ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN PHẠM THỊ DUYÊN VAI TRÒ CỦA NGƯỜI CAO TUỔI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP CON TRONG GIA ĐÌNH Ở THÀNH PHỐ THANH HÓA QUA NG
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ DUYÊN
VAI TRÒ CỦA NGƯỜI CAO TUỔI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TRỢ
GIÚP CON TRONG GIA ĐÌNH Ở THÀNH PHỐ THANH HÓA ( QUA NGHIÊN CỨU TẠI PHƯỜNG TÂN SƠN, XÃ ĐÔNG LĨNH,
THÀNH PHỐ THANH HÓA)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội – 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ DUYÊN
VAI TRÒ CỦA NGƯỜI CAO TUỔI ĐỐI VỚI HOẠT ĐÔNG TRỢ
GIÚP CON NGƯỜI TRONG GIA ĐÌNH Ở
THÀNH PHỐ THANH HÓA ( QUA NGHIÊN CỨU TẠI PHƯỜNG TÂN SƠN, XÃ ĐÔNG LĨNH,
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 9
1 Lý do chọn đề tài 9
2.Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 10
3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 13
4 Câu hỏi nghiên cứu 13
5 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 13
6 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 14
7 Giả thuyết nghiên cứu 14
8.Phương pháp nghiên cứu 15
9.Khung lý thuyết 18
19
NỘI DUNG CHÍNH 20
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 20
1.1 Những khái niệm công cụ 20
1.1.1 Khái niệm vai trò xã hội 20
1.1.2 Khái niệm người cao tuổi 21
1.1.3 Khái niệm gia đình 22
1.2 Các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu 24
1.2.1 Lý thuyết cấu trúc- chức năng 24
1.2.2 Lý thuyết xã hội hoá 26
1.2.3 Lý thuyết về vai trò 27
1.2.4 Lý thuyết sự chọn lựa hợp lý của Coleman, Friedman và Hechter 29
1.3 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 32
Chương 2: THỰC TRẠNG TRỢ GIÚP CON TRONG GIA ĐÌNH Ở THÀNH PHỐ THANH HÓA CỦA NGƯỜI CAO TUỔI 38
Trang 42.1 Nhận thức của NCT về hoạt động trợ giúp con trong gia đình 38
2.2.Hoạt động trợ giúp con của người cao tuổi 41
2.2.1 Hoạt động trợ giúp trực tiếp 41
2.2.2 Hoạt động trợ giúp gián tiếp 45
2.2.3 Mức độ tham gia hoạt động trợ giúp 48
CHƯƠNG 3: CÁC NHÂN TỐ CƠ BẢN ẢNH HƯỞNG TỚI HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP CON CỦA NGƯỜI CAO TUỔI 56
3 1Các nhân tố tác động 56
3.1.1 Cấu trúc gia đình 56
3.1 2 Những đặc điểm tâm sinh lý của NCT 60
3.1.3 Những đặc điểm nhân khẩu xã hội của NCT 62
3.1 4 Hoạt động của Hội NCT và các cơ quan đoàn thể 66
3.1.5 Chính sách của Đảng và Nhà nước về NCT 69
3.2 Hệ quả từ sự trợ giúp của Người cao tuổi 70
3.2.1 Đối với con cháu 72
3.2.2 Đối với NCT 76
3.2.3 Đối với xã hội 83
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 86
1 Kết luận 86
2 Khuyến nghị 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN 92
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Cơ cấu mẫu khảo sát 16 Bảng 2.1 : Sự tham gia trợ giúp công việc của người cao tuổi 40 Bảng2.2 : Hình thức tham gia trợ giúp con cái của người cao tuổi 42 Bảng 3.1: Hiện trạng sống của người cao tuổi ở Thành phố Thanh Hóa 57 Bảng 3.2: Những vấn đề người cao tuổi gặp phải khi tham gia trợ giúp con trong gia đình 60 Bảng 3.3: Lý do vì sao người cao tuổi không thường xuyên thăm hỏi, động viên con cháu trong gia đình 61 Bảng 3.4: Sự tham gia giúp đỡ con cháu về mặt tinh thần của người cao tuổi 72 Bảng 3.5 : Tình cảm của con cháu dành cho người cao tuổi 75 Bảng 3.6: Quyết định việc quan trọng các thành viên trong gia đình có hỏi ý kiến người cao tuổi 76 Bảng 3.7: Sự hài lòng về công việc mà người cao tuổi tham gia trợ giúp cho con cháu 81
Trang 6DANH MỤC CÁC BIỂU
Biểu 1.2: Tỷ lệ phân chia theo giới tính 16
Biểu 1.3: Tỷ lệ phân chia theo trình độ học vấn 17
Biểu 1.4: Tỷ lệ phân chia theo độ tuổi 17
Biểu 2.1: Sự trợ giúp trực tiếp của người cao tuổi trong gia đình 43
Biểu 2.2: Sự tham gia trợ giúp gián tiếp của người cao tuổi 45
Biểu 2.3: Mức độ tham gia giáo dục đạo đức của người cao tuổi trong gia đình 49
Biểu 2.4: Mức độ tham gia giáo dục tri thức của NCT 50
Biểu 2.5: Mức độ tham gia hoạt động trợ giúp trông nom, chăm sóc con cháu của NCT 52
Biểu 2.6: Sự tham gia định hướng làm kinh tế của người cao tuổi 53
Biểu 2.7: Sự định hướng chọn bạn đời của người cao tuổi cho con cháu trong gia đình 54
Biểu 3.1: Tương quan giữa giới tính và hoạt động trợ giúp trực tiếp cho con của NCT 62
Biểu 3.2.: Tương quan giữa giới tính và hoạt động trợ giúp trực tiếp cho con của NCT 63
Biểu 3.3: Sự tôn trọng của người trẻ trong gia đình của người cao tuổi 78 Biểu 3.4: Sự hài lòng trong mối quan hệ của người cao tuổi với gia đình79 Biểu 3.5: Mức độ hài lòng của người cao tuổi với cuộc sống 80
Trang 7BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tính đến năm 2011, tỷ lệ NCT Việt Nam chiếm 9,9% dân số(Tổng cục
thống kê (2012), Điều tra biến động dân số - kế hoach hóa gia đình 01/4/2012) Điều này cho thấy Việt Nam đã bước vào giai đoạn “ già hóa dân
số”- giai đoạn mà nhiều người cho rằng có ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển kinh tế- xã hội của một Quốc gia Tuy nhiên, với nét đặc thù riêng của Văn hóa Việt, NCT vẫn chiếm một vị trí và đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong cả gia đình và ngoài xã hội Trong gia đình, họ là điểm tựa vững trãi, là “kho” kinh nghiệm sống quý báu và với bên ngoài xã hội, họ không chỉ là một lực lượng chính trị, xã hội ngày càng đông đảo tham gia vào việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị trong địa phương, mà còn là nguồn lực quý giá trong sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân dân tộc, góp phần thúc đẩy sự nghiệp đổi mới đất nước và giữ vững ổn định chính trị - xã hội, an ninh quốc gia
Cũng như nhiều nơi khác trong cả nước, NCT Thành phố Thanh Hoá những năm qua là một trong những nhóm đi đầu của Đất nước trong việc huy động sự đoàn kết của nhân dân, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính
quyền vững mạnh, hưởng ứng theo phong trào “Nêu gương sáng” xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư, xây dựng “Đô thị văn minh - Công dân thân
thiện” và đặc biệt phong trào xây dựng “gia đình ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo” giai đoạn 2007-2012 Nhiều người cao tuổi bên cạnh
việc sẵn sàng nhận các nhiệm vụ của xã hội với lòng nhiệt tình và tinh thần trách nhiệm cao khi bắt đầu được nghỉ hưu, làm việc liên tục không ngơi nghỉ, lăn lộn với phong trào, say mê với công việc bằng cả tấm lòng cho quê hương, đất nước thì họ cũng vẫn dành không ít thời gian để giúp đỡ cho con cái trong gia đình của chính mình
Trang 9Vậy với sự hạn chế của sức khỏe và độ tuổi, trong khi lại tham gia nhiều vào những hoạt động của xã hội, NCT đã có những trợ giúp gì cho con cái trong gia đình? Hoạt động trợ giúp nào được họ lựa chọn thường xuyên? Thời gian dành cho những hoạt động này ở họ là bao nhiêu?
Việc nghiên cứu về vai trò của người cao tuổi trong hoạt động trợ giúp con cái là một vấn đề hết sức cấp thiết Nó không chỉ cho chúng ta một cái nhìn về hoạt động trợ giúp của một nhóm xã hội – nhóm mà trong xã hội không ít người còn nghi ngờ về sự đóng góp của họ, thậm chí có người còn cho rằng
đó chỉ là những người ăn theo, những người hay gây ra những khó chịu cho con cái do sự khác biệt về hệ giá trị sống, mà còn hình thành nên một cái nhìn tổng quan, toàn diện về họ Điều này đòi hỏi phải được nhìn nhận một cách khoa học và hợp lí dười góc độ xã hội học Đây cũng chính là ý tưởng
gợi nên trong tôi hướng nghiên cứu đề tài: “Vai trò của người cao tuổi đối với hoạt động trợ giúp con trong gia đình ở Thành phố Thanh Hóa (Qua
nghiên cứu tại phường Tân Sơn, xã Đông Lĩnh, Thành phố Thanh Hóa)
2.Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Ở Việt Nam, những nghiên cứu xã hội học về NCT mới chỉ được bắt đầu vào những năm 1990 khi Việt Nam chuyển từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường và khi tỷ lệ NCT trong dân số có xu hướng tăng nhanh Các cuộc điều tra nghiên cứu tập trung chủ yếu vào những nội dung như: quy mô dân số NCT; cơ cấu dân số NCT; về tình trạng sức khoẻ, bệnh tật, việc làm, thu nhập, điều kiện sinh hoạt, mức sống của NCT; chăm sóc sức khoẻ NCT; phát huy vai trò của NCT Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã góp phần cung cấp những cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng chính sách xã hội đối với NCT Đáng chú ý là các công trình sau đây: Nghiên cứu cơ sở thực tiễn và lý luận xây dựng chính sách xã hội với
Trang 10người già ở Việt Nam (Vụ các vấn đề xã hội của Quốc hội, 2000); Nghiên cứu điều tra thực trạng thu nhập và mức sống của NCT Việt Nam (Hội NCT
Việt Nam, 2005); Trong miền an sinh xã hội; Nghiên cứu về tuổi già Việt
Nam (Bùi Thế Cường, 2005) Nghiên cứu một số đặc trưng kinh tế - xã hội và
đánh giá thử nghiệm mô hình chăm sóc sức khoẻ nâng cao đời sống của NCT
(Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em, 2005); Thực trạng và các giải pháp nâng
cao chất lượng cuộc sống của phụ nữ cao tuổi (Hội LHPN Việt Nam, 2005); Chăm sóc và phát huy vai trò NCT trong sự nghiệp đổi mới (Bộ Lao động-
Thương binh và Xã hội, 1999), NCT và những vấn đề đặt ra đối với chính
sách xã hội (Bộ Lao động-TB và Xã hội, 1999) Một số vấn đề cơ bản trong chính sách xã hội đối với NCT (Viện Khoa học xã hội Việt Nam, 2008-2009); Thực trạng đời sống của NCT các dân tộc bản địa Tây Nguyên (Viện nghiên
cứu NCT Việt Nam, 2006); Thực trạng đời sống của NCT từ 80 trở lên (Viện nghiên cứu NCT Việt Nam, 2007); Thực trạng sức khỏe và bệnh tật của NCT
Việt Nam (Viện nghiên cứu NCT Việt Nam, 2008); Thực trạng NCT tham gia khôi phục và truyền nghề cho thế hệ trẻ Việt Nam (Viện nghiên cứu NCT Việt
Nam, 2010); Thực trạng NCT tham gia xóa đói, giảm nghèo (Viện nghiên cứu NCT Việt Nam, 2011)…
Cần phải khẳng định rằng, người cao tuổi là lớp người có nhiều công lao với xã hội, đất nước, gia đình và lớp con cháu Người cao tuổi đã đóng góp phần lớp sức lực, trí tuệ của bản thân mình thông qua các hoạt động kinh tế,
xã hội khi còn ở độ tuổi trẻ, khỏe Đến khi bước vào độ tuổi được gọi là già,
họ xứng đáng được xã hội tôn vinh, quan tâm, chăm sóc Tuy nhiên, việc phát huy vai trò tài năng, trí tuệ của người cao tuổi cần phải được xem xét và phân tích dưới nhiều góc độ khác nhau, kinh tế, xã hội và nhân văn Một số nghiên cứu về người cao tuổi như:
Trang 11Nghiên cứu “ Thực trạng đời sống người cao tuổi từ 80 trở lên” của TS Nguyễn Thế Huệ (NXB văn hóa thông tin, 2010) Nghiên cứu là kết quả dự
án nghiên cứu của Viện nghiên cứu người cao tuổi Việt Nam phối hợp với hội người cao tuổi Việt Nam tiến hành Nội dung chính đề cập đến thực trạng đời sống người cao tuổi từ 80 trở lên như mức thu nhập, mức độ tham gia bảo hiểm, chế độ được hưởng,tiếp cận các dịch vụ xã hội, tài sản, hiểu biết về chính sách, chế độ của NCT, trợ giúp khi ốm đau… Qua nghiên cứu, có thể
có một cách nhìn tổng thể về thực trạng đời sống của NCT từ 80 tuổi trở lên
gia đình – Bộ văn hóa , thể thao và du lịch xây dựng tài liệu giáo dục đời sống gia đình phần IV (NXB văn hóa thông tin,2010) Trong nghiên cứu có nhấn mạnh đến vai trò của người cao tuổi trong gia đình, trách nhiệm của người cao tuổi đối với con cháu “Người cao tuổi có những ưu điểm mà người trẻ không thể có được đó là kinh nghiệm, trách nhiệm, tình thương vô bờ , luôn dành cho con cháu những phần tốt nhất, vì với họ con hay thì được nhờ, con
dở thì đành chịu Mặc dù, tuổi cao sức yếu nhưng nhiều cụ vẫn tham công tiếc việc, muốn đỡ đần con cháu những việc thường ngày Nhiều cặp vợ chồng trẻ vẫn phải nhờ cậu vào sức lực, thậm chí kinh tế của cha mẹ cao tuổi Thêm vào
đó người cao tuổi có vai trò quan trọng trong điều hòa cuộc sống”
Mỗi một nghiên cứu đều hướng đến người cao tuổi, đi sâu vào đời sống của họ, phân tích nhiều vấn đề Tuy nhiên, về khía cạnh vai trò trợ giúp con cái của người cao tuổi thì cho đến nay, chưa ghi nhận thấy có một công trình nghiên cứu riêng biệt nào về vai trò của người cao tuổi đối với hoạt động trợ giúp con trong gia đình Chính ở điều này đề tài đã thể hiện những đóng góp mới qua nỗ lực tìm hiểu về vai trò của người cao tuổi đối với hoạt động trợ giúp trong gia đình dưới góc độ xã hội học, vận dụng lý thuyết xã hội học vào
Trang 12việc phân tích những hoạt động trợ giúp của người cao tuổi trong gia đình hiện nay
3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
3.1 Ý nghĩa lí luận
Đề tài nghiên cứu vận dụng một số lý thuyết, các khái niệm xã hội học nói chung và xã hội học gia đình nói riêng vào tìm hiểu, mô tả và phân tích vai trò của NCT đối với hoạt động trợ giúp con trong gia đình và qua đó đóng góp thêm những phát hiện có tính quy luật các khái niệm, quan điểm
trong lý luận về vai trò…
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài nghiên cứu này có các ý nghĩa thực tiễn như sau:
Giúp Hội người cao tuổi, tổ chức đoàn thể, nhà quản lý, hoạch định chính sách có một cách nhìn đầy đủ và toàn diện về những đóng góp của người cao tuổi cho dù hiện tại họ có những hạn chế về sức khỏe
Kết quả nghiên cứu của đề tài có giá trị tham khảo đối với nghiên cứu sinh, học viên, sinh viên quan tâm đến NCT, đến hoạt động của các thành viên trong gia đình
4 Câu hỏi nghiên cứu
- Nhận thức của NCT về hoạt động trợ giúp con trong gia đình như thế
nào?
- NCT chủ yếu trợ giúp con cái trong gia đình những công việc gì?
- Nhân tố nào là cơ bản quyết định đến việc có trợ giúp cho con cái của mình hay không ở người cao tuổi?
5 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Mục đích và nhiệm vụ:
Thông quan thực trạng trợ giúp cho con của người cao tuổi trong gia đình
để tìm hiểu nhận thức của NCT về hoạt động trợ giúp con, vai trò của họ
Trang 13trong những hoạt động này, các nhân tố cơ bản tác động đến sự tham gia hay không tham gia trợ giúp con Từ đó đưa ra giải pháp có tính khả thi
5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mô tả về nhận thức của NCT về hoạt động trợ giúp con trong gia đình
- Làm rõ những công việc trợ giúp chính của NCT trong gia đình
- Phân tích các nhân tố cơ bản quyết định đến sự tham gia của người cao tuổi vào các hoạt động trợ giúp con trong gia đình
6 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
6.1 Đối tƣợng nghiên cứu:
Vai trò của người cao tuổi đối với hoạt động trợ giúp con trong gia đình
6.2 Khách thể nghiên cứu:
Người cao tuổi trên địa bàn TP Thanh Hóa
Khách thể khảo sát: Người cao tuổi phường Tân Sơn, xã Đông Lĩnh, TP Thanh Hóa
6.3 Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi không gian: Tiến hành khảo sát tại TP Thanh Hóa Chúng tôi
lựa chọn 2 phường là phường Tân Sơn và xã Đông Lĩnh trực thuộc TP Thanh Hóa
+ Phạm vi Thời gian: Tháng 10/2012 đến tháng 12/2012
Phạm vi nội dung nghiên cứu: Người cao tuổi khi tham gia trợ giúp cho
con cái trong gia đình thường được thể hiện dưới nhiều hình thức trực tiếp, gián tiếp cũng như với những hoạt động khác nhau, vì thế, trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ, chúng tôi chỉ giới hạn nghiên cứu một số hoạt động trợ giúp thường xuyên và dành nhiều thời gian cho những hoạt động này ở họ như: trông nom chăm sóc con cháu, nội trợ, giáo dục giá trị đạo đức lối sống…
7 Giả thuyết nghiên cứu
Trang 14Đại đa số NCT đều có nhận thức đúng về vai trò của mình và xuất phát từ mong muốn giúp đỡ con cháu mà NCT tham gia trợ giúp con trong gia đình NCT trợ giúp con trong nhiều công việc chủ yếu là trông nom, chăm sóc con cháu, nội trợ, giáo dục giá trị đạo đức lối sống
Có nhiều nhân tố tác động đến sự trợ giúp con trong gia đình của người cao tuổi Nhưng nhân tố cơ bản quan trọng nhất ảnh hưởng quyết định đến sự trợ giúp con của NCT là gia đình
8.Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp luận
Nghiên cứu dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử Áp dụng lý luận này vào đề tài nghiên cứu, chúng tôi muốn tìm hiểu, giải thích sự tác động của xã hội tới nhận thức và
hành động trợ giúp con trong gia đình của người cao tuổi
Chủ nghĩa Mac- Lênin nêu rõ, mọi sự vật hiện tượng đều có tác động qua lại với nhau, chúng luôn biến đổi, vận động theo quy luật nhất định , không có sự vật - hiện tượng nào tồn tại độc lập mà chúng có một sự liên kết
và ràng buộc lẫn nhau, cái này tác động hoặc chịu tác động của cái kia, ngoài
ra chúng còn chuyển hoá lẫn nhau Do vậy, việc nghiên cứu các vấn đề xã hội yêu cầu mỗi chúng ta phải xem xét các hiện tượng xã hội trong mối liên hệ với các hiện tượng xã hội khác, phải xem xét các mặt, các yếu tố của nó một cách toàn diện Tuy nhiên, chúng ta không thể xem xét tất cả mọi mặt của sự vật, hiện tượng mà chỉ xem xét những mối liên hệ quan trọng nói lên bản chất
sự vật, hiện tượng cần nghiên cứu
Vận dùng nguyên lí này vào đề tài tác giả muốn tìm hiểu những hoạt động trợ giúp đặc biệt là trợ giúp trực tiếp và gián tiếp, những nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới nhận thức và hành động trợ giúp con trong gia đình của người
Trang 15cao tuổi Chủ nghĩa Mac – Lê Nin là cơ sở lý luận chính trong đề tài nghiên cứu này
8.2 Phương pháp thu thập thông tin
8.2.1 Phương pháp trưng cầu ý kiến
Nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở phiếu trưng cầu ý kiến đã được xây dựng từ trước với số lượng là 200 người cao tuổi của hai phường, xã của
TP Thanh Hóa : Phường Tân Sơn và xã Đông Lĩnh Trong đó, đã tính tới sự cân bằng giới tính và cân bằng giữa phường và xã trực thuộc Thành phố Thanh Hóa
Nội dung của khảo sát bao gồm thông tin về vai trò trợ giúp con của NCT, trợ giúp trực tiếp, trợ giúp gián tiếp, và một số thông tin cá nhân Số
phiếu thu về được xử lý trên phần mềm SPSS 16.0
(Nguồn: Kết quả xử lý phiếu điều tra)
Biểu 1.2: Tỷ lệ phân chia theo giới tính (Đơn vị:%)
(Nguồn: Kết quả xử lý từ phiếu điều tra)
50%
nữ
Trang 16Biểu 1.3: Tỷ lệ phân chia theo trình độ học vấn (Đơn vị:%)
đại học cao đẳng
-không biết chữ tiểu học trung học trung học phổ thông trung cấp đào tạo nghề đại học - cao đẳng
(Nguồn: Kết quả xử lý từ phiếu điều tra)
Biểu 1.4: Tỷ lệ phân chia theo độ tuổi (Đơn vị:%)
(Nguồn: Kết quả xử lý từ phiếu điều tra)
8.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Mục đích phỏng vấn sâu:Các mẫu phỏng vấn sâu được thiết kế để thu thập thông tinh định tính thực hiện mục tiêu của đề tài: Vai trò của người cao tuổi
Trang 17đối với hoạt động trợ giúp con và các nhân tổ tác động tới hoạt động trợ giúp
mà bảng hỏi chưa trả lời được
Đối tượng phỏng vấn: Người cao tuổi và thành viên gia đình có người cao tuổi
Nội dung phỏng vấn: Liên quan đến vai trò của người cao tuổi và các nhân tố tác động đến hoạt động trợ giúp con trong gia đình
8.2.4 Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp phân tích tài liệu được sử dụng nhằm bổ sung thông tin luận văn Các tài liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu đã được thu thập và phân tích bao gồm: tài liệu, sách báo, công trình nghiên cứu, các văn bản pháp luật, chính sách của nhà nước… có nội dung liên quan tới đề tài nghiên cứu
9.Khung lý thuyết
Trang 18Nhận thức của người cao tuổi đối với hoạt động trợ giúp con trong gia đình
Các cơ quan,đoàn thể, cộng đồng, hội người cao tuổi
Định hướng lựa chọn bạn đời
Trợ giúp các hoạt động trong gia đình
Không trợ giúp
Định hướng việc làm
Trang 19NỘI DUNG CHÍNH Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Những khái niệm công cụ
1.1.1 Khái niệm vai trò xã hội
Theo Robertsons vai trò là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, quyền lợi và nghĩa vụ được gắn liền với một vị thế xã hội nhất định Khái niệm vai trò xã hội bắt nguồn từ khái niệm vai diễn trên sân khấu.Vai diễn trên sân khấu đòi hỏi diễn viên phải nhập tâm, bắt chước và học tập đóng vai của những nhân vật được đạo diễn phân đóng.Còn vai trò xã hội không có tính chất tưởng tượng, bắt chước cứng nhắc và nhất thời Những hành vi thực tế của một người nhờ học hỏi được những kinh nghiệm, lối sống, tác phong từ trước đó trong cuộc sống Vai trò xã hội của một người có nghĩa là người đó phải đảm nhận hay thể hiện đầy đủ các hành vi, nghĩa vụ, hệ thống chuẩn mực trên cơ sở vị thế của người đó Đồng thời họ cũng nhận được những quyền lợi
xã hội tương ứng với việc thực hiện vai trò của họ.Mỗi cá nhân có vô vàn vai trò, có bao nhiêu mối quan hệ xã hội thì có bấy nhiêu vai trò xã hội.Vị thế và vai trò của cá nhân trong xã hội bắt nguồn từ vị trí kinh tế, chính trị, xã hội của họ, từ địa vị của các cá nhân thuộc các giai cấp và các nhóm xã hội khác
mà quy định nên Mỗi cá nhân có nhiều vị thế và vai trò khác nhau ở gia đình, ngoài xã hội…và tuỳ theo vai trò của mình mà cá nhân sẽ có cách ứng xử, hành vi, tác phong, hành động tương ứng với vai trò mà cá nhân đảm trách Vị thế và vai trò luôn gắn bó mật thiết với nhau.Không thể nói tới vị thế mà không nói tới vai trò và ngược lại.Vai trò và vị thế là hai mặt của một vấn đề
Vị thế của cá nhân được xác định bằng việc trả lời cho câu hỏi: người đó là ai? Và vai trò của các nhân được xác định bằng cách trả lời câu hỏi: người đó phải làm gì? Vai trò phụ thuộc vào vị thế (vị thế nào vai trò ấy).Một vị thế có thể có nhiều vai trò.Trong mối quan hệ giữa vị thế và vai trò thì vị thế thường
Trang 20ổn định hơn, ít biến đổi hơn, còn vai trò thì biến động hơn.Thông thường thì
sự biến đổi của vai trò phụ thuộc vào sự biến đổi của vị thế.Vị thế biến đổi thì vai trò cũng biến đổi Bản chất của thuyết này thể hiện ở chỗ: Khi thực hiện chức năng, hoạt động của mình, các cá nhân, nhóm xã hội đều phải tuân thủ, đáp ứng những đòi hỏi mà xã hội đặt ra
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng khái niệm “vai trò” theo quan niệm xã hội học nhằm tìm hiểu vai trò của người cao tuổi với tư cách là chuẩn mực, hành vi có kinh nghiệm từ nhờ học hỏi được những kinh nghiệm, lối sống, tác phong từ trước đó trong cuộc sống
1.1.2 Khái niệm người cao tuổi
Pháp lệnh Người cao tuổi năm 2000, hiện đã được thay thế bằng Luật Người cao tuổi (năm 2009) định nghĩa “người cao tuổi” là công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 60 tuổi trở lên Còn theo luật hiện hành, “người cao tuổi” là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên
Khi bàn đến khái niệm người cao tuổi, chúng ta vẫn thường nghĩ là những người có độ tuổi cao, có thể gọi cách khác là người già, song không thể đồng nhất khái niệm “người cao tuổi” với “người già” Người cao tuổi chưa chắc đã già, đã yếu bởi có những người hơn 60 tuổi nhưng “vẫn khỏe như thanh niên” Luật Người cao tuổi lấy mốc 60 tuổi nhằm giải quyết những vấn
đề an sinh xã hội, bảo vệ quyền lợi cho những người đã qua tuổi lao động mà thôi Xét ở khía cạnh sinh học thì người già là những người đang ở giai đoạn lão hóa mạnh, khi cơ bắp, trí tuệ đã ở vào thời kỳ thấp nhất.Vì vậy, pháp luật hình sự quy định người già là người từ 70 tuổi trở lên nhằm tăng mức bảo vệ hoặc giảm nhẹ trách nhiệm nếu họ là chủ thể của tội phạm
Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, những người có độ tuổi này không nhiều.Hiện nay, thế giới quy định người cao tuổi (NCT) là những người từ 60
Trang 21tuổi trở lên.Trong ''Di chúc'' của Bác Hồ, cũng đã nhấn mạnh người cao tuổi thọ 70 xưa nay hiếm (Nhân sinh thất thập cổ lai hy)
NCT không chỉ là những người có độ tuổi cao, mà cái quan trọng hơn chính là sự từng trải, là kinh nghiệm sống của họ.Đây mới là mấu chốt của vấn đề, của đối tượng Vì vậy, bên cạnh vấn đề tuổi tác, khái niệm ''người cao tuổi'' cần được bổ sung thêm, đó là sự từng trải, là kinh nghiệm…Nói một cách khái quát hơn NCT là những người có tuổi cao và dồi dào kinh nghiệm…
Người cao tuổi là một lực lượng chính trị, xã hội ngày càng đông đảo ở nước ta, đã và đang có những đóng góp quan trọng vào việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa phương, là nguồn lực quý giá trong sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần thúc đẩy sự nghiệp đổi mới đất nước và giữ vững ổn định chính trị - xã hội, an ninh quốc gia
1.1.3 Khái niệm gia đình
Gia đình là một tổ chức xã hội được hình thành từ lâu trong lịch sử Gia đình là cái mà ai cũng cảm nhận, nhìn thấy được
Một trong những nguyên nhân gây nên khó khăn trong việc định nghĩa gia đình là do gia đình có vô số hình thái khác nhau Dựa trên kết quả nghiên cứu
so sánh của mình, nhiêu nhà xã hội học cho rằng các hình thái của đời sống gia đình ngay trong một xã hội hết sức đa dạng, muôn hình muôn vẻ đến mức
có lẽ không thể nói rằng có một khái niệm chung gọi là gia đình Sự đa dạng
ấy khiến việc định nghĩa gia đình không khác gì “ trói voi bỏ rọ”, có rất nhiều những quan điểm định nghĩa khác nhau về gia đình:
Gia đình bao gồm nhiều các thành viên thuộc các thế hệ khác nhau (ông
bà, bố mẹ, con cháu, ), họ sống trong cùng một nếp nhà, căn nhà và chia sẻ với nhau những vấn đề sản xuất, kinh tế, sinh hoạt hàng ngày, lối sống văn
Trang 22hóa, tín ngưỡng, tôn giáo, bị điều tiết bởi những chuẩn mực chung (giá trị, điều cấm kỵ, tự do )
Gia đình có quan hệ với nhau theo những tôn ty và với những vai trò nhất định: vợ chồng, cha mẹ và con cái, anh chị em, ông bà và cháu, …Trong đó,
có thể có những mối quan hệ: quan hệ huyết thống (cha con, mẹ con), quan hệ
về mặt pháp lý (cha mẹ và con nuôi), quan hệ tình cảm (các thành viên trong gia đình) và quan hệ tình dục (vợ chồng), quan hệ hôn nhân (vợ chồng)
Theo G.P Murdock: Gia đình là một nhóm xã hội được xác định bởi một
nơi trú ngụ chung, bởi sự hợp tác và tái sản xuất về kinh tế, gồm những người trưởng thành, trong đó, có ít nhất hai người duy trì mối quan hệ tình dục được
xã hội công nhận, với một hoặc nhiều đứa trẻ là con đẻ hoặc con nuôi của những người trưởng thành có quan hệ với nhau
Theo E.W Burgess Và H.J Locker: Gia đình là một nhóm người liên
kết với nhau bởi những mối liên hệ hôn nhân, huyết thống và những mối quan
hệ con nuôi, tạo thành một hộ đơn giản, tác động lẫn nhau và giao tiếp với nhau trong vai trò người chồng và người vợ, người mẹ và người cha, anh em
và chị em, tạo nên một nếp văn hóa chung
Điều 8 luật hôn nhân gia đình 2000: Gia đình là tập hợp những người
gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của luật này
Định nghĩa cụ thể về gia đình ở Việt Nam được sử dụng trong nghiên cứu
xã hội học gia đình: Gia đình là khái niệm được sử dụng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở các quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó Gia đình có thể hiểu như một đơn vị xã hội vi
mô, nó chịu sự chi phối của xã hội song có tính ổn định, độc lập tương đối
Nó có quy luật phát triển riêng với tư cách là một thiết chế xã hội đặc thù
Trang 23Những thành viên gia đình được gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi kinh tế, văn hoá, tình cảm một cách hợp pháp, được nhà nước thừa nhận và bảo vệ
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chọn gia đình là khách thể nghiên cứu Trong các gia đình này có người cao tuổi , đó chính là đối tượng nghiên cứu của đề tài
.1.4 Khái niệm trợ giúp
Khái niệm "trợ giúp" tồn tại từ khi xuất hiện xã hội loài người vả hoạt động trợ giúp này có trước khi các ngành khoa học trợ giúp ra đời Những hiện tượng liên kết giữa con người với nhau Trợ giúp có thê hiệu một cách đơn giản, là một hoạt động (một công việc) giúp đỡ cho người đang có khó khăn hoặc có nhu cầu giúp đỡ để họ thực hiện được điều họ mong muốn trong cuộc sống Trong xã hội hiện nay, có người trợ giúp chuyên nghiệp và trợ giúp bán chuyên nghiệp Người cao tuổi ở đây được hiểu là trợ giúp bán chuyên nghiệp Sự giúp đỡ của họ xuất phát từ mong muốn của bản thân, sự chân thành, kinh nghiệm sống và họ có nhu cầu giúp đỡ con cháu trong gia đình
Có rất nhiều hoạt động trợ giúp khác nhau nhưng trong phạm vi nghiên cứu của đề tài tác giả đề cập đến hoạt động trợ giúp con cái của người cao tuổi như chăm sóc cháu giúp con, hoạt động giáo dục con, định hướng kinh tế, nghề nghiệp và dựng vợ gả chồng cho các thành viên trong gia đình
1.2 Các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu
1.2.1 Lý thuyết cấu trúc- chức năng
Về mặt thuật ngữ, chủ thuyết chức năng còn được gọi là thuyết chức năng – cấu trúc hay thuyết cấu trúc – chức năng Nguồn gốc lý luận của thuyết cấu trúc – chức năng là: thứ nhất: truyền thống khoa học xã hội Pháp coi trọng sự ổn định, trật tự của hệ thống với các bộ phận có quan hệ chức
Trang 24năng – hữu cơ với chỉnh thể hệ thống Thứ hai: truyền thống khoa học Anh với thuyết tiến hóa, thuyết kinh tế, thuyết vị lợi, thuyết hữu cơ phát triển mạnh Từ hai truyền thống này đã nảy sinh những ý tưởng khoa học về xã hội như là một thể hữu cơ đặc biệt với hệ thống gồm các thành phần có những chức năng nhất định tạo thành cấu trúc ổn định
Về phương pháp luận, thuyết chức năng hướng vào giải quyết vấn đề bản chất của cấu trúc xã hội và hệ quả của cấu trúc xã hội Đối với bất kỳ sự kiện, hiện tượng xã hội nào, những người theo thuyết chức năng đều hướng vào việc phân tích các thành phần cấu tạo nên cấu trúc, xem các thành phần
đó có mối liên hệ với nhau như thế nào và đặc biệt xem xét quan hệ của chúng đối với nhu cầu chung của sự tồn tại và phát triển sự kiện, hiện tượng
đó Đồng thời, đòi hỏi về phương pháp luận phải tìm hiểu cơ chế hoạt động của từng thành phần để biết chúng có chức năng, tác dụng gì đối với sự tồn tại một cách cân bằng ổn định của cấu trúc xã hội Với tất cả những đặc điểm cơ bản nêu trên, chủ thuyết này có thể gọi là thuyết cấu trúc – chức năng hay thuyết chức năng – cấu trúc
Lý thuyết chức năng cho rằng mỗi thành viên trong xã hội giữ một chức năng nhất định do chính xã hội phân công dựa vào năng lực, trình độ của người ấy
Lý thuyết này lý giải về gia đình hoạt động như thế nào, gia đình liên quan với xã hội bên ngoài và với các thành viên ra sao Thuyết cấu trúc – chức năng phân tích cơ cấu của một xã hội, những mối quan hệ giữa các hệ thống khác nhau của nó Họ coi xã hội tương tự như một cơ thể, bao gồm nhiều cơ quan, nhiều bộ phận Các cơ quan này cùng hoạt động với nhau để
cơ thể sống được Các bộ phận khác phải thực hiện các chức năng đối với nhau và với toàn cơ thể
Trang 25Gia đình được coi là đơn vị quan trọng và thực hiện những chức năng
cơ bản và then chốt với xã hội Cơ cấu xã hội lại tạo ra bối cảnh chung về văn hóa và tổ chức, bối cảnh này ảnh hưởng đến đời sống gia đình
Có hai tác giả đại biểu cho thuyết này là G Murdock và T Parsons: _ G Murdock: ông cho rằng ở tất cả các xã hội, gia đình thực hiện 4 chức năng cơ bản đó là: tính dục, tái sinh sản, kinh tế và giáo dục
_ T Parsons: ông cho rằng sự chuyển biến của xã hội, xã hội bước sang thời kỳ công nghiệp hiện đại thì gia đình cũng biến đổi theo Gia đình không còn thực hiện nhiều chức năng như trước nữa mà chuyển giao bớt cho các thể chế khác (trường học, bệnh viện, nhà thờ…)
1.2.2 Lý thuyết xã hội hoá
Xã hội hóa là quá trình tiếp thu những tri thức, những tri thức, những khuôn mẫu, những giá trị, những biểu trưng, tóm lại đó là “những cách suy nghĩ, cảm giác và hành động riêng của các nhóm, của xã hội, của nền văn minh mà một cá nhân phải sống trong đó
Thứ hai: các yếu tố xã hội và văn hóa trở thành một bộ phận hợp thành của cơ cấu nhân cách tâm lý
Thứ ba là kết quả chủ yếu của nó xét về mặt xã hội học: đó là sự thích nghi của cá nhân với môi trường xã hội Một cá nhân được xã hội hóa là môt phần của môi trường , thuộc vào gia đình , nhóm , xí nghiệp, tôn giáo, dân tộc mà
nó đứng trong đó
Quá trình xã hội hóa thông qua các tác nhân chính thức và không chính thức Trong đó, các tác nhân chính thức bao gồm tác động qua lại của gia đình, bạn hữu, các phương tiện truyền thông…Môi trường xã hội hóa chính là nơi tạo ra nhân cách đồng thời nó cũng là con đường mở rộng các kinh nghiệm xã hội của một cá nhân
Trang 26Xã hội hóa liên tục diễn ra trong suốt chu kì đời sống của một con người, mặc
dù không phải là yếu tố quyết định, những thay đổi về sinh học tạo ra khuôn hành vi của từng cá nhân Tùy thuộc vào giới tính, nơi sinh sống hoàn cảnh kinh tế, thậm chí cả thời đại mà một người được sinh ra, họ được xã hội hóa rồi thì ghi dấu ấn đánh dấu từng giai đoạn trong dòng đời dưới hình thức như nhận tham gia lao động, kết hôn,làm cha mẹ, sống những năm tháng tuổi già
và đối mặt với cái chết
Các nhà xã hội học thường phân đoạn chu kỳ đời sống thành bốn giai đoạn: thơ ấu, thanh niên, trưởng thành và tuổi già Ở những xã hội khác nhau và giữa các cá nhân khác nhau trong một xã hội, khoảng thời gian của từng giai đoạn cũng khác nhau, thậm chí có thể không có Tuổi ấu thơ, sự xã hội hóa diễn ra trong từng giai đoạn cũng khác nhau, thậm chí là không có Tuổi ấu thơ, sự xã hội hóa diễn ra trong sư quan tâm bảo vệ của người lớn, đến thời thanh niên, những hành vi, nhận thức thường bị xáo trộn, nhân cách về cơ bản định hình ở tuổi trưởng thành và cá nhân thường đạt được những thành tựu chủ yếu, khi về già và đối mặt với cái chết con người lại gặp phải thách thức
xã hội to lớn Mỗi giai đoạn trong chu kỳ đời sống là sự thể hiện của kết cấu kinh nghiệm
Gia đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên có tầm quan trọng chính yếu của mỗi cá nhân Gia đình không chỉ tái sản xuất ra con người mà còn là nơi tái sản xuất ra đời sống tình cảm, văn hóa - quá trình biến một đứa trẻ từ một sinh vật thành con người xã hội Trong mỗi gia đình đều có một tiểu văn hóa, tiểu văn háo này được xây dựng trên nền tảng văn hóa chung nhưng với những đặc thù riêng của từng gia đình Các tiểu văn hóa này được tạo thành bởi nền giáo dục gia đình, truyền thống gia đình, lối sống gia đình
1.2.3 Lý thuyết về vai trò
Trang 27Vai trò xã hội của cá nhân được xác định trên cơ sở các vị thế xã hội tương ứng Nó chính là mặt động của vị thế xã hội vì luôn biến đổi trong xã hội
Vai trò xã hội là mô hình hành vi được xác lập một cách khách quan căn cứ vào đòi hỏi của xã hội đối với từng vị thế nhất định để thực hiện quyền
và nghĩa vụ tương ứng với các vị thế đó
Như vậy vai trò là những đòi hỏi của xã hội đặt ra với các vị thế xã hội Những đòi hỏi này được xác định căn cứ vào các chuẩn mực xã hội
Để cá nhân có thể thực hiện tốt các vai trò thì một mặt các đòi hỏi, chuẩn mực do xã hội đặt ra phải rõ ràng Mặt khác cá nhân phải học hỏi về
các vai trò trong quá trình xã hội hóa [Phạm Tất Dong - Lê Ngọc Hùng: Xã
hội học đại cương NXB Đại học quốc gia Hà Nội]
Trong xã hội, mỗi người có một số vị trí và vai trò xã hội nhất định Ví
dụ vai trò xã hội của một giáo viên là giảng dạy, vai trò một bác sĩ là chữa bệnh, vai trò của trẻ em là con ngoan, trò giỏi Do đó, có thể nói vai trò xã hội của một cá nhân là khái niệm xã hội học xác định những gì cá nhân ấy phải làm ở một không gian và thời gian nhất định theo những qui tắc chuẩn mực mà xã hội đã đặt ra[23]
Vai trò xã hội trong xã hội học có các các tính chất cơ bản sau:
Ðối với con người, đóng vai trò xã hội và thay đổi vai trò là công việc hàng ngày diễn ra liên tục, kế tiếp nhau và không trùng lặp về thời gian Ở mỗi hoàn cảnh không gian và thời gian khác nhau con người sẽ có những vai trò xã hội khác nhau
Không thể liệt kê số lượng vai trò của mỗi cá nhân, bởi lẽ cá nhân có bao nhiêu mối quan hệ là có bấy nhiêu vai trò
Trang 28Vai trò xã hội phát sinh theo nhu cầu của cá nhân Theo George Herbert Mead, người đứng đầu học thuyết Tương tác biểu trưng trong xã hội học, sự tăng thêm các vai trò xã hội trong một cá thể là bởi con người “một mặt thừa nhận tính mong manh và hạn chế của bản thân khiến họ phải tìm kiếm những quan hệ với người khác để có thể sống còn Mặt khác là xu hướng đi tìm và lựa chọn những kiểu hành động có lợi cho sự hợp tác, giao dịch xã hội” [23]
Vai trò xã hội được thể hiện ở nhiều mặt: Vai trò thật là vai trò diễn ra trong đời sống hàng ngày, ngược lại là các vai trò giả thường xuất hiện trong các mối quan hệ ngoại giao Vai trò định chế là vai trò của một cá nhân do một tổ chức qui định Ngoài ra là các vai trò do cá nhân tự chọn
Với đề tài này, ta có thể đặt NCT trong tổng thể các mối quan hệ xã hội, quan hệ với con cái, quan hệ với cháu chắt , quan hệ với chính quyền địa phương và các tổ chức pháp luật Mỗi một mối quan hệ đặt các em trong một vai trò : Với con cái NCT là tấm gương, là người truyền kinh nghiệm sống cho con cháu, với chính quyền địa phương và các tổ chức pháp luật thì NCT
có vai trò làm theo đúng những gì pháp luật quy định và phát huy vài trò của mình
1.2.4 Lý thuyết sự chọn lựa hợp lý của Coleman, Friedman và Hechter
Lý thuyết này dù có ảnh hưởng tới sự phát triển của lý thuyết trao đổi, nhưng thuyết chọn lựa hợp lý nói chung vẫn nằm ngoài lề dòng lý thuyết
xã hội học chủ đạo Tuy nhiên, với nỗ lực của Coleman mà thuyết chọn lựa hợp lý đã trở nên một trong các lý thuyết nóng của xã hội học đương thời Các nguyên tắc cơ bản của lý thuyết chọn lựa hợp lý phát sinh từ kinh tế học cổ điển Trong những năm 1950, nhà kinh tế học người Mỹ đạt giải Nobel về kinh tế học, Herbert Simon, kết hợp với đồng sự có tên là James
Trang 29March, đã đưa ra lí thuyết duy lí hạn chế (theory of limited rationality) Dựa vào một loạt các kiểu mẫu khác nhau, Friedman và Hechter đã xếp chung cái
mà họ diễn tả như là một “bộ xương” của lý thuyết thường được dịch ra tiếng Việt là lí thuyết lựa chọn hợp lí Cũng có thể hiểu nó theo cách lí thuyết lựa chọn duy lí Vậy lí thuyết lựa chọn hợp lí được đơn giản như thế nào? Có ba ý
cơ bản:
- Mọi hành vi và hành động của chủ thể đều có toan tính;
- Mọi sự toan tính hành vi hay toan tính hành động không bao giờ đạt được tối ưu vì nguồn lực và nguồn thông tin không bao giờ đầy đủ
- Chủ thể tự thoả mãn với việc lựa chọn giải pháp mang lại giá trị theo
đó chủ thể cho rằng, lượng giá trị có được từ hành vi hay hành động ấy tương đương với thông tin, nguồn lực và bối cảnh của mình
Như vậy, tiêu điểm của thuyết chọn lựa hợp lý là các chủ thể Các chủ thể được xem là có các mục đích hay mục tiêu về cái mà hành động họ hướng tới Ở điểm này, nó không khác nhiều với hành động duy lí – công cụ của Max Weber định nghĩa Nhưng điểm khác biệt chính là trong lí thuyết hành động của Max Weber, tác giả cho rằng, hành động duy lí ấy đạt tính “tối đa” hay “tối ưu” trong toan tính quan hệ phương tiện - mục đích Các chủ thể được xem là có các sở thích (như các giá trị, các tiện ích) Thuyết chọn lựa hợp lý không quan tâm đến tính chất các sở thích này hay các nguồn của chúng Cái quan trọng là hành động được thực hiện để đạt được các đối tượng phù hợp với hệ thống sở thích và điều kiện bất ngờ mà chủ thể gặp phải
Các chủ thể khi hành động phải đối diện với hai sự kìm hãm Đầu tiên, đó là sự khan hiếm hay sự “không hoàn nguyên” của các tiềm năng và nguồn Các chủ thể có các tiềm năng khác nhau cũng như các cách thâm nhập khác nhau vào các tiềm năng khác Đối với những người có nhiều tiềm năng, thành quả cuối cùng có thể tương đối dễ Tuy nhiên, đối với những người có ít
Trang 30tiềm năng, sự đạt được mục đích có thể khó khăn hơn hoặc là bất khả thi Trong việc theo đuổi một mục đích đưa ra, các chủ thể phải để mắt tới cái giá của hành động lôi cuốn nhất kế tiếp của họ Một chủ thể có thể chọn cách không theo đuổi mục đích có giá trị cao nhất nếu tiềm năng của họ không đáng kể Nếu kết quả là các cơ may để đạt được mục đích đó quá mỏng manh
và nếu trong việc cố gắng để đạt tới mục đích đó, họ hủy hoại các cơ may đạt được mục đích giá trị nhất kế tiếp của mình Các chủ thể được xem là cố gắng tối đa hóa các điều lợi của họ và mục tiêu đó có thể bao gồm việc đánh giá mối quan hệ giữa các cơ may đạt được một mục đích ban đầu, và điều mà thành tựu đó thực hiện đối với các cơ may để đạt được đối tượng giá trị nhất thứ hai
Một nguồn kìm hãm thứ hai đối với hành động của cá thể là các thể chế xã hội Như Friedman và Hechter xác định, một cá thể hành động một cách khuôn sáo, tìm ra các hành động của anh ta được kiểm lại từ đầu đến cuối bởi các nguyên tắc gia đình và trường học; các luật lệ và các mệnh lệnh; các chính sách cứng rắn… Bằng cách hạn chế tập hợp các hành động có sẵn cho các cá thể, các luật chơi có tính cưỡng ép, bao gồm các tiêu chí, các quy luật, các lịch trình, các nguyên tắc bầu chọn - ảnh hưởng một cách có hệ thống tới kết quả xã hội
Friedman và Hechter liệt kê hai ý tưởng khác mà họ coi là cơ sở cho thuyết chọn lựa hợp lý Đầu tiên là một tập hợp cơ cấu hay quá trình qua đó, các hành vi cá thể riêng biệt được kết hợp để tạo ra kết quả xã hội Thứ hai là nhận thức đang lớn dần về tầm quan trọng của thông tin trong việc thực hiện các chọn lựa hợp lý Trên tinh thần của lý thuyết này, khi tìm hiểu về vai trò của NCT đối với hoạt động trợ giúp con cháu trong gia đình, đề tài xem xét đến những nhận thức của NCT về hoạt động trợ giúp con cháu của họ và sự
Trang 31tối đa hóa lợi ích của họ để dẫn đến quyết định dành thời gian của họ khi về già tham gia trợ giúp hay không tham gia trợ giúp con cháu hay không?
1.3 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
1.3.1 Vài nét về địa bàn TP Thanh Hóa
1.3.1.1 Tình hình kinh tế - chính trị - xã hội – an ninh – quốc phòng của TP Thanh Hóa
TP Thanh Hoá là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật của tỉnh Thanh Hoá Toạ lạc trên vùng đất cổ của nền văn hoá Đông Sơn, thành phố Thanh Hóa là vùng đất thiên thời, địa lợi, nhân hoà, ẩn chứa trong lòng nhiều tầng văn hoá Thành phố Thanh Hoá có diện tích tự nhiên gần 60km2 với hơn 220.000 người cư trú tại 14 đơn vị hành chính phường và 23
xã Phường gồm có: An Hoạch, Ba Đình, Điện Biên, Đông Thọ, Đông Sơn, Đông Vệ, Hàm Rồng, Lam Sơn, Nam Ngạn, Ngọc Trạo, Phú Sơn, Tào Xuyên, Tân Sơn, Trường Thi.Các xã gồm có: Đông Cương, Đông Hải, Đông Hưng, Đông Hương, Đông Lĩnh, Đông Tân, Đông Vinh, Hoằng Anh, Hoằng Đại, Hoằng Long, Hoằng Lý, Hoằng Quang, Quảng Cát, Quảng Đông, Quảng Hưng, Quảng Phú, Quảng Tâm, Quảng Thành, Quảng Thắng, Quảng Thịnh, Thiệu Dương, Thiệu Khánh, Thiệu Vân
Định hướng quy hoạch mở rộng không gian hành chính thành phố đến năm 2025 có diện tích trên 260km2, dân số trên 500.000 người; mục tiêu phấn đấu đến năm 2015 đạt đô thị loại 1
Nằm trên trục giao thông chính xuyên Bắc - Nam, cách Thủ đô Hà Nội 155km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 1.600km về phía Nam, cách biên giới Việt Lào 135km về phía Tây, cách bãi biển Sầm Sơn 16km về phía Đông.Thành phố Thanh Hoá là điểm giao thoa có ảnh hưởng và đóng vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội tới vùng Bắc Trung bộ, Nam Bắc bộ và tới nước bạn Lào
Trang 32Kết cấu hạ tầng đô thị, Bưu chính viễn thông, giao thông, điện, cấp nước tương đối đồng bộ đáp ứng yêu cầu phát triển của đô thị và đầu tư
Các khu di tích - danh thắng với 50 di tích cấp quốc gia và cấp tỉnh đang được quy hoạch, tôn tạo và phát huy giá trị; nguồn nhân lực dồi dào, có kiến thức văn hoá và trình độ chuyên môn cao, thành phố Thanh Hoá có thể phát triển một nền kinh tế phong phú, đa dạng trong điều kiện hội nhập quốc tế Trong những năm qua, mức tăng trưởng kinh tế của thành phố không ngừng phát triển theo hướng tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ và công nghiệp Năm 2012, Tốc độ tăng trưởng kinh tế ước đạt 14% (năm 2011 13,6%), trong đó: Dịch vụ tăng 16,3%; công nghiệp, xây dựng tăng 15,2%, nông lâm thủy sản tăng 3,7% Cơ cấu các ngành chuyển dịch đúng hướng: Dịch vụ 46,4%; Công nghiệp, xây dựng 46%, Nông lâm thủy sản 7,6% GDP bình quân đầu người ước đạt 3282 USD, tăng 19% so với cùng kỳ
1.3.1.2 Về người cao tuổi TP Thanh Hóa
Người cao tuổi TP Thanh Hóa là một trong những nơi đi đầu trong việc hưởng ứng phong trào “Nêu gương sáng” xây dựng đời sống văn hóa khu dân
cư, và triển khai Kế hoạch số 298/KH-UBND của UBND TP Thanh Hóa về xây dựng “Đô thị văn minh - Công dân thân thiện”, trong những năm qua, Hội NCT TP Thanh Hóa đã huy động được sự đoàn kết của nhân dân làm cho diện mạo của thành phố thay đổi khang trang, sạch đẹp hơn, đời sống văn hóa tinh thần của người dân nâng lên, ý thức trách nhiệm cộng đồng được phát huy, tai nạn giao thông giảm, an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội được đảm bảo
Về công tác quản lý và phát triển hội viên
Tổng số hội cơ sở 37 đơn vị, chi hội 431 đơn vị
Tổng số ủy viên BCH, Hội NCT thành phố 46 người, Hội cơ sở 508 người
Tổng số hội viên mới kết nạp 2328 hội viên
Trang 33Tổng số hội viên 34650/38761 người, chiếm 89% tổng số NCT
Hội phí thu theo mức quy định 2.000đ/hội viên/tháng
Về công tác chăm sóc phụng dưỡng NCT
Hội đã phối hợp với các cơ quan, tổ chức, đoàn thể có liên quan để tiến hành công tác chúc thọ, mừng thọ cho các thành viên hội NCT Tổ chức khám sức khỏe 02 lần, số người được khám 25.851 người, kinh phí cho khám chữa bệnh là 315 triệu đồng
Về công tác phát huy vai trò của NCT
Tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền vững mạnh Hiện nay,
số cán bộ là NCT tham gia công tác Đảng, chính quyền, đoàn thể, khuyến học, tổ hòa giải, tổ an ninh, cán bộ chủ chốt ở địa phương, khu dân cư như: bí thư chi bộ, khối trưởng, thôn trưởng, ban cán sự khối phố 2937 người
Tham gia tích cực các phong trào do ủy ban MTTQ phát động Nổi bật là phong trào “ông bà, cha mẹ, mẫu mực, con cháu hiếu thảo” đã được đông đảo cán bộ, hội viên NCT tham gia, có nhiều hoạt động tích cực ở từng gia đình, từng thế hệ, tạo ra nếp sống văn hóa trên địa bàn dân cư Hội NCT đã phối hợp với MTTQ thành phố tổ chức thành công hội nghị biểu dương phong trào xây dựng “gia đình ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo” giai đoạn 2007-2012, phong trào đã có 32.850 gia đình đạt danh hiệu thi đua cấp thành phố, 239 gia đình tiêu biểu được đề nghị cấp giấy chứng nhận
1.3.2 Vài nét về địa bàn phường Tân Sơn
1.3.2.1 Tình hình kinh tế - chính trị - văn hóa – xã hội – an ninh – quốc phòng
Phường Tân Sơn có diện tích 0,78 km², dân số năm 2002 là 11114 người, mật độ đạt 14249 người/km² Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 20% Thu nhập bình quân đầu người 35.000.000 đ/người/năm Cơ cấu kinh tế phát triển đúng định hướng, theo tỷ trọng thương mại dịch vụ 82%, tiểu thủ công nghiệp
Trang 3418% Số doanh nghiệp đang hoạt động là 145 doanh nghiệp và 1095 hộ kinh doanh cá thể
1.3.2.2 Về người cao tuổi phường Tân Sơn
Hội NCT phường Tân Sơn đã đạt được những thành tích trong công tác
tổ chức, phát triển hội viên trong hoạt động xã hội cũng như quan tâm tới đời sống tinh thần và quyền lợi của hội viên
Với 1110 hội viên và 13 chi hội hoạt động đều Năm 2012 có 100 cụ tham gia vào tổ chức hội Một số chi hội vươn lên từ khó khăn về đời sống như chi hội Bắc Thành, Lam Sơn 2, Phan Huy Chú
Hội NCT TP Thanh Hóa thực hiện chỉ thị 27 của Bộ chính trị về việc cưới hỏi, việc tang, lễ hội xây dựng nếp sống văn hóa văn minh đô thị tại các khu dân cư Chỉ thị số 04 của ban thường vụ Thành ủy được lớp NCT hưởng ứng và vận động con cháu ngay từ những gia đình, mỗi nhóm liên gia Chính
vì vậy, đã góp phần thắng lợi đáng kể trong việc thực hiện nhiệm vụ của địa phương
Về hoạt động văn hóa thể thao: NCT thực hiện sống vui, sống khỏe, sống có ích cho gia đình và xã hội
Đầu năm 2012, Hội NCT phường Tân Sơn tham dự thi Thái cực quyền
và Thức vũ kinh do TP Thanh Hóa tổ chức với 68 vận động viên tham gia đạt
02 giải (giải nhì về Thái cực quyền và giải tư về Thức vũ kinh) Tính đến nay,
đã có trên 100 vận động viên trên 2 sân tập Tuy tuổi cao nhưng nhiều vận động viên vẫn tham gia luyện tập và thi đấu các môn cầu lông, bóng bàn, cờ tướng
Hội NCT đã thành lập 4 câu lạc bộ, trồng cây thuốc nam 38m2, trồng cây đầu xuân 540 cây, may mới 34 bộ quần áo dưỡng sinh, 543 cụ thường xuyên luyện tập thể thao, 243 cụ được tư vấn sức khỏe
Trang 351.3.3 Vài nét về địa bàn xã Đông Lĩnh
1.3.3.1 Tình hình kinh tế - chính trị - văn hóa – xã hội – an ninh – quốc phòng
Xã Đông Lĩnh có diện tích: 8,83 km².Theo Tổng điều tra dân số năm
1999, xã Đông Lĩnh có dân số 9.026 người
Xã Đông Lĩnh gồm các làng, xóm: Sơn Viện (xã Sơn Viện cũ), Vĩnh Ngọc, Bản Nguyên, Vân Nhưng, xóm Lợi, xóm Thắng, xóm Quyết, Mân Trung (giáp Mân Trung thuộc xã Đồng Hương cũ), Thọ Khang, xóm Quý, xóm Phú, xóm Nguyên, xóm Hạnh, xóm Tân, xóm Tiến, Tân Lương, Hồ Thôn Các làng, xóm nêu trên thuộc 7 thôn sau đây: Trường Sơn, Vĩnh Ngọc, Bản Nguyên, Vân Nhưng, Mân Trung, Tân Lương, Hồ Thôn Tháng 2 năm
2012, xã Đông Lĩnh được chuyển từ huyện Đông Sơn về thành phố Thanh Hoá Là một trong 4 xã mới nhất được chuyển về TP Thanh Hóa
.Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2012 đạt 15.5%, tăng 1% so với năm
2011 Trong đó, nông lâm thủy sản 4%, công nghiệp xây dựng 21%, dịch vụ thương mại 21,5% Cơ cấu kinh tế: Nông lâm thủy sản 37%, công nghiệp xây dựng 34,5%, thương mại dịch vụ 28,5% Thu nhập bình quân đầu người đạt
16 triệu đồng/ người/năm tăng 1,5 triệu đồng/người/năm so với năm 2011
Thực hiện tốt các chính sách an ninh xã hội, thúc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tư vấn xuất khẩu lao động, thực hiện kịp thời chế độ chính sách đối với người có công Công tác dạy học ở nhà trường tốt, đẩy mạnh công tác
xã hội hóa giáo dục Thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh, chiến dịch chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình cũng như chính sách hậu phương, quân đội, đền ơn đáp nghĩa, đảm bảo công tác an sinh xã hội
1.3.3.2 Vài nét về người cao tuổi xã Đông Lĩnh
Số hội viên NCT nhiều hơn so với các đoàn thể chính trị xã hội khác Tổng số chi hội là 19, số hội viên là 1475 cụ chiếm 98,3% số người cao tuổi
Trang 36Số hội viên chưa vào hội là hơn 60 cụ.Đời sống vật chất tinh thần của NCT không đồng đều, nhiều cụ còn khó khăn về đời sống do con cháu đi làm ăn xa, các cụ phải chăm lo đời sống gia đình cho con cháu nên thời gian nghỉ ngơi ít
Về công tác chăm sóc phụng dưỡng NCT
Năm 2012 đã tiến hành mừng thọ, chúc thọ 163 cụ Tổ chức khám sức khỏe 04 lần, số người được khám 1465 người
Về công tác phát huy vai trò của NCT
Phát động phong trào thi đua tuổi cao gương sáng NCT chung tay xây dựng nông thôn mới ở 15 chi hội và được toàn xã hướng ứng tích cực.Hội viên NCT đã vận động con cháu, gia đình dòng họ cùng tham gia Có thể kể đến những NCT đã hiến đất làm đường giao thông nông thôn hay tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế xóa đói giảm nghèo như dịch vụ buôn bán, chăn nuôi kết hợp với vườn hoa cây cảnh Phong trào trồng cây hàng năm, phát động tết trồng cây Ngoài ra NCT còn tích cực tham gia phong trào như xây dựng làng văn hóa quyên góp ủng hộ ngày vì người nghèo, phục vụ lễ hội hàng năm của làng văn hóa
Trang 37Chương 2: THỰC TRẠNG TRỢ GIÚP CON TRONG GIA ĐÌNH Ở
THÀNH PHỐ THANH HÓA CỦA NGƯỜI CAO TUỔI
2.1 Nhận thức của NCT về hoạt động trợ giúp con trong gia đình
Theo từ điển Tiếng Việt: “Nhận thức là quá trình hay kết quả phản ánh
và tái hiện hiện thực vào tư duy, quá trình con người nhận biết thế giới khách quan trên kết quả nghiên cứu đó Tức là nhận thức là nhận ra, biết được và hiểu được” Nhận thức là một quá trình, ở con người quá trình này thường gắn với mục đích nhất định nên nhận thức của con người là hoạt động Đặc trưng nổi bật của hoạt động nhận thức là phản ảnh hiện thức khách quan Vì thế trong xã hội, nhận thức là những hiểu biết mà mỗi cá nhân lĩnh hội được trong quá trình tương tác với những cá nhân khác trong xã hội Hiểu theo một cách khác, nhận thức là quan điểm, cách nhìn nhận, đánh giá của một cá nhân, một nhóm xã hội về một đối tượng hay vấn đề nào đó Mỗi NCT tùy theo đặc điểm gia đình, hiện trạng sống, trình độ học vấn, tuổi, giới tính….sẽ có nhận thức khác nhau về vai trò và vị trí của chính họ Người cao tuổi có một vai trò
vị trí quan trọng trong gia đình Mỗi một người cao tuổi trước khi về già đều trải qua nhiều công việc trong xã hội và gia đình Người cao tuổi là nam giới thường đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động kinh tế gia đình Người cao tuổi
là nữ thường quán xuyến việc gia đình, dạy dỗ con cái, chi tiêu gia đình Mỗi người đều nỗ lực đều nỗ lực đảm nhiệm vị trí, vai trò của mình một cách toàn tâm toàn ý Mặc dù sức yếu nhưng vẫn cố gắng tham gia các sinh hoạt của hội NCT, hoạt động xã hội, chăm sóc con cháu NCT mong rằng những việc mình làm mang lại niềm vui cho người khác Đó chính là ý nghĩa và giá trị cuộc sống của NCT
Từ đó, NCT sẽ có những lựa chọn nhất định có tham gia trợ giúp con cái trong gia đình hay không Vậy nhận thức của NCT về hoạt động trợ giúp con cái trong gia đình như thế nào?
Trang 38Kết quả của cuộc nghiên cứu vừa qua cho thấy, phần lớn NCT đều có nhận thức đúng đắn và tích cực về vai trò của họ đối với hoạt động trợ giúp con trong gia đình
“Vì là bà, là mẹ nên tạo điều kiện cho con cháu làm ăn, nên mình buộc phải giúp con cháu, tạo điều kiện cho con cái làm ăn Đáng lẽ chăm sóc cháu thì bố mẹ nó phải làm, nhưng mà mình giúp con cái là bằng cách chăm sóc con và cháu Vì thương con, thương cháu nên mình làm những việc như trông nom, chăm sóc con cháu, đưa đón cháu đi học, cơm nước giúp chúng nó thôi Mình làm những việc này thì chúng nó có thời gian xây dựng kinh tế, cháu chắt học giỏi, mạnh khỏe là vui lắm rồi, nên tính ra cái đó mình phải làm mới được…”
sự khôn ngoan và những kinh nghiệm từng trải của mình, còn các cháu tạo cho ông bà cảm giác dễ chịu với nhiều sinh lực, sự vui tươi của tuổi trẻ, khiến ông bà cũng thấy tươi trẻ trong lòng Đôi bên góp phần cùng nhau tạo ra một dây xích nối liền quá khứ với tương lai
Ông bà là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, là những người giữ gìn những di huấn thiêng liêng của các bậc tiền bối Họ là những người truyền thụ, bổ sung cho thế hệ trẻ nền văn hóa gia đình, dòng tộc Có thể nói, các cháu coi ông bà là mẫu người để noi gương là người thầy truyền lại cho con cháu những kinh nghiệm, kiến thức thu lượm trong cuộc đời Ông bà là nơi an
Trang 39toàn để cháu nương tựa khi cần Bên cạnh đó, ông bà cũng là cầu nối trung gian hòa giải khi các cháu có những khác biệt với cha mẹ
Bảng 2.1 : Sự tham gia trợ giúp công việc của người cao tuổi
(Đơn vị:%)
(Nguồn: Kết quả xử lý từ phiếu điều tra)
Mặc dù tuổi già, sức yếu nhưng lao động ở trong gia đình, người cao tuổi vẫn có tâm lý tham công tiếc việc muốn đỡ đần con cháu những việc thường ngày Không ít người cao tuổi thấy con cái bận rộn công việc đã chủ cộng giúp đỡ một số công việc cho con cháu Và cũng không ít người cao tuổi thấy đời sống con cái khó khăn vẫn tìm thêm việc làm vừa sức với mình để trợ giúp bản thân và con cái Vốn thương con, thương cháu, không muốn ăn không ngồi rồi, tự giác lao động giúp con cái nên các cụ làm việc cẩn thận, chu đáo đến nơi đến chốn Bởi lẽ vậy, không ngạc nhiên khi 200 người cao tuổi được hỏi có đến 99% người cao tuổi trả lời rằng tham gia trợ giúp con cháu và chỉ có 1% trả lời là không trợ giúp
“Tôi thấy, những người già như chúng tôi, trừ những ai bị bệnh hiểm nghèo phải nằm một chỗ, còn nếu có sức khỏe thì làm được gì chúng tôi cũng làm Nhưng giờ già yếu rồi nên làm những việc vặt trong nhà thôi Nếu ở nhà
mà không làm gì cả thì cũng chán, đi vào đi ra, đi chợ, cơm nước…đi ra ngoài cho vui vẻ nữa Giúp chúng nó, cũng là giúp mình Coi như là tự tập thể dục”
(PVS 5, Nữ, xã Đông Lĩnh)
“Bây giờ già rồi nên khỏe thì làm, yếu thì thôi, ai cũng vậy cả Không
có mình thì các con cũng phải tự làm nhưng vất vả, làm gì thì làm, các con có
Trang 40bắt buộc đâu, thích thì làm giúp các con Chúng nó còn nhiều khi không cho làm, bảo là chỉ cần ông, bà khỏe là tốt rồi”
(PVS 9, Nam, phường Tân Sơn)
Nhìn chung, qua khảo sát về người cao tuổi tại TP Thanh Hóa cho thấy, mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau song khi được hỏi về sự trợ giúp con cái thì họ đều nhận thức đúng đắn và tích cực về vấn đề này Ở hầu hết các phỏng vấn sâu không phân biệt độ tuổi, giới tính, nơi cư trú NCT đều cho rằng xuất phát từ mong muốn của bản thân người cao tuổi, tinh thần tự nguyện muốn giúp đỡ con cháu để con cháu có thời gian làm việc, chăm lo học hành nên NCT trợ giúp con Thêm nữa, tâm lý “ sống vui, sống khỏe, sống có ích” cũng là một trong những suy nghĩ của mà NCT tham gia trợ giúp con trong gia đình
Điều này hoàn toàn đúng với thuyết lựa chọn hợp lý, khi NCT lựa chọn công việc trợ giúp con cháu trong gia đình thay vì dành toàn bộ thời gian cho bản thân
2.2.Hoạt động trợ giúp con của người cao tuổi
2.2.1 Hoạt động trợ giúp trực tiếp
Chính những nhận thức đúng đắn và tích cực của NCT về hoạt động trợ giúp con cái trong gia đình sẽ là một con đường, kim chỉ nam hướng sự tiếp cận của họ tới hoạt động này Không chỉ là nhận thức đúng đắn hướng đến hành động chuẩn mực mà nhận thức cũng chính là lát cắt để NCT để hiện thái
độ, quan điểm của họ đối với hoạt động trợ giúp con cháu và ngược lại
Nói đến vai trò của người cao tuổi, không chỉ là vị trí công tác của họ đảm nhiệm trong xã hội mà còn là vai trò của họ trong gia đình, trong xử lý công việc nhà, trong cuộc sống gia đình Mỗi một người có một vai trò nhất định Những người tuổi cao, nhưng sức khỏe tốt vẫn tham gia giúp đỡ con cháu trong gia đình như chăm sóc con cháu, đưa đón, dạy bảo con cháu học