1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Địa vị pháp lý của người bào chữa trong tố tụng hình sự

17 403 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 141,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tất cả các trường hợp tham gia tố tụng: theo lời mời của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án hoặc người đại điện hợp pháp của những người này hay theo chỉ định của cơ

Trang 1

MỤC LỤC

1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG TTHS

1.1 Khái niệm người bào chữa

1.2 Phân loại người bào chữa

1.3 Vai trò của người bào chữa trong TTHS

2 ĐỊA VỊ PHÁP LÍ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

2.1 Quyền của người bào chữa

2.2 Nghĩa vụ của người bào chữa

3 Ý NGHĨA CHẾ ĐỊNH ĐỊNH VỊ PHÁP LÍ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA

3.1 Ý nghĩa pháp lí

3.2 Ý nghĩa chính trị xã hội

4 THỰC TIỄN THỰC HIỆN QUY ĐỊNH VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO ĐỊA

VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA

4.1 Thực tiễn thực hiện những quy định về địa vị pháp lý của người bào chữa

4.2 Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc

4.3 Kiến nghị nhằm nâng cao địa vị pháp lý của người bào chữa

Trang 2

Quyền bào chữa có thể coi như là quyền đối trọng với quyền buộc tội của Nhà nước BLTTHS đang đứng trước yêu cầu phải sửa đổi, bổ sung, nhất là những quy định

về người bào chữa trong tố tụng hình sự (TTHS) Việc xác định đúng đắn quyền, nghĩa

vụ của người bào chữa trong TTHS sẽ góp phần rất quan trọng đối với hiệu quả hoạt động TTHS và công cuộc cải cách tư pháp nói chung Khi người bào chữa đã tham gia vào TTHS thì pháp luật phải quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của họ; những quy định này sẽ tạo thành địa vị pháp lí của người bào chữa trong TTHS Việc người bào chữa tham gia vào các giai đoạn TTHS đã ít nhiều làm cho các cơ quan tiến hành tố tụng tìm ra sự thật khách quan của vụ án, góp phần khắc phục tình trạng oan, sai đem lại một nền tư pháp công bằng, dân chủ, văn minh Để hiểu hơn về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa, em xin chọn đề tài “Địa vị pháp lý của người bào chữa trong tố tụng hình sự”.

1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG TTHS

1.2 Khái niệm người bào chữa

Quyền bào chữa hình thành từ rất sớm, không ngừng hoàn thiện, phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong TTHS Quyền bào chữa bao gồm quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Chúng song song tồn tại, không loại trừ nhau Mặc dù quan niệm về người bào chữa ở những nước trên thế giới có những điểm khác biệt nhưng nó đều có chung những đặc điểm nổi bật như: người bào chữa là người có kiến thức pháp luật, được bị can, bị cáo hoặc người được pháp luật cho phép mời để tiến hành hoạt động bào chữa Hoạt động bào chữa nhằm mục đích bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, người bị tình nghi, của bị can, bị cáo Hiện nay, ở nước ta vẫn chưa có được một định nghĩa thống nhất về người bào chữa, nhưng theo các quy định của pháp luật thì người bào chữa là người được

bị can bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ lựa chọn

Khi tham gia vào TTHS, người bào chữa là người đại diện cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ Việc người bào chữa đại diện cho bị can,

bị cáo không làm mất đi quyền tự bào chữa của bị can, bị cáo Trong tất cả các trường hợp tham gia tố tụng: theo lời mời của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án (hoặc người đại điện hợp pháp của những người này) hay theo chỉ định của cơ quan tiến hành tố tụng thì người bào chữa đều hoạt động trên cơ sở có sự đồng ý của những người có quyền bào chữa mà họ đại diện, người bào chữa có thẻ bị thay hoặc từ chối bởi chủ thể của quyền

Trang 3

bào chữa nếu họ không hài lòng hoặc không đồng ý với người bào chữa đó Như

vậy“Người bào chữa là người được cơ quan tiến hành tố tụng chứng nhận, tham gia tố tụng với mục đích làm sáng tỏ những tình tiết liên quan đến sự thật của vụ án nhằm chứng minh về sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

và giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ”.

1.2 Phân loại người bào chữa

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 BLTTHS 2003, người bào chữa có thể là luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân

Luật sư là người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật tham gia tố

tụng theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức nhằm bảo về quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân,

tổ chức đó theo quy định của pháp luật Hoạt động bào chữa của luật sư có tính chất chuyên nghiệp Để được công nhận là một luật sư thì cá nhân phải đáp ứng các điều kiện (Điều 10 và Điều 11 luật Luật sư năm 2006) Luật sư được lựa chọn hình thức để hành nghề theo một trong hai hình thức là hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách cá nhân (Điều 23 luật Luật sư năm 2006) Luật sư tham gia bào chữa trong trường hợp sau: Theo hợp đồng dịch vụ pháp lí; Theo yêu cầu của CQTHTT

Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là bố mẹ đẻ, bố mẹ

nuôi, người đỡ đầu, anh, chị em ruột và những người theo quy định của pháp luật đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không bào chữa cho bị cáo thì họ cũng có những quyền như người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, họ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hợp pháp, nếu họ tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa thì họ có quyền và nghĩa vụ như đối với người bào chữa Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhất thiết phải là người đã thành niên; không bị tâm thần; có quốc tịch Việt Nam và cư trú tại Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người có quốc tịch nước ngoài, người không có quốc tịch hoặc người Việt Nam ở nước ngoài Bào chữa viên nhân dân tham gia

tố tụng trong 2 trường hợp: Theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng ( khoản 2 điều 57) Ủy ban mặt trận tổ quốc VN , tổ chức thành viên của mặt trận tự cử bào chữa viên nhân dân tham gia TTHS ( khoản 3 điều 57)

Bào chữa viên nhân dân: là người được tổ chức, đoàn thể xã hội cử ra để bào chữa

cho bị cáo Hiện nay chưa có quy định cụ thể về bào chữa viên nhân dân và trong thực tế hoạt động của bào chữa viên nhân dân cũng không được tổ chức thành một hệ thống Theo

Trang 4

khoản 3 Điều 57 của BLTTHS năm 2003 thì: " Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền cử bào chữa viên nhân dân để bào chữa cho người

bị tạm giữ, bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức mình " Bào chữa viên nhân dân tham

gia tố tụng để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong 2 trường hợp sau: Theo yêu cầu của cơ quan tiến hành TTHS ( khoản 2 Điều 57 BLTTHS năm 2003 ) Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của mặt trận tự cử bào chữa viên nhân dân tham gia TTHS (khoản 3 Điều 57 BLTTHS năm 2003)

1.3 Vai trò của người bào chữa trong TTHS

Giải quyết vụ án một cách khách quan bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; tăng cường tính dân chủ trong hoạt động tư pháp; đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa, mặt khác góp phần loại bỏ được phần nào sự chuyên quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng, giúp họ nhìn thấy những khuyết điểm, thiếu sót nếu có, hiệu quả công việc bào chữa ngày càng cao từ đó mà lấy được lòng tin, sự tôn trọng từ người dân nói chung và từ các cơ quan

tố tụng nói chung

Người bào chữa, qua công việc bào chữa của mình, giúp cho các cơ quan tiến hành

tố tụng, người dân hiểu được bản chất của sự việc, hành vi phạm tội như động cơ, mục đích, nguyên nhân xảy ra tội phạm Qua đó giúp các cơ quan tiến hành điều tra ra được một bản án công minh, chính xác Với ý nghĩa xã hội như vậy, địa vị pháp lí của người bào chữa trong TTHS ngày càng được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Điều đó thể hiện tính dân chủ, khách quan của Nhà nước ta trong hoạt động TTHS, cũng như tính văn minh, nhân đạo của pháp luật TTHS

2 ĐỊA VỊ PHÁP LÍ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

2.1 Quyền của người bào chữa

Hiện nay, trong pháp luật TTHS chưa có một khái niệm về địa vị pháp lý của người bào chữa Ta có thể hiểu nôm na địa vị pháp lý của người bào chữa là tổng thể các quy định của pháp luật TTHS quy định cho người bào chữa có cá quyền và nghĩa vụ khi tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, tìm ra

sự thật vụ án Người bào chữa là người tham gia tố tụng, thực hiện chức năng bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Để đảm bảo cho người bào chữa được thực hiện chức năng của mình BLTTHS năm 2003 quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ của người bào chữa Tất cả các quyền và nghĩa vụ đó tạo thành địa vị pháp lý của người bào chữa trong TTHS BLTTHS năm 2003 quy định người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can Trong trường hợp bắt người theo quy định tại Điều 81, 82 của BLTTHS năm 2003 thì

Trang 5

người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ Trong trường hợp cần giữ bị mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia, thì viện trưởng viện kiểm sát quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra Theo đó, người bào chữa

có thể tham gia tố tụng vào 1 trong 3 thời điểm sau: Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ, trong trường hợp người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã (Điều 81 BLTTHS năm 2003), bắt người trong trường hợp khẩn cấp (Điều 82 BLTTHS năm 2003) Người bào chữa tham gia tố tụng khi kết thúc điều tra trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia theo quyết định của viện trưởng viện kiếm sát

BLTTHS năm 2003 dành 2 khoản tại điều 58 để quy định về quyền của người bào chữa trong TTHS Khi tham gia TTHS người bào chữa có những quyền sau:

Thứ nhất, Người bào chữa có quyền có mặt khi lấy lấy khai của người bị tạm giữ,

khi hỏi cung bị can và nếu điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác và có quyền xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa Quy định này nhằm tạo điều kiện cho người bào chữa thực hiện đúng chức năng của mình là làm sáng tỏ những tình tiết gỡ tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can, bị cáo; góp phần đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội Việc người bào chữa được có quyền có mặt trong các hoạt động điều tra có ý nghĩa vô cùng quan trọng Khi có mặt người bào chữa, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo sẽ ổn định về mặt tâm lí hơn, đồng thời những người tiến hành các hoạt động điều tra thận trọng, tuân thủ pháp luật hơn Người bào chữa theo dõi được quá trình điều tra và tình hình chứng cứ điều

đó có ý nghĩa rất quan trọng trong việc chuẩn bị lời bào chữa và tham gia tranh tụng của họ sau này tại phiên tòa Người bào chữa còn có quyền hỏi người bị tạm giữ, bị can khi điều tra viên đồng ý để làm sáng tỏ những tình tiết có lợi cho người bị tạm giữ, bị can Khi tham gia các hoạt động điều tra, xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình

và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa, nếu phát hiện những vi phạm pháp luật, người bào chữa có quyền khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền Như vậy,

có thể thấy, sự tham gia của người bào chữa góp phần nâng cao chất lượng điều tra, xét xử, đảm bảo công bằng và dân chủ trong pháp luật TTHS Việt Nam BLTTHS năm 2003 quy định cho người bào chữa quyền này là hoàn toàn hợp lý

Thứ hai, Đề nghị Cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị

can để có mặt khi hỏi cung bị can

Trang 6

Đây là quyền mới quy định cho người bào chữa được ghi nhận trong BLTTHS năm 2003 Quy định này thể hiện tính minh bạch, dân chủ trong hoạt động của CQĐT Quyền này sẽ tạo cho người bào chữa sự chủ động bố trí, sắp xếp công việc để tham gia vào các buổi hỏi cung, tạo đều kiện thuận lợi cho người bào chữa có thêm cơ hội thu thập chứng cứ đồng thời cũng theo dõi quá trình hỏi cung bị can xem có mớm cung, bức cung không, có sự vi phạm các thủ tục tố tụng không Việc người bào chữa có mặt khi hỏi cung bị can phải có

sự chủ động từ cả hai phía Khi có đề nghị của người bào chữa thì CQĐT sắp xếp để họ tham gia vào buổi hỏi cung, như vậy vừa đảm bảo quyền của người bào chữa vừa không gây trở ngại cho công tác điều tra

Thứ ba, Theo điều 43 và điểm c khoản 2 Điều 58 BLTTHS thì người bào chữa có

quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch nếu có căn cứ theo Điều 42 BLTTHS về những trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng, và nếu xét thấy việc những người này tiến hành hoặc tham gia tố tụng có thể làm ảnh hưởng không tốt đến quyền và lợi ích hợp pháp của người mà mình bào chữa Đối với người giám định, họ phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi nếu thuộc một trong những trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều 60 BLTTHS năm 2003 Thay đổi người phiên dịch quy định tại Điều 61 BLTTHS năm 2003

Với mục đích bảo đảm sự công bằng khách quan của quá trình giải quyết vụ án, Một trong những chủ thể có quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng khác là người bào chữa

Thứ tư, Quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ

người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác

Với quy định như trên, người bào chữa được thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa một cách hợp pháp Sau đó, người bào chữa sử dụng những gì thu thập được để thực hiện nhiệm vụ bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hiệu quả hơn Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án xem xét những đồ vật, tài liệu này, nếu nó đảm bảo tính khách quan và hợp lý thì có thể sử dụng như là chứng cứ để giải quyết vụ án Việc sử dụng quyền này đã tạo điều kiện cho người bào chữa tiếp xúc với vụ án vừa

ở mức độ khái quát hơn, vừa chuyên sau hơn Mặt khác, đối với người bị tạm giữ, bị can,

bị cáo và người thân thích của những người này thì người bào chữa đóng vai trò quan trọng trong việc trợ giúp chứng mình người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Trang 7

Thứ năm, Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu Người bào chữa có quyền đưa ra tài liệu,

đồ vật yêu cầu theo hướng có lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Người bào chữa cũng có quyền đưa ra yêu cầu như triệu tập thêm người làm chứng, trưng cầu giám định nếu xét thấy điều đó là cần thiết và có lợi cho người được bào chữa Cơ quan tiến hành tố tụng phải tôn trọng quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu của người bào chữa Các yêu cầu

mà người bào chữa có thể đưa ra trong quá trình tố tụng như: Yêu cầu giám định, giám định lại, đối chất, tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án, thay đổi, đề nghị CQTHTT hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đối với đối với bị can, bị cáo nếu không có căn cứ Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội, nhưng có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu Việc đánh giá, sử dụng các tài liệu, đồ vật do người bào chữa đưa ra như thế nào thuộc trách nhiệm của CQTHTT CQĐT sẽ tiến hành đánh giá, xem xét xem các tài liệu, đò vật này xem có được sử dụng là chứng cứ chứng minh hay không Nếu những tài liệu, đồ vật do người bào chữa đưa ra đảm bảo các thuộc tính của chứng cứ là tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp thì những tài liệu, đồ vật đó sẽ được coi là chứng cứ

có giá trị chứng minh trong vụ án Điều 122 BLTTHS quy định trách nhiệm của các CQTHTT phải trả lời cho người bào chữa biết về vệc giải quyết những yếu cầu của người bào chữa Quy định này đảm bảo cho quyền đưa ra yêu cầu của người bào chữa được tôn trọng và thực hiện bởi CQĐT và Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra hình sự

Thứ sáu Quyền gặp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Việc gặp gỡ thường xuyên,

trao đổi vơi người bị tạm giữ, bị can, bị cáo giúp cho người bào chữa biết rõ tình tiết của vụ

án, các đặc điểm nhân thân, cũng như diễn biến tâm lý của người được bào chữa và những tâm tư, nguyện vọng của họ Điều đó cho thấy, quyền gặp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

là một quyền có ý nghĩa rất lớn đối với người bào chữa Những thông tin mà người bào chữa nhận được từ những lần gặp gỡ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thể xác minh lại những chứng cứ buộc tội của cơ quan điều tra, hoặc tìm ra những tình tiết gỡ tội cho người

bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Bên cạnh đó, về mặt tâm lý, khi thực hiện quyền này, người bào chữa sẽ tạo được lòng tin

từ phía người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, và họ dễ dàng cung cấp những thông tin về sự thật

vụ án Với sự tin tương đó, người bào chữa có thể động viên để người bị tạm giữ, bị can, bị cáo khai báo thành khẩn với cơ quan điều tra, từ đó được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Qua đây, người bào chữa có thể phát hiện kịp thời những sai phạm nếu có trong quá trình giải quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng, và hiểu rõ quyền của mình khi tham gia tố tụng là một trong những điều kiện đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo từ đó nâng cao trách nhiệm bảo vệ thân chủ của mình

Trang 8

Thứ bảy, Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến

việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật Qua việc đọc và ghi chép hồ sơ vụ án, người bào chữa nắm được nội dung của vụ án, nắm được những chứng

cứ buộc tội cũng như gỡ tội đối với người được bào chữa, trên cơ sở đó người bào chữa chuẩn bị cho việc bào chữa, tham gia tranh tụng tại phiên tòa Người bào chữa có đọc hồ sơ

vụ án mới biết bị can phạm tội gì, theo điều, khoản nào để chuẩn bị tài liệu bào chữa cho bị can, bị cáo tại phiên tòa Qua việc đọc hồ sơ, tài liệu vụ án, người bào chữa cũng có điều kiện để phát hiện những sai lầm, thiếu sót, vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra trên

cơ sở đó đưa ra những yêu cầu, khiếu nại cần thiết đối với cơ quan có thẩm quyền

Người bào chữa không những có quyền đọc và ghi chép tài liệu có liên quan đến vụ

án mà còn có quyền sao chụp tài liệu liên quan đến vụ án Quy định như vậy là hợp lý khi khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển, quyền này giúp cho người bào chữa rút ngắn thời gian làm việc tại trụ sở của CQĐT, tạo điều kiện cho người bào chữa có đầy đủ tài liệu về

hồ sơ vụ án, việc lưu giữ các tài liệu cũng thuận tiện hơn

Thứ tám, Quyền tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa Vai trò của người bào chữa

được thể hiện rõ nét nhất tại phiên tòa, viện kiểm sát, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác có quyền đưa ra những chứng cứ luận điểm có liên quan đến vụ án và tranh luận; hội đồng xét xử có trách nhiệm xem xét các chứng cứ, xét hỏi và điều khiển việc tranh luận giữa các bên Người bào chữa có quyền hỏi bị cáo và những người khác về những vấn đề của vụ án để có những câu trả lời theo những hướng có lợi cho bị cáo Không chỉ trao quyền cho người bào chữa, pháp luật còn tạo cơ sở pháp lý quan trọng để họ thực hiện quyền này trong thực tế BLTTHS năm 2003 có những quy định về quyền bình đẳng của người bào chữa, về trình tự xét hỏi và xét hỏi tại phiên tòa Điều 19 BLTTHS năm 2003

quy định về vị trí bình đẳng của người bào chữa tại phiên tòa: “Kiểm sát viên, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, dồ vật, đưa ra tranh luận dân chủ trước Tòa án Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án”.

Thứ chín, Quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm

quyền tiến hành tố tụng Khi tham gia tố tụng, dù ở giai đoạn nào người bào chữa nếu phát hiện thấy quyết định hoặc hành vi của các cơ quan điều tra, người có thẩm quyền tiến hành

tố tụng có những điểm bất hợp lý, vi phạm pháp luật thì họ có quyền khiếu nại những quyết định, hành vi tố tụng đó Người bào chữa có thể tiến hành khiếu nại quyết định, hành vi tố

Trang 9

tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng theo trình tự, thủ tục quy định tại chương XXXV của BLTTHS năm 2003: quy định về khiếu nại tố cáo trong TTHS

Pháp luật TTHS quy định cho người bào chữa quyền này nhằm đảm bảo các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng luôn được đặt trong sự giám sát kiểm tra Có như vậy hoạt động tố tụng luôn mang tính khách quan và toàn diện, tránh những sai sót, vi phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được bào chữa

Thứ mười, Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án nếu bị cáo là người chưa thành

niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 57 của BLTTHS năm 2003 Điều 231 BLTTHS quy định những người có quyền

kháng cáo trong đó: “Người bào chữa có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.” Đây là quyền độc

lập của người bào chữa, người bào chữa kháng cáo không phụ thuộc ý chí của bị cáo cũng như đại diện hợp pháp của bị cáo Kháng cáo của người bào chữa phải theo hướng có lợi cho bị cáo Người bào chữa phải kháng cáo theo hướng có lợi cho bị cáo Việc quy định quyền kháng cáo cho người bào chữa không loại trừ quyền kháng cáo của bị cáo chưa thành niên Tại điểm b Mục 1 Phần II Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 2/10/2004

hướng dẫn: “Trường hợp trong các giai đoạn tố tụng trước đó, bị can, bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ đã nhờ người bào chữa và nay vẫn tiếp tục nhờ người đó bào chữa thì… cấp giấy chứng nhận người bào chữa cho người được nhờ bào chữa đó”.

Như vậy, giấy chứng nhận người bào chữa chỉ có giá trị trong từng giai đoạn tố tụng nhất định Khi được CQTHTT cấp giấy chứng nhận người bào chữa mới có tư cách người bào chữa và địa vị pháp lý của họ mới được xác lập Bị cáo chưa thành niên và người đại diện hợp pháp của họ có nhiều lý do để không mời người đã bào chữa cho bị cáo ở giai đoạn xét xử sơ thẩm tiếp tục bào chữa ở giai đoạn xét xử phúc thẩm Vì vậy, địa vị pháp lý của người của người bào chữa ở giai đoạn phúc thâmmr và kháng cáo của họ liệu có còn giá trị pháp lý không? Điều này cần được giải thích, hướng dẫn cụ thể hơn

2.2 Nghĩa vụ của người bào chữa

Ngoài các quyền mà pháp luật đã quy định, trong khi thực hiện việc bào chữa của mình người bào chữa cho bị can, bị cáo còn phải tuân thủ những quy định về nghĩa vụ do pháp luật quy định Người bào chữa trong TTHS có những nghĩa vụ nhất định, Khoản 3 Điều 58 BLTTHS năm 2003 quy định cho người bào chữa các nghĩa vụ sau:

Trang 10

Thứ nhất, Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình

tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo

Tùy theo mỗi giai đoạn tố tụng, khi thu thập được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án, người bào chữa có trách nhiệm giao cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sat, Tòa án Việc giao nhận các tài liệu, đồ vật đó giữa người bào chữa và cơ quan tiến hành tố tụng phải được lập biên bản theo quy định tại Điều 95 của Bộ luật này

Quy định này nhằm hạn chế tình trạng người bào chữa không có trách nhiệm với việc bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bào chữa qua loa, không đem lại sự trợ giúp đáng kể nào cho người được bào chữa Người bào chữa phải ý thức được nghĩa vụ của mình do pháp luật quy định, chuyên tâm, tích cực tìm hiểu vụ án, phát hiện kịp thời những tình tiết có thể giúp người bị tạm giam, bị can, bị cáo chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho họ Có như vậy, việc tham gia tố tụng của người bào chữa mới thực sự có ý nghĩa

Thứ hai, Nghĩa vụ giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ

quyền và lợi ích hợp pháp của họ Khi tham gia tố tụng, người bào chữa không chỉ thực hiện việc bào chữa cho bị can, bị cáo mà còn giúp đỡ bị can, bị cáo về mặt pháp lý Thực tế cho thấy, bị can, bị cáo có nhận thức về pháp luật chưa được đầy đủ hoặc bị lệch lạc theo hướng chủ quan của họ Chính vì vậy, người bào chữa phải giúp đỡ bị can, bị cáo, người bào chữa có thể giải thích quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo; hướng dẫn nội quy phiên tòa; thống nhất phương án bào chữa; giúp bị can, bị cáo thực hiện một số yêu cầu; giúp bị can, bị cáo thể hiện rõ ràng lời khai của mình với các CQTHTT

Thứ ba, Không được từ chối bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà mình

đã đảm nhận bào chữa, nếu không có lý do chính đáng

Quy định này thể hiện sự ràng buộc trách nhiệm của người bào chữa đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích của họ Việc người bào chữa từ chối bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Mặt khác, đều này có thể gây tác động tâm lý không tốt cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo như hoang mang, lo sợ không được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

Tuy nhiên, người bào chữa có thể từ chối bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 56 BLTTHS năm 2003 về những trường hợp không được bào chữa:

Ngày đăng: 29/01/2016, 14:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w