chữa còn giải thích cho bị cáo biết trình tự thủ tục tại phiên tòa, ý nghĩacủa chứng cứ quan trọng đối với kết quả giải quyết vụ án người bào chữa sẽ phân tíchcho bị cáo biết về hướng giải quyết vụ án, thống nhất với bị cáo phương án bào chữatại phiên toà Và khi người bào chữa thấy người làm chứng quan trọng có lời khaibuộc tội cho bị cáo nhưng lời khai này có nhiều điểm chưa rõ hoặc có mâu thuẫn vớinhững chứng cứ khác trong vụ án Neu người làm chứng này không có mặt thì Toà án
có thể xác định sai sự thật vụ án, không có lợi cho người mình bào chữa Do đó ngườibào chữa có quyền yêu cầu Toà án triệu tập người làm chứng đó đến phiên toà để xéthỏi làm sáng tỏ sự thật của vụ án Ngoài ra, khi thấy Toà án chưa triệu tập nhữngngười làm chứng mà lời khai của họ có lợi cho bị cáo thì người bào chữa cũng đề xuấtvới Toà án triệu tập những người làm chứng đó Sau những giai đoạn chuẩn bị banđầu đến giai đoạn quan trọng nhất là xét xử tại phiên toà
b2 Xét xử tại phiên toà
Xét xử tại phiên toà phải trải qua các thủ tục như: thủ tục bắt đầu phiên toà, xét hỏitại phiên toà, tranh luận tại phiên toà, nghị án và tuyên án
* Ở giai đoạn bắt đầu phiên toà: khi Hội đồng xét xử đọc lời khai mạc phiên toà
thì người bào chữa sẽ xem xét xem thành phần Hội đồng xét xử có đúng không,những người cần triệu tập đến toà có đến đủ không, nếu có người không thể tham giaphiên toà (mà lời khai của người này là người có lợi cho bị cáo) thì người bào chữa
có thể yêu càu hoãn phiên toà, yêu càu triệu tập người càn xét hỏi Đây cũng là mộtcông đoạn quan trọng trong quá trình xét xử, người bào chữa đóng vai trò quan trọng
ở giai đoạn này vì người bào chữa sẽ theo dõi việc bắt đầu phiên toà có tuân thủ quy
Trang 37định của pháp luật không, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo tronggiai đoạn này.
* Sau khi chủ toạ phiên toà đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử, thì đến Viện kiểm
sát đọc bản cáo trạng và trình bày ý kiến, rồi đến quá trình xét hỏi Trong quá trình
xét hỏi người bào chữa sẽ tập trung chú ý những câu hỏi mà Hội đồng xét xử, Việnkiếm sát đặt ra cho bị cáo, cho bị hại, người gián định, có phù họp với nội dung bảncáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố không, có những câu hỏi mang tính chất ép cung bịcáo không (như hỏi bị cáo mà chỉ định bị cáo trả lời có hoặc không, không cho bị cáo
cơ hội trình bày nguyên nhân, điều kiện dẫn đến việc phạm tội, hay không có tội) đểquyền và lợi ích họp pháp của bị cáo không bị xâm phạm, rồi đến việc xem xét cácchứng cứ, vật chứng, người bào chữa có nhiệm vụ xem những chứng cứ, vậtchứng, tài liệu, được đưa ra tại phiên toà có phù họp với vụ án không, nếu là nhữngtài liệu chứng cứ, vật chứng hoàn toàn mới mà người bào chữa chưa từng biết thì cóquyền yêu cầu hoãn phiên toà để có thời gian xem xét lại
Tiếp theo là đến phần người bào chữa hỏi, theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ
luật tố tụng hình sự về trình tự xét hỏi: “Khi xét hỏi từng người, chủ toạ phiên toà hỏi
trước rồi đến các Hội thẩm, sau đó đến Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đưcmg sự Những người tham gia phiên toà cũng có quyền đề nghị với chủ toạ phiên toà hỏi thêm về những tình tiết cần làm sảng tỏ Người giảm định được hỏi về những vẩn đề có liên quan đến việc giám định.” Tuy người bào chữa hỏi sau
Viện kiểm sát nhưng không vì vậy mà Viện kiểm sát có quyền hơn người bào chữa
Mà người bào chữa và Viện kiểm sát luôn bình đẳng với nhau tại phiên toà Khi thamgia xét hỏi người bào chữa cần hỏi bị cáo những câu hỏi mang tính gợi mở cho bị cáotrả lời theo hướng chứng minh bị cáo vô tội hoặc theo hướng giảm nhẹ trách nhiệmhình sự của bị cáo Sau khi người bào chữa hỏi bị có thì tiếp tục hỏi bị hại, người bàochữa cần hỏi những câu hỏi làm sáng tỏ nguyên nhân của sự việc, nguyên nhân mà bịhại cho là bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội, căn cứ chứng minh bị cáo đã thựchiện hành vi phạm tội, hoàn cảnh xảy ra vụ án, thái độ của người bị hại đối với bị cáo(hoặc đối với người thân, bạn bè của bị cáo) lúc xảy ra vụ án,
* Sau khi kết thúc phần xét hỏi thì đến phần tranh luận tại phiên toà Tranh luận
tại phiên tòa là một phần của phiên toà mà ở đó, những người tham gia tố tụng tronglời trình bày và đối đáp sẽ phân tích đánh giá tất cả chứng cứ, tổng kết lại kết quảthẩm vấn tại phiên toà trên quan điểm của từng người tham gia tố tụng đưa ra kết luậncủa mình đối với các vấn đề mà Toà án sẽ giải quyết Sau khi Viện kiểm sát trình bàybản cáo trạng luận tội bị cáo thì đến người bào chữa trình bày lời bào chữa của mình.Đây là giai đoạn quan trọng trong quá trình bào chữa của người bào chữa thể hiện tầmquan trọng của người bào chữa trong quá trình tham gia vụ án
Trang 38Vai trò của người bào chữa trong tổ tụng hình sự
Lời bào chữa là giai đoạn kết thúc công việc của người bào chữa trong việc nghiêncứu đánh giá chứng cứ tại phiên toà Lời bào chữa được xây dựng với kết quả của quátrình xét hỏi, tất cả các chứng cứ của vụ án đã được thu thập, những lý lẽ, và kết luậncủa những người tham gia tố tụng Người bào chữa phải phân tích chứng cứ là cơ sởcho việc buộc tội, phân tích và xác định hành vi, nhận xét nhân thân bị cáo, đưa ramức độ hình phạt và tính căn cứ của vụ kiện dân sự, trong lời bào chữa tất cả sựviệc và chứng cứ được xem xét dưới góc độ vì lợi ích của bị cáo và từ những tình tiếtcủa vụ án đưa ra tất cả những gì có lợi cho bị cáo, bác lại sự buộc tội hoặc đề nghị Toà
án giảm nhẹ tội cho bị cáo; nêu ra việc người buộc tội không chứng minh được luậnđiểm của mình, có những điểm trong lời buộc tội còn yếu, chứng cứ buộc tội khôngvững những tình tiết tăng nặng định tội không chính xác- tất cả những cái đó ngườibào chữa phải chú ý soi sáng trong lời bào chữa của mình một cách cụ thể, chi tiết.Lời bào chữa của người bào chữa góp phần quan trọng trong việc Hội đồng xét xửquyết định kết luận bản án Vì khi một lời bào chữa có sức thuyết phục, họp tình họp
lý sẽ giúp cho Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét đánh giá chi tiết từng tình tiết,chứng cứ trong vụ án liên quan đến bị cáo giúp cho quyền và lợi ích của bị cáo đượcbảo đảm và góp phần giải quyết vụ án được chính xác, đúng người, đúng tội
Trong lời bào chữa mà người bào chữa đưa ra thường có ba vấn đề cần giải quyết:Thứ nhất, Người bào chữa phải phân tích và đánh giá chứng cứ đối với vụ án.Trong lời bào chữa phần phân tích chứng cứ chiếm vị trí quan trọng và thường là phần
cơ bản của lời bào chữa Vì để đánh giá được tội phạm, thì cần làm rõ câu hỏi tộiphạm được chứng minh chưa Đánh giá đúng hành vi về mặt xã hội và pháp lý đạtđược mục đích chỉ khi chứng minh được có hành vi đó và nó do bị cáo thực hiện Việcđánh giá chứng cứ là một vấn đề quan trọng để xem xét bị cáo có tội hay không có tội,nếu có thì tội gì thuộc khoản nào, điều nào trong Bộ luật hình sự Do đó, việc ngườibào chữa đánh giá đúng, phân tích chính xác các chứng cứ đối với vụ án giúp bị cáochứng minh họ không có tội hoặc giảm nhẹ hình phạt đối với họ, góp phần giúp Hộiđồng xét xử hiểu rõ hơn về tình tiết vụ án
Việc làm rõ mọi khả năng về phân tích và đánh giá chứng cứ và nguồn gốc của nó,lời khai của bị cáo, người làm chứng, người bị hại, kết luận của giám định viên, vậtchứng Lời bào chữa có ý nghĩa to lớn trong đó việc xác định đúng hành vi của bịcáo, những người đồng phạm, hình thức lỗi, những tình tiết loại trừ trách nhiệm hình
sự hay giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Để phân tích những chứng cứ cần đưa ra đượccâu trả lời bị cáo có tội hay không? Viện kiểm sát để buộc tội được bị cáo càn phảichứng minh được ba căn cứ là: bị cáo có hành vi phạm tội, bị cáo là người thực hiệnhành vi dó, hành vi của bị cáo có cấu thành tội phạm Nhưng đối với người bào chữa
để chứng minh bị cáo vô tội thì chỉ cần chứng minh được một trong ba yếu tố trên là
Trang 3916Nguyễn Văn Tuân, Vai trò của luật sư trong tố tụng hình sự, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2000, trang
92-98
đủ; hoặc chứng minh được không có hành vi phạm tội, hoặc chứng minh được bị cáo
không thực hiện tội phạm đó, hoặc hành vi đó không cấu thành tội phạm
Phân tích chứng cứ trong lời bào chữa có thể nhận thấy rằng trong vụ án có nhữngchứng cứ rõ ràng nhưng sự chứng minh việc buộc tội chưa thật đầy đủ, còn nghi ngờ
và cần tranh luận Sự chứng minh là cơ sở cho việc ra bản án kết tội Phân tích chứng
cứ có thể kết thúc bằng kết luận về việc có nghi ngờ trong vấn đề xác định lỗi, loại trừ
khả năng ra bản kết tội vấn đề định tội là một trong những vấn đề mà Hội đồng xét
xử cần phải giải quyết khi ra bản án Trong phần tranh luận, trong lời bào chữa luận
cứ pháp lý được thể hiện có lợi trong việc áp dụng điều khoản này hay điều khoản
khác hoặc chứng cứ xác định hành vi của bị cáo không cấu thành tội phạm chiếm vị
trí quan trọng16
Tóm lại ừong lời bào chữa người bào chữa phải chú ý làm rõ phân tích nguyênnhân và điều kiện phạm tội, đặc biệt là đối với vụ án mà bị cáo là người chưa thành
niên Người bào chữa cần phân tích nguyên nhân và điều kiện phạm tội trong lời bào
chữa cần có mối quan hệ chặt chẽ với hồ sơ vụ án và không được làm xấu đi tình
trạng của bị cáo, ngược lại cần phải hết sức làm rõ tất cả những tình tiết dẫn đến việc
bị cáo thực hiên hành vi phạm tội, để phục vụ cho việc ra bản án một cách công minh
Thứ hai, người bào chữa nhận xét về nhân thân của bị cáo.Vì tình tiết về nhân thâncủa bị cáo sẽ làm giảm nhẹ hình phạt mà bị cáo phải nhận (trong trường hợp bị cáo có
nhân thân tốt), và người bào chữa là người sẽ giúp bị cáo tìm ra những tình tiết về
nhân thân của bị cáo mà những tình tiết về nhân thân đó sẽ là căn cứ để Hội đồng xét
xử xem xét trong việc ra quyết định hình phạt Toà án áp dụng hình phạt không chỉ
với mục đích trừng trị người có tội mà còn mục đích cải tạo và giáo dục họ Khi lượng
hình Toà án không chỉ chú ý đến tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội
phạm mà còn chú ý đến nhân thân bị cáo Nhân thân bị cáo được Toà án xem xét khi
ra bản án, từ đó vai trò của người bào chữa rất quan trọng trong việc xác định nhân
thân bị cáo một cách đúng đắn và toàn diện từ quan điểm bào chữa Người bào chữa
cần trình bày tất cả những đặc điểm về nhân thân bị cáo mà Toà án có thể xem xét và
thể hiện trong bản án Phân tích nhân thân bị cáo còn có ý nghĩa giáo dục đối với
những người có mặt tại phiên toà cũng như đối với bị cáo Hiệu quả giáo dục càng cao
khi người bào chữa nhận xét nhân thân bị cáo đồng thời làm rõ nguyên nhân và điều