1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo trình Văn học Việt Nam cuối TK XIX

45 1,5K 25

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 338,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác phẩm của ông từ Lục Vân Tiên đến thơ văn yêu nước chống Pháp phản ánh quá trình diễn biến về tư tưởng của ông, quá trình này diễn ra cùng với những biến động của lịch sử xã hội Việ

Trang 1

7 G

GIÁO TRÌNH

VĂN HỌC VIỆT NAM

CUỐI THẾ KỶ XIX

(Giáo trình tóm tắt dành cho lớp Đại học từ xa)

ThS PHAN THỊ HỒNG

2003

Trang 2

MỤC LỤC

YƯZ

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT 2

I Tình hình đất nước cuối thế kỷ XIX 2

II Tình hình văn học 3

CHƯƠNG 2: NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (1822-1888) 8

I Nguyễn Đình Chiểu : 8

II Một số tác phẩm chính 9

1 Lục Vân Tiên 9

2 Dương Từ Hà Mậu 14

3 Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc 16

4 Văn tế Trương Định 17

5 Ngư tiều y thuật vấn đáp 19

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ TÁC GIẢ TIÊU BIỂU KHÁC 23

I Nguyễn Thông (1827 – 1884) 23

1 Nguyễn Thông 23

2 Một số nội dung thơ Nguyễn Thông 24

3 Văn xuôi Nguyễn Thông 27

II Nguyễn Khuyến (1835-1909) 31

1 Nguyễn Khuyến 31

2 Một số nội dung Quế Sơn thi tập 32

III Trần Tế Xương (1870-1907) 38

1 Trần Tế Xương 38

2 Một số nội dung thơ Tú Xương 38

Trang 3

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT

I Tình hình đất nước cuối thế kỷ XIX

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lược Việt Nam Thất bại tại cửa biển Đà Nẵng, địa điểm tấn công ban đầu, bọn thực dân chuyển hướng cuộc chiến vào vùng đất Gia Định Sự chống cự của quân đội triều đình cùng các cuộc nổi dậy của nhân dân dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước như Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Thiên Hộ Dương, Phan Liêm, Phan Tôn v.v đã lần lượt bị thực dân đàn áp, dập tắt Đánh dấu sự thắng thế từng bước của thực dân ở lục tỉnh là sự ra đời của Hòa ước 1862 – triều Nguyễn cắt nhượng 3 tỉnh miền Đông cho Pháp – , điều ước và thương ước 1874 – nhượng toàn bộ Nam Kỳ Dù thế, các phong trào yêu nước, chống Pháp còn kéo dài cho đến hết những năm 80 của thế kỷ XIX Chiếm lục tỉnh, thực dân Pháp bắt đầu quá trình nô dịch, chia cách đất nước Việt Nam, biến nơi đây làm bàn đạp tấn công cả nước

Triều Nguyễn sau những thất bại đầu tiên hầu như vẫn không có cố gắng nào đáng kể trong việc sửa sang triều chính, củng cố quốc phòng, cải cách kinh tế, xã hội nhằm đối phó với ngoại xâm Mặt khác, để cung đốn cho việc xây cất lăng tẩm, đền đài, miếu mạo ở kinh đô và những tổn phí khác, nhà nước phong kiến vẫn thẳng tay bóc lột nhân dân Lại thêm sự kìm kẹp của tầng lớp địa chủ, quan lại, cường hào đã khiến nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân bùng nổ Ngay ở Kinh đô Huế, hàng nghìn binh lính phẫn uất vì lao động khổ sai trong việc xây dựng Khiêm lăng cũng đã vùng lên khởi nghĩa Tình hình xã hội càng thêm căng thẳng, rối loạn vì chính sách cấm đạo, giết đạo của triều đình Đó là những nguyên nhân khiến thực dân Pháp ngày càng lấn tới

Nguy cơ mất nước vì sự trì trệ, lạc hậu khiến nhiều người giật mình thức tỉnh Những sáng kiến canh tân đất nước, tự cường dân tộc, bảo vệ chủ quyền quốc gia được Trần Đình Túc, Nguyễn Huy Tế, Nguyễn Trường Tộ thiết tha đề xuất trong các bản điều trần của họ Nhưng triều Nguyễn bảo thủ vẫn không nhận thức được tính cấp bách của công cuộc củng cố, bảo vệ đất nước Năm 1873, thực dân Pháp tấn công đất Bắc, Hà thành thất thủ, nhưng cuộc kháng chiến ngoan cường của quân dân ta khiến chúng không thể dễ dàng mở rộng chiến sự Tuy nhiên, trong tình thế bất lợi của thực dân cướp nước, triều Nguyễn đã vội vàng ký Hiệp ước hòa bình và liên minh vào đầu năm 1874 Hiệp ước này thừa nhận chủ quyền của Pháp

ở Nam Kỳ, cho phép người Pháp có quyền buôn bán, đi lại ở Bắc và Trung bộ Năm 1882, Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ 2, quân dân ta kháng cự quyết liệt, giành được nhiều thắng lợi nhưng tình thế ngày càng nguy nan Ngày 19-7-1883, vua Tự Đức mất, mâu thuẫn và sự tranh chấp giữa các phe phái trong triều đình vốn nảy sinh từ trước càng trở nên gay gắt Đó là cơ hội cho thực dân Pháp quyết định tấn công Kinh đô Huế vào tháng 8 – 1883, thực hiện mưu đồ vô hiệu hóa đầu não Nhà

Trang 4

nước phong kiến Việt Nam, thống trị toàn bộ đất nước Với sự ra đời của Hiệp ước hòa bình (1883) triều Nguyễn lại một lần nữa thoái lui trước sự lấn tới của bọn thực dân phương Tây Tuy nhiên, từ thời điểm nước sôi lửa bỏng này cho đến hết thế kỷ XIX, để giành lại chủ quyền dân tộc, ở Trung và Bắc kỳ vẫn liên tục dấy lên những cuộc khởi nghĩa vũ trang chống Pháp Phong trào Cần vương do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết khởi xướng được đông đảo văn thân, sĩ phu yêu nước ủng hộ Gắn liền với phong trào này là tên tuổi các nhà yêu nước Nguyễn Thiện Thuật, Đinh Công Tráng, Tống Duy Tân, Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Xuân Ôn, Phan Đình Phùng v.v Song các phong trào yêu nước chống Pháp dù ngoan cường, bền bỉ cuối cùng đều bị thực dân câu kết với phong kiến tay sai đàn áp, dập tắt

Sau khi vua Hàm Nghi bỏ Kinh thành đi kháng chiến, thực dân Pháp dựng Đồng Khánh lên ngôi Triều Nguyễn từ đây trở thành công cụ cho Pháp trong việc bình định, khác thác thuộc địa Thực tế thì ngay sau khi Hiệp ước 1883 ra đời, nhà nước phong kiến Việt Nam đã mất quyền tự chủ, buộc phải chấp nhận sự đô hộ của thực dân trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao v.v Sự cấu kết của quan lại phong kiến Việt Nam với chính quyền thực dân và các thế lực phong kiến khác nhanh chóng làm hình thành trên đất nước ta chế độ thực dân nửa phong kiến Hình thái kinh tế, xã hội này ngày càng rõ nét khi Pháp tiến hành khai thác thuộc địa

Riêng về lĩnh vực văn hóa, tư tưởng giai đoạn này cơ bản vẫn chưa có thay đổi, chuyển biến nào đáng kể Nho giáo và Nho học vẫn được coi trọng, duy trì Dù sự tiếp xúc bước đầu với văn hóa phương Tây khiến một số sĩ phu cấp tiến nhận thức ra sự lạc hậu của đất nước ta, lên tiếng kêu gọi công cuộc canh tân; và dù ở Nam bộ thực dân Pháp đã tiến hành những hoạt động văn hóa mới (mở trường Pháp – Việt, phát hành báo chí ) nhưng tác động các hoạt động trên còn rất ít ỏi, hạn hẹp

Ra đời trong một giai đoạn lịch sử bi thương của đất nước, văn hóa, tư tưởng xã hội vẫn trì trệ, bế tắc, văn học nửa cuối thế kỷ XIX dù chưa có những bước phát triển rõ nét nhưng vẫn đạt được những thành tựu đáng kể

II Tình hình văn học

Văn học cuối thế kỷ XIX vẫn nằm trong quỹ đạo văn học trung đại Tác gia văn học là những tri thức Nho học, quan lại có tinh thần yêu nước, đạo cao đức trọng như Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích Khi các phong trào vũ trang chống Pháp tạm thời lắng xuống, những cây bút cảm thán trước thời thế như Nguyễn Khuyến, Tú Xương xuất hiện đem đến cho văn học những tiếng nói mới, sắc thái mới Các nhà thơ Miên Thẩm, Miên Trinh, Mai Am với những bài thơ nói về cuộc sống quẫn bách, đói khổ của người dân lao

Trang 5

động cũng góp phần làm cho đội ngũ tác gia văn học giai đoạn này thêm đông đảo Tác gia văn học nửa cuối thế kỷ XIX càng đa dạng hơn bởi sự có mặt của những cây bút lãng mạn như Chu Mạnh Trinh, Dương Khuê Dù tất cả đều xuất thân là những trí thức Nho học, đều sống trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX (một số năm đầu thế kỷ XX như Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Chu Mạnh Trinh ) nhưng rõ ràng tâm tư, suy nghĩ đội ngũ cầm bút trên đã rất khác nhau Thời cuộc đất nước thực sự tác động sâu sắc đến cuộc sống, tư tưởng, tình cảm của họ Tất cả những điều đó đã được thơ văn họ ghi nhận, thể hiện

Kế thừa truyền thống các giai đoạn trước, văn học cuối thế kỷ XIX vẫn bao gồm hai bộ phận, bộ phận văn học viết bằng chữ Hán và bộ phận viết bằng chữ Nôm Vẫn còn nhiều tác gia chủ yếu sáng tác bằng chữ Hán như Nguyễn Thông, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích, Miên Thẩm v.v Vừa làm thơ chữ Hán lại vừa làm thơ Nôm, cả hai phương diện đều đạt được những thành công lớn như Nguyễn Khuyến Nguyễn Đình Chiểu, Tú Xương chủ yếu là sáng tác thơ Nôm

Thành tựu văn học chữ Hán trước hết là thơ với Ngọa du sào thi tập của Nguyễn Thông, Ngọc đường thi tập của Nguyễn Xuân Ôn, Ngư phong thi tập của Nguyễn Quang Bích, Quế Sơn thi tập của Nguyễn Khuyến Ngoài xu hướng đạo lý,

thơ chữ Hán của các tác giả trên còn chất chứa suy nghĩ trước những biến cải, thăng trầm của thời đại, cảm thán trước thời thế Riêng Nguyễn Thông – một trong số tác gia tiêu biểu cho sự vươn lên của văn học vùng đất mới Nam Bộ – ngoài thi tập đã

kể trên ông còn là tác giả của Ngọa du sào văn tập, Kỳ Xuyên văn sao, Độn Am văn

tập, Kỳ Xuyên công độc Ông là một cây bút về thể loại truyện ký lịch sử vừa là một

cây bút chính luận sắc sảo, ngụ ngôn thâm thúy Sau một quá trình lịch sử dài được mài giũa, ngôn ngữ thơ văn chữ Hán giai đoạn này đã đạt đến trình độ thuần thục Các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Lộ Trạch đều có lập luận chặt chẽ, giọng văn hùng hồn Thơ chữ Hán của Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Khuyến đều rất mẫu mực

Bộ phận văn học Nôm vẫn tiếp tục được duy trì, phát triển với những tác gia như Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Chu Mạnh Trinh Các

truyện thơ Nôm lục bát như Lục Vân Tiên, Dương Từ Hà Mậu của Nguyễn Đình

Chiểu bám sát những vấn đề về chính trị, xã hội, đạo đức của thời đại Những tác

phẩm diễn ca lịch sử (khuyết danh) theo thể lục bát và song thất lục bát như Hà

thành chính khí ca, Hà thành thất thủ ca, Vè thất thủ Kinh đô dài hàng trăm câu đã

tập trung phản ánh những biến cố lịch sử lớn đương thời Ngoài các thể loại dài hơi, bề thế, bản sắc văn học Nôm giai đoạn này thực sự được khẳng định bởi hàng trăm bài thơ Nôm luật Đường luật của Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Chu Mạnh Trinh Đây là giai đoạn thể hiện rõ nét sự vận động, phát triển theo chiều hướng dân tộc hóa, đa dạng hóa của ngôn ngữ văn học Vận dụng, chắt lọc và nâng cao ngôn ngữ

Trang 6

thông dụng, của lời ăn tiếng nói hàng ngày, đó là nguồn cội thành công về phương diện ngôn ngữ của Đồ Chiểu, Nguyễn Khuyến, Tú Xương

Đáng lưu ý là, lúc bấy giờ, chữ quốc ngữ sau một thời gian dài ra đời chưa có điều kiện phát triển đã bắt đầu được sử dụng Những bài viết bằng chữ quốc ngữ được in trên các tờ báo đầu tiên như Gia Định báo, Nhật trình Nam Kỳ Các học giả Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của biên soạn truyện cổ tích bằng quốc ngữ, phiên âm và dịch một số tác phẩm chữ Nôm, chữ Hán ra quốc ngữ, làm từ điển Về phương diện ngôn ngữ và chữ viết, văn học cuối thế kỷ XIX tiếp tục tìm tòi, đổi mới nhằm đạt đến sự thuận lợi, phù hợp với đòi hỏi phát triển của đời sống văn hóa dân tộc

Thể loại văn học vẫn là thơ, phú, truyện thơ Thể truyện ký lịch sử cũng có điều kiện xuất hiện tuy không nhiều Có ưu thế nhất là thơ (Đường luật Hán và Nôm, thơ trường thiên khuyết danh theo thể thơ lục bát và song thất lục bát, phú (được vận dụng để viết văn tế, hịch), văn sách (để viết điều trần về các vấn đề chính trị, xã hội)

Về cơ bản, có thể phân định văn học nửa cuối thế kỷ XIX thành hai khuynh hướng: văn học yêu nước chống Pháp và xu hướng đối lập, văn học hiện thực trào phúng và xu hướng lãng mạn thoát ly

Văn học yêu nước chống Pháp và xu hướng đối lập là khuynh hướng văn học lớn, xuyên suốt cả giai đoạn Văn học yêu nước là bản anh hùng ca ca ngợi những gương hi sinh vì nước, thể hiện sâu sắc tâm tư, tình cảm của những người tham gia sự nghiệp cứu quốc gian nan Tiêu biểu nhất của khuynh hướng văn học này là Nguyễn Đình Chiểu với những bài văn tế bất hủ, Phan Văn Trị với cuộc bút chiến sôi nổi, quyết liệt với Tôn Thọ Tường Nguyễn Thông cũng góp một tiếng nói yêu nước thiết tha với những bài thơ chan chứa tình yêu quê hương và những truyện ký cảm động về các chiến sĩ chống Pháp đã hy sinh vì nước là những lãnh tụ của phong trào Cần Vương ở Bắc và Trung bộ Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Xuân Ôn viết văn làm thơ thể hiện tình cảm yêu nước, quyết tâm đánh giặc đến cùng Các cây bút khác như Bùi Hữu Nghĩa, Hồ Huân Nghiệp, Phạm Văn Nghị, Đỗ Duy Cung, Nguyễn Trường Tộ v.v góp phần tạo nên một phong trào sáng tác thơ văn yêu nước Thơ văn của họ hoặc trực tiếp kêu gọi, cổ vũ, ca ngợi kháng chiến, hoặc thổ lộ tâm tư, xúc cảm trong cuộc sống nước sôi lửa bỏng Vừa chứa đựng nỗi niềm riêng vừa thể hiện tình cảm, tư tưởng lớn của dân tộc, đó là một trong những khía cạnh nội dung của văn học yêu nước chống Pháp

Văn học yêu nước chống Pháp khẳng định bước trưởng thành mới của ý thức dân tộc, khẳng định văn học là một tiếng nói không thể thiếu trong cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược Mặt khác, văn học yêu nước chống Pháp còn đả

Trang 7

kích quan lại đầu hàng, đấu tranh chống tiêu cực xã hội, đòi hỏi canh tân đất nước theo hướng giàu mạnh, tân tiến v.v

Đối lập với văn học yêu nước chống Pháp là xu hướng văn học chứa đựng tư tưởng đầu hàng, hòa nghị Cuộc bút chiến giữa Phan Văn Trị và Tôn Thọ Tường là biểu hiện cụ thể nhất sự đối lập về quan điểm, tư tưởng của những nhà thơ yêu nước với những kẻ đầu hàng, phản bội Tờ tấu của văn thân Thanh Nghệ đáp lại chiếu vua Tự Đức, thư Phan Đình Phùng gửi Hoàng Cao Khải cũng phần nào thể hiện sự đối lập này Là những tác phẩm không phù hợp với tinh thần và lương tri của dân tộc, thơ văn chứa đựng tư tưởng hòa nghị, đầu hàng không có điều kiện phát triển Nó chỉ là tiếng nói lạc lõng của một số ít cá nhân chứ không lôi cuốn, sôi nổi như văn học yêu nước, chống Pháp

Văn học yêu nước là một khuynh hướng lớn của lịch sử văn học Việt Nam Mỗi khi đất nước có ngoại xâm, khuynh hướng này lại nảy nở, phát triển, kịp thời phục vụ sự nghiệp cứu quốc Giữ vị trí chủ đạo, văn học yêu nước chứa đựng những

tư tưởng, tình cảm lớn của dân tộc, chứng minh sự gắn bó của văn học với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước

Văn học hiện thực trào phúng và xu hướng lãng mạn, thoát ly xuất hiện vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Trước hết, bộ phận văn học này nặng về xu hướng mô tả hiện thực xã hội đất nước với thái độ chua xót, bất bình, phê phán Thơ Miên Thẩm, Miên Trinh cho thấy nỗi khổ của người dân lao động trong cảnh phu phen, mất mùa đói kém, bị cưỡng đoạt sản phẩm đồng thời tâm trạng u uẩn của những người cầm bút trước những tệ nạn xã hội v.v Khi công cuộc bình định, khai thác thuộc địa của thực dân biến xã hội Việt Nam thành xã hội thực dân nửa phong kiến, văn học xuất hiện các cây bút hiện thực phê phán Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Nguyễn Thiện Kế khác Miên Thẩm, Miên Trinh ở chỗ họ phản ánh xã hội với một cảm quan trào phúng rõ rệt Nỗi xót xa trước thảm cảnh nô lệ của đất nước chan chứa trong thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương

Đối lập với các cây bút hiện thực trào phúng là một số tác gia mà sáng tác thơ văn có nội dung xa rời, thoát ly đối với những vấn đề đang đặt ra trong hiện thực xã hội, đất nước Các cây bút này sáng tác văn thơ dường như chỉ để thỏa mãn cho tâm hồn lãng mạn trước những gì họ cảm xúc, đồng điệu Đó là cảnh đẹp của thiên nhiên đất nước, là cái hay của văn chương nghệ thuật Chu Mạnh Trinh và Dương Khuê với sự bàng quan trước thế sự được coi là hai nhà thơ lãng mạn của giai đoạn

Văn học cuối thế kỷ XIX là một chỉnh thể bao gồm các thành phần, bộ phận khác nhau Đó là sản phẩm trí tuệ, tâm hồn của dân tộc trong giai đoạn lịch sử đau thương, oanh liệt nhưng cũng đầy bế tắc, thất bại

Trang 8

[ ]

VẤN ĐỀ ÔN TẬP

1 Nêu một số nét chính về tình hình đất nước cuối thế kỷ XIX?

2 Nêu một số đặc điểm tình hình văn học nửa cuối thế kỷ XIX?

Trang 9

CHƯƠNG 2: NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (1822-1888)

I Nguyễn Đình Chiểu :

Nguyễn Đình Chiểu tự là Mạnh Trạch, hiệu là Trọng Phủ, sau khi bị mù còn có hiệu là Hối Trai (căn nhà tối), tục gọi là Đồ Chiểu Ông sinh tại Gia Định, mất ở Bến Tre Quê quán tổ tiên nhà thơ vốn ở xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, đến thời thân sinh là cụ Nguyễn Đình Huy mới vào Gia Định Năm 1843, Nguyễn Đình Chiểu lần đầu tiên đi thi và đậu tú tài Năm 1847 ra Huế chuẩn bị thi (kỳ thi Kỷ Dậu 1849) nhưng trong thời gian ôn luyện chờ thi, thân mẫu ở Gia Định đột ngột từ trần nên phải về quê chịu tang Dọc đường trở về Nam, vì quá thương khóc mẹ, ông bị nhiễm bệnh đau mắt, sau đó thì bị mù vĩnh viễn Mãn tang mẹ, ông mở trường dạy học và làm thuốc, con đường hành đạo mà ông còn có thể chọn trong điều kiện mù lòa Năm 1859, Gia Định thất thủ, Nguyễn Đình Chiểu dọn về quê vợ tại Cần Giuộc, Gia Định Tại đây, ông đã chứng kiến những cuộc kịch chiến đẫm máu giữa những đội quân ứng nghĩa với thực dân Pháp (1861) Đó là thực tế

lịch sử cho sự xuất hiện của bài văn tế nổi tiếng: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Thời

gian này, Nguyễn Đình Chiểu đã tham gia các hoạt động chống Pháp, liên hệ và góp ý kiến với những người cầm đầu nghĩa quân danh tiếng như Trương Định, Phan Liêm, Phan Tôn Trương Định hy sinh, nhà thơ là người viết văn tế, làm thơ than khóc, ca ngợi vô cùng bi thống

Nguyễn Đình Chiểu nổi tiếng là người cương trực, trung dũng Sống trong hoàn cảnh lục tỉnh bị chiếm đóng, ông vẫn giữ trọn phẩm giá của người dân yêu nước, trọng danh dự

[ Nguyễn Đình Chiểu được coi là người dồi dào năng lực sáng tạo, là ngôi sao

sáng của bầu trời văn học yêu nước cuối thế kỷ XIX Tác phẩm của ông từ Lục Vân

Tiên đến thơ văn yêu nước chống Pháp phản ánh quá trình diễn biến về tư tưởng

của ông, quá trình này diễn ra cùng với những biến động của lịch sử xã hội Việt Nam đương thời Dựa vào sự hình thành và phát triển về tư tưởng, sự chuyển đổi đề tài, có thể chia quá trình sáng tác văn học của Nguyễn Đình Chiểu thành hai giai đoạn Giai đoạn thứ nhất diễn ra trong vòng những năm 50 của thế kỷ XIX Cùng

với việc dạy học và làm thuốc, đây là giai đoạn nhà thơ sáng tác Lục Vân Tiên,

Dương Từ Hà Mậu Lục Vân Tiên là tác phẩm đầu tiên, đặt cơ sở cho cả quá trình

sáng tác của nhà thơ Dương Từ Hà Mậu được sáng tác từ sau năm 1850 và hoàn

chỉnh toàn bộ trước khi Gia Định thất thủ Trong giai đoạn sáng tác đầu tiên, Nguyễn Đình Chiểu “tiếp tục hoàn thành và khẳng định tư tưởng yêu nước, yêu

Trang 10

dân, tư tưởng nhân nghĩa coi như một bộ phận triết lý nhân sinh của ông”(1) Giai đoạn thứ hai bắt đầu từ khi thực dân Pháp tiến đánh Gia Định Giai đoạn này, ngòi bút vốn nhiệt tình với sự nghiệp chung của đất nước, dân tộc của ông nhanh chóng bắt sang những vấn đề mới mẻ, bức bách đang đặt ra trong cuộc sống Đây là những năm tháng nước sôi lửa bỏng của Nam Bộ, những vấn đề thời sự, chiến tranh, những nhân vật anh hùng cứu quốc trở thành mối quan tâm chính của nhà thơ Đây là giai đoạn thử thách và khẳng định tư tưởng yêu nước, chống ngoại xâm của Đồ Chiểu Đối chất với thực tế lịch sử đang biến chuyển, tư tưởng yêu nước, yêu dân của ông tỏ ra thật trong sáng, đầy sức sống trước tình thế mới của đất nước Việc nhà thơ ca ngợi những người dân ấp dân lân xả thân cứu quốc và những người anh hùng thời đại “nghịch thần” nhưng “ngay chúa” như Trương Định đã khẳng định điều đó Về mặt nghệ thuật, đây cũng là giai đoạn đạt đến đỉnh cao trong văn

nghiệp của Đồ Chiểu Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được đánh giá là “Quốc ngữ nhất

thiên truyền bất hủ” (Mai Am)

Với cả quá trình sáng tác không mệt mỏi từ Lục Vân Tiên đến Ngư tiều y

thuật vấn đáp, Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ đấu tranh liên tục, không mệt mỏi

cho những giá trị tinh thần cao quí, lý tưởng chung của cộng đồng Việt Nam Từ triết lý nhân nghĩa cho đến tư tưởng yêu nước, yêu dân, ngòi bút của Đỗ Chiểu là của một chiến sĩ mang tâm hồn nghệ sĩ

[

II Một số tác phẩm chính

1 Lục Vân Tiên

Lục Vân Tiên là truyện thơ Nôm được sáng tác để kể hơn là để đọc, để xem

Ngay khi Nguyễn Đình Chiểu còn sống tác phẩm này đã được phổ biến rộng rãi

trong nhân dân theo con đường truyền miệng Nguyễn Đình Chiểu sáng tác Lục

Vân Tiên khi đã bị mù nghĩa là khoảng từ sau 1850, như vậy “hiển nhiên là tập

truyện chỉ được hình thành trong trí nhớ và tác giả đã đọc cho học trò thân cận của mình giúp việc chép lại Văn bản đầu tiên của truyện chắc chắn là bản chép tay sau nhiều lần được sửa chữa, thêm bớt đó”(2) Tác phẩm lưu truyền bằng miệng trong dân chúng độ trên dưới 10 năm thì mới được ghi chép lại Người thu thập, đính

(1) Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp 1980, Tập 1, Trang 34

(2) Nguyễn Đình Chiểu toàn tập , Sđd, Trang 65

Trang 11

chính Lục Vân Tiên đầu tiên là Duy Minh Thị(1) Sau Duy Minh Thị, một số học giả người Pháp khác cũng tham gia sưu tập, ghi chép, phổ biến tác phẩm

Từ sau khi Nguyễn Đình Chiểu mất, nhiều bản Lục Vân Tiên được in và phổ

biến rộng rãi ở cả hai miền Nam, Bắc.Trong số các bản này, đáng tin cậy nhất là bản của Trương Vĩnh Ký vì ông là người cùng thời với Nguyễn Đình Chiểu, lại học rộng, trước tác nhiều

Do đặc điểm riêng trong quá trình sáng tác và lưu truyền nên sự dị biệt giữa

các văn bản Lục Vân Tiên là điều khó tránh khỏi Nhưng sự dị biệt này không lớn,

không ảnh hưởng đến bố cục và nội dung tư tưởng của truyện Trong lịch sử văn

học Việt Nam, Lục Vân Tiên không phải là truyện thơ Nôm duy nhất có lịch sử sáng

tác và lưu truyền đặc biệt như vậy Trước tác phẩm này, các truyện thơ Nôm khuyết

danh như Phạm Công Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa, Thoại Khanh Châu Tuấn v.v

cũng chủ yếu được lưu truyền bằng miệng trong dân gian

[

Không mô phỏng theo truyện xưa tích cũ, Lục Vân Tiên cơ bản là một sáng

tác của Đồ Chiểu Một số nét chính trong cuộc đời nhân vật Lục Vân Tiên như quá trình đi học, đi thi, đến trường thi được tin mẹ mất phải quay về cư tang, khóc thương mẹ đến mù mắt, gia đình vơ chưa cưới bội ước v.v lại mang tính tự truyện

rõ rệt Vậy, sáng tác Lục Vân Tiên, tác giả nhằm mục đích gì? Trước hết, với tác

phẩm này, Nguyễn Đình Chiểu muốn ca ngợi “trung hiếu”, “tiết hạnh”, đó là những giá trị đạo đức lớn của thời đại ông Ngay từ đầu tác phẩm, ông đã tuyên bố:

Trai thời trung hiếu làm đầu, Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình

Quả thật, Nguyễn Đình Chiểu đã trung thành với những lời thơ giáo đầu của ông trong việc tạo lập, tô điểm các nhân vật tác phẩm Lục Vân Tiên, nhân vật chính của tác phẩm là một chàng trai văn võ song toàn, nghĩa hiệp cứu người, hiếu thảo Sau chặng đời hoạn nạn, chàng tiếp tục ứng thi, đỗ đạt, đánh tan giặc Ô Qua cứu nước, cứu vua Lục Vân Tiên là biểu tượng sáng ngời của phẩm chất trung hiếu Nếu như Lục Vân Tiên là con người điển hình cho “Trai thời trung hiếu làm đầu” thì Nguyệt Nga lại là hình tượng nhân vật minh họa cho nguyên tắc “ Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình” Nguyệt Nga mang ơn cứu nạn, âm thầm đem lòng yêu và chung thủy đến cùng với Vân Tiên Được tin Vân Tiên gặp nạn chết, dù chưa là vợ chính thức, nàng vẫn quyết ở vậy thờ chàng đến trọn đời Nguyệt Nga từ chối lễ vật cầu hôn của nhà quan thái sư “sang cả ngôi cao”, bị cống giặc Ô Qua,

(1) Nguyễn Đình Chiểu toàn tập , Sđd, Trang 75

Trang 12

nàng day dứt, phân vân để rồi nhảy xuống sông tự vẫn, giữ trọn tiết hạnh với Vân Tiên Nguyệt Nga là hình tượng đẹp, một tấm gương sáng về phẩm chất tiết hạnh của người phụ nữ

Tuy nhiên, dù Trung, Hiếu, Tiết, Hạnh là những phẩm chất đạo đức được Nguyễn Đình Chiểu tập trung thể hiện ở các nhân vật chính của truyện, nhưng đó vẫn chưa phải là tất cả nội dung tác phẩm của ông

Lục Vân Tiên còn là bài ca lớn về tình người, tình bạn, về lòng nhân nghĩa

cứu người, giúp người Từ các nhân vật Lục Vân Tiên, Nguyệt Nga, Hớn Minh, Tử Trực, chú tiểu đồng, ông Quán, ông Ngư, ông Tiều tác phẩm là tiếng nói ngợi ca sự tương thân, tương ái giữa người với người

Sáng tác Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu “đáp ứng được tinh thần dũng

cảm trọng nghĩa khinh tài, ghét gian ác, “kiến nghĩa bất vi vô dũng dã” của người nông dân miền Nam mà cũng của mọi người dân Việt Nam”(1) Là nhân vật chính của tác phẩm, Lục Vân Tiên được tác giả dày công tô điểm, tạo dựng nhất Vân Tiên háo hức với công danh sự nghiệp, với “Chí lăm bắn nhạn ven mây”, nhưng chàng còn là con người hào hiệp, trọng nghĩa Thấm nhuần triết lý “Nhớ câu kiến nghĩa bất vi, Làm người thế ấy cũng phi anh hùng” chàng không ngần ngại một mình xông vào đám cướp hung hãn cứu người con gái không quen biết Với chàng, đó là việc nghĩa phải làm nên không cần phải nghĩ đến chuyện trả ân trả nghĩa Gặp hoạn nạn lâm bệnh mù mắt, công danh lỡ dở, Vân Tiên bị vợ chưa cưới bội ước, bạn xấu hãm hại Nhưng khi mắt sáng lại, hiển vinh, thành đạt, chàng không trả thù những kẻ lòng dạ đen bạc, mà tha thứ hết thảy Là con người trọng nghĩa, lại nhân nghĩa, vị tha, đó là nét đẹp lý tưởng ở nhân vật Lục Vân Tiên

Với nhân vật Kiều Nguyệt Nga, Nguyễn Đình Chiểu một mặt nhấn mạnh rằng nàng là một người con gái tiết hạnh, hơn nữa ông lại cấp thêm cho nàng sự tiết liệt khi để nàng tự vẫn dọc đường cống giặc Ô Qua Nguyệt Nga là nhân vật nữ vẹn toàn về đạo đức, nhưng đáng chú ý hơn, nàng còn là biểu tượng đẹp về tình yêu, tình người sâu nặng Được Vân Tiên cứu nạn, nàng bạo dạn, thắm thiết với ân nhân của mình Cảm mến, nhớ nhung chàng trai nghĩa hiệp mà nàng đã nguyện

“gá nghĩa”, Nguyệt Nga “Họa ra một bức tượng hình Vân Tiên” để rồi lúc nào cũng mang theo bên mình kể cả khi nhảy xuống sông tự vẫn Là người con gái nặng ân nghĩa, trước khi lên đường sang Ô Qua, nàng làm chay cho Vân Tiên, để tiền của lại giúp Lục ông trong cảnh tuổi già đơn chiếc v.v

Biểu tượng cho lòng nhân ái, nghĩa hiệp, còn có các nhân vật khác như: ông Quán, Hớn Minh, Tử Trực, chú tiểu đồng, ông Ngư, ông Tiều Thấy Vân Tiên đột ngột bỏ thi về quê chịu tang mẹ, ông Quán vẫn cố chạy theo “Đưa ba hườn thuốc

(1) Nguyễn Đình Chiểu toàn tập , Sđd, Trang 35

Trang 13

để phòng hộ thân” Hớn Minh là chàng trai xấu xí, thô lỗ nhưng nghĩa hiệp, dũng cảm Chàng đã “bẻ giò” tên con quan huyện Đặng Sinh khi hắn ỉ thế cưỡng hiếp con gái nhà lương thiện Để khỏi liên lụy người khác, chàng lại tự trói mình nộp cho huyện đường xin chịu tội Khi tình cờ gặp lại Vân tiên trong cảnh mù lòa, Hớn Minh an ủi bạn, săn sóc, thuốc thang như người ruột thịt Tận tụy, hết lòng với Vân Tiên trong hoạn nạn, mù lòa còn có chú tiểu đồng nhỏ bé, trung thành Rồi ông Tiều nhường cho Vân Tiên nắm cơm khi đói, ông Ngư đốt cho chàng lửa sưởi khi bị kẻ ác đẩy xuống sông v.v Làm việc nghĩa, cứu người, giúp người một cách hồn nhiên, đó là điều khiến cho các nhân vật phụ của tác phẩm trở nên thật khó quên

Đối lập với các nhân vật chính diện, lý tưởng là các nhân vật phản diện, đại biểu cho cái xấu, cái ác, cho sự bất nhân, bất nghĩa Các nhân vật này gồm có: gia đình Võ Thể Loan, các thầy thuốc lang băm, thầy pháp, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm v.v Từ những nhân vật này, Nguyễn Đình Chiểu lên án thói đời đen bạc, căm ghét những kẻ sống bất nghĩa, độc ác Võ công và con gái lão săn đón, tiếp đãi Vân Tiên thật nồng hậu khi chàng trẩy kinh ứng thí, tương lai đầy hứa hẹn Nhưng khi chàng trở lại với đôi mắt mù lòa, công danh lỡ dở, họ liền trở mặt Thể Loan điệu đà, hoa mỹ bao nhiêu khi tiễn đưa Vân Tiên thì chua ngoa, khắc nghiệt bấy nhiêu khi gặp lại chàng trong bất hạnh Để “dứt tình” với chàng rể mù, cái việc bất nhân mà con người tính toán, phản trắc Võ công đã làm là lừa dắt Vân Tiên bỏ vào hang tối Thương Tòng Tương tự như Võ công, Trịnh Hâm một con người hay so đo, ganh

tị đã đẩy Vân Tiên xuống sông trong đêm khuya khuắt Tuy nhiên, những con người này đã bị trừng phạt ngay sau đó Võ công xấu hổ vì bị Tử Trực mắng đến mức lâm bệnh chết Mẹ con Võ Thể Loan bị cọp bắt nhốt vào hang tối Thương Tòng Trịnh Hâm thì bị sóng thần dìm chết trên sông nước Thật là những sự “báo ứng” linh nghiệm mà Đồ Chiểu đã dành cho những con người bất nhân, bất nghĩa

Ca ngợi những con người nghĩa hiệp, trọng nhân nghĩa, đồng thời lên án thói đời đen bạc, sự bất nghĩa, lọc lừa, phản trắc, đó là nội dung giá trị của truyện thơ Nôm

Lục Vân Tiên của Đồ Chiểu

[ Để làm nổi bật nội dung tác phẩm là ngợi ca trung hiếu, tiết nghĩa, khẳng định nhân nghĩa, phê phán sự bất nhân, bất nghĩa – tác giả đã sắp xếp nhân vật thành hai tuyến đối lập Tuyến nhân vật chính diện gồm Lục Vân Tiên, Nguyệt Nga, Hớn Minh, Tử Trực, tiểu đồng, ông Quán, ông Ngư, ông Tiều Tuyến nhân vật phản diện, những kẻ bất nhân bất nghĩa gồm cha con Võ Thể Loan, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, thầy thuốc lang băm, thầy pháp lừa bịp Đó là lối kết cấu nhân vật phổ biến trong các truyện thơ Nôm Sáng tạo riêng của Nguyễn Đình Chiểu là sự đối lập của hai tuyến nhân vật được thể hiện đến từng cặp một Ví dụ, nếu Nguyệt Nga

Trang 14

thủy chung, ân nghĩa sâu nặng thì Võ Thể Loan lại tráo trở, cơ hội đến lạnh lùng Hớn Minh, Tử Trực chí tình với bạn, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm lại hết sức phản trắc, độc ác, bất nghĩa Chú tiểu đồng, ông Quán, ông Ngư, ông Tiều sống có nghĩa có nhân còn các thầy thuốc lang băm, thầy pháp lại là những kẻ đang tâm lừa lọc, vơ vét tiền của đẩy con bệnh đến bước đường cùng

Thể hiện nhân vật qua ngoại hình, hành động, ngôn ngữ và mỗi nhân vật mang một nét tính cách thống nhất, không thay đổi (hoặc tốt, hoặc xấu, hoặc nhân

nghĩa, bất nhân bất nghĩa) đó là thi pháp xây dựng nhân vật của Lục Vân Tiên Các

nhân vật Lục Vân Tiên, Nguyệt Nga, Hớn Minh, Võ Thể Loan, Trịnh Hâm đều được khắc họa theo phương pháp này

Là tác phẩm sáng tác để kể hơn là để đọc, để xem, ngôn ngữ Lục Vân Tiên

nhìn chung là giản dị, mộc mạc Một trong những thành công của tác giả là đã tạo lập được sắc thái riêng cho ngôn ngữ từng nhân vật Thí dụ, lời lẽ của Nguyệt Nga thì chân tình, tha thiết, Võ Thể Loan lại ăn nói đưa đẩy đến thớ lợ Tính so đo, ganh ghét khác thường của Trịnh Hâm không giấu được qua cách nói hung hăng, đầy thách thức của hắn v.v

Dù chưa phải là một tác phẩm xuất sắc trong lịch sử truyện thơ Nôm, nhưng

Lục Vân Tiên là một đóng góp đáng quí cho kho tàng văn học dân tộc Nói đến sự

nghiệp văn chương chiến đấu của Nguyễn Đình Chiểu không thể không nói đến tác phẩm này như là một sự khẳng định con người, tư tưởng và quan điểm nghệ thuật của ông

[

Trang 15

2 Dương Từ Hà Mậu(Σ)

Thời điểm Nguyễn Đình Chiểu sáng tác Dương Từ Hà Mậu cho đến nay vẫn chưa xác định được cụ thể, nhưng dự đoán có lẽ tác phẩm ra đời sau Lục Vân Tiên, trước Ngư Tiều y thuật vấn đáp Và: “Nếu đúng như vậy thì điều này cho phép đánh

giá cao tư tưởng chính trị của một quyển truyện độc đáo, duy nhất trong loại của nó”(1) Tính chất chính luận trong nội dung tư tưởng là điều đem lại sự “độc đáo,

duy nhất” của Dương Từ Hà Mậu trong lịch sử truyện thơ Nôm trung đại

Từ một câu chuyện hư cấu, tưởng tượng về hai nhân vật Dương Từ và Hà Mậu, Nguyễn Đình Chiểu đã bày tỏ nỗi lo lắng của ông trước sự suy vi của thế đạo nhân tâm do sự mê hoặc của các tà đạo Với tác phẩm ngót 3456 câu thơ, nguy cơ nước mất nhà tan do các đạo tà là đạo Phật, đạo Thiên Chúa đã được ông đề cập, phân tích Nhân vật tác phẩm tuy không có bề dày tính cách nhưng lại là phương tiện để tác giả “bàn bạc, thảo luận” giúp thấy rõ tác hại của tà đạo, ý nghĩa của chính đạo Kế tiếp xuất hiện trong tác phẩm là những lớp, cảnh mang tính chất hư cấu về những điều mắt thấy tai nghe của nhân vật qua ba thế giới: trần gian, thiên

đường, địa ngục Viết Dương Từ Hà Mậu, mục đích Nguyễn Đình Chiểu nhằm phê

phán các tín đồ đạo Phật, đạo Thiên Chúa, khẳng định lại vị trí đạo Nho trong xã hội Theo tác giả, một nhà Nho, thì đạo Nho xứng đáng được tôn vinh vì nó có lợi cho gia đình, xã hội, đất nước Sự phê phán của tác giả đối với các tín đồ Phật giáo, Thiên Chúa giáo u mê, lầm lạc không chỉ đơn giản xuất phát từ quan điểm, thiên kiến của một nhà Nho mà còn có nguyên nhân từ thực tế xã hội, lịch sử Với Phật giáo, một tôn giáo từng có vai trò lớn trong lịch sử dân tộc, rất gần gũi với đời sống

(Σ) Tóm tắt truyện: Thời Hậu Tấn có người tên là Hà Mậu, 60 tuổi chưa có con, gia đình năm đời theo đạo Thiên Chúa Sau giấc chiêm bao lạ, vợ Hà Mậu mang thai Hà Mậu tưởng vợ mang bệnh liền rước thầy chạy chữa Theo lời mách bảo, Hà Mậu lên núi Tùng gặp Lý Tri Niên người tu theo đạo tiên Lý Tri Niên dẫn Hà Mậu gặp hai ông tiên Nam Tào và Bắc Đẩu Hai tiên khuyên Hà Mậu đổi đạo và báo rằng vợ lão sắp sinh hai người con gái Hà Mậu trở về quả thấy vợ đã sinh hai gái, liền quay lại núi Tùng gặp Lý Tri Niên

Huyện Nam Khương có người tên là Dương Từ, theo đạo Phật, 56 tuổi vẫn chưa có con Dương Từ cùng vợ chăm chỉ làm ăn, siêng năng cầu cúng, sau bà vợ sinh hai con trai Mãn nguyệt, Dương Từ xuất gia đầu Phật, bỏ mặc vợ con đói khổ Vì còn đôi chút hoài nghi về đạo của mình, một lần Dương Từ xin thầy là Trần Kỷ “vân du” Trong một cuộc vân du, Dương Từ gặp Hà Mậu, hai người tranh cãi, bài bác đạo của nhau Họ rủ nhau gặp Lý Tri Niên, Lý Tri Niên dẫn cả hai đi gặp lão Nhan (người tu tiên đắc đạo) Lão Nhan xuất hồn cho Dương Từ, Hà Mậu lên thiên đường Nơi đây, hai người chẳng hề thấy Chúa Giê Su, đức Phật, những người thân thích mà chỉ thấy Khổng Tử cùng các đại hiền Xuất hồn xuống địa ngục, lại thấy vô số tội nhân trong đó có những người họ hàng đã quá cố của mình Những người này khuyên Dương Từ, Hà Mậu bỏ tà đạo (đạo Thiên Chúa, đạo Phật) theo chính đạo (đạo Nho) Dương Từ, Hà Mậu hoàn hồn về dương thế cải tà qui chính, bỏ đạo tà theo đạo chính, gia đình sum họp đầm ấm, hạnh phúc

(1) Trần Văn Giàu, Lời giới thiệu Dương Từ Hà Mậu, Ty Văn hóa và thông tin Long An xuất bản

1982, Trang 5

Trang 16

người Việt Nam, vì sao Nguyễn Đình Chiểu lại phê phán? Thời Ngô, Lý, Trần Phật giáo có vị trí quan trọng trong đời sống chính trị, tư tưởng của đất nước Các bậc tu hành cũng tham gia giúp nước, yên dân với lòng đạo sáng ngời Từ sau thế kỷ X, do sự ưu việt của Nho giáo, Phật giáo mất dần địa vị Tuy không bài xích gay gắt nhưng về nguyên tắc chế độ phong kiến Việt Nam cấm đạo Phật, coi đạo Phật không phải là chính đạo Thời Nguyễn Đình Chiểu, trước nguy cơ ngoại xâm đe dọa, trước sự phân tán của nhân tâm với chính đạo (đạo Nho) việc phê phán các tín đồ Phật giáo nhằm lập lại mối quan tâm của mỗi cá nhân đối với gia đình, xã hội, đất nước là điều hết sức cần thiết

So với đạo Phật thì đạo Thiên Chúa có mặt trong đời sống xã hội Việt Nam muộn hơn nhiều Thế kỷ XVII, XVIII người Tây phương mới bắt đầu truyền bá đạo này ở nước ta Lúc đầu, thấy vô hại, chính quyền phong kiến Việt Nam không có phản ứng gì mang tính chất bài bác, cấm đoán Về sau, do những hoạt động phi tôn giáo của các toán thừa sai, nhà Nguyễn mới bắt đầu có chính sách cấm đạo

Từ những thực tế trên, Nguyễn Đình Chiểu với sự phản đối một số vấn đề

thuộc tín ngưỡng và hành đạo đã viết Dương Từ Hà Mậu để nhắc nhở, khuyên răn

những người lầm đường lạc lối Tác giả dẫn dắt Dương Từ, Hà Mậu xem xét đầy đủ

ba thế giới Đến đâu Dương Từ, Hà Mậu cũng bị thần, người cật vấn, đả kích mối đạo mà họ đeo đuổi Nơi nào hai con người này cũng thấy các tín đồ đạo Nho, thấy

“tam cương, ngũ thường” được trọng vọng, đề cao Bài thơ của Hà Mậu nghe đạo sĩ Lý Tri Niên ngâm nga, ca ngợi đạo Nho là: “Mối đạo trời trao đức thánh ta” là

“Hai chữ cương thường dằn các nước, Một câu trung hiếu dựng muôn nhà” Những người tu theo đạo Chúa là “bầy ngu theo thói mọi”, vì họ “ Trời gần chẳng kính kính trời xa” v.v Dọc đường vân du, Dương Từ chỉ gặp những người chê trách, bài bác mình Trong một giấc mơ, ông ta thấy một viên quan tòa quở mắng, hạch sách mình là người vô trách nhiệm với tổ tiên, với vua, với nước:

Tổ tiên đã chút đền chi, Vùa hương bát nước mấy khi phụng thờ

Áo cơm còn nợ sờ sờ, Ngọn rau con cá cũng nhờ đất vua

Trốn xâu lánh thuế vô chùa, Trong đời những sãi thì vua nhờ gì?

Cùng với Lục Vân Tiên, truyện thơ Dương Từ Hà Mậu giải thích vì sao trong

cuộc kháng chiến chống Pháp đầy hi sinh, mất mát ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX, Nguyễn Đình Chiểu đã có thể viết được những bài văn tế hùng hồn, chan chứa tinh thần bất khuất của dân tộc Lòng lo nước, yêu nước luôn là động lực chính trong sáng tác văn chương của Đồ Chiểu

Trang 17

[

3 Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Ngay từ lúc mới xuất hiện, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc đã được đánh giá là

“Quốc ngữ nhất thiên truyền bất hủ” (Mai Am) Điều gì đã khiến cho bài văn khóc người chết này trở thành một áng văn “bất hủ” như vậy Bao trùm bài văn tế là cảm hứng ngợi ca thống thiết, niềm cảm phục sâu sắc, sự tôn vinh nồng nhiệt sự nghiệp đánh giặc cứu nước của những người nghĩa sĩ Đó là điều khiến cho bài văn tránh khỏi sự buồn đau, ảo não, vươn tới tầm vóc hào hùng của một thiên anh hùng ca giữ nước Ngay từ những dòng đầu, Nguyễn Đình Chiểu đã khẳng định ý nghĩa của những cái chết vì nước của những người nông dân nghĩa sĩ:

Súng giặc đất rền, Lòng dân trời tỏ

Mười năm công vỡ ruộng chưa ắt còn danh nổi như phao, Mặt trận nghĩa đánh Tây tuy là mất tiếng vang như mõ

Những nghĩa sĩ hi sinh dũng cảm vốn là những người “dân ấp, dân lân”, những người nông dân “Côi cút làm ăn, toan lo nghèo khó, Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung, chỉ biết ruộng trâu, ở theo làng họ” Là “dân ấp, dân lân”, không phải quân đội chính qui của triều đình nên họ chỉ quen “việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy”, còn “tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ” thì “mắt chưa từng ngó” Tuy nhiên, chính những người nông dân nghèo khó, lam lũ, thụ động “trông tin quan như trời hạn trông mưa” đó lại là những người có lòng tự hào, tự trọng dân tộc sâu sắc Họ ngấm ngầm, căm ghét lũ “treo dê bán chó”, lũ theo giặc bán nước hèn mạt, lòng căm thù quân giặc đã thôi thúc họ vùng dậy quyết chiến Những ï diễn biến trong tâm tư, tình cảm dẫn đến hành động của các nghĩa sĩ được tác giả bài văn tế diễn tả:

- Bữa thấy bòng bong che trắng lốp muốn tới ăn gan, Ngày xem ống khói chạy đen sì muốn ra cắn cổ

Một mối xa thư đồ sộ há để ai chém rắn đuổi hươu, Hai vầng nhật nguyệt chói lòa đâu dung lũ treo dê bán chó Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình

Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi chuyến này dốc ra tay bộ hồ Trận giáp chiến giữa những người nông dân trang bị vũ khí thô sơ nhưng lại quật cường về sức mạnh tinh thần với đội quân thực dân có đầy đủ các loại vũ khí hiện đại được diễn tả hào hùng:

- Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi cũng đốt xong nhà dạy đạo kia,

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay cũng chém rớt đầu quan hai nọ

Chi nhọc quan quản gióng trống kỳ trống giục, đạp rào lướt tới coi

giặc cũng như không,

Trang 18

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào liều mình

như chẳng có Kẻ đâm ngang người chém ngược làm cho mã tà ma ní hồn kinh,

Bọn hè trước lũ ó sau trối kệ tàu thiếc tàu đồng súng nổ

Dường như Nguyễn Đình Chiểu quên rằng ông đang viết một bài văn tế khi say sưa miêu tả cuộc chiến của các nghĩa sĩ Với giọng văn lâm li, thống thiết, nhịp điệu dồn dập, tác giả đã diễn tả nồng nhiệt, sống động cuộc chiến đấu anh dũng Tinh thần giữ nước bất khuất vốn đã trở thành truyền thống của người dân Việt Nam lại một lần nữa được khẳng định từ cuộc xông trận dũng mãnh của những người “dân ấp, dân lân” Nam Bộ Chiến công của đội quân nghĩa sĩ đâu chỉ là “đất xong nhà dạy đạo kia” “chém rớt đầu quan hai nọ” mà đáng kể hơn là đã làm cho bọn thực dân xâm lược phách lạc, hồn kinh Bởi không phải là “quân cơ quân vệ” mà chỉ là “dân ấp, dân làn mến nghĩa là quân chiêu mộ” nên chiến công và sự hi sinh của các nghĩa sĩ càng xứng đáng được đề cao, trân trọng

Từ sự hi sinh của đội nghĩa sĩ tác giả bài văn tế luận bàn về ý nghĩa của sự sống và cái chết Quan điểm của Đồ Chiểu thật rõ ràng, sống mà theo giặc, hàng giặc là sống nhục, chết mà thỏa chí căm thù giặc nước là chết vinh Ông viết:

Sống làm chi theo quân tà đạo, quăng vùa hương xô bàn độc, thấy

lại thêm buồn, Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu chia rượu lạt gặm bánh mì

nghe càng thêm hổ Thà thác mà đặng câu địch khái về theo tổ phụ cũng vinh,

Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây ở với man di rất khổ

Cao hơn nữa, Nguyễn Đình Chiểu tôn vinh cái chết của đội nghĩa sĩ, xem đó là những cái chết khiến muôn đời phải tự hào, ghi nhớ

Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen, Thác mà ưng đình miếu để thờ tiếng hay trải muôn đời ai cũng mộ

Chỉ có những nhà Nho với tình cảm, tư tưởng yêu nước dồi dào, mãnh liệt như Nguyễn Đình Chiểu mới có thể bàn về cái chết một cái lạc quan như vậy

[

4 Văn tế Trương Định

Trương Định là một trong những thủ lĩnh nổi tiếng nhất của Nam Bộ kháng chiến cuối thể kỷ trước Ông là một danh tướng xuất sắc, lại hiên ngang, bất khuất rất tiêu biểu cho tính cách người dân lục tỉnh Cuộc vũ trang chống Pháp do ông

Trang 19

lãnh đạo là một phong trào lớn, có sức tập hợp dân chúng mạnh mẽ Nhưng cuộc chiến không cân sức đã khiến phong trào bị dập tắt, thủ lĩnh Trương Định hi sinh

Ngoài 12 bài thơ viếng liên hoàn theo thể thất ngôn bát cú, viết về thân thế

sự nghiệp của Trương Định, bài Văn tế Trương Định là một tác phẩm xuất sắc của

Đồ Chiểu Bài văn là tiếng khóc xót xa, tiếng ca hào hùng, bi thống đối với sự nghiệp dang dở của người anh hùng lục tỉnh Với Nguyễn Đình Chiểu, Trương Định thời bình là một con người chính đại, một tướng quân có tài với “pháp binh trăm trận đã lâu” “Võ nghệ mấy ban cũng trải” Cũng như bất kỳ một người đương thời nào khác, phó lãnh binh Trương Định cũng băn khoăn, lưỡng lự khi nhận được chiếu chỉ triều đình điều đi nhận chức mới, rời bỏ kháng chiến Sự cân nhắc giằng xé trong tâm trạng của người thủ lĩnh yêu nước, yêu dân được Nguyễn Đình Chiểu ghi lại bằng một câu văn tế: “Đã đành tấm giấy tựu phong phận thần tử há đâu dám cãi!” Nhưng lòng dân lục tỉnh yêu nước đã khiến người chủ tướng thêm quyết đoán để quay ngựa tiếp tục sự nghiệp Về sự việc này, Nguyễn Đình Chiểu viết gọn trong hai dòng văn tế:

- Bởi lòng chúng chẳng nghe thiên tử chiếu, đón ngăn mấy dặm mã tiền, Theo bụng dân phải chịu tướng quân phù gánh vác một vai khổn ngoại Để “theo bụng dân” mà tạm quên đi “phận thần tử” người yêu nước phải can đảm và thật sự vì dân vì nước Với những dòng văn chân phương nhưng đầy sức nén, Nguyễn Đình Chiểu đã khẳng khái ca ngợi hành động trái mệnh thiên tử của Trương Định Đó là những dòng văn báo hiệu một bước chuyển mới trong tư tưởng yêu nước của sĩ phu cuối thế kỷ trước Đương thời, hành động của Trương Định khiến nhiều sĩ phu phải băn khoăn Ngay Phan Thanh Giản, trong bức thư khuyên Trương Định bãi binh cũng bộc lộ sự lúng túng trong việc đánh giá hành động của người anh hùng Thư có đoạn đại ý: “Triều đình đã ký hòa ước, ông nên bãi binh, không nên trái mệnh vua Trung hiếu là điều tốt nhưng phải có giới hạn, không thể vượt qua giới hạn mà được trung hiếu, quá cũng như bất cập, có thêm chân lại

không phải là rắn nữa” (Nguyễn Thông, Truyện Trương Định)

Riêng với Nguyễn Đình Chiểu, con người nồng nhiệt với nghĩa lớn thì cho rằng tuân lệnh triều đình, bỏ kháng chiến để an thân, bảo đảm lòng “trung” chẳng qua là “lay lắt theo thời” là “chưa chắc đâu thành đâu bại” Ông ca ngợi Trương Định:

- Cuộc trung nghĩa hai năm làm đại tướng, nhọc nhằn vì nước nào hờn

tiếng thị tiếng phi, Cõi An – Hà một chức chịu lãnh binh, lay lắt theo thời chưa chắc đâu

thành đâu bại

Trang 20

Đó là những lời lý giải thật sâu sắc, tốt đẹp đối với người anh hùng Chỉ có nhà thơ có tâm hồn chiến sĩ như Nguyễn Đình Chiểu thì mới cảm thông sâu xa con người nghĩa tướng Trương Định đến như vậy

Qua bài văn tế, Nguyễn Đình Chiểu đã góp phần lý giải vì sao cuộc kháng chiến của Trương Định lại thất bại Đó là vì sự hơn hẳn về phương tiện chiến tranh của địch, vì nghĩa quân chiến đấu đơn độc Trương Định ý thức được tình thế của mình, nhưng không vì thế mà ông lùi bước Ông cùng dân chiến đấu mong đạt được thành công nhưng không phải vì thành công mà ông quá băn khoăn, suy tính Nguyễn Đình Chiểu gần như nhập hồn vào suy nghĩ người chủ tướng dũng cảm khi viết những dòng văn tế:

-Vì nước tấm thân đã gửi còn mất cũng cam, Giúp đời cái nghĩa đáng làm nên hư nào nại

Quan niệm về nghĩa cả, lẽ sống chết này đã từng được tác giả khẳng định

trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Vì nghĩa là lẽ sống của những nhân vật lý

tưởng trong văn chương của Đồ Chiểu từ Lục Vân Tiên đến đội nghĩa sĩ Cần Giuộc, nghĩa tướng Trương Định, Phan Tòng v.v

[

5 Ngư tiều y thuật vấn đáp

Ngư tiều y thuật vấn đáp là tác phẩm chứa chan nỗi buồn trước cảnh giang

sơn chia xé, là tiếng nói khẳng định nhân cách của kẻ sĩ Bằng nghệ thuật mượn xưa nói nay, câu chuyện về hình thức được đẩy lùi về quá khứ hàng chục thế kỷ Thời Hậu Tấn, bất bình với việc vua Thạch Kính Đường cắt đất dâng cho giặc ngoại xâm hai kẻ sĩ U, Yên là Mộng Thê Triền và Bào Tử Phược “treo kinh dẹp sử” chọn nghề kiếm củi, đánh cá sống tạm qua ngày Nhưng không cầm lòng trước cảnh vợ đau, con yếu “lầm nhằng thuốc nhăng” họ tìm thầy học thuốc Không gặp được danh y Kỳ Nhân Sư nhưng họ được Chu Đạo Dẫn, Đường Nhập Môn (học trò Kỳ Nhân Sư) hướng dẫn tận tình nghề thuốc Trở về, Ngư Tiều “cải nghiệp tiều ngư” ra sức trau dồi, thực hành nghề thuốc

Nét đặc sắc của tác phẩm thể hiện ở sự đan xen giữa nội dung y học với nỗi đau đất nước chia cắt Là một nhà Nho thông kinh bác sử, tình cảm tác giả được gửi gắm, giao hòa một cách tự nhiên với tâm trạng kẻ sĩ thời Hậu Tấn li loạn Tác phẩm là bài diễn ca sinh động về những “truông”, “đèo”, “ải”, “động” mà bất cứ người nhập “y lâm” nào cũng phải vượt qua Tác giả gọi cơ thể con người là ải nhân khu, khí huyết, giác quan, tình cảm con người là non nguyên khí, hồ huyết

Trang 21

quan, đám thất tình, lòng lục tặc v.v Mối quan hệ giữa con người với trời đất, âm dương, ngũ hành, chính và tà khí là những điều người học thuốc phải nắm vững Sự linh hoạt, lẽ thông biến là điều luôn phải có trong chẩn trị

Đặc biệt, với tinh thần “Thể theo trời đất rộng lòng hiếu sinh” người thầy thuốc phải “giúp đời chẳng vụ tiếng danh, chẳng màng của lợi chẳng ganh ghẻ tài” Với người bệnh, thầy thuốc phải có tình thương, lòng đồng cảm “thấy người đau giống mình đau”, không được phân biệt giàu, nghèo Về đạo đức nghề y, Đồ Chiểu luôn coi trọng tính tự giác, đề cao âm đức, âm công

Tuy nhiên Ngư Tiều y thuật vấn đáp không đơn giản trình bày các vấn đề

thuộc y học, Ngư, Tiều “treo kinh dẹp sử” chọn “y lâm” không hẳn chỉ để trở về làm mỗi việc cứu vợ cứu con, trị “lãi chòi” “sài ghẻ” Nỗi khát khao đất nước thanh bình thống nhất “Ngày nào trời đất an ngôi cũ, Mừng thấy non sông bặt gió Tây” là điều luôn chan chứa trong tác phẩm Tâm trạng Ngư Tiều dọc đường tìm thầy học thuốc tràn ngập nỗi đau nước loạn, người lìa:

Mặt nhìn trong tiết thanh minh,

U, Yên đất cũ cảnh tình trêu ngươi

Trăm hoa nửa khóc nửa cười, Như tuồng xiêu lạc gặp người cố hương

Cỏ cây gie nhánh đón đường, Như tuồng níu hỏi Đông hoàng ở đâu?

Bên non đá cụm cúi đầu, Như tuồng oan khúc lạy cầu cứu sinh

Líu lo chim hót trên cành, Như tuồng kể mách tình hình dân đau

Không chỉ Mộng Thê Triền, Bào Tử Phược mang nỗi đau mất nước mà Chu Đạo Dẫn, Đường Nhập Môn, Kỳ Nhân Sư đều có cùng tâm trạng Kỳ Nhân Sư con người “trong mình đủ chước kinh luân, Thêm trau đạo đức mười phân rõ ràng” bỏ công danh sự nghiệp quyết cứu “nước loàn”, “dân mạc” bằng con đường y học Chu Đạo Dẫn người đóng vai tìm kiếm, dẫn đường bạn đồng chí, đồng tình sau những lời than thở “trời đông sùi sụt gió mưa Tây” không quên kêu gọi, tập hợp những người đồng chí với các cẩm nang “trận đồ tám quẻ” “binh pháp năm mùi” Các đoạn thơ diễn tả tâm tư nhân vật là chất keo liên kết hai phần của tác phẩm: Y học và khát vọng cứu nước cứu dân Tình cảm yêu nước, thương dân là mạch cảm

hứng chủ đạo xuyên suốt trong Ngư Tiều y thuật vấn đáp

Tác phẩm còn là sự khẳng định những nhân cách lớn, lẽ sống đẹp của kẻ sĩ trong điều kiện đất nước tăm tối Họ là những hiền sĩ, những “thầy nhu” văn võ song toàn, đạo đức trọn vẹn Thời thế đảo điên, dân tình khốn khổ họ không đua chen danh lợi mà “ôm tài giấu tiếng làm Tiều làm Ngư” Tuy thế, không chỉ than

Trang 22

thở, chờ đợi suông ngày “trời đất an ngôi cũ” “non sông bặt gió Tây” họ còn biết tìm đường phấn đấu, hành động Y học với họ không chỉ là “đạo thuốc thâm u” mà

“hay đâu y cũng trong Nho một nghề” Nghĩa là Nho – Y gắn bó, là nhân nghĩa cứu người và cứu nước không tách rời Y với họ không chỉ là cứu vợ cứu con mà còn giúp ích cho “dân ốm” “nước gầy” Đó là điều sâu xa mà Nguyễn Đình Chiểu muốn gửi gắm thông qua các biểu tượng nhân vật

Xuất hiện ngầm nhưng xuyên suốt tác phẩm là biểu tượng nhân vật Kỳ Nhân Sư Mộng Thê Triền, Bào Tử Phược nhằm hướng Đan Kỳ thực hiện ước nguyện cứu người, cứu đời trước hết là hướng tới vầng hào quang Kỳ Nhân Sư

Cũng như các học trò của ông, Kỳ Nhân Sư trĩu nặng nỗi buồn trước thời thế đảo điên, tà khí lấn át chính khí Ông đau xót vì nước non “bốn chia năm xé”, khinh bỉ bọn cơ hội, gian nịnh kéo bè, kết cánh cùng ngoại xâm o ép, bóc lột nhân dân Ôm ấp hoài bão “trí quân, trạch dân” Kỳ Nhân Sư không thờ ơ nổi trước cảnh

“Đánh nhau thây bỏ đầy đường, Máu trôi đọng vũng non sông nhơ hình” Bất hợp tác sâu sắc với kẻ thù Kỳ Nhân Sư tự hủy hoại đôi mắt của chính mình Ông tự xông cho mù mắt, hành động này khiến Kỳ Nhân Sư trở thành một biểu tượng khó quên về lòng trung thành với nước, bất hợp tác cao độ với kẻ thù Biểu tượng nhân vật Kỳ Nhân Sư thể hiện một thái độ, một lẽ sống, một nỗi đau vô hạn của một con người nặng lòng với nước, với dân, với đời Với con người này thì “Thà cho trước mắt vô nhân, Chẳng thà ngồi ngó sinh dân nghiêng nghèo”, thì “ Dù đui mù khỏi danh nhơ, Còn hơn có mắt ăn dơ tanh rình”

Nhân vật Ngư Tiều y thuật vấn đáp là những con người hành động, hành

động thiết thực trong điều kiện cho phép Sống “lay lắt theo thời” không phải là cách sống mà Đồ Chiểu cùng nhân vật của ông thờ phụng

Ngư Tiều y thuật vấn đáp là tác phẩm chốt lại cả quá trình sáng tác văn học

sôi nổi, bền bỉ của nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu Trung thành với quan điểm “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”

tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu từ Lục Vân Tiên, Dương Từ Hà Mậu, Văn tế nghĩa sĩ

Cần Giuộc, Văn tế Trương Định đến Ngư Tiều y thuật vấn đáp là những con thuyền

ngôn ngữ, hình tượng lớn chở đạo, đạo yêu nước, yêu dân, đạo nhân nghĩa

[ ]

VẤN ĐỀ ÔN TẬP

1 Nội dung và một số đặc điểm nghệ thuật của truyện thơ Lục Vân Tiên

2 Hình ảnh những người anh hùng cứu quốc trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc và

Văn tế Trương Định của Nguyễn Đình Chiểu

Ngày đăng: 16/12/2015, 11:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w