dựng trung tâm thương mại tổng hợp văn phòng dịch vụ nhà ở Phú Diễn-Từ Liêm- Hà Nội của công ty Đông Đô- Bộ quốc phòng” Đề tài sẽ đi vào thực hiện những nội dung như sau: Thứ nhất, hệ t
Trang 1CH ƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1 Tính cấp thiết của đề tài
Một nền kinh tế phát triển thì đi cùng với nó là sự phát triển của đầu
tư xây dựng công trình Trong những năm qua, đầu tư xây dựng đã gópphần không nhỏ vào sự phát triển và tăng trưởng của các nước Và để một
dự án đầu tư xây dựng trở nên hiệu quả thì vấn đề quản trị nguồn vốn làmột điều rất quan trọng
Với đặc trưng của những dự án đầu tư xây dựng là vốn lớn, thời gianđầu tư dài thì việc lập ngân sách cho dự án là điều cần thiết phải thực hiện.Ngân sách cho đầu tư xây dựng chịu tác động trực tiếp từ tình hình nềnkinh tế và thị trường Với mỗi tình trạng nền kinh tế khác nhau thì ngânsách dành cho dự án sẽ phải khác nhau
Với hàng loạt những biến động của nền kinh tế, và những động tháiChính phủ, cùng với diễn biến của thị trường bất động sản đang trong giaiđoạn nghiên cứu, việc lập ngân sách sẽ phải thực hiện như thế nào
Dự án “ Xây dựng trung tâm thương mại tổng hợp văn phòng dịch
vụ nhà ở Phú Diễn- Từ Liêm- Hà Nội của công ty Đông Đô- Bộ quốcphòng” đã được triển khai từ 8/ 20008 đứng trước những thách thức vànguy cơ gì
Vấn đề đặt ra trước mắt và lâu dài đó là làm sao dự án sẽ vẫn đượcthực hiện hiệu quả trong điều kiện nền kinh tế như hiện nay Điều đó phụthuộc rất nhiều vào tình hình quản trị tài chính của công ty hay cụ thể hơn
là quy trình lập ngân sách đầu tư dài hạn cho dự án, quản trị nguồn vốn đầu
tư, nguồn vốn tài trợ một cách hợp lý
2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài
Dựa trên sự cấp thiết của đề tài nhóm tác giả đã lựa chọn và thựchiện đề tài: “ Thực trạng lập ngân sách đầu tư dài hạn cho dự án “ Xây
Trang 2dựng trung tâm thương mại tổng hợp văn phòng dịch vụ nhà ở Phú
Diễn-Từ Liêm- Hà Nội của công ty Đông Đô- Bộ quốc phòng”
Đề tài sẽ đi vào thực hiện những nội dung như sau:
Thứ nhất, hệ thống các cơ sở lý luận về ngân sách đầu tư dài hạn chomột dự án, thị trường bất động sản, những rủi ro đối với việc thực hiện dựán
Thứ hai, xác định những yếu tố cần thiết cho việc thực hiện một dự
án, từ đó phân tích các yếu tố đó: luồng tiền, tính thanh khoản, vốn tài trợ,vốn CSH, giá trị thời gian của tiền…
Thứ ba, phân tích tình hình kinh tế, thị trường bất động sản với cácbối cảnh rủi ro cho việc thực hiện dự án
Thứ tư, lập ngân sách đầu tư dài hạn cho dự án trong các bối cảnh rủiro
Thứ năm, dựa trên những nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất, kiếnnghị một số giải pháp để có thể lập ngân sách đầu tư dài hạn cho dự án thựchiện hiệu quả hơn trong thời gian tới
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Với bản thân, nhóm tác giả thực hiện đề tài này với mong muốn cóthể vận dụng những kiến thức đã được học vào thực tế một vấn đề để có thểnâng cao được khả năng thực tế của mình hơn
Mục tiêu lý luận: Đề tài sẽ hệ thống một cách logic những vấn đềliên quan đến rủi ro và lập ngân sách đầu tư dài hạn
Mục tiêu thực tiễn: Về mặt thực tiễn, đề tài sẽ cung cấp thông tin vềtình hình kinh tế- xã hội của nước ta cũng như thế giới từ đó phân tíchnhững rủi ro liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến dự án mà nhóm đangtrực tiếp nghiên cứu, từ đó lập nghiên cứu, phân tích và lập ngân sách đầu
tư dài hạn cho dự án Cùng với đó là những kết luận về vấn đề nghiên cứu
và đưa ra đề xuất, kiến nghị một số giải pháp để có thể lập ngân sách đầu tưdài hạn cho dự án thực hiện hiệu quả hơn trong thời gian tới
Trang 34 Các câu hỏi đặt ra trong quá trình nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài, nhóm tác giả đã đặt ra một số câu hỏi để làmtiêu chí cho việc thực hiện đề tài của mình như:
Ý nghĩa của việc lập ngân sách đầu tư dài hạn cho dự án là gì?
Với các bối cảnh rủi ro cụ thể thì nên lập ngân sách cho dự án nhưthế nào?
Lập ngân sách dài hạn cho dự án như thế nào để các nhà đầu tư vẫntin tưởng và đầu tư cho dự án trong bối cảnh nền kinh tế như hiện nay?
Thời gian thực hiện dự án là bao lâu?
Dự án trên có nên tiếp tục tiến hành trong bối cảnh nền kinh tế lạmphát cũng như thị trường bất động sản càng ngày càng suy giảm và ảmđảm, trầm lắng như hiện nay?
5 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Phạm vi không gian: Dự án xây dựng trung tâm thương mại tổng hợpvăn phòng dịch vụ nhà ở Phú Diễn-Từ Liêm-Hà Nội,chủ đầu tư: Công tyĐông Đô- Bộ quốc phòng
Phạm vi thời gian: 5 năm ( Từ 8/2008 – 12/2013)
6 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Đề tài rất có ý nghĩa cho dự án thực hiện trong bối cảnh nền kinh tếnhư hiện nay Qua quá trình phân tích và đánh giá nền kinh tế với nhữngrủi ro và đầy khó khăn, đặc biệt là tình hình thị trường bất động sản đangtrầm lắng như hiện nay, để có được cách nhìn tổng quan cho quá trình lậpngân sách đầu tư dài hạn cho dự án được triển khai hiệu quả đồng thời qua
đó tạo niềm tin và sự thu hút vốn cho các nhà đầu tư tiếp tục, đã, đang và sẽđầu tư cho dự án trong thời gian tới
7 Kết cấu đề tài nghiên cứu
Ngoài danh mục bảng biểu, kết luận, phụ lục, danh mục từ viết tắt…
đề tài được chia thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài
Trang 4Chương 2: Tóm lược một số lý luận về vấn đề lập ngân sách đầu tưdài hạn cho một dự án trong các bối cảnh rủi ro.
Chương 3:Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích vấn đềnghiên cứu
Chương 4:Các kết luận, thảo luận và đề xuất với vấn đề nghiên cứu
Trang 5CHƯƠNG 2 TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LẬP NGÂN SÁCH
ĐẦU TƯ DÀI HẠN CHO MỘT DỰ ÁN XÂY DỰNG.
1 Một số vấn đề lý luận cơ bản
1.1 Đầu tư
là quá trình bỏ vốn để tạ nên cũng như để vận hành một loại tài sảnkinh doanh nào đó như nhà xưởng, máy móc và vật tư (thường được gọi làđầu tư cho các đối tượng vật chất ) cũng như để mua cổ phiếu, trái phiếuhoặc cho vay lấy lãi (thường được gọi là đầu tư tài chính), mà ở đây, nhữngtài sản đầu tư này có thể sinh lợi dần hoặc thỏa mãn dần một nhu cầu nhấtđịnh nào đó của người bỏ vốn cũng như toàn xã hội trong thời gian nhấtđịnh trong tương lai (thường là vòng đời của dự án đầu tư)
1.2 Đầu tư dài hạn
Là hoạt động bỏ vốn để hình thành các tài sản cần thiết nhằm mụcđích thu được lợị nhuận trong khoảng thời gian dài trong tương lai ( thờigian thu hồi vốn đầu tư lớn hơn 12 tháng ) Thực chất hoạt động đầu tư dàihạn của doanh nghiệp là hoạt động bỏ vốn của doanh nghiệp để hình thànhcác tài sản chủ yếu sau :
Hiện nay có hai góc độ tiếp cận dự án được coi là phổ biến:
Theo góc độ “ tĩnh”, dự án được hiểu là một hình tượng về một tìnhhuống ( một trạng thái) mà ta muốn đạt tới trong tương lai
Trang 6Theo góc độ “ động”, dự án được coi là một hoạt động đặc thù, tạonên một cách có phương pháp và định tiến với các phương tiện đã chonhằm tạo nên một thực tế mới.
Dự án kinh doanh là dự án được hình thành và triển khai trong lĩnhvực kinh doanh Dự án kinh doanh được biểu hiện từ hai góc độ: hình thức
và nội dung
Về hình thức: Dự án kinh doanh là một tập hồ sơ tài liệu, trong đótrình bày một cách chi tiết và hệ thống các hoạt động với các nguồn lực vàchi phí theo một kế hoạch nhằm thực hiện mục tiêu xác định trong một thờihạn ấn định
Về nội dung: Dự án kinh doanh là một tổng thể các chính sách, cáchoạt động và các chi phí liên quan với nhau được hoạch định nhằm đạt mụctiêu nhất định trong một thời hạn nhất đinh
Lập ngân sách (Lập ngân sách vốn hay thẩm định đầu tư) là quá trìnhlập kếs hoạch được sử dụng để xác định liệu các đầu tư dài hạn của một tổchức như máy móc thiết bị mới, máy móc thay thế, các nhà máy mới, sảnphẩm mới, và các dự án nghiên cứu phát triển có đáng theo đuổi haykhông Đây là ngân sách cho nguồn vốn, hoặc đầu tư, chi phí chính
Nhiều phương pháp chính thức được sử dụng trong lập ngân sáchvốn, bao gồm các kỹ thuật như:
Tỷ lệ hoàn vốn kế toán
Giá trị hiện tại ròng
Chỉ số lợi nhuận
Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ
Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ thay đổi
Niên kim tương đương
Những phương pháp này sử dụng lưu chuyển tiền tệ gia tăng từ mỗi
đầu tư, hoặc dự án tiềm năng Các kỹ thuật dựa vào thu nhập kế toán và các
quy tắc kế toán đôi khi được sử dụng - mặc dù các nhà kinh tế xem điều
Trang 7này không phù hợp - chẳng hạn như tỷ lệ hoàn vốn hạch toán, và "hoàn vốn
đầu tư" Các phương pháp đơn giản hóa và các phương pháp lai cũng được
sử dụng, chẳng hạn như thời gian hoàn vốn và thời gian hoàn vốn chiết
khấu.
2.1 Lập ngân sách đầu tư dài hạn:
Phải đưa ra dự thảo ngân sách linh hoạt, có những dự toán ngân sáchvới những mục tiêu dài hạn bền vững và ngắn hạn linh hoạt, phân bổ ngânsách rõ ràng dựa trên doanh số bền vững và thực tế, tăng trưởng lợi nhuận
và tổng lợi nhuận Hay nói cách khác, không phải lĩnh vực nào cũng đượcđầu tư như nhau Hơn nữa, một ngành kinh doanh tăng trưởng chậm không
có nghĩa là ngành đó không tạo ra nhiều giá trị như một ngành tăng trưởngnhanh Miễn là mỗi ngành đều thu được hiệu quả tương xứng với đầu tư là
đã đạt được mục tiêu tổng thể Có thể có các chương trình đổi mới ngắnhạn, trung hạn và dài hạn từ 3-5 năm hoặc từ 10-15 năm
2.2 Rủi ro:
Rủi ro là điều không ai mong đợi nhưng phải chấp nhận “sốngchung” Nhận diện được rủi ro, có giải pháp phòng tránh, biến hạn chế tổnthất khi có rủi ro, đó là giải pháp tích cực thay vì “mũ ni che tai” hoặc lạcquan tếu, kinh doanh liều lĩnh
Vậy thì "rủi ro” là gì? Đã có nhiều định nghĩa về rủi ro, tựu trung
lại, có hai điểm chủ yếu : thứ nhất đó là các sự kiện bất ngờ, không mongđợi; thứ hai là khi xảy ra, rủi ro gây tổn thất cho con người, xã hội Hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp rất đa dạng.Về lý thuyết, các hoạt động
đó luôn có những rủi ro rình rập Thay vì thống kê các rủi ro (là điều khókhăn), tiếp cận vấn đề từ việc nhận dạng các nguyên nhân gây rủi ro sẽgiúp các doanh nghiệp chủ động phòng tránh tốt hơn
Bài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu nguyên nhân gây ra rủi ro làcác rủi ro từ môi trường kinh tế: một nền kinh tế khoẻ là một nền kinh tế cósức đề kháng cao, có khả năng giải quyết khủng hoảng một cách tốt nhất
Trang 8theo hướng minh bạch, chi phí thấp, tính bền vững cao Một môi trườngkinh tế, nơi thường xuyên có khủng hoảng, lạm phát triền miên, giá cả thấtthường, cung cầu bất ổn, tỷ giá thay đổi chóng mặt, hàng hóa dịch vụ khanhiếm (thật và giả), độc quyền không kiểm soát được, cạnh tranh công bằngchỉ nằm trên giấy cùng với việc thiếu năng lực kỹ trị hoặc sự công tâmcủa công quyền đều được coi là những rủi ro lớn cho các doanh nghiệp.Ngoài ra, xét từ một góc độ khác, các thách thức đến từ một nền kinh tế cósức cạnh tranh cao, sự thay đổi mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, của côngnghệ thông tin cũng sẽ là những rủi ro cho những doanh nghiệp thiếu khảnăng thích ứng với đổi mới.
3 Tổng quan về đầu tư dài hạn của doanh nghiệp
Khái niệm:
Đầu tư dài hạn là một trong những nhân tố chủ yếu quyết định đến
sự phát triển của một doanh nghiệp cũng như của nền kinh tế quốc dân.Đầu tư là việc sử dung các nguồn lực hiện tại nhằm biến các lợi ích dự kiếnthành hiện thực trong tương lai Tuy nhiên, trong phạm vi xem xét khácnhau, khái niệm đầu tư cũng có những điểm khác nhau
Từ đó có thể thấy rằng: Đầu tư dài hạn là quá trình hoạt động sửdụng vốn để hình thành nên những tài sản cần thiết nhằm phục vụ cho mụcđích thu lợi nhuận cho doanh nghiệp trong khoảng thời gian dài trongtương lai
Đầu tư dài hạn của doanh nghiệp có đặc điểm là phải ứng ra mộtlượng vốn tiền tệ ban đầu tương đối lớn và được sử dụng có tính chất dàihạn trong tương lai, do đó đầu tư dài hạn luôn gắn với rủi ro Các quyếtđịnh đầu tư của doanh nghiệp mặc dù đều dựa trên cơ sở dự tính về thunhập trong tương lai do đầu tư đưa lại, tuy nhiên khả năng nhận được thunhập trong tương lai do đầu tư mang lại thường không chắc chắn nên rủi rotrong đầu tư là rất lớn Thời gian đầu tư càng dài thì rủi ro đầu tư càng cao
và ngược lại
Trang 94 Các loại đầu tư dài hạn của doanh nghiệp
Theo cơ cấu vốn đầu tư
- Đầu tư xây dựng cơ bản
- Đầu tư về vốn lưu động thường xuyên cần thiết
- Đầu tư góp vốn liên doanh dài hạn và đầu tư vào tài sản tài chínhTheo mục tiêu đầu tư
- Đầu tư hình thành doanh nghiệp
- Đầu tư mở rộng quy mô kinh doanh
- Đầu tư chế tạo sản phẩm mới
- Đầu tư thay thế, hiện đại hóa máy móc
- Đầu tư ra bên ngoài
5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư dài hạn
Sự thành bại của doanh nghiệp trong tương lai tùy thuộc rất lớn vàocác quyết định đầu tư hoomnay Chính vì thế, để đi đến quyết định đầu tưđòi hỏi doanh nghiệp phải cân nhắc kỹ lưỡng nhiều vấn đề, xem xét nhiềuyếu tố Có nhiều yếu tố tác động đến việc đầu tư của doanh nghiệp, trong
đó có những yếu tố tác động có tính chất quyết định, gồm các yếu tố chủyếu sau đây:
- Chính sách kinh tế của nhà nước trong việc phát triển kinh tế
- Thị trường và sự cạnh tranh
- Lãi suất và thuế trong kinh doanh
- Sự tiến bộ của khoa học và công nghệ
- Mức độ rủi ro của đầu tư
- Khả năng tài chính của doanh nghiệp
6 Trình tự ra quyết định đầu tư dài hạn
- Phân tích tình hình, xác định cơ hội đầu tư hay định hướng đầu tư
- Xác định mục tiêu đầu tư
- Đánh giá, thẩm định dự án và lựa chọn dự án đầu tư
- Ra quyết định đầu tư
Trang 107 Xác định dòng tiền của dự án đầu tư
- Các nguyên tắc cơ bản khi xác định dòng tiền của dự án
- Đánh giá dự án cần phải dựa trên cơ sở đánh giá dòng tiền tăngthêm do dự án mang lại chứ không phải dựa vào lợi nhuận kế toán
- Phải tính đến chi phí cơ hội khi xem xét dòng tiền của dự án
- Không được tính chi phí chìm vào dòng tiền của dự án
- Phải tính đến yếu tố lạm phát khi xem xét dòng tiền
- Ảnh hưởng chéo
- Xác định dòng tiền ra của dự án
- Xác định dòng tiền vào của dự án đầu tư
8 Đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư dài hạn
- Tiêu chuẩn đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư
Để lựa chọn dự án cần phải cân nhắc xem xét nhiều mặt, trong đó có
về tài chính, chủ yếu là xem xét hiệu quả kinh tế của dự án Các chỉ tiêu sửdụng phải nhằm đánh giá được mức tiềm năng lợi nhuận của một dự án đầu
tư Trên góc độ tài chính, các tiêu chuẩn chủ yếu đánh giá hiệu quả kinh tếcủa dự án đầu tư thường sử dụng là:
Tỷ suất lợi nhuận bình quân vốn đầu tư
TSV =
Trong đó:
TSV: Tỷ suất lợi nhuận bình quân vốn đầu tư của dự án đầu tư
Lợi nhuận sau thuế dự kiến do dự án đầu tư mang lại năm thứ tVốn đầu tư ở năm thứ t của dự án Số vốn đầu tư ở mỗi năm đượcxác định là số vốn đầu tư lũy kế ở thời điểm cuối mỗi năm trừ đi số khấuhao TSCĐ lũy kế ở thời điểm đầu mỗi năm
Thời giân đầu tư
Thời gian hoàn vốn đầu tư
Trường hợp 1: Nếu dự án đầu tư tạo ra chuỗi tiền tệ thu nhập đều đặnhàng năm thì thời gian thu hồi vốn đầu tư được xác định theo công thức:
Trang 11Thời gian thu hồi vốn đầu tư =
Trường hợp 2: Dự án đầu tư tạo ra chuỗi tiền tệ thu nhập không ổnđịnh ở các năm Thời gian thu hồi vốn đầu tư được xác định theo cách sau:
Xác định số năm thu hồi vốn đầu tư bằng cách tính số vốn đầu tưcòn phải thu hồi ở cuối năm lần lượt theo thứ tự
Vốn đầu tư còn phải thu hồi cuối năm t= Số vốn đầu tư chưa thu hồicuối năm t-1 – Dòng tiền thuần của đầu tư năm t
Khi số vốn đầu tư còn phải thu hồi ở cuối năm nào đó nhỏ hơn dòngtiền thuần của đầu tư năm kế tiếp
Số tháng thu hồi vốn đầu tư trong năm t = *12
Tổng hợp số năm và số tháng thu hồi vốn đầu tư chính là thời gianthu hồi vốn đầu tư của dự án
Giá trị hiện tại thuần của dự án đầu tư ( NPV)
NPV = −
Trong đó: CFt: Dòng tiền thuần của dự án đầu tư ở năm t
CFo: Vốn đầu tư ban đầu của dự án
r: Tỷ lệ chiết khấu hay tỷ lệ hiện tại hóa
Tỷ suất doanh lợi nội bộ của dự án đầu tư ( IRR)
= CFo Hoặc NPV = – CFo = 0
Để xác định được tỷ suất doanh loại nội bộ của dự án, người tathường sử dụng hai phương pháp thử và xử lý sai số và phương pháp nộisuy
Chỉ số sinh lời của dự án đầu tư
PI =
9 Các phương pháp chủ yếu đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư
- Phương pháp tỷ suất lợi nhuận bình quân vốn đầu tư
- Phương pháp thời gian hoàn vốn đầu tư
- Phương pháp xem xét giá trị hiện tại thuần ( NPV)
- Phương pháp xem xét tỷ suất doanh lợi nội bộ ( IRR)
Trang 12- Những rủi ro do biến động chính trị, xã hội
Những rủi ro loại này ( thay đổi chính trị, bạo loạn, nội chiến…)thường tác động mạnh đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nóichung và các dự án kinh doanh nói riêng
- Những rủi ro biến động của các điều kiện kinh tế vĩ mô
Những rủi ro loại này bao gồm: lạm phát, thất nghiệp, khủng hoảngkinh tế…sẽ làm đảo lộn mọi dự tính ban đầu của dự án và dẫn đến nhữngthiệt hại về vật chất đáng kể
- Các rủi ro liên quan đến bạn hàng
Bạn hàng của doanh nghiệp được coii là những nhà cung cấp và cảkhách mua hàng của doanh nghiệp.Doanh nghiệp phải tiến hành giao dịchvới các bạn hàng thường xuyên trong quá trình kinh doanh và đều có thể córủi ro vầ hàng, tiền không nhận được
- Các rủi ro liên quan đến đối thủ cạnh tranh
Mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các đối thủ cạnh tranh thể hiệntính hai mặt:
Một là, họ là đồng nghiệp cùng hoạt động trong cùng một ngànhnghề, một lĩnh vực kinh doanh, tạo nên sự sinh động, hấp dẫn của thịtrường, thu hút khách hàng
Hai là, họ là đối thủ của nhau, cạnh tranh nhau quyết liệt nhằm giành
ưu thế và lợi ích
Trang 13Như vậy, với tư cách là đối thủ cạnh tranh, họ tạo ra rủi ro cho cácđối thủ của mình, với tư cách là đồng nghiệp, họ tạo ra cơ hội cho mình vàcho đối thủ.
b Dự báo rủi ro
Dự báo rủi ro là một khâu quan trọng trong quản trị rủi ro của dự án
Dự báo rủi ro là một nghệ thuật, ở đó tính sáng tạo đóng vai trò quan trọng.Mục đích của nó là giúp các nhà quản trị có được cơ sở cho những quyếtđịnh nhằm né tránh, ngăn ngừa hoặc hạn chế đến mức thấp nhất sự ảnhhưởng của rủi ro đến kết quả của dự án
Né tránh rủi ro là một biện pháp kiểm soát của nhà quản trị, nó giúpcho việc đưa ra các quyết định để chủ động né tránh trước khi rủi ro xảy ra
và loại bỏ những nguyên nhân của chúng Né tránh rủi ro là cách tiếp cậnhữu hiệu của quản trịm nó giúp cho tổ chức biết rằng họ sẽ không phảigánh chịu những tổn thất tiềm tang hoặc bất định mà rủi ro có thể gây ra.Tuy nhiên, né tránh cũng có thể làm cho doanh nghiệp mất đi những lơi ích
có thể có từ những rủi ro đó.Chính điều này làm cho các nhà quản trị phải
có sự lựa chọn giữa có và không
Trong nhiều trường hợp, né tránh tuyệt đối không thể thực hiệnđược , bởi trong kinh doanh, cơ hội và rủi ro là song song tồn tại
Ngăn ngừa rủi ro là một biện pháp không ngoan hơn cả, bởi vì nhàkinh doanh xác định trước được khả năng xảy ra rủi ro và chấp nhận với
Trang 14một sự chuẩn bị và khả năng hoàn thành công việc kinh doanh với chi phíphù hợp để vẫn được lợi nhuận tiềm tàng trong tương lai.
Có thể áp dụng các phương pháp ngăn ngừa rủi ro tùy theo từngnguyên nhân dẫn đến rủi ro Để phát triển thị trường mới hoặc thâm nhậpthị trường mới, nhà kinh doanh cần có đầy đủ các thông tin để nghiêncứu…Trên cơ sở các thông tin về thị trường, tiến hành cân đối với khảnăng của doanh nghiệp về tài chính, nhân sự Các quyết định đưa ra sau khi
đã nghiên cứu kỹ môi trường kinh doanh nhằm giúp cho dự án tránh hoặchạn chế được những điều không đáng có xảy ra với nó
Giảm thiểu rủi ro là tìm cách làm giảm bớt giá trị hư hại khi tổn thấtxảy ra hay nói cách khách, là làm giảm nhẹ sự nghiêm trọng của tổn thất
c Chấp nhận rủi ro
Trong nền kinh tế thị trường kinh doanh luôn gắn liền với nhữngmay rủi Chấp nhận rủi ro trong kinh doanh là câu châm ngôn của các nhàkinh doanh từ ngàn xưa đến nay Bởi họ hiểu rằng rủi ro càng tăng baonhiêu, rủi ro càng lớn thì lợi nhuận càng cao
Mạo hiểm trong kinh doanh có nghĩa là chấp nhận rủi ro và cũng cónghĩa là nhà quản trị đã phân tích, đánh giá và tìm biện pháp phòng ngừarủi ro Nhà kinh doanh chỉ né tránh và hạn chế bớt rủi ro chứ không bao giờloại trừ hẳn rủi ro được Đó chính là chấp nhận rủi ro trong kinh doanh
Đối với một số rủi ro trong kinh doanh, chỉ có cách chấp nhận vàthậm chí kinh doanh những rủi ro cụ thể như rủi ro về công nghệ, rủi ro vềthị trường, rủi ro về tài sản kinh doanh… Đối với các loại rủi ro này xảy ra
là tự nhiên, nhà kinh doanh tìm cách san xẻ hoặc ứng sử phù hơp khi rủi roxảy đến.Đó là chấp nhận để hướng tới thành công
d San sẻ rủi ro
Rủi ro thông thường được san sẻ bằng cách tham gia bảo hiểm.Bảohiểm là một sách lược để giảm tính không chắc chắn của một bên- là ngườiđược bảo hiểm thông qua việc san sẻ những rủi ro các biệt tới một bênkhác- người nhận bảo hiểm, ít nhất là một phần thiệt hại mà người được
Trang 15bảo hiểm bị tổn thất Các nhà quản trị có thể sử dụng hai loại bảo hiểm là:bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm tổng hợp Ngoài hai hình thức san sẻ rủi robằng cách mua bảo hiểm, có thể sử dụng một biện pháp khác, được gọi là
tự bảo hiểm
Giải pháp quan trọng hơn giúp nhà kinh doanh tự bảo vệ chính lợiích của doanh nghiệp đó là sự lựa chọn các chiến lược kinh doanh trên cácphương diện: thị trường, mặt hàng kinh doanh, mức độ mạo hiểm trongkinh doanh và lựa chọn loại hình bảo hiểm
e Khắc phục rủi ro
- Khắc phục rủi ro về tài chính: Rủi ro về tài chính thường được khắcphục bằng những giải pháp như: huy động nguồn vốn tự có, huy đôngnguồn vốn bên ngoài Chính vì vậy, các nhà quản trị dự án cần phải tìmđược chỗ dựa vững chắc từ các thể chế tài chính đa dạng
- Khắc phục rủi ro về mặt công nghệ- kỹ thuật
Sự tiến bộ một cách vũ bão của các tiến bộ công nghệ- kỹ thuật cũng
là một trong những nguyên nhân gây ra rủi ro cho dự án Biện pháp để khắcphục tương đối đa dạng: lựa chọn công nghệ phù hợp, sử dụng phươngpháp khấu hao giảm dần, đẩy nhanh tốc độ thực hiện dự án
f Khắc phục rủi ro về mặt tổ chức- nhân sự
Môi trường kinh doanh luôn bất định là một trong nhữn yếu tố tạo rarủi ro về mặt tổ chức nhận sự Tổ chức của dự án có thể trở nên xơ cứng vàkhông thích ứng được với sự thay đổi của môi trường kinh doanh Nhân sựbiến động cũng tạo ra rủi roc ho dự án
g Hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức xã hội
Nhà nước và các tổ chức xã hội cũng là những chỗ dựa vững chắccho các nhà quản trị, đặc biệt khi có tổn thất xảy ra Nhà quản trị cần nắmđược các chương trình mà Nhà nước có chính sách ưu tiên hỗ trợ: chươngtrình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, chương trình vay vốn giải quyết việclàm, xúc tiến thương mại…
Trang 16h Rủi ro trong các giai đoạn quản trị dự án
- Giai đoạn phân tích, lập dự án
Trong giai đoạn này, rủi ro xảy đến do hai nguyên nhân chủ yếu sau: Một là,đánh giá môi trường dự án thiếu chính xác, xác định cáccông việc, tiêu chuẩn công nghệ-kỹ thuật, nguồn lực, thời gian không hợplý
Hai là, huy động nguồn lực không đủ: kinh phí thiếu, công nghệ lạchậu…
- Giai đoạn tổ chức thực hiện dự án
Nguyên nhân gây ra rủi ro trong giai đoạn này thường là:
+ Phát hiện vấn đề muộn do thiếu thông tin hoặc không cập nhâtk+ Chẩn đoán sai trong khi phân tích và xử lý thông tin
+ Các giải pháp đưa ra không phù hợp
+ Nhận thức không đúng về môi trường dự án và các yếu tố cản trởthực hiện dự án
Tóm lại, trên cơ sở nhận biết nguyên nhân dẫn đến những rủi rotrong các giai đoạn quản trị dự án, cần có các biện pháp phòng ngừa vàkhắc phục để hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại cho dự án và doanhnghiệp
10 Tổng quan tình hình thực hiện dự án, lập ngân sách đầu tư dài hạn cho dự án trong bối cảnh hiện nay:
Lạm phát là một trong bốn yếu tố quan trọng nhất của mọi quốc gia(tăng trưởng cao, lạm phát thấp, thất nghiệp ít, cán cân thanh toán có sốdư) Tình hình lạm phát năm 2008 ở Việt Nam lên tới mức báo động là 2con số, vượt qua ngưỡng lạm phát cho phép tối đa là 9% của mỗi quốc gia.Điều này sẽ dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời sống kinh tế của chính phủ:làm suy vong nền kinh tế quốc gia Bên cạnh đó là sự tác động mạnh tớiđời sống của người dân, nhất là dân nghèo khi vật giá ngày càng leo thang
Trang 17Ngân hàng đầu tư Merrill Lynch của Mỹ năm 2008 đã công bố mộtbáo cáo về tình hình kinh tế châu Á, trong đó lấy Việt Nam làm tâm điểm
để phân tích tình trạng lạm phát leo thang trong khu vực Báo cáo nhậnđịnh, Việt Nam chỉ là một nền kinh tế nhỏ trong khu vực châu Á vì GDP
70 tỷ USD của Việt Nam chỉ tương đương với 1% GDP của toàn khu vựcnày, trừ Nhật Bản Trong những năm gần đây, Việt Nam gây ấn tượng bởitốc độ tăng trưởng kinh tế cao liên tục Mặc dù vậy, Việt Nam đang chịutác động từ chính thành công quá lớn và quá nhanh chóng của chính mình
Theo các số liệu đưa ra trong báo cáo, các dòng vốn FDI đổ vào ViệtNam trong năm 2007 có thể đạt 5,7 tỷ USD (8,1% GDP), còn các dòng vốnkhác có thể đạt khoảng 8,9 tỷ USD (12,7% GDP), giá cả các mặt hàng philương thực cũng tăng tới trên 10% so với cùng kỳ năm ngoái do tăngtrưởng kinh tế cao, nhu cầu cao và thanh khoản dồi dào
Tình hình lạm phát ở Việt Nam hiện nay được coi là một ví dụ về
“cú sốc” lạm phát Tỷ lệ thất nghiệp ở nước ta ngày càng tăng hiện nay là2.88% đây là một con số khá cao cần phải chú ý tới Lạm phát ở nước tatrong năm 2008 là sự tích hợp của nhiều yếu tố: Lạm phát cầu kéo, lạmphát chi phí đẩy, lạm phát tiền tệ, lạm phát do yếu tố tâm lý Chúng ta đãbàn nhiều đến nguyên nhân trong nước và quốc tế nhưng nguyên nhân cơbản là do đã mở rộng tín dụng và đầu tư một cách quá mức để hy vọng đạtđược tăng trưởng kinh tế cao trong ngắn hạn Chính vì vậy, năm 2008chúng ta phải trả giá bằng mất ổn định kinh tế vĩ mô, ít nhất là trong trunghạn Dòng vốn từ nước ngoài đổ vào Việt Nam nhiều hơn rất nhiều so vớitrước Ngân hàng Nhà nước giữ vai trò điều tiết buộc phải đóng vai tròngười mua ngoại tệ cuối cùng và đưa thêm tiền đồng vào lưu thông Tốc độtăng cung tiền của Việt Nam cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực,đặc biệt mức chênh lệch giữa tăng trưởng GDP và tăng cung tiền của ViệtNam dãn rộng trong 3 năm qua
Trang 18Mức tăng cung tiền của Việt Nam lớn hơn rất nhiều so với các nướckhác trong khu vực Đối với một nước dân số đông và tăng nhanh như ViệtNam, số người nghèo có thể tăng lên cùng với lạm phát Ứng phó trướctình trạng này, chỉ một bộ phận người Việt có thể đầu tư vào lĩnh vực tàichính, bảo vệ chính mình.Người nghèo không có được công cụ bảo vệ đó.
Họ phụ thuộc vào thu nhập hằng ngày Họ có thể bị đói trong "cuộc đua"mua hàng hóa trong cơn lạm phát
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến tháng 4/2011, chỉ sốgiá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam đã tăng tới 9,64%, đã cao hơn mục tiêukiềm chế ở 7% mà Quốc hội thông qua đầu năm Điều này cho ta thấy rằngtình hình kinh tế của nước ta là không ổn định tốc độ tăng trưởng tuy nhanhnhưng không đảm bảo cho nền kinh tế phát triển an toàn
Căn cứ vào những lập luận trên và số liệu thực tế sẽ thấy nguyênnhân chủ yếu gây ra lạm phát của Việt Nam không phải do các yếu tố bênngoài Trong thời gian qua, lạm phát của Việt Nam luôn cao hơn một cáchbất thường so với các nước trong khu vực hay các đối thủ cạnh tranh cũngnhư các nước có điều kiện tương tự.Ở các nước này, nhìn chung mức lạmphát luôn thấp hơn mức tăng trưởng GDP (cụ thể là hầu hết đều dưới 5%),trong khi từ năm 2004 đến nay, lạm phát ở Việt Nam luôn cao hơn tăngtrưởng GDP Cá biệt năm 2008 lên đến 23%, gấp khoảng 3 lần mức tăngGDP; năm 2010 ở mức 11,75%, gấp gần 2 lần mức tăng GDP; và chỉ mới 4tháng đầu năm 2011 lạm phát đã gần 2 con số
Chính vì tình trạng này lên đã làm cho thị trường bất động sản củanước ta cuối năm 2008 bắt đầu rơi vào tình trạng đóng băng và gần đâymới bắt đầu có hơi nóng, gần như trong 2 năm trở lại đây thị trường bấtđộng sản của nước ta không có hoạt động nào được coi là đáng nhắc đến.Năm 2008 tới 2009 được coi là thời kỳ đen tối của thị trường bất động sản.Rất may là dự án xây dựng trung tâm thương mại tổng hợp đã được triểnkhai và phê duyệt vào đầu năm 2008 nên vấn đề thu hút vốn đã phần nào
Trang 19được thực hiện do vậy khi tình hình kinh tế nước ta lâm vào tình trạng lạmphát cao, dự án cũng không mắc phải nhiều khó khăn khi huy động vốn,tuy nhiên khi triển khi dự án thì gặp vấn đề về giá cả nguyên nhiên vật liệuleo thang Bắt đầu cuối năm 2008 thì tị trường bất động sản đóng băng giá
cả tăng gấp mấy lần so với trước đó, từ đó kéo theo lãi suất cũng tăng theo,trong khi đó nguồn cung tín dụng gần như bằng không , tuy nhiên thịtrường bất động sản của VN vẫn làm được đó là giá tăng gần 3 lần
11 Những nghiên cứu có liên quan
- Nghiên cứu vấn đề thẩm định dự án đầu tư công trình của bộ xây
dựng
- Nghiên cứu thẩm định dự án đầu tư của ngân hàng thương mại
- Một số thông tư, nghị định về quản lý đầu tư chi phí xây dựng công
trình của chính phủ
Trang 20CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG LẬP NGÂN SÁCH CHO ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TRUNG TÂM THƯƠNG MẠI TỔNG HỢP VĂN PHÒNG DỊCH VỤ NHÀ Ở PHÚ DIỄN – TỪ LIÊM – HÀ NỘI.
3.1 Phương pháp nghiên cứu
3.1.1 Phương pháp thu thập số liệu cho đề tài
a Phương pháp thu thập sơ cấp
Để đánh giá khách quan thực trạng lập ngân sách đầu tư dài hạn cho
dự án: “ Xây dựng trung tâm thương mại tổng hợp văn phòng dịch vụ nhà ởPhú Diễn- Từ Liêm- Hà Nội của công ty Đông Đô, Bộ quốc phòng nhóm tác giả đã sử dụng phiếu điều tra và thực hiện phỏng vấn lấy ý kiến đối với các thành viên trong công ty,các nhà quản lý dự án, cũng như những ý kiến đóng góp của người dân khu vực Phú Diễn- Từ Liêm- Hà Nôi
Để đảm bảo cho việc điều tra mang tính khách quan, phiếu điều tra được phát ra đối với các nhà đầu tư của dự án và một số người nắm giữ vai trò quan trọng trong quá trình tiến hành dự án Số phiếu phát ra để điều tra
là 100 và số phiếu thu về hợp lệ là 80
b Phương pháp thu thập thứ cấp
Những tài liệu và số liệu thứ cấp có liên quan đến dự án và đề tài nghiên cứu mà nhóm tác giả thu thập được từ các nguồn đáng tin cậy như: các bảng số liệu dự kiến chi phí cho từng hạng mục thi công do nhà quản lý
dự án cung cấp, tài liệu sách báo, tạp chí khác…
Ngoài ra số liệu này còn được thu thập từ những trang wed đáng tin cậy, ý kiến đánh giá và nhận xét của các chủ đầu tư dự án trong hiện tại và tương lai đối với dự án này
3.1.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
a Phương pháp xử lý và phân tích số liệu thứ cấp
Với những số liệu thứ cấp thu thập được, nhóm tác giả sử dụng các phương pháp phân tích, thống kê, mô tả để đánh giá dự á đầu tư của mình
Trang 21b Phương pháp xử lý và phân tích số liệu sơ cấp
Với những kết quả đã thu thập được ở phiếu điểu tra, dựa trên cơ sở
đó để phân tích đánh giá đưa vào xử lí dữ liệu thứ cấp
3.1.3 Thực trạng lập ngân sách đầu tư dự án xây dựng
a Một vài nét về công ty xây dựng Đông Đô – Bộ Quốc Phòng.
công ty xây dựng Đông Đô – BQP tiền thân là Xí nghiệp Vật liệuXây dựng và chất đốt được thành lập theo quyết định số: 457/QÐQP kýngày 03 tháng 08 năm 1993 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
sau đó Quyết định số: 1926/QP của Bộ Quốc phòng về việc phêduyệt phương án Cổ phần hóa Công ty và đổi tên Công ty thành Công ty
CP Tập Đoàn ĐTXD Phát triển Ðông Ðô - BQP
- Ðăng ký kinh doanh số: 0100406846 cấp ngày 24 tháng 03 năm 2010 do
Sở Kế Hoạch Ðầu Tư Thành phố Hà Nội
Với chức năng ngành nghề: Ðầu tư phát triển hạ tầng và kinh doanhnhà; Bất động sản; Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giaothông, thuỷ lợi, hạ tầng kỹ thuật, công trình điện, cấp thoát nước; mua bánchế tạo, lắp đặt các sản phẩm cơ khí điện lạnh, điện công nghiệp, thươngmại
b Lập ngân sách cho dự án : “ Xây dựng trung tâm thương mại tổng hợp văn phòng dịch vụ nhà ở Phú Diễn – Từ Liêm – Hà Nội ”.
- Tình hình kinh tế vĩ mô năm 2007
Năm 2007 là một năm mà nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhữngthành tựu đáng kể Cùng với việc Việt Nam gia nhập WTO (tổ chức thươngmại thế giới), nền kinh tế nước ta đã có sự tăng trưởng mạnh, vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài tăng cao kỷ lục, đời sống người dân phát triển và sứctiêu dùng tăng nhanh
- Tình hình thị trường BĐS :
Thị trường BĐS năm 2007 đã cho thấy sự tăng mạnh về cầu trong tất
cả các mảng thị trường Năm 2008 sẽ tiếp tục tăng tuy nhiên sẽ có sự khácbiệt nhu cầu vẫn tăng tuy nhiên yêu cầu của người mua sẽ cao hơn
Trang 22Năm 2007 và 2008 chứng kiến sự khởi đầu của nhiều dự án quantrọng Sự phát triển của thị trường sẽ làm giảm nhẹ tình trạng thiếu cungtrong tương lai Tại thời điểm năm 2008, thị trường BĐS Hà Nội vẫn chưađược đánh giá cao nhưng có thể thấy được tiềm năng với các dự án đangthực hiện như Golden Westlake, Hanoi Indochina Plaza, Keangnam, vàHanoi Landmark
Thị trường văn phòng và cửa hàng bán lẻ vẫn không đủ cung trên cảnước vì thế giá thuê sẽ tăng và các công ty buộc phải xem xét đến các giảipháp khác như là phát triển ra phía ngoài khu vực trung tâm nhằm chiếmgiữ vị trí Thị trường căn hộ cho thuê năm 2007 bị hạn chế về nguồn cung
và trong năm 2008 sẽ không có gì khác biệt, điều này gây ra sự thiếu hụtcho thị trường căn hộ chi phối thị trường Mua để cho thuê (các nhà đầu tư
tư nhân mua căn hộ với mục đích cho người nước ngoài thuê lại)
Hiện tại Hà Nội chưa có khu vực mua sắm mới nào Nhờ tăng trưởngkinh tế, nhiều người nước ngoài sẽ đến sinh sống tại Việt Nam, và vì thếcăn hộ dịch vụ sẽ tăng mạnh Thị trường mua bán căn hộ không đáp ứng
đủ nguồn cung, bắt đầu có các căn hộ dưới dạng Mua để cho thuê do cácnhà đầu tư lẻ mua các căn hộ với mục đích cho người nước ngoài thuê Đây
là thị trường cung cấp cho nhà ở cho người nước ngoài nhưng cũng đồngthời thúc đẩy việc mua bán căn hộ Vốn tăng và giá thuê giữ ở mức cao trởthành một cách làm giàu phổ biến Hà Nội được nhận định là thị trường vẫncòn chưa phát triển nhưng có tiềm năng vô cùng to lớn
Với một lượng cầu lớn, tiềm năng phát triển mạnh như vậy sẽ là mộtthuận lợi để quyết định đầu tư vào dự án xây dựng Nhưng với đặc điểmnổi bật nhất của đầu tư xây dựng là vốn đầu tư lớn, thậm chí rất lớn, thờigian dài, thậm chí rất dài Vì vậy, làm thế nào để có vốn đầu tư là điều cục
kỳ quan trọng Hầu như không chủ đầu tư nào có thể đủ vốn tự có để thựchiện một dự án Các dự án đầu tư xây dựng thường phải thu hút vốn từnhiều nguồn khác nhau, thông thường là vay vốn ngân hàng, thu hút vốn
Trang 23nhàn rỗi trong dân… Tuy nhiên, tình hình kinh tế vĩ mô sẽ quyết định đếnviệc thu hút vốn đầu tư.
- Tổng quan về thị trường bất động sản trong nước cũng như dự ánđầu tư tại Phú Diễn
Trong năm 2007, thị trường BĐS luôn trong tình trạng cung khôngđáp ứng đủ cầu Thị trường luôn tạo những cơn sốt hay tăng giá quá nhanh.Mảng thị trường nhà ở luôn diễn ra sôi động, nhiều dự án xây dựng đượcphê duyệt, nhiều công trình bắt đầu được xây dựng Trong đó dự án đầu tưxây dựng trung tâm thương mại tổng hợp tại Phú Diễn- Từ Liêm- Hà Nội làmột trong số những dự án được phê duyệt và tiến hành
Việc nhiều khách hàng đã phải sếp hàng mua căn hộ tại các dự ánnhư như Vista, Sky Garden, Hoàng Anh Gia Lai… tại thành phố Hồ ChíMinh hồi giữa năm qua đã cho thấy sự tăng cao về nhu cầu trong thị trườngcăn hộ và tiếp tục đẩy giá cả lên cao
Trong khi đó ở khu vực Phú Diễn nhiều người dân cũng đang có nhucầu về nhà ở cũng như muốn thảo mãn nhu cầu về tiêu dùng trong cuộcsống do vậy khi dự án xây dựng trung tam thương mại tổng hợp được phêduyệt mọi người dân nơi đây đều rất ủng hộ và có nhiều kỳ vọng vào dự ánnày khi nó hoàn thành
Đồng thời, trong giai đoạn này, các công ty nhà nước đang trong tiếntrình cổ phần hóa, dẫn tới tăng nhu cầu về văn phòng chất lượng cao, tạothêm áp lực thị trường
Nghị định 84 của Chính phủ trong đó đưa ra những nội dung bổ sungkhuyến khích đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực Cùng sự tăng cao chưa từng
có về nhu cầu nhà ở, căn hộ và văn phòng chất lượng cao là đòi hỏi sự cấpthiết về nguồn cung Đồng thời, năm 2007 là một năm nền kinh tế pháttriển mạnh, đời sống người dân phát triển, thu nhập cao, nguồn tiền nhànrỗi trong dân lớn mạnh, nhu cầu đầu tư và đầu cơ cao Những điều đó dẫnđến cơ hội đầu tư vào lĩnh vực BĐS với các nhà đầu tư trong nước và ngoài
Trang 24nước để thỏa mãn nhu cầu đang bỏ ngỏ cũng như đóng góp vào sự tăngtrưởng của thị trường BĐS
Đây là thời điểm quan trọng và thuận lợi để đầu tư vào lĩnh vực BĐSvới kỳ vọng năm 2008 sẽ là năm tiếp tục phát triển mạnh của lĩnh vực này
Năm 2007 là một năm thuận lợi với lĩnh vực kinh doanh BĐS Nhàđầu tư kỳ vọng vào những năm tiếp theo, tình hình kinh tế tiếp tục pháttriển đi lên và thị trường BĐS sẽ có những kết quả khả quan
Tại khu Phú Diễn – Từ Liêm – Hà Nội: Dự án tổ hợp đa năng có quy
mô lớn sẽ được phát triển tại các khu vực bên ngoài trung tâm thành phốnhư khu vực Hồ Tây, Mỹ Đình tại Hà Nội như dự án Keangnam HanoiLandmark Tower trên đường Phạm Hùng, The Landmark trên đường LiễuGiai, dự án Hanoi Indochina Plaza trên đường Xuân Thủy… Sự phát triển
ra bên ngoài trung tâm sẽ trở thành xu hướng chung với việc Hà Nội mởrộng ra phía tây Việc mở rộng này đã giải quyết được khó khăn về việctìm kiếm những văn phòng có giá thuê thấp và diện tích lớn Vì vậy, khu
Từ liêm là 1 địa điểm tốt
Nhận thấy sự thuận lợi và khả năng đầu tư có hiệu quả, công ty xâydựng Đông Đô- BQP đã quyết định thực hiện đầu tư dự án xây dựng trungtâm thương mại tổng hợp văn phòng dịch vụ nhà ở Phú Diễn – Từ Liêm –
Hà Nội từ năm 2008 và dự kiến kết thúc năm 2013
Với tình hình kinh tế và thị trường trong năm 2007 - 2008 như phân tích trên, công ty dự toán ngân sách dành cho dự án như sau :
Trang 26V Chi phí t vấn đầu t xây dựng
Chi phí đánh giá sự phù hợp về chất lợng công
trình, kiểm tra chứng nhận khả năng chịu lực