I.TÓM TẮT DỰ ÁN31.1Giới thiệu tổng quan về dự án gồm31.2Những căn cứ để xác định đầu tư31.4Khía cạnh tổ chức quản lý và nhân sự của dự án41.5Khía cạnh tài chính41.6Khía cạnh kinh tế xã hội4II. PHẦN THUYẾT MINH CHÍNH CỦA DỰ ÁN42.1.Căn cứ pháp lý42.1.1. Phân tích môi trường vĩ mô62.2.2. Mục tiêu, vai trò và yêu cầu nghiên cứu thị trường sản phẩm của dự án72.2.3. Đánh giá khái quát về thị trường tổng thể của sản phẩm72.2.4. Phân đoạn thị trường và xác định thị trường mục tiêu82.2.5. Dự báo cung cầu thị trường về sản phẩm của dự án trong tương lai92.2.6. Nghiên cứu về vấn đề tiếp thị của dự án102.2.7. Khả năng cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường của dự án10III.NỘI DUNG NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT133.1 Mô tả sản phẩm của dự án133.1.1. Đặc điểm nhận dạng143.1.2. Sinh trưởng của nhím153.1.3. Tập tính153.1.4. Các loại thức ăn dành cho nhím163.1.5. Động dục173.1.7. Sinh sản183.1.8. Phối giống trở lại183.2 Công suất của dự án213.3 Lựa chọn công nghệ kỹ thuật cho dự án21IV. CƠ CẤU TỔ CHỨC QUẢN LÝ VẬN HÀNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ.24V. LẬP BẢNG TÀI CHÍNH DỰ ÁN255.1Dự tính tổng mức vốn đầu tư và cơ cấu nguồn vốn của dự án.255.2Kế hoạch khấu hao tài sản cố định275.3Kế hoạch chăn nuôi285.4Kế hoạch doanh thu295.5Kế hoạch chi phí295.6Kết quả kinh doanh305.7Ước lượng dòng tiền31VI. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ XÃ HỘI TRONG VIỆC ĐẦU TƯ NUÔI NHIẾM.316.1Hiệu quả kinh tế xã hội.316.2Hiệu quả xã hội và môi trường.326.3Tác động khác.32
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2I.TÓM TẮT DỰ ÁN
1.1Giới thiệu tổng quan về dự án gồm
*Tên của dự án: “Nuôi nhím”
*Mô hình: Trang trại nông nghiệp hộ gia đình
*Chủ dự án: Nhóm 4
*Diện tích: 200m2
*Địa điểm thực hiện dự án: Thôn Thuận Nhứt, Bình Thuận,Tây Sơn, Bình Định
*Đặc điểm đầu tư:
+ Cung cấp thịt Nhím cho người tiêu dùng thông qua hệ thống nhà hàng, quán nhậu, khách sạn
+ Cung cấp Nhím giống để giúp các hộ gia đình làm giàu từ mô hình nông trại nuôi Nhím
+ Góp phần nhằm bảo về loài động vật này, tránh tình trạng săn bắn trái phép
*Mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu của đầu tư: cung cấp Nhím thịt và Nhím giống nhằm tìm kiếm lợi nhuận, bảo vệ nguồn động vật này không bị tiệt chủng, đồng thời tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân
1.2Những căn cứ để xác định đầu tư
*Các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội có liên quan đến dự án
-Tây Sơn là nơi có địa hình phù hợp để xây dựng một nông trại ( có rẫy, rừng và đặc biệt là khí hậu thích hợp cho việc nuôi Nhím)
-Về xã hội đem lại việc làm cho nhiều người đồng thời giúp các hộ gia đình làm giàu trên mảnh đất vốn có của mình
-Hệ thống nhà hàng, khách sạn lớn sang trọng mọc lên ngày
*Thị trường về sản phẩm (dịch vụ) của dự án: cung cấp chủ yếu cho nhu cầu tiêu dùng sản phẩm của khách hàng ở các nhà hàng và khách sạn
1.3Khía cạnh kĩ thuật của dự án
*Hình thức đầu tư: Đầu tư mới toàn bộ
+ Xây dựng chuồng trại mới
+ Mua sắm máy móc thiết bị mới: máy bơm, máy sục ô zôn, sắt thép,…
* Địa điểm thực hiện dự án
Thuê đất tại: Huyện Tây sơn, tỉnh Bình Định - Tây Sơn là huyện trung du ở phía Tây tỉnh Bình Định, có diện tích 692,96 km2, dân số 124.200 người, mật độ dân
số 179 người/km2 Về địa hình, phía Tây giáp huyện Vĩnh Thạnh (tỉnh Bình Định), thị
xã An Khê (tỉnh Gia Lai) Đông giáp thị xã An Nhơn, Nam giáp huyện Vân Canh, Bắc giáp huyện Phù Cát
Trang 3Cơ sở hạ tầng ở đây tương đối thuận lợi: có Quốc lộ 19 nối liền từ Quy Nhơn lên Tây nguyên, có tỉnh lộ 636 từ sân bay Phù Cát - Bảo tàng Quang Trung - Quốc lộ 19; tuyến tỉnh lộ 637 đi huyện Vĩnh Thạnh
*Phương án kỹ thuật công nghệ:
+ Mô tả sản phẩm của dự án
+Công suất của dự án
+ Lựa chọn công nghệ kỹ thuật cho dự án
+Nguyên vật liệu đầu vào
+ Cơ sở hạ tầng
+Giải pháp xây dựng công trình của dự án
+ Giải pháp xây dựng công trình của dự án
1.4Khía cạnh tổ chức quản lý và nhân sự của dự án
+Hình thức tổ chức quản lý của dự án: tổ chức quản lý theo nhiệm vụ
+ Nhân sự của dự án gồm: 3 người
1.5Khía cạnh tài chính
+Tổng vốn đầu tư và nguồn vốn huy động 300 triệu đồng
+Hiệu quả tài chính: khoảng từ 250 – 350 nghìn đồng/ kg như vậy nếu một con nhiếm trưởng thành thì sẽ có giá khoản 4 triệu đồng
1.6Khía cạnh kinh tế xã hội
-Hiệu quả kinh tế xã hội: đem lại việc làm cho người lao động, đồng thời giúp cho người lao động vươn lên nhờ mô hình nuôi nhiếm, góp phần bảo vệ loài động vật này
II PHẦN THUYẾT MINH CHÍNH CỦA DỰ ÁN
2.1.Căn cứ pháp lý
-Các loại nhím được quy định trong phụ lục III công ước Cites ( Công ước về
các loại động vật hoang dã nguy cấp)
-Theo quy định tại nghị định số 11/2002/NĐ – CP, ngày 22/01/2002 của chính phủ về việc: quản lý hoạt động xuất khẩu và quá cảnh các loài động vật, thực vật hoang dã
-Thông tư số 123/2003/TT – BNN, ngày 14/11/2003 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện nghị định 11/2002/NĐ – CP ngày 22/01/2002 của chính phủ
-Quyết định số 59/2005/QĐ – BNN ngày 10/10/2005 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành quy định về kiểm tra, kiểm soát lâm sản
-Công văn số 456/CV-KL-VP Cites ngày 17/5/2004 của cục kiểm lâm về việc: Tăng cường công tác quản lý các trại nuôi sinh sản các loài động thực vật hoang dã
Trang 4-Nghị định số 32/2006/NĐ- CP của chính phủ về quản lý thực vật, động vật rừng nguy cấp quý hiếm.
-Nghị định 82/2006/NĐ-CP của chính phủ về quản lý hoạt động xuất nhập khẩu, tái xuất khẩu, nuôi sinh sản, sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo các loại động vật quý
Việc mua Nhím về gây nuôi phải thực hiện các thủ tục như sau:
*Thủ tục vận chuyển Nhím:
Nếu mua Nhím của các tổ chức
-Hóa đơn bán hàng theo quy định của Bộ tài chính Trường hợp vận chuyển nội bộ thì phải có phiếu xuất kho vận chuyển nội bộ của tổ chức
-Bảng kê động vật rừng hoặc bảng kê sản phẩm của chúng do tổ chức lập.-Xác nhận của cơ quan kiểm lâm sở tại
Nếu mua của cộng đồng, hộ gia đình, cá nhân
- Bảng kê động vật rừng hoặc bảng kê sản phẩm của chúng do cộng đồng, hộ gia đình, cá nhân lập
-Cơ quan kiểm lâm sở tại nơi có động vật rừng hoặc sản phẩm của chúng xác nhận
*Thủ tục đăng ký gây nuôi nhím.
-Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây nuôi Nhím phải lập thủ tục đăng ký tại Chi cục kiểm lâm sở tại nơi gây nuôi gồm:
+Tên và địa chỉ của trại nuôi, chủ trại hoặc người quản lý trại
+Ngày thành lập
+Loài được nuôi sinh sản
+Thông tin chi tiết về số lượng và tuổi của những con đực và con cái trong đàn sinh sản
+Tài liệu chứng minh các con giống đó được đánh bắt hợp pháp theo quy định hiện hành hoặc nếu nhập khẩu thì phải chứng minh được việc nhập khẩu đó phù hợp với công ước Cites và luật pháp quốc gia
+Thông tin về tỷ lệ chết trung bình hằng năm của loài động vật nuôi và lý do.+Sản lược sản xuất hàng năm trước đây, hiện tại và dự kiến trong các năm tới
+Bảng đánh giá nhu cầu và nguồn cung cấp mẫu vật để tăng cường nguồn giống nhằm phát triển nguồn gen
+Loại sản phẩm xuất khẩu hay bán ra thị trường (động vật sống, da, xương, huyết thanh, các bộ phận hay dẫn xuất khác)
+Mô tả cơ sở hạ tầng của trại nuôi: diện tích, công nghệ chăn nuôi, cung cấp thức ăn, khả năng thú y, vệ sinh môi trường và cách thức lưu trữ thông tin
Tiêu chuẩn trại nuôi.
+Diện tích chuồng trại phù hợp với loài vật nuôi, phù hợp với năng lực sản xuất đã đăng ký
Trang 5+Những loài động vật hoang dã được cơ quan thẩm quyền khoa học Cites Việt Nam xác nhận có khả năng sinh sản liên tiếp qua nhiều thế hệ trong điều kiện nuôi nhốt.
+Bảo đảm an toàn cho người nuôi và vật nuôi
+Có cán bộ chuyên môn để quản lý và chăm sóc vật nuôi và ngăn ngừa dịch bệnh
+Có xác nhận cơ quan quản lý môi trường địa phương
2.1.1.Phân tích môi trường vĩ mô
Các yếu tố của môi trường vĩ mô cũng ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hình thành
và thực hiện dự án đầu tư như môi trường kinh tế vĩ mô, môi trường chính trị, pháp luật; môi trường văn hóa, xã hội; môi trường tự nhiên
Chủ trương, chính sách của nhà nước đều đang tập trung phát triển kinh tế ở các vùng nông thôn để nâng cao mức sống của người dân thông qua việc đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển cây trồng vật nuôi đem lại lợi nhuận kinh tế cao, đặc biệt, Nhà nước rất quan tâm khuyến khích phát triển và nhân rộng mô hình “trang trại”
ở các địa phương thông qua một số chính sách ưu đãi thể hiện ở nghị quyết 03/2000/NQ-CP và một số văn bản khác
Trong thời gian qua Chính Phủ đã thực hiện một só biện pháp nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và hiện nay tỷ lệ lạm phát chỉ là 1,38%-thấp nhất trong 13 năm qua; lãi suất thì đã và dự báo sẽ tiếp tục giảm 1-2 điểm phần trăm/năm trong năm
2014 Đây là cơ hội hiếm có để để phục hồi kinh doanh và mở rộng đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế Hơn nữa, Quy Nhơn nói riêng và Bình Định nói chung là một tỉnh đang trên đường phát triển và hội nhập, điều đó có nghĩa là tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng trưởng ổn định trong thời gian qua Hiện trên địa bàn tỉnh thì chỉ có một số hộ gia đình nuôi Nhím, vì vậy Bình Định vẫn coi đây là một con vật mới giúp xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của người dân nhằm phát triển kinh tế tỉnh Do đó, nếu dự
án đi vào hoạt động thì sẽ được hưởng rất nhiều chính sách ưu đãi, điều kiện thuận lợi của Nhà nước và địa phương về các vấn đề thuê đất, vay vốn, cấp giấy phép, đăng kí kinh doanh, thuế, điều kiện ở Tây Sơn lại khá thuận lợi cho việc nuôi nhím bởi nguồn thức ăn cho nhím là sẵn có, phong phú, dồi dào, có thể sử dụng lực lượng lao động nhàn rỗi tại địa phương , mặt bằng đất khô thoáng, hơn nữa nơi đây thuộc vùng khí hậu nhiệt đới có mùa đông lạnh nên rất thích hợp cho nuôi nhím ;tuy nhiên, tại tỉnh
và các khu vực lân cận thì khan hiếm nhím giống, muốn mua giống phải tốn thời gian
và chi phí vận chuyển
Như vậy, mặc dù còn một số khó khăn nhưng các điều kiện của môi trường vĩ mô
có những đặc điểm rất thuận lợi cho dự án
Đặc biệt tại quy nhơn có một hệ thống nhà hàng lớn như: Hải Nam, Sáu Cao 2, Phố Núi, Cine, PC và đối tượng khách hàng của họ hướng đến là những đối tượng có thu nhập cao Đây quả thật là một thị trường tiềm năng
Trang 62.2.2.Mục tiêu, vai trò và yêu cầu nghiên cứu thị trường sản phẩm của dự án
• Mục tiêu:
-Tìm kiếm hệ thống phân phối nguồn hàng ổn định trong tương lai, mở rộng thị trường mục tiêu
• Vai trò:
Nghiên cứu thị trường có vai trò hết sức quan trọng, nó giúp cho người soạn thảo
và người chủ trang trại có thể phân tích, đánh giá cung cầu thị trường ở hiện tại và dự báo cung cầu thị trường trong tương lai về loại sản phẩm của dự án từ đó giúp người chủ trang trại đi đến quyết định có nên đầu tư vào dự án hay không và xác định quy
mô cho thích hợp
• Yêu cầu của việc nghiên cứu thị trường sản phẩm:
Để có kết quả chính xác phục vụ cho việc xác định thị phần và qui mô của dự
án, nghiên cứu thị trường phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Thu thập đầy đủ các thông tin cần thiết cho quá trình nghiên cứu tiêu thụ sản phẩm
Thông tin đảm bảo chính xác và tin cậy
Sử dụng phương pháp phân tích, vì thời gian và năng lực có hạn nên nhiều trường hợp thông tin không đủ độ tin cậy có thể ngoại suy từ các trường hợp tương tự, từ tình hình của quá khứ
2.2.3.Đánh giá khái quát về thị trường tổng thể của sản phẩm
Hiện nay, nuôi nhím không còn quá xa lạ ở Việt Nam, điều đó cũng có nghĩa thị trường tiêu thụ cũng đang ngày được mở rộng Theo chúng tôi tìm hiểu thì nhím được nuôi chủ yếu tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và một số tỉnh vùng núi phía Bắc, trong khi Bình Định là một thị trường nhỏ, khan hiếm đầu vào nhưng dự đầu ra sẽ là một tiềm lực kinh tế, vì chúng ta cũng đã thấy, trong những năm gần đây, thành phố Quy Nhơn nói riêng và Bình Định nói chung “mọc lên” rất nhiều nhà hàng, khách sạn, quán nhậu, vv, điều đó đồng nghĩa với việc thu nhập và nhu cầu ăn uống của con người ngày càng tăng, nắm bắt được tâm lý và nhu cầu của khách hàng khi tới quán nhậu hay nhà hàng là muốn thưởng thức các món đặc sản của thiên nhiên, của rừng; thịt nhím ít mỡ, nhiều đạm, vừa thơm ngon vừa có giá trị dinh dưỡng cao Ngoài ra, mật nhím còn dùng để chữa bệnh đau mắt, dùng để xoa bóp các chấn thương và chữa đau lưng Thịt, ruột già, gan của nhím đều được dùng để chữa bệnh phong nhiệt Bởi những tác dụng đó của thịt nhím mà dân sành ăn rất khoái khẩu với món thịt nhím Do
đó, thịt nhím được tiêu thụ khá cao tại các nhà hàng đặc sản, khách sạn,…, theo điều tra của chúng tôi thì nhu cầu này ngày càng tăng, cụ thể:
Trang 7• Nhà hàng Faster (12 Mai Hắc Đế) chuyên làm các đặc sản rừng-biển Mỗi tuần tiêu thụ 2 con nhím, số lượng này tăng cao hơn nữa vào những dịp lễ và cuối năm.
• Nhà hàng Phố Núi (85 Hoàng Văn Thụ) cũng chuyên các đặc sản rừng, trung bình tiêu thụ khoảng 3 đến 4 con, những dịp cuối năm càng tăng cao
• Một số nhà hàng khác như: ghềnh Ráng, Sáu Cao II, Tiếng Thời Gian,… cũng tiêu thụ nhím với số lượng không ít
Hiện nay, có rất nhiều trang trại cung cấp nhím giống bố mẹ như : trang trại Bình Nhâm, trang trại Dasafusa, Tân Hòa, Tây Ninh, Bình Thuận,Trần Tiến,… giá mỗi cặp nhím giao động từ 4triệu đồng/cặp đến 15 triệu đồng/cặp tùy vào chất lượng nhím
2.2.4.Phân đoạn thị trường và xác định thị trường mục tiêu
• Phân đoạn thị trường
− Thị trường nhím không còn là thị trường mới nữa nhưng đối với thị trường Bình Định
và các tỉnh lân cận thì các loại sản phẩm của nhím chưa bao giờ bị chối từ Vì nó không còn mới mẻ nữa, rất nhiều hộ gia đình, các vùng miền đã nuôi nhím để xóa đói giảm nghèo, tăng thêm thu nhập nên giờ đây lượng nhím giống đã gần như bão hòa nhưng vì thị trường phân phối khá rộng do nhím dễ nuôi và dễ sống nên nhiều người
vẫ muốn làm giàu từ nuôi nhím giống
− Tuy nhiên, nhu cầu đích thị hiện nay của việc nuôi nhím là lấy thịt làm thực phẩm, mặc khác thịt nhím ăn ngon, chế biến thành nhiều món đặc sản và còn làm thuốc chữa bệnh cho con người
Về giá cả thì tất cả các nhà hàng nói trên thường lấy giá nhím thịt không cố định do lượng nhím cung cấp không đáp ứng đủ nhu cầu Trung bình giá nhím thịt các nhà hàng lấy từ 250 000 đồng/kg đến 350 000 đồng/kg, vì lượng cầu thì tăng mà cung thì còn hạn chế nên các nhà hàng chấp nhận mua với giá cao Như vậy, nhu cầu nhím thịt trên thị trường là rất lớn, số lượng nhím nuôi chưa thể đáp ứng được đủ cho nhu cầu thị trường mà nguyên nhân chính là tại miền trung nguồn nhím giống còn ít
• Xác định thị trường mục tiêu
Xác định việc đặt trang trạng ở Tây Sơn-Bình Định Việc cung cấp nhím giống
và nhím thịt cho khu vực trong tỉnh, các khu vực lân cận như Phú Yên, Nha Trang, Quảng Nam, Quảng Ngãi,…hay các khu vực khác có cầu về nhím cao
Về nhím thịt: thị trường mục tiêu vẫn lấy Tp.Quy Nhơn làm chính, vì khu vực này đông dân cư, có nhiều đối tượng thu nhập cao, họ sẵn sàng trả chi phí cao để thỏa mãn nhu cầu của mình (thưởng thức đặc sản), hơn nữa mạng lưới nhà hàng ở đây mọc lên ngày càng nhiều giới sành ăn cho rằng thịt nhím ngon, bổ dưỡng và còn là vị thuốc quý, do đó cầu về thịt nhím của họ là rất lớn
Về nhím giống: thị trường là tương đối rộng vì ta có thể cung cấp cho bất kì ai có nhu cầu làm giàu từ nuôi nhím, nhất là khi mô hình này chưa phổ biến ở miền trung
Trang 82.2.5.Dự báo cung cầu thị trường về sản phẩm của dự án trong tương lai
*Cầu về nhím giống và nhím thịt tiếp tục tăng
Cầu về nhím giống và nhím thịt vẫn tiếp tục tăng bởi các nguyên nhân sau:
− Quy định pháp lý về việc chăn nuôi cũng như tiêu thụ các sản phẩm từ nhím ngày càng thông thoáng hơn
− Nhà nước còn khuyến khích thanh niên, hộ gia đình nuôi nhím nhằm tạo thêm việc làm đồng thời biến nó thành nghề giúp xóa đối giảm nghèo, tăng thu nhập cho người dân
− Nhiều người còn e ngại việc chăn nuôi nhím do vốn đầu tư lớn và lo ngại rủi ro (nhím
bị bệnh) do không nắm bắt được thông tin cũng như thuật nuôi nhím Với các điển hình cụ thể thành công trong chăn nuôi nhím cùng với việc phổ biến kỹ thuật nuôi nhím đến người dân làm tăng kỳ vọng thu nhập khi nuôi nhím làm cầu tăng
− Thịt nhím ngon, giàu chất đạm là đặc sản ưa thích của nhiều người và cũng là thuốc chữa bệnh
− Hiện nay trên thj trường Quy Nhơn nói riêng và Bình Định nói chung có một số hàng hàng, cửa hàng kinh doanh thịt đặc sản, trong đó bao hàm cả thịt nhím Nhưng do hiện nay, cung về nhím giống cũng như nhím thịt ở thị trường Bình Định còn hạn chế khiến cho lượng nhím thịt không đủ bù đắp so với cầu về nhím thịt
Chính những nguyên nhân đó đã làm cho đường cầu theo giá dịch chuyển sang phải
*Cung về nhím giống và nhím thịt cũng đang tăng.
Với thị trường vẫn ở dạng tiềm năng, chưa hoàn toàn bão hòa như hiện nay, chúng
ta hoàn toàn có thể khẳng định cung về nhím tăng lên Hầu hết những người có nhu cầu về nhím giống đều muốn đầu tư vào chăn nuôi nhím giống với đầu ra cũng là nhím giống Vì vậy cầu hiện nay sẽ một phần trở thành cung trong tương lai Chính vì điều
đó cũng làm đường cung dịch chuyển lên và chính sự dịch chuyển của cả hai đường sẽ xác lập một mức giá mới, nhưng do sự dịch chuyển của đường cầu nhiều hơn nên mức giá sẽ tăng, trong một thời gian ngắn thì mức cung chỉ có thể thay đổi ít
Dự đoán trong vòng 1 năm nữa thì thị trường này vẫn khó có thể cân bằng được cung và cầu Cung vẫn chưa đáp ứng được hết lượng cầu, vì vậy nuôi nhím vẫn trở nên hấp dẫn và thu hút nhiều nhà đầu tư Do đầu tư tốn kém nên hạn chế được nhiều đối thủ cạnh tranh ban đầu, thu lợi nhuận cao mà khả năng rủi ro ít (hầu như không có mầm bệnh gì)
2.2.6.Nghiên cứu về vấn đề tiếp thị của dự án
− Trong chăn nuôi người ta cần chất lượng cao tiếp đến giá cả phải hợp lý, phải chăng vì vậy giữ uy tín với khách hàng sẽ là cách lan truyền nhanh nhất
Trang 9− Lập các trang web để quảng cáo sản phẩm, quảng cáo trên báo chí và internet là cách quảng cáo thông dụng nhất vì dễ làm mà lại không tốn kém, tuy nhiên, cách này đem lại hiệu quả không cao vì mọi người còn e dè với các thông tin cung cấp trên đó và khó lòng mà tin vì nó không có căn cứ nào hết.
− Ta nên tận dụng các phương tiện thông tin đại chúng để tự quảng cáo cho chính mình:
Tham gia giới thiệu sản phẩm tại các hội chợ nông nghiệp
− Đối với nhím thịt: tiếp thị trực tiếp đến một số nhà hàng
− Để khẳng định được thương hiệu sản phẩm khi mới gia nhập thị trường, cần phải biết cách tếp cận với các khách hàng mục tiêu
− Đối với nhím giống thì thị trường mục tiêu là các hộ gia đình chăn nuôi nhỏ lẻ Chúng
ta có thể tiếp cận bằng cách giao lưu gần gũi, chia sẻ kinh nghiệm nuôi nhím, tặng kèm sách hướng dẫn nuôi nhím khi họ mua nhím giống của mình
− Gây dựng sự trung thành của khách hàng đối với sản phẩm của mình bằng cách giảm giá cho các khách hàng quen thuộc
2.2.7.Khả năng cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường của dự án
*Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh
− Về đối thủ cạnh tranh: chắc chắn đối thủ cạnh tranh của dự án sẽ là các trang trại, hộ gia đình đã và đang nuôi cùng loại nhím, chủ yếu họ là các hộ gia đình chăn nuôi nhỏ
lẻ nên họ không có những chiến lược kinh doanh cụ thể; lợi thể của họ là gia nhập thị trường trước chúng ta nên có thể đã tạo dựng được chỗ đứng trên thị trường Trên địa bàn tỉnh Bình Định chỉ có khoảng 22 hộ gia đình nuôi Nhím nhỏ lẻ, với tổng đàn chỉ
có 320 con Trong đó chỉ cơ trang trại nuôi nhím của anh Trần Văn Hải ở thôn Bửu Chánh- Xã Phước Hưng- Tuy Phước đã thực hiện mô hình nuôi Nhím đầu tiên ở tỉnh Bình Định từ năm 2009 (Lợi thế trang trại của anh là diện tích rộng 1270m2, mặt bằng đất sẵn có của gia đình, tuy nhiên bất lợi của anh là thời điểm giá nhím giống tăng cao, anh chỉ quan tâm đến tiêu thụ nhím giống chứ chưa chú trọng đến thị trường tiêu thụ nhím thịt)
− Lợi thế của chúng tôi là vị trí địa lý: mặt bằng đất rộng, vì đất ở vùng quê nên giá thuê đất rẻ Ngoài ra chúng tôi cũng sẽ tìm hiểu và ứng dụng những phương pháp kỹ thuật chăn nuôi mới nhất để tạo nên một sản phẩm nhím chất lượng nhất , đảm bảo và nâng cao uy tín
Trang 10Điểm mạnh
• Không gian rộng.
• Địa điểm chăn nuôi gần thành phố, thuận
tiện cho việc cung ứng sản phẩm
• Nhân viên trong trang trại có phong cách
phục vụ khách hàng tốt, luôn ân cần đón
chào khách hàng đến tham quan và mua
hàng.
• Giá cả sản phẩm hợp lý, không chênh lệch
giá quá cao so với đối thủ cạnh tranh.
• Trang trại có quy mô ở Tây Sơn Bình Định.
• Chưa được nhiều người biết đến và chưa
có tên tuổi trên thị trường.
Trang 11Cơ hội
• Thu nhập người dân ngày càng cao, nhu cầu
ăn uống ngày càng tăng.
• Khách hàng có nhu cầu về những món ăn
đặc sản mới lạ, ngon, bổ dưỡng.
• Chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế trang
trại của chính phủ.
Thách thức
• Cạnh tranh về việc cung cấp Nhím trở nên gay gắt đặc biệt khi nhu cầu về nhím bão hòa.
• Xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh.
*PHÂN TÍCH MA TRẬN SWOT
*Chiến lược kinh doanh-chiến lược giá
Mỗi sản phẩm bất kì đều có chu kì sống với 5 giai đoạn:
-Năm 2011, giá 1 đôi nhím giống 6-7 tháng tuổi là 3tr/cặp đến 4tr/cặp, đến năm
2012, giá nhím lại nhảy vọt lên 13tr đồng/cặp, qua năm 2013, vẫn giữ ở mức 13tr đến 14tr đông/cặp
Giá nhím giống hiện nay vẫn không có dấu hiệu giảm
-Mức tiêu thụ sản phẩm ngày càng tăng, bằng chứng là người dân tìm mua nhím khó khăn do không tìm được mối trại nhím giống ở thị trường miền trung, vì vậy
để đáp ứng lượng cầu này , thị trường xuất hiện ngày càng nhiều trại nuôi nhím giống=> tăng đối thủ cạnh tranh Vậy sản phẩm nhím đang ở giai đoạn phát triển chuẩn bị chuyển sang giai đoạn bão hòa Theo những người nuôi nhím có kinh nghiệm, giai đoạn này đã bắt đầu cách đây 7 năm và còn kéo dài khoảng 2-3 năm nữa Sau đó sẽ bước qua giai đoạn bão hòa, giai đoạn này kéo dài 5-7 năm, sau đó sản phẩm bước vào giai đoạn suy thoái
Trang 12-Khách hàng quan tâm đến giá cả nhưng không phải đồng nghĩa với không quan tâm đến chất lượng, chất lượng cao sẽ làm tăng uy tín, kích thích khách hàng từ
đó nâng cao khả năng sinh lời và khả năng cạnh tranh vì vậy chúng tôi luôn tìm tòi, áp dụng những phương pháp kỹ thuật mới nhất để có chất lượng nhím tốt nhất
-Thường thì giá sản phẩm trên thị trường được hình thành qua thỏa thuận giữa người bán và người mua; giá có thể khác nhau tùy chất lượng nhím Hiện nay, giá nhím thịt trung bình nằm trong khoảng 250 000 đồng/kg đến 350 000 đồng/kg
III.NỘI DUNG NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT
3.1 Mô tả sản phẩm của dự án
Nhím bờm có tên khoa học là Acanthion subcristatum (swinhoc) Tiếng la tinh
có nghĩa là: Quill pig (lợn lông) Tên tiếng Anh là Porcupine Tên tiếng Thái: Tô Mển, tiếng Giao: Điền dạy Là một loài vật gặm nhấm, sống hoang dã ở một số nước như Nêpan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, Trung Quốc Tại nước ta, chúng sống dọc theo các vùng đồi núi và trung du, rừng rậm
Thịt nhím hơi giống thịt lợn rừng, nhiều nạc, ít mỡ, là món ăn đặc sản vừa thơm ngon vừa có giá trị dinh dưỡng cao Bao tử nhím là loại dược liệu quí dùng để ngâm rượu thuốc chữa bệnh đau bao tử, kích thích ăn uống, tiêu hóa tốt Lông nhím dùng làm đồ trang sức, chữa viêm tai giữa, đau răng Mật nhím dùng chữa đau mắt, đau lưng và xoa bóp chấn thương Thịt, ruột già, gan và cả phân nhím dùng chữa bệnh phong nhiệt
"Bản thảo cương mục" của Lý Thời Trân cho biết, dạ dày nhím vị ngọt, tính hàn, không độc; được sử dụng làm thuốc chữa bệnh dạ dày ở người Theo giáo sư Tiến
sĩ Đỗ Tất Lợi, dạ dày nhím còn có thể giải độc, mát máu, chữa lòi dom, di mộng tinh, nôn mửa, kiết lỵ ra máu Người Trung Quốc rất coi trọng những công dụng này và thường xuyên tìm mua dạ dày nhím
Theo "Cây cỏ và động vật làm thuốc ở Việt Nam", da nhím được dùng trong y học cổ truyền với tên thuốc là thích vị bì Lông nhím là hào trư mao thích Dạ dày nhím là hào trư đỗ
Trang 13Với giá trị dinh dưỡng cao, Giá thịt nhím khoảng 200.000 – 300.000 đồng / kg hơi Khoảng 10 năm gần đây, nhím là một đối tượng bị săn bắt, đánh bẫy rất nhiều, nhím rừng hoang dã ngày càng trở nên khan hiếm, cạn kiệt.
3.1.1 Đặc điểm nhận dạng
Nhím Bờm là loại lớn nhất trong bộ gặm nhấm, nặng trung bình từ 13-15kg, thân và đuôi dài từ 80-90cm Hình dáng nặng nề, mình tròn đầu to, mõm ngắn có 4 răng cửa dẹp và rất sắc, mắt nhỏ, tai nhỏ, chân ngắn (4 chi) 2 chi sau ngắn hơn 2 chi trước, móng chân nhọn sắc Trên lưng lông biến thành gai cứng, nhọn nhất là nửa lưng phía sau, dài từ 10- 30cm Đuôi ngắn, có những sợi lông phía đầu phình ra thành hình cốc rỗng ruột màu trắng
Nhím đực có mỏ dài hơn, đầu nhọn, thân hình thon dài, đuôi dài hơn, tính tình hung dữ, hay lùng sục, đánh lại con đực khác để “bảo vệ lãnh thổ”
Khi gặp kẻ thù thì nhím rung đuôi, những lông chuông này tạo thành một tiếng kêu “lách cách”, “lè xè” để doạ nạt kẻ thù và thông báo với những con vật cùng đàn
Lúc nhỏ, lỗ sinh dục con đực có “gai”, và con cái không có (Để phân biệt, chúng ta có thể vật ngửa nhím con, vạch lỗ sinh dục để xem)
Lúc trưởng thành: Con đực có dương vật và dịch hoàn nhô ra phía bụng, cách lỗ hậu môn khoảng 2-3 cm Con cái có “lỗ sinh dục” cũng cách hậu môn 2-3 cm
Nhím cái có 6 vú nằm ở 2 bên sườn Khi cho con bú nhím mẹ nằm úp bụng xuống đất
3.1.2 Sinh trưởng của nhím
Khối lượng cơ thể của nhím dao động tùy lứa tuổi:
Trang 14Như vậy, nếu nuôi nhím vỗ béo, thì kéo dài quá một năm, tốc độ tăng trọng không còn tốt nữa Lúc này phải tính toán kinh tế, liệu kéo dài thời gian vỗ béo sẽ có lãi hay không
Tuy nhiên đối với nhím hậu bị (nuôi sinh sản), thì không nên vỗ béo Hãy hạn chế lượng thức ăn sao cho tăng trọng 0.8 kg / tháng là vừa đủ
Tỉ lệ thịt xẻ so với khối lượng sống chiếm từ 62% đến 69% Tỉ lệ thịt đùi so với thịt xẻ là 20% Thịt nhím 1 năm tuổi rất ít mỡ
3.1.3 Tập tính
a Tính bầy đàn / gia đình “máu mủ”
Nhím là loài động vật có tính gia đình rất cao, con đực chỉ chấp nhận ở cùng những nhím con mà chính do chúng đẻ ra Những con nhím cái mà đã mang thai với đực khác khi ghép đôi với đực mới thì khi đẻ ra con đực sẽ cắn chết ngay những con con này Nhưng ở lứa đẻ sau thì chúng lại sống với nhau bình thường, nhím con đẻ ra phát triển tốt
Với nhím nuôi thả theo lô tập trung, nhím khó có khả năng thân thiết nhau, chúng hay đánh nhau gặm cụt lông của nhau thậm chí chúng còn giết chết nhau, những
lô nhím ghép một đực với vài con cái thì chưa thấy nhím cái sinh sản
Kết hợp với những kinh nghiệm thu được qua các trang trại nhím khác, chúng tôi nhận thấy rằng không nên nuôi thả từng bầy đàn Nên ghép chúng thành từng đôi nuôi riêng từng ô, và có thể đổi đực giống
Chính vì thế, trong các chuồng nuôi, nếu được quây bằng lưới sắt thưa, chân chuồng phải được xây kín, để nhím con không thể thò chân, người sang chuồng bên để
đề phòng con khác cắn
b Ngủ / nghỉ ngơi
Nhím chủ yếu sinh hoạt về đêm Ban ngày nhím tập trung ngủ từ 10 giờ sáng đến 3 giờ chiều Như vậy người chăn nuôi không nên có những hoạt động làm mất giấc ngủ của nhím trong buổi trưa
c Ăn - uống:
Có một số trại không cho nhím uống nước, bù lại thức ăn phần lớn là củ, quả
và lá nhiều nước Các trại chăn nuôi khác đều cho uống Nhím rất hay uống nước và đi
Trang 15tiểu nhiều lần trong ngày Nước tiểu rất hôi và có hiện tượng là ít ruồi nhặng gần nơi ở của nhím
Sau khi sinh 5 ngày nhím con đã tập nhấm nháp thức ăn Nhím nhặt nhạnh tất
cả các loại thức ăn rơi vãi trên nền Là loài gặm nhấm, nên nhím ăn đủ thứ thức ăn, các loại rau, củ quả, gặm cả xương, thân cây khô.Nhìn chung nhím ăn nhiều về đêm 3.1.4 Các loại thức ăn dành cho nhím
Nhím tiêu thụ thức ăn khá đa dạng:
- Ăn nhiều : Bí đỏ, chuối tây, củ dong riềng, đậu tương, đu đủ, khoai lang, khoai tây, đậu phộng, Mía cây, bắp hạt, khoai mì, sắn dây củ, su hào, cây chuối, cây ngô, quả sung, quả vả, khoai sọ, táo quả, quả roi, quả ổi, xương động vật, sắn lát khô, cám gạo
- Ăn khá : Cỏ voi, rau muống, dây khoai lang
- Ăn Trung bình: Chàm bông vàng, chàm tai tượng, lá dâu
- Ăn kém: Lá sung
Các loại thức ăn dạng bột là thứ mà nhím không thích sử dụng trong bữa ăn của mình Nếu khi ta cho cùng một lúc hai loại thức ăn dạng củ quả và dạng bột vào thì bao giờ Nhím cũng ăn loại thức ăn củ quả trước
3.1.5 Động dục
Từ 8 tháng tuổi, nếu sinh trưởng và phát dục tốt, nhím có thể giao phối lần đầu Những động dục bên ngoài không rõ rệt, đặc biệt là nhím mới bắt từ rừng về Những ngày động dục nhím cái tiết ra một ít chất nhờn lẫn máu Khi nhím cọ vào nền chuồng hoặc máng ăn, chất nhầy được đẩy ra dính vào nơi nằm, và dính vào âm hộ Một vài ngày chất nhầy này khô đi và nhím trở lại bình thường
Thời gian động dục một lần là 2-3 ngày.Trong điều kiện nuôi nhốt, thức ăn được cấp đều thường xuyên, thời điểm động dục thường xuất hiện quanh năm Nếu phối giống không chửa, 30-32 ngày sau nhím động dục trở lại
Đối với nhím đẻ chết con thời gian động dục sau khi đẻ từ 10-15 ngày Nhím đực và nhím cái tìm đến nhau thông qua mùi của con cái và biểu hiện rung chuông Khi đưa nhím đực đến, nếu cái có triệu chứng động dục chúng có thể giao phối luôn
3.1.6 Giao phối