Bộ phận văn học này đa dạng về thể loại nhưng chúng tôi chỉ nghiên cứu việc hình thành tri thức ba thể loại là thơ Đường luật, truyện truyền kỳ và văn chính luận Việt Nam thời trung đại
Trang 11
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐOÀN THỊ THU HOÀI
HÌNH THÀNH TRI THỨC THỂ LOẠI TỪ VIỆC DẠY HỌC CÁC VĂN BẢN VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG ĐẠI
Trang 22
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 7
4 Phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Cấu trúc của luận văn 7
Chương 1 HÌNH THÀNH TRI THỨC VỀ THƠ ĐƯỜNG LUẬT 8
1.1 Khái niệm thơ Đường luật 8
1.2 Thống kê, phân loại, phân tích sơ bộ kết quả thống kê và phân loại thơ Đường luật của Việt Nam thời trung đại được dạy học ở trường trung học phổ thông 12
1.3 Những thuận lợi và khó khăn của việc dạy học thơ Đường luật ở trung học phổ thông 13
1.3.1 Thuận lợi 13
1.3.2 Khó khăn 14
1.4 Những tri thức chủ yếu của thơ Đường luật cần hình thành 22
1.4.1 Sự hàm súc kín đáo 22
1.4.2 Các thủ pháp đặc thù 23
Chương 2 HÌNH THÀNH TRI THỨC VỀ TRUYỆN TRUYỀN KỲ 29
2.1 Khái niệm truyện truyền kỳ 29
2.2 Giới thiệu sơ bộ về tác giả và tác phẩm truyền kỳ Việt Nam được dạy học ở trung học phổ thông 32
2.3 Những thuận lợi và khó khăn của việc dạy học truyện truyền kì ở trung học phổ thông 37
2.3.1 Thuận lợi 37
2.3.2 Khó khăn 37
2.4 Những tri thức cơ bản về truyện truyền kì cần hình thành 42
2.4.1 Sự kì lạ thể hiện bằng việc nhân hóa loài vật 42
2.4.2 Sự kỳ lạ qua việc miêu tả một thế giới khác song hành với thế giới trần tục và con người có phép tái sinh 47
Trang 33
Chương 3 HÌNH THÀNH TRI THỨC VỀ VĂN CHÍNH LUẬN VIỆT NAM
TRUNG ĐẠI 50
3.1 Khái niệm văn chính luận Việt Nam trung đại 50
3.2 Thống kê, phân loại và phân tích sơ bộ kết quả thống kê, phân loại phần văn chính luận được dạy học ở trung học phổ thông 52
3.3 Thuận lợi và khó khăn chủ yếu của việc dạy học văn chính luận Việt Nam trung đại ở trung học phổ thông 53
3.3.1 Thuận lợi 53
3.3.2 Khó khăn 54
3.4 Những tri thức cơ bản của văn chính luận Việt Nam trung đại cần hình thành 59
3.4.1 Tính chất nguyên hợp 60
3.4.2 Sự thể hiện hình tượng tác giả 62
Chương 4 THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI GIẢNG THEO HƯỚNG CHÚ TRỌNG HÌNH THÀNH TRI THỨC THỂ LOẠI 65
4.1 Một số vấn đề về phương pháp dạy học ngữ văn hiện nay có liên quan 65
4.1.1 Dạy học theo yêu cầu đổi mới 65
4.1.2 Dạy học theo hướng chú trọng hình thành tri thức thể loại 67
4.2 Thiết kế một số bài giảng theo hướng hình thành tri thức thể loại 68
4.2.1 Giáo án thứ nhất: Thương vợ (Trần Tế Xương) 68
4.2.2 Giáo án thứ hai: Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (Nguyễn Dữ) 76
4.2.3 Giáo án thứ ba: Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi) 85
4.3 Kết quả thực nghiệm 93
4.3.1 Mục đích thực nghiệm 93
4.3.2 Nội dung thực nghiệm 94
4.3.3 Địa bàn thực nghiệm 95
4.3.4 Quá trình thực nghiệm 95
4.3.5 Phân tích kết quả thực nghiệm 96
4.3.6 Kết luận thực nghiệm 98
4.3.7 Rút kinh nghiệm và giải pháp 98
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 4
1
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Mỗi tác phẩm văn chương đều tồn tại bằng hình thức thể loại
nhất định Đó có thể là một thể loại đơn nhất hoặc có thể pha trộn các thể loại Nghiên cứu đề tài này nhằm góp phần lĩnh hội tác phẩm văn chương Việt Nam trung đại được dạy học ở trường học phổ thông phù hợp với thể loại của chúng
1.2 Văn học Việt Nam trung đại là một bộ phận quan trọng trong
chương trình Ngữ văn trung học phổ thông Đó là những văn bản ra đời cách đây đã lâu, trên cơ sở hình thái kinh tế xã hội phong kiến, lý tưởng thẩm mỹ có những điểm khác biệt lớn so với hiện nay Lĩnh hội những giá trị đặc thù bao giờ cũng khó khăn nhưng nếu có ý thức cao và có phương pháp thích hợp để vượt qua những trở ngại, người dạy và người học sẽ đạt được những kết quả tốt đẹp Nghiên cứu đề tài này góp phần theo mục đích trên
1.3 Hiện nay trong nhà trường phổ thông đang có phong trào đổi mới
phương pháp dạy học văn Bên cạnh những kết quả tốt đẹp đáng ghi nhận cũng còn có những điều cần khắc phục, chẳng hạn việc lạm dụng các phương tiện dạy học hiện đại không phù hợp với bản chất môn văn trong nhà trường nói chung và văn học Việt Nam trung đại nói riêng Nghiên cứu
đề tài này góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học văn đúng thực chất và hiệu quả
1.4 Văn học Việt Nam trung đại là một bộ phận quan trọng trong
chương trình Ngữ văn trung học phổ thông Bộ phận văn học này là một di sản văn học quý báu của dân tộc Nó không chỉ để lại cho đời sau những giá trị thẩm mỹ lớn lao về nội dung, nghệ thuật của những tác phẩm văn chương mà còn chứa đựng trong đó biết bao giá trị văn hóa truyền thống cùng những vui, buồn, trăn trở của người xưa gửi gắm đến người sau Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy văn học trung đại ở trường phổ thông,
Trang 5
2 giáo viên gặp không ít khó khăn Các văn bản văn học Việt Nam trung đại được đưa vào trong chương trình phổ thông đều là những tác phẩm xuất sắc của các nhà thơ, nhà văn lớn của dòng văn học dân tộc Bộ phận văn học này đa dạng về thể loại nhưng chúng tôi chỉ nghiên cứu việc hình thành tri thức ba thể loại là thơ Đường luật, truyện truyền kỳ và văn chính luận Việt Nam thời trung đại vì trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy trực tiếp tại trường phổ thông , chúng tôi thấy giáo viên Ngữ văn khi giảng dạy các thể loại kể trên gặp một số khó khăn khi truyền đạt đến đối tượng tiếp nhận Vì thế, qua luận văn này chúng tôi cũng mong muốn góp phần nhỏ của mình vào việc dạy tốt hơn ba thể loại vừa kể trên ở nhà trường phổ thông
2 Lịch sử vấn đề
Đổi mới phương pháp dạy học ngữ văn ở trường trung học thổ thông cần phải chú ý đến vấn đề dạy tích hợp và chú ý đến đặc trưng thể loại Hiện nay có ít tài liệu đề cập đến vấn đề mà chúng tôi nghiên cứu Phần
lớn dưới dạng nghiên cứu cụ thể ở từng tác phẩm Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục Trung học phổ thông của Bộ Giáo dục và Đào tạo viết:
“Đổi mới phương pháp dạy học luôn luôn đặt trong mối quan hệ với đổi mới mục tiêu, nội dung dạy học, đổi mới cơ sở vật chất và thiết bị dạy học; đổi mới các hình thức tổ chức dạy học để phù hợp giữa dạy học cá nhân và các nhóm nhỏ hoặc cả lớp, giữa dạy học ở trong phòng học và ngoài hiện trường; đổi mới môi trường giáo dục để học tập gắn với thực hành và vận dụng; đổi mới đánh giá kết quả học tập của học sinh qua đổi mới nội dung, hình thức kiểm tra, xây dựng các bộ công cụ đánh giá, phối hợp các kiểu đánh giá truyền thống với các trắc nghiệm khách quan đảm bảo đánh giá khách quan, trung thực mức độ đạt được mục tiêu giáo dục của từng học sinh” [4 , 9-10]
Theo Nguyễn Hải Châu, “Quan điểm dạy học là những định hướng tổng thể cho các hành động phương pháp, trong đó có sự kết hợp giữa
Trang 6
3 các nguyên tắc dạy học làm nền tảng, những cơ sở lý thuyết của lý luận dạy học, những điều kiện dạy học và tổ chức cũng như những định
hướng về vai trò của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học
Quan điểm dạy học là những định hướng mang tính chiến lược, cương lĩnh, là mô hình lí thuyết của phương pháp dạy học Những quan điểm dạy học cơ bản: dạy học giải thích minh họa, dạy học gắn với kinh nghiệm, dạy học kế thừa, dạy học định hướng học sinh, dạy học định hướng hành động, dạy học định hướng mục tiêu, dạy học giải quyết vấn
đề, dạy học tình huống, dạy học giao tiếp, dạy học nhiên cứu, dạy học khám phá, dạy học mở” [20]
Thuật ngữ phương pháp bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp (methodos) có nghĩa là con đường để đạt mục đích Như vậy, phương pháp dạy học là con đường để đạt mục đích dạy học
Phương pháp dạy học là cách thức hành động của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học Cách thức hành động bao giờ cũng diễn ra trong những hình thức cụ thể Cách thức và hình thức không tách nhau một
cách độc lập Phương pháp dạy học là những hình thức và cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt mục đích dạy học Phương pháp dạy học là những hình thức và
cách thức, thông qua đó và bằng cách đó giáo viên và học sinh lĩnh hội những hiện thực tự nhiên và xã hội xung quanh trong những điều kiện học tập cụ thể” [32, 31]
Phương pháp dạy văn nói chung và dạy học văn học Việt Nam thời trung đại nói riêng đã được một số nhà khoa học về phương pháp dạy học nghiên cứu Chúng tôi xin điểm qua một số những công trình nghiên cứu đó
Trong giáo trình Phương pháp dạy học của nhóm tác giả Phan Trọng
Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng và Trần Thế Phiệt do Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội tái bản năm 1999, Phan Trọng Luận cùng các nhà biên soạn đã đề cập đến phương pháp dạy học văn trong nhà trường phổ
Trang 7
4 thông Trong giáo trình này các nhà biên soạn đã đưa ra các phương pháp
cụ thể của việc dạy học văn Đặc biệt là trong giáo trình này các tác giả đã cho chúng ta thấy được vai trò của người học trong quá trình phân tích tác phẩm văn chương là chủ thể cảm thụ Các tác giả cũng đã đưa ra những phương pháp cụ thể khi dạy một thể loại nhất định như phương pháp dạy học môn làm văn, phương pháp dạy học văn học sử Tuy nhiên về thể loại văn học Việt Nam thời trung đại các tác giả chưa thực sự quan tâm lắm Hơn nữa do tài liệu này ra đời lâu với lại chương chình SGK đã cũ, xu thế
xã hội khác và những phương pháp dạy học văn mà giáo trình nêu ra không còn phù hợp nữa
Năm 2007, trong cuốn Để dạy tốt và học tốt tác phẩm văn chương
(phần trung đại) ở trường phổ thông, tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương đã nêu ra thực tế khó khăn và thuận lợi trong việc dạy học văn học trung đại ở trường phổ thông Và cũng trong cuốn sách này, tác giả đã đưa ra các phương pháp dạy học văn học trung đại như hướng dẫn học sinh đọc tác phẩm, dạy học văn học thông qua cắt nghĩa, dạy thơ trung đại thông qua chú giải sâu
Chúng tôi cho rằng những vấn đề mà tác giả nêu lên về phương pháp dạy học văn học trung đại không có gì mới Hơn nữa trong sách này phương pháp dạy học văn học trung đại theo từng thể loại cũng chưa có sự đầu tư, chỉ mới trình bày sơ lược
Nhà bác học M.M Bakhtin khẳng định rằng “thể loại là nhân vật chính của lịch sử văn học” Theo nhiều nhà nghiên cứu, trong văn học thời trung đại thể loại có vai trò lớn vì thời này do những nguyên nhân văn học
và phi văn học mà quy phạm bền vững, dẫn đến tình trạng các thể loại rất khác nhau Bởi vậy, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu việc hình thành tri thức thể loại từ việc dạy học các văn bản văn học Việt Nam trung đại ở trung học phổ thông
Trang 8
5 Một trong những ý nghĩa lớn nhất của việc nghiên cứu thể loại văn học Việt Nam trung đại là nhận thức được vai trò của chúng trong việc góp phần tạo nên giá trị của từng tác phẩm và vị thế của hệ thống thể loại đối với văn học trung đại dân tộc Nếu không có được những hiểu biết cần thiết về mặt thể loại văn học thời trung đại, người nghiên cứu và người dạy - học văn chương hôm nay sẽ nhận thức, đánh giá sai lạc các giá trị văn chương trước đây
Các tài liệu như sách giáo khoa (SGK), sách giáo viên (SGV), tài liệu bồi dưỡng giáo viên, thiết kế bài giảng, các tài liệu tham khảo khác ra đời
từ năm 2006 trở lại đây (năm 2006 là năm bắt đầu thực hiện đại trà bộ SGK mới) đều trình bày cụ thể, chi tiết các bài Ngữ văn được giảng dạy trong nhà trường, trong đó có các thể loại văn học trung đại Các tác giả đã phân tích rất rõ các đặc điểm của từng tác phẩm như về truyện truyền kì, thơ Đường luật, văn chính luận… nhưng các kiến thức, các phương pháp
mà các tác giả trình bày lại riêng rẽ, rời rạc đối với từng tác phẩm Mặc dù các cuốn tài liệu này đã có trình bày về phương pháp dạy các tác phẩm văn học, nó cập nhật sát với chương trình hiện hành… nhưng các phương pháp dạy văn mà các tài liệu này đề ra đều chưa mang tính khái quát
Trong các công trình nghiên cứu trên, các tác giả có nghiên cứu về việc dạy học phần văn học Việt Nam trung đại theo từng thể loại Song những công trình đó đang dừng lại ở một mức độ nhất định và chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách kĩ lưỡng về phương pháp dạy học văn học Việt Nam thời trung đại trong nhà trường trung học phổ thông (THPT)
Đổi mới phương pháp dạy học văn được bắt đầu bằng việc thay
đổi chương trình SGK Bộ SGK Ngữ văn chương trình chuẩn do tác giả Phan Trọng Luận (tổng chủ biên) và bộ SGK Ngữ văn nâng cao
do tác giả Trần Đình Sử (tổng chủ biên) đã có những thay đổi so với
bộ SGK chỉnh lí hợp nhất năm 2000 Bộ SGK Ngữ văn đã định
Trang 9
6 hướng cho giáo viên và học sinh khám phá phân tích tác phẩm bằng
hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài, bằng yêu cầu cần đạt và ghi nhớ
ở đầu và cuối mỗi bài học Phần yêu cầu cần đạt giúp giáo viên xác định được trọng tâm kiến thức của bài học, giúp học sinh kiểm tra việc dạy của giáo viên và việc tiếp thu kiến thức của mình Phần hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài giúp học sinh (HS) từng bước khám phá, tiếp cận văn bản và đồng thời nó cũng hướng dẫn giáo viên (GV) tổ chức giờ dạy
Năm 2010, với công trình nghiên cứu Về một số vấn đề tác giả tác phẩm văn chương và cuốn Văn chính luận Việt Nam thời trung đại tác giả
Phạm Tuấn Vũ đã cung cấp cho một số kiến thức về thể loại văn học Việt Nam thời trung đại và kiến thức về văn chính luận Việt Nam thời trung đại Cũng trong công trình nghiên cứu này tác giả đã phân tích khá cụ thể về các thể loại văn học học trung đại như thơ Đường luật, truyện truyền kỳ và văn chính luận Việt Nam thời trung đại và những khó khăn và thuận lợi của dạy học các thể loại văn học Việt Nam thời trung đại Từ đó tác giả đã đưa ra ý kiến của mình góp phần nâng cao hiệu quả dạy học các thể loại văn học Việt Nam thời trung đại như người dạy phải hiểu được bản chất của văn chính luận trung đại là sản phẩm mang tính tư duy nguyên hợp, đặc điểm tư duy của người trung đại; phải chú ý đến đặc điểm riêng trong cách xác định chân lí của người trung đại; phải tạo được cho học sinh tâm thế tiếp nhận phù hợp; phải cung cấp nhiều kiến thức về văn học và phi văn học; phải có sự tổng quan toàn bộ chương trình; phải biết đính chính một số chỗ dịch chưa đúng…
Với đề tài Hình thành tri thức thể loại từ việc dạy học các văn bản
văn học Việt Nam trung đại ở trung học phổ thông, luận văn của chúng
tôi tiếp thu, kế thừa thành tựu khoa học của các nhà nghiên cứu đi trước mong muốn đi vào tìm hiểu phương pháp hình thành tri thức thể loại văn học trung đại Việt Nam trong nhà trường trung học phổ thông ở cả các
Trang 10
7 thể loại thơ Đường luật, truyện truyền kì và văn chính luận Việt Nam thời trung đại nhằm bàn về phương pháp dạy học có các thể loại kể trên hệ thống hơn, khái quát hơn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nhận thức được vai trò của các thể loại chủ yếu có các văn bản văn chương Việt Nam trung đại được dạy học ở trung học phổ thông hiện nay
3.2 Xác định được các phương pháp và biện pháp hình thành tri thức thể loại thơ Đường luật, truyện truyền kỳ, văn chính luận Việt Nam trung đại qua việc dạy học văn bản thuộc các thể loại này trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông
3.3 Trên cơ sở nhận thức đúng về thuộc tính của các thể loại này, đính chính những sai sót trong sách giáo khoa, sách giáo viên và các tài liệu tham khảo hữu quan
3.4 Soạn một số giáo án theo hướng chú trọng hình thành tri thức thể loại văn học Việt Nam trung đại
4 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu việc hình thành tri thức thể loại từ việc dạy học các văn bản thuộc thơ Đường luật, truyện truyền kỳ và văn chính luận Việt Nam trung đại trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu Ngữ văn : thống kê- phân loại, tổng hợp- phân tích, đối sánh, kết hợp với sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục: phương pháp quan sát, phương pháp điều tra, phương pháp thực nghiệm
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu và Kết luận, nội dung của luận văn được trình bày
trong bốn chương
Chương 1: Hình thành tri thức về thơ Đường luật Chương 2: Hình thành tri thức về truyện truyền kỳ Chương 3: Hình thành tri thức về văn chính luận Việt Nam trung đại
Trang 11
8 Chương 4: Một số giáo án theo hướng chú trọng hình thành tri thức thể loại văn học Việt Nam trung đại
Chương 1 HÌNH THÀNH TRI THỨC VỀ THƠ ĐƯỜNG LUẬT
1.1 Khái niệm thơ Đường luật
Không một thể thơ nào được di thực vào Việt Nam có lịch sử lâu dài, được sử dụng phổ biến và nhiều thành tựu như thơ Đường luật Văn bản văn chương thẩm mỹ Việt Nam có niên đại sớm nhất hiện còn được viết
theo thể thơ này (Quốc tộ của Khổng Lộ thiền sư) Ở những tháng năm
cuối cùng của văn học Việt Nam trung đại, thể thơ này vẫn được sử dụng
và ngày nay còn được dùng để sáng tác
Có thể nói cả nhân loại bị thơ Trung Quốc đời Đường mê hoặc Phần lớn thơ thời ấy viết theo thể thơ này Thơ Đường luật gồm những bài thơ Trung Quốc và Việt Nam viết theo luật thơ được hoàn thiện ở đời Đường Thơ Đường luật còn được gọi là cận thể thi hay kim thể thi (thể thơ mới ra đời) Đây là tên gọi mà người Trung Quốc từ sau đời Đường sử dụng để phân biệt với thơ cổ thể (còn gọi là cổ thi hoặc cổ phong), loại thơ tương đối tự do, không yêu câu chặt chẽ về số câu, cách gieo vần
Theo Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển văn học (bộ mới) viết: “Thơ
Đường luật còn gọi là thơ cận thể hay thơ cách luật Thể thơ cách luật ngũ ngôn hoặc thất ngôn được đặt ra từ đời Đường ở Trung Quốc Có ba dạng chính: thơ bát cú (mỗi bài tám câu), thơ tứ tuyệt (mỗi bài bốn câu) và thơ bài luật (dạng kéo dài của thơ Đường luật) Trong đó, thơ bát cú, nhất là thất ngôn bát cú (mỗi bài tám câu, mỗi câu bảy chữ), được gọi là dạng cơ bản vì từ nó, có thể suy ra các dạng khác Về bố cục, một bài bát cú gồm 4 phần: đề, thực, luận, kết Trong đó “đề”, câu thứ nhất là phá đề, câu thứ hai
là thừa đề Phá đề mở ý của bài ra, thừa đề để tiếp ý của phá đề chuyển vào
Trang 12
9 thân bài “Thực” (câu 3 và 4) còn gọi là “thích thực” hay “cập trạng”, giải thích rõ ý của đầu bài “Luận” (câu 5 và câu 6) phát triển rộng ý của đầu bài “ Kết” (hai câu cuối), kết thúc ý toàn bài Cách chia thành 4 phần như vậy cũng như việc quy định rõ nhiệm vụ từng phần càng về sau càng chặt Các nhà thơ có tài năng thường không để cho bố cục nói trên gò bó Về luật bằng trắc, buộc phải theo sự quy định về thanh bằng và thanh trắc theo từng câu và trong cả bài Hệ thống này được tính từ chữ thứ hai của câu thứ nhất Nếu chữ này thanh bằng thì bài thơ thuộc luật bằng (và ngược lại) Sự sắp xếp âm thanh chẳng qua chỉ làm cho điệu thơ không đơn điệu Muốn vậy trong mỗi câu, các cặp bằng trắc lần lượt thay nhau; trong mỗi cặp câu (còn gọi là “liên”), các chữ tương ứng của câu số lẻ và câu số chẳn phải có thanh ngược nhau (trừ chữ thứ năm và thứ bảy trong liên đầu); nhịp đi của “liên” trên phải khác nhịp đi của “liên” dưới, muốn vậy chữ thứ hai của câu chẵn thuộc “liên” trên phải cùng thanh với chữ thứ hai của câu lẻ thuộc” liên” dưới (sự giống nhau đó gọi là “niêm” vì làm cho hai câu thuộc hai “dính” vào nhau) Ví dụ: công thức bốn câu đầu của một bài thơ luật bằng:
Trên thực tế, ít người theo đúng hoàn toàn công thức, do đó sinh ra
lệ “bất luận” chữ thứ nhất của câu hoàn toàn bất luận (bằng trắc đều được); chữ thứ năm nói chung ngược thanh với chữ thứ bảy, song cũng
có thể bất luận; riêng chữ thứ ba, nếu là bằng thì không nên đổi thanh trắc, nhất là ở câu có vần Về cách đối; đối ở phần “thực” và “luận” Các chữ đối nhau về nguyên tắc phải cùng từ loại Các nhà thơ thường thích dùng các kiểu đối khác nhau để giảm tính chất gò bó như đối lưu thủy (hơi thơ cũng như ý của câu thư hai là do câu thứ nhất trượt xuống,
Trang 13
10 không thể đứng một mình), tá đối (mượn âm hoặc nghĩa một từ khác để đối), điệu đối (chủ yếu là đối về âm điệu), tự đối (đối trong nội bộ một câu), khoan đối (đối không thật chỉnh) Về cách gieo vần: chỉ gieo một vần và chỉ gieo vần bằng (ở cuối các câu 1, 2, 4, ,6 ,8) Riêng chữ cuối câu thứ nhất, đặc biệt là ở thơ ngũ ngôn, có thể không gieo vần
Trong quá trình sử dụng, các nhà thơ đã sáng tạo thêm nhiều biệt thể mới của thơ Đường luật như tiệt hạ (ý, lời của mỗi câu thơ đều lơ lửng), yết hậu (thơ tứ tuyệt mà câu cuối chỉ có một vài chữ), thủ vĩ ngâm (câu một giống câu tám) Nhiều nhà thơ Việt Nam như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Tú Xương, Nguyễn Khuyến, Thanh Quan đã sử dụng thể thơ Đường luật để viết nhiều bài thơ có giá trị và trong quá trình
sử dụng, đã dân tộc hóa thể thơ này về nhiều phương diện (Cách sử dụng ngôn từ nhất là từ láy cách hiệp vần, cách ngắt nhịp ) Do tính chất gò bó về hình thức, từ lâu, đối với số đông người làm thơ, thơ Đường luật khó diễn đạt đầy đủ, sinh động tình cảm của con người hiện đại Tuy vậy, thơ Đường luật thỉnh thoảng vẫn còn xuất hiện trên một số lĩnh vực và một số trường hợp nhất định trong cuộc sống văn hóa của nhân dân ta” [ 44, 1690-1691] Việt Nam có nhiều điều kiện văn học và phi văn học để thơ Đường luật sớm xâm thực và tồn tại lâu dài, phồn thịnh Người Việt Nam tiếp nhận thể thơ này ngay từ thời kỳ đầu của nền văn học viết, do những nguyên nhân văn học và phi văn học Suốt mười thế kỉ văn học trung đại, văn học Việt Nam sử dụng chữ Hán (văn tự của người Hán- tộc người chiếm đa số ở Trung Quốc) Chữ Nôm, một trong những loại chữ quốc ngữ của ta cũng tương đồng với chữ Hán về những phương diện cơ bản (đơn
âm, không biến hình, tuyến tính, nhiều thanh điệu)
Vì thế, các thi nhân Việt Nam thời trung đại viết thể thơ này dù bằng chữ Hán hay chữ Nôm cũng đều thuận lợi Theo tìm hiểu của chúng tôi, thì ngày trước, khi vua chọn nhân tài đều yêu cầu các sĩ tử viết thơ theo
Trang 14
11 thể loại thơ Đường luật Những điều này đã giúp người Việt Nam thời trung đại rất quen với thể thơ Đường luật
Thơ Đường luật có ba dạng chính: tứ tuyệt, bát cú và bài luật, trong đó phổ biến nhất là bát cú Ở Việt Nam thơ Đường luật phổ biến tới mức có thể nói các thi gia thời trung đại đều sử dụng thể thơ này Thơ Đường luật thời kỳ nào cũng có thành tựu Các tác giả lớn đều có những tập thơ quy
mô hoặc số lượng lớn tác phẩm sử dụng thể loại này, thật khó kể hết
Thể thơ Đường luật còn giúp người Việt Nam từng bước xây dựng những thể thơ dân tộc, tiêu biểu nhất là Nguyễn Trãi, với tác phẩm thơ
Nôm Đường luật Quốc âm thi tập, đây là tập thơ Nôm cổ nhất, phong
phú nhất của Việt Nam còn lại đến ngày nay, gồm 254 bài, với tác phẩm này, ông đã được xem là người có công lớn đầu tiên trong “một cố
gắng để xây dựng một lối thơ Việt Nam” (Bùi Văn Nguyên), Lịch sử văn học Việt Nam, tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1978
Nguyễn Trãi là người thể hiện mạnh mẽ xu hướng phá cách trong sáng tạo thơ Nôm Đường luật Dường như với Ức Trai, xu hướng dân tộc hóa trước hết biểu hiện ở chỗ tìm cho mình cái riêng, cố gắng khác các thi nhân Trung Quốc, chính cách này cũng đã tạo cho ông một lối đi riêng , một phong cách riêng để người đọc nhớ mãi một Ức Trai trữ tình sâu lắng khi tiếp cận các tác phẩm thơ trữ tình của ông.Chính vì vậy, những câu thơ sáu chữ vốn không phải của Đường thi lại trở thành phổ
biến trong Quốc âm thi tập
Thể thơ Đường luật còn có vai trò trong việc từng bước làm cho tiếng Việt trở thành một ngôn ngữ văn chương thuần thục, qua việc có
hàng loạt tập thơ Nôm quy mô như Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, Hồng Đức quốc âm thi tập của vua tôi Lê Thánh Tông, Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm tất cả các tác phẩm này đều tạo
nên phong cách thời đại của thơ Nôm Đường luật
Trang 15
12 Đặc điểm nổi bật của thơ Đường luật là quy phạm vô cùng chặt chẽ Có nhà nghiên cứu Trung Quốc xếp nó vào loại thơ cách luật chặt chẽ nhất thế giới Ở ta, Phạm Quỳnh cho rằng luật thơ Đường “nghiêm như luật hình” Thuộc tính điển hình của thể thơ này là hàm súc và kín đáo, nhất quán và nhất khí Thơ Đường luật thường dùng điển cố, tổng hòa thi và họa, các thủ pháp dùng vô để biểu hiện hữu, dùng động tả tĩnh hoặc ngược lại Cảm thụ thơ Đường luật rất cần chú ý đến nghệ thuật tả để gợi, miêu tả ngoại cảnh để biểu hiện nội tâm
1.2 Thống kê, phân loại, phân tích sơ bộ kết quả thống kê và phân loại thơ Đường luật của Việt Nam thời trung đại được dạy học ở trường trung học phổ thông
thơ Văn tự
Được dạy học
Trang 16được tiếp cận tác phẩm như Tỏ lòng; Cảnh ngày hè; Nhàn sẽ làm cho các
em, thế hệ trẻ ngày nay ý thức hơn trách nhiệm của mình trong việc xây
dựng và bảo vệ đất nước Ngoài ra, văn bản Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão
còn giúp các em hình dung lại những tình cảm đẹp của đội quân nhà Trần ngày trước, đội quân ấy tượng trưng cho sức mạnh dân tộc, sức mạnh thể hiện “hào khí Đông A” và thông qua các văn bản thuộc thể loại thơ Đường luật, sẽ giúp các em, thế hệ trẻ ngày nay biết quý trọng những tình cảm thiêng liêng của cha ông ta ngày trước
Như vậy, mặc dù thể loại thơ Đường luật được các nhà biên soạn sách giáo khoa đưa vào chương trình lớp 10, 11 tương đối ít nhưng các văn bản đó là những văn bản tiêu biểu của thể thơ Đường luật
1.3 Những thuận lợi và khó khăn của việc dạy học thơ Đường luật ở trung học phổ thông
1.3.1 Thuận lợi
Những bài thơ Đường luật được tuyển chọn vào chương trình phổ thông không nhiều nhưng mỗi bài một vẻ, đều thể hiện được nội dung tư tưởng tốt đẹp với hình thức nghệ thuật độc đáo, có ích cho tuổi trẻ ngày nay Các tác phẩm văn chương còn chứa đựng trong đó biết bao giá trị văn hóa truyền thống cùng những vui, buồn, trăn trở của người xưa gửi gắm đến người sau
Những bài thơ chữ Hán hay chữ Nôm Đường luật, dù cho thi nhân Việt Nam hay là thi nhân Trung Hoa viết, dù ra đời thời trung đại hay
Trang 17
14 đương đại đối với người dạy và người học hôm nay có cùng những khó khăn khi tiếp cận Những bài thơ ấy được viết bằng một ngôn ngữ và tư duy thơ có những đặc điểm riêng Tuy nhiên so với việc dạy và học những bài thơ dịch từ những ngôn ngữ khác, dạy học những bài thơ chữ Hán Đường luật thuận lợi hơn
Bài thơ được coi là tuyên ngôn đầu tiên của nước Nam là bài Nam quốc sơn hà (Sông núi nước Nam) của Lý Thường Kiệt cũng được viết
bằng thể thơ này, đại bộ phận thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du,
Cao Bá Quát viết bằng thể thơ Đường luật, Ngục trung nhật ký - tập thơ
lớn của lãnh tụ Hồ Chí Minh sử dụng thể loại này, và cho đến tận hôm nay các nhà thơ và những người làm thơ nghiệp dư còn sử dụng thể thơ Đường luật Thơ Đường luật không chỉ được viết bằng chữ Hán mà còn được viết bằng chữ Nôm và chữ quốc ngữ Chính vì vậy, thơ Đường luật đã có những cải biến mạnh mẽ theo hướng Việt hóa, nhất là từ khi xuất hiện thơ Nôm Đường luật Đây chính là những thuận lợi cho giáo viên khi dạy một giờ đọc hiểu văn bản thơ Đường luật vì giáo viên có thể tham khảo rất nhiều tài liệu cũng như các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả, điều này đã mang lại những thuận lợi cho người dạy và người học để tìm ra cho mình những định hướng đúng khi tiếp cận văn bản thơ Đường luật
Việc đổi mới phương pháp giảng dạy trong đó có đổi mới phương pháp giảng dạy Ngữ văn làm cho học sinh có thái độ tích cực, tự giác hơn trong việc tìm hiểu, tiếp cận các tác phẩm trước khi nhận được sự chỉ dẫn tận tình của người dạy
1.3.2 Khó khăn
Văn học trung đại Việt Nam hình thành và phát triển trong mối quan hệ giao lưu với nhiều nền văn học khu vực, chủ yếu là văn học Trung Quốc Sản phẩm tiêu biểu cho mối quan hệ giao lưu này có thể kể đến thể thơ Đường luật
Trang 18
15 Giảng một tác phẩm thơ trung đại đối với học sinh phổ thông đã khó, bởi vì hiểu biết của các em còn hạn chế mà thơ trung đại có nhiều từ cổ, cách sử dụng ngôn ngữ lại sâu sắc, uyên bác, ý tại ngôn ngoại…Giảng một tác phẩm thơ Đường luật càng khó hơn Bởi vì, ngoài yếu tố ngôn ngữ như
đã nói ở trên, giảng thơ Đường còn phải làm sao cho học sinh cảm nhận được sự tinh tế, chặt chẽ trong kết cấu, niêm luật…
Là một trong những thành tựu rực rỡ nhất của văn học cổ Trung Hoa, thơ Đường luật với thi pháp và thể loại của nó cũng chiếm một địa vị quan trọng trong văn học nghệ thuật của quốc gia cũng dùng chữ Hán trước đây
là Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản Chẳng hạn, nếu gạt bỏ toàn bộ các yếu
tố thi pháp Đường thi và tất cả các tác phẩm thơ Đường luật, chắc chắn kho tàng văn học Việt Nam trước thế kỷ XX sẽ trở nên trống vắng và vô hồn Việc tìm hiểu thơ Đường luật ở Việt Nam hiện nay do đó không chỉ đơn thuần là tìm hiểu giá trị văn hóa tinh thần, một thành tựu văn hóa nghệ thuật của nhân loại mà còn là tìm kiếm những phương tiện và cách thức để khai thác và kế thừa di sản văn hóa của cha ông
Phần đông người Việt Nam hiện tại không có khả năng tiếp xúc trực tiếp với các văn bản Hán Nôm, còn những người may mắn biết chữ Hán Nôm cũng không phải đều hiểu đúng tất cả các tác phẩm văn chương Hán Nôm của người Việt Nam các thế kỷ trước
Đến nay đã có nhiều công trình của các tác giả trong nước và nước ngoài nghiên cứu về thơ Đường luật và các văn bản thơ theo thể Đường luật trong chương trình Người dạy văn một mặt cần mở rộng và đi sâu tiếp cận những vấn đề cơ bản của thể loại này, mặt khác phải biết sử dụng phù hợp, tinh giản vào từng văn bản, nhằm giúp người học tiếp thu được những giá trị thẩm mỹ đặc sắc
Đa số các em học sinh hiện nay khi tiếp cận thơ Đường luật đều cảm thấy rất khó khăn vì các bài thơ Đường luật được đưa vào trong chương trình đều được viết bằng chữ Hán hay chữ Nôm
Trang 19
16 Nếu giáo viên chúng ta không biết chọn lựa, mà đưa nhiều kiến thức chuyên sâu sẽ càng làm cho những khó khăn đó nhiều hơn, lớn hơn Và kết quả là, thay vì yêu thích thì các em sẽ thấy e ngại, thậm chí sợ hãi những giá trị văn chương này
Khó khăn tiếp theo là các tác phẩm thơ Đường luật được đưa vào trong chương trình đều viết bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm Chính điều này
đã gây khó khăn cho người giáo viên vì khi còn là sinh viên ở các trường Đại học, họ được học một số kiến thức về chữ Hán và chữ Nôm không nhiều nên đây là khó khăn nhất đối với giáo viên trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy Giáo viên mới chỉ đọc được phần phiên âm, nhớ được phần dịch và dạy chủ yếu ở bản dịch Vì vậy mà việc đối chiếu với nguyên tác có nhiều bất cập
Giáo viên dạy Ngữ văn cần phải chú ý đến bản dịch thơ Những bài thơ này là của các nhà thơ Việt Nam thời trung đại (ví dụ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du), của nhà thơ Việt Nam hiện đại (Hồ Chí Minh) và một số nhà thơ Trung Hoa cổ (ví dụ Lý Bạch, Đỗ Phủ) Ngoại trừ những trường hợp
có dị bản, còn mỗi bài thơ chứ Hán ít nhất có ba văn bản giúp cho giáo viên và học sinh tìm hiểu các giá trị của nó: bản phiên âm Hán - Việt, bản dịch nghĩa và bản dịch thơ Bởi vậy chúng ta chỉ bàn đến bản dịch thơ nhưng không thể bỏ qua vai trò của nguyên tác và bản dịch nghĩa
Một thực tế nữa là khi giáo viên giảng dạy thơ chữ Hán Đường luật thường tiến hành đối chiếu bản dịch thơ để xem có sát với nguyên tác và bản dịch nghĩa hay không để rồi từ đó, cho rằng bản dịch thơ sát hay không sát với nguyên tác hoặc là bản dịch thơ hay hơn nguyên tác hoặc chưa tương xứng với nguyên tác Đây là việc cần làm nhưng chưa phải là cần thiết Vì khi dạy một tác phẩm thơ Đường luật được viết bằng chữ Hán hay chữ Nôm người đọc không chỉ dừng lại ở đọc văn bản, đối chiếu với bản dịch mà còn phải tìm ra cái hay, cái đẹp được thể hiện trong thơ Đường
Trang 20
17 luật, vì ngôn ngữ thơ Đường luật có tính hàm súc (ý tại ngôn ngoại) và chính yếu tố này làm nên giá trị của một bài thơ
Đối với người dạy và người học, thơ Đường luật khó tiếp nhận vì các văn bản này cách xa chúng ta về không gian, thời gian, cả về phương thức
tư duy nghệ thuật Vả lại tâm lí của tuổi trẻ ngày nay rất nôn nóng, khó có thể tĩnh tâm để cảm nhận được những rung động tinh tế của tâm hồn (như cảm xúc trước một cánh hoa rơi, một chiếc lá rụng) Người dạy văn và người học văn hôm nay sống trong những điều kiện khác với người xưa trên nhiều phương diện Có những vấn đề nhân sinh trong thời trung đại, ngày nay không còn vị trí đó nữa, và cũng có những vấn đề chưa được người xưa quan tâm lắm thì ngày nay lại trở thành vấn đề sống còn Người dạy văn và người học văn hôm nay đang từng bước đi vào xã hội hiện đại với điều kiện sinh hoạt ngày càng cao và hệ quả đó là những vấn đề nhân sinh mới được đặt ra Quan niệm của họ về bản thân, về xã hội và các giá trị nhân sinh có ý nghĩa trọng đại, có nhiều điều khác người xưa Quan niệm hiện thời về văn chương cũng có nhiều nội dung khác, do đó dẫn đến việc tiếp nhận các giá trị văn chương từ thơ Đường luật không phải là điều đơn giản
Từ thực tế dự giờ đồng nghiệp, chúng tôi nhận thấy đa số những tiết dạy chưa tốt vì khi dạy , giáo viên khai thác tác phẩm còn hời hợt, thiếu sức thuyết phục do chưa hiểu thấu đáo về tác giả, tác phẩm, thiếu vốn kiến thức về văn hóa chữ Hán cũng như chữ Nôm, chưa chú ý đúng mức đến nét độc đáo riêng của từng tác phẩm Vì những lẽ đó cho nên giáo viên khó tránh khỏi hạn chế trong quá trình hướng dẫn học sinh đọc - hiểu văn bản thơ Đường luật
Về phía học sinh, theo khảo sát của chúng tôi các em học sinh say mê học văn chưa nhiều, không ít em có năng lực yếu kém về môn văn, khả năng cảm thụ, phân tích văn học còn hạn chế nên tỏ ra chán học văn Vì thế, các tiết học thơ Đường luật thời trung đại lại càng khó khăn đối với
Trang 21
18 các em Tiếp xúc với phần văn học trung đại Việt Việt Nam và thể loại thơ Đường luật đa phần các em chưa tiếp thu bài tốt
Với những khó khăn mà chúng tôi vừa trình bày ở trên, chúng tôi hệ thống một số phương pháp tiêu biểu khi tiếp cận thơ Đường luật Việt Nam thời trung đại
Thông thường, khi giáo viên tiến hành một giờ dạy đọc – hiểu văn bản thơ Đường luật, thường có bốn bước tiếp cận:
Bước 1: Đặt bài thơ trong mối liên hệ với tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, giáo viên chúng ta sẽ lần lượt: Giới thiệu (Giới thiệu tác giả với các yếu tố: Thời đại, quê hương, gia đình, tính cách, phong cách sáng tác…; Giới thiệu tác phẩm: hoàn cảnh ra đời, đề tài, thể loại, bố cục, chủ đề…) Ở bước này, việc tìm hiểu tác giả là rất quan trọng, bởi vì, tác giả là người sáng tạo nên tác phẩm Mỗi tác giả
có một hồn riêng, một quan niệm, sở thích riêng cũng như phong cách thể hiện riêng và điều đó đã thể hiện rất rõ trong tác phẩm của
mình Ví dụ, khi dạy văn bản Thương vợ của Trần Tế Xương (Tú
Xương), để hiểu đúng giọng điệu trữ tình trong tác phẩm, giáo viên không thể không cung cấp cho học sinh những thông tin về cuộc sống
khoa cử lận đận “chín khoa chưa khỏi phạm trường quy” và tâm sự
bất đắc dĩ của tác giả này
Khi nói đến hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, thông thường người
ta thường đề cập đến hoàn cảnh lớn, hoàn cảnh nhỏ và hoàn cảnh cảm hứng của tác phẩm Khi dạy giờ đọc hiểu một văn bản thơ Đường luật thời trung đại, chúng tôi thiết nghĩ, giáo viên cũng nên tìm hiểu kĩ phần này vì đây chính là hoàn cảnh cụ thể làm bùng cháy lên tình cảm, cảm xúc tiềm tàng của tác giả Với việc tìm hiểu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm cũng giúp cho chúng ta hiểu đúng, hiểu sâu tác phẩm hơn
Bước 2: Đọc văn bản
Trang 22
19 Bước 3: Đọc Chú thích: Đọc và giải nghĩa từ cổ, từ khó,các điển cố, điển tích…
Bước 4: Phân tích: Phân tích có nghĩa là chia tách tác phẩm ra thành nhiều phần để tìm hiểu, khám phá vá đánh giá những giá trị của nó Ở đây chúng tôi xin đề cập đến ba phương pháp phân tích có thể áp dụng phổ
biến cho các bài giảng trong chương trình Ngữ văn 10 và 11
Phân tích theo bố cục 4 phần (còn gọi là cách cắt ngang)
Đây là phương pháp tiếp cận theo kiểu tìm hiểu từng phần của bài thơ: Hai câu đề (gồm phá đề và thừa đề)
Hai câu thực Hai câu luận Hai câu kết
Ví dụ: bài thơ Tự tình của nữ sĩ Hồ Xuân Hương
Hai câu đề: Nỗi niềm buồn tủi của Xuân Hương được gợi lên giữa một đêm khuya
Hai câu thực nói rõ hơn thực cảnh và thực tình của Hồ Xuân Hương Hai câu luận là nỗi niềm phẫn uất
Hai câu kết thể hiện tâm trạng chán chường buồn tủi
Như vậy, với việc dẫn dắt HS đi tìm hiểu từng phần của bài thơ theo
bố cục, giáo viên có thể giúp các em cảm nhận diễn biến tâm trạng của nhân vật trữ tình cũng như cách mà tác giả sử dụng từ ngữ, hình ảnh…để bộc lộ tâm trạng Qua đó, định hướng cho các em đánh giá toàn bộ nội dung và nghệ thuật của cả bài thơ Đây là cách làm phổ biến nhất
Phân tích theo kết cấu hai phần: tiền giải và hậu giải
Đây cũng là cách phân tích cắt ngang, nhưng khác với phân tích theo bố cục bốn phần, ở đây chỉ chia văn bản thơ ra 2 phần theo tình ý của bài thơ
Có thể là 6 - 2 câu, hoặc 4 - 4, cũng có thể 2 - 6 câu.Ví dụ bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi Có thể chia bố cục như sau: 6 câu đầu và hai
câu cuối
Trang 23
20 Sáu câu đầu là sự giao cảm của tâm hồn thi sĩ với thiên nhiên và cuộc sống ngày hè
Hai câu cuối là khát vọng của người anh hùng lý tưởng, luôn ưu dân
ái quốc:
Theo chúng tôi, , bằng cách chia tác phẩm ra làm 2 phần để phân tích,
giáo viên có thể hướng dẫn học sinh khám phá vẻ đẹp con người Nguyễn Trãi: người anh hùng với lý tưởng nhân nghĩa, yêu nước , thương dân; nhà thơ với tình yêu thiên nhiên, con người, cuộc sống….đồng thời, học sinh sẽ nhận ra nghệ thuật điêu luyện của tác giả khi Việt hóa thể thơ Đường luật Phân tích theo nội dung, luận điểm (cách phân tích bổ dọc):
Với cách phân tích này, giáo viên sẽ giúp học sinh tìm ra những vấn
đề chính toát lên từ tác phẩm, sau đó dẫn dắt các em tìm hiểu từng vấn đề theo trình tự thể hiện trong tác phẩm
Ví dụ bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, để học sinh cảm nhận
được vẻ đẹp cuộc sống, nhân cách của nhà thơ, nên tổ chức bài giảng theo trình tự các nội dung như sau: Vẻ đẹp cuộc sống của tác giả, vẻ đẹp nhân cách, vẻ đẹp trí tuệ
Như vậy, bằng cách hướng dẫn học sinh cảm nhận cuộc sống rồi từ
đó cảm nhận vẻ đẹp nhân cách của tac giả, giáo viên có thể khái quát vẻ
đẹp bức chân dung Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ Nhàn: chân dung cuộc
sống, chân dung nhân cách
Hoặc giáo viên cũng có thể phân tích bài thơ Nhàn theo mạch cảm
xúc chủ đạo của bài thơ, mạch cảm xúc này được thể hiện qua hình tượng nhân vật trữ tình và bức tranh đời sống được mô tả Với văn bản này, nhân vật trữ tình lại hiện lên như một hình tượng con người đầy ý thức về lẽ sống:
Ta dại , ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao
Trang 24
21
Ở đây, triết lí “ nhàn” của tác giả, cũng là của nhân vật trữ tình xưng
“ta” đã bộc lộ thông qua sự tương phản, đối lập giữa ta/ người, dại/ khôn, vắng vẻ/ lao xao
Tuy nhiên, mỗi bài đều có thể phân tích theo nhiều cách khác nhau Giáo viên cần dựa vào bố cục và nội dung để chọn lựa cách tổ chức bài
giảng sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh Ví dụ bài thơ Đọc Tiểu Thanh ký được kết cấu theo mô hình đề - thực -luận - kết Hai câu đề tả
cảnh và kể sự việc, tác giả hình dung quang cảnh hoang phế của Tây Hồ nơi đã diễn ra cuộc đời đầy buồn tủi của nàng Tiểu Thanh, hình dung những mảnh giấy còn sót lại của thơ nàng Hai câu thực là những suy nghĩ, liên tưởng được khơi gợi từ cảnh và vật đó là suy nghĩ về số phận bất hạnh của nàng Tiểu Thanh Hai câu luận khái quát, nâng cao vấn đề, liên hệ đến
sự tương đồng giữa bản thân tác giả với thân phận của nàng Tiểu Thanh và bình luận đây là chuyện đáng hận Hai câu kết là tiếng khóc thương cho thận phận mang ý nghĩa khái quát cho những kiếp người tài hoa bạc mệnh Ngoài ra, chúng ta còn có cách tìm hiểu các văn bản thơ Đường luật theo hướng khác Khi các thể thơ Đường luật này đã được mềm hóa nhờ sự coi trọng hàng đầu cảm xúc chân thực của thi nhân thì hoạt động đọc – hiểu văn bản này nên đi theo diễn biến tự nhiên, quá trình cảm xúc của nhân vật
trữ tình Ví dụ có thể dạy bài thất ngôn bát cú Đọc Tiểu Thanh kí theo
cách phân định sau: bốn câu đầu là niềm cảm thương cho số phận nàng Tiểu Thanh, bốn câu sau là niềm cảm thương cho những kiếp tài hoa Nếu xuất phát từ đặc điểm “thi trung hữu họa” và “tả cảnh ngụ tình” trong thi pháp thơ trung đại thì hoạt động đọc- hiểu văn bản sẽ đi theo bố cục nội dung cảnh và tình được phản ánh và biểu hiện trong văn bản Các văn bản
Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi, Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể đọc hiểu văn bản theo hướng này Ví dụ, bài Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi
gồm hai nội dung đó là vẻ đẹp thiên nhiên cuộc sống và vẻ đẹp tâm hồn
Nguyễn Trãi Hay bài Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng gồm hai nội
Trang 25
22 dung cần tìm hiểu đó là cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm và vẻ đẹp nhân
cách trí tuệ của tác giả Với bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương,cũng có
thể phân tích theo hình ảnh câc nhân vật, gồm: hình ảnh bà Tú và hình ảnh nhân vật trữ tình (tức ông Tú)
Có thể nói, trong công việc dạy học, phương pháp tiếp cận có vai trò rất quan trọng Nó giúp người giáo viên đưa kiến thức đến gần học sinh, để các em tiếp nhận một cách dễ dàng nhất và nhờ đó các em có thể hiểu sâu, nhớ lâu bài học Đối với môn Ngữ văn, đối tượng tiếp cận
là văn bản nghệ thuật, để đưa tác phẩm văn học đến gần HS cần có phương pháp đặc thù Với những phương pháp trình bày trên đây, chúng tôi hy vọng có thể giúp HS cảm nhận tác phẩm thơ Đường luật tốt hơn khi mà các em được định hướng một cách tiếp cận thích hợp
Từ đó, các em có thể tìm cho mình những cách tiếp cận tối ưu khi đứng trước những tri thức khoa học trong nhà trường và cả trong đời sống sau này
1.4 Những tri thức chủ yếu của thơ Đường luật cần hình thành
Mỗi bài thơ Đường luật có giá trị cao là một hiện tượng nghệ thuật đơn nhất, mặt khác chúng cũng mang những thuộc tính của thể loại Bởi vậy việc hiểu biết những giá trị siêu cá thể này có ý nghĩa đáng kể đối với việc tiếp nhận những văn bản cá biệt Thuộc tính rất được đề cao ở thơ Đường luật là sự hàm súc, kín đáo
1.4.1 Sự hàm súc kín đáo
Hàm súc là nhiều ý nghĩa, nhiều loại ý nhĩa trong một lượng ngôn
từ tối thiểu Người xưa đề cao những bài thơ “ngôn tuyệt ý bất tuyệt” (lời hết ý không hết), để mỗi lần cảm thụ lại có thêm những ý nghĩa
và cảm xúc mới Để có bài thơ hàm súc phải có tài năng đích thực cùng với khổ công lao động nghệ thuật Có người gọi mỗi chữ trong bài thơ luật là một ông hiền, không thay thế được Việc làm thơ, xưa kia gọi là việc “thôi, xao” xuất phát từ việc nhà thơ Giả Đảo đời
Trang 26
23 Đường tập trung tâm trí để cân nhắc chọn một trong hai chữ, đến mức
va phải quan trên Có không ít thi nhân tài năng nói về việc “nhất cú liên niên” (một câu thơ năm này sang năm khác)
Hàm súc và kín đáo có quan hệ mật thiết Phải có các thủ pháp nghệ thuật phù hợp mới tạo nên được các giá trị đó của thơ Đường luật Sự hàm súc kín đáo trong thơ Đường luật còn được tạo nên bởi các câu thơ đối nhau Chúng ta có thể thấy thủ pháp hàm súc và kín đáo này trong thơ của
Tam nguyên Yên Đỗ trong bài thơ Thu điếu:
Mấy chùm trước dậu hoa năm ngoái, Một tiếng trên không ngỗng nước nào
( Thu điếu)
Câu thơ trên biểu thị sự cảm nhận rõ ràng về thơi gian, câu thơ dưới biểu thị sự cảm thông thụ không minh bạch về không gian Cả hai câu góp phần biểu thị tâm thế một con người không còn tâm huyết với cuộc đời Nhiều bài thơ Đường luật sử dụng điển cố Việc các thi nhân thời trung đại sử dụng điển cố trong các tác phẩm của mình nhằm làm tăng giá
trị chân lý và đạo lý của câu thơ Ví dụ câu thơ Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào được trích trong tác phẩm Thu điếu của Nguyễn Khuyến là một mẫu
mực về phương diện này Ở đây, chúng ta thấy thi nhân nhắc đến Đào Tiềm đời Tấn để ngợi ca một cách xử thế đẹp đẽ Đọc bài thơ, chúng ta thấy được, tác giả thẹn vì không được như người xưa, sống theo mình thích Câu thơ có sử dụng điển cố, điển cố nói tới cuộc sống lánh đục về trong ở thơ Nguyễn Khuyến chủ yếu là Đào Tiềm
Sự hàm súc và kín đáo trong thơ Đường luật cũng được tạo nên khi tác giả khéo khai thác các phạm trù đối lập như hữu, vô; quá khứ, hiện tại hay các phạm trù hữu quan như không gian và thời gian, vật chất và tinh thần
1.4.2 Các thủ pháp đặc thù
1.4.2.1 Phép song hành
Trang 27
24
Theo Nguyễn Khắc Phi, trong Thi pháp về thơ Đường “trong lịch
sử văn học thế giới, cái gọi là “kết cấu song hành” hay còn gọi là “đối ngẫu” về ngôn ngữ chiếm một vị trí quan trọng trong văn học cũng như trong đời sống hằng ngày, chính vì vậy đây không phải là điều gì mới lạ và là sản phẩm “độc hữu” của một dân tộc nào Kết cấu song hành là một hiện tượng quốc tế, tuy nhiên, ở mỗi dân tộc, có những biểu hiện, đặc điểm riêng biệt [32, 33]
Ở đời Đường, nghệ thuật đối ngẫu đã được khai thác một cách cực kì tinh tế Nó trở thành một trò chơi phức tạp đòi hỏi đến mọi thủ đoạn của ngôn ngữ: âm thanh, đường nét, tưởng tượng , đối ngẫu không phải là việc lặp lại giản đơn Đó là một hình thức tạo nghĩa trong đó, mỗi một kí hiệu hòa hợp đối lập nhau, sản sinh ra ý nghĩa” [54, 160]
Ở thể loại thơ Đường luật các thi nhân Trung Quốc và Việt Nam
đã sử dụng biện pháp nghệ thuật này nhằm làm tăng sức biểu cảm và
sự hấp dẫn của bài thơ, chẳng hạn trong bài thơ Hoàng Hạc lâu Tống Mạch Hạo Nhiên Chi Quảng Lăng của Lý Bạch, với cách đối lập cực
tiểu - cực đại, động - tĩnh, nhà thơ đã dựng lên được một không gian
ba chiều và đóng khung được thời gian vốn là cái gì không thể đóng
khung được Câu thơ Cô phàm viễn ảnh bích không tận đã gây được
một ấn tượng thị giác và ấn tượng về thời gian tâm lí hết sức rõ rệt Khi bóng buồm đã tuyệt khuất nơi chân trời, nhà thơ bàng hoàng trở
về với thực tại, và bỗng như lần đầu tiên bắt gặp và nhận biết dòng Trường Giang trong một tầm vóc mới, vĩ đại Chính cảm giác đó đã làm cho câu cuối của bài thơ tràn đầy khí lực
Hay như Bà huyện Thanh Quan cũng đã sử dụng thủ pháp này nhằm khơi gợi nỗi niềm vừa thể hiện cái thực của tâm trạng:
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc, Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
(Qua Đèo Ngang)
Trang 28
25 Nhà thơ cảm nhận cảnh vật Đèo Ngang bằng thính giác: tiếng chim cuốc cuốc, chim đa đa vang lên buồn bã, uể oải Nhưng nữ sĩ đâu chỉ nghe
âm thanh tiếng chim bằng thính giác mà còn “nghe” bằng cả nổi lòng Không nghe bằng nỗi lòng thì sao cảm được nỗi đau trong tiếng chim cuốc
cuốc, sự khắc khoải của tiếng chim đa đa Trong cuốn Thơ Nôm Đường luật, PTS Lã Nhâm Thìn đã viết: “Nghe tiếng chim cuốc cuốc mà nhớ lại
cả một huyền sử bi thương về vua Thục để mất nước, khi chết hóa thành chim cuốc cứ kêu “quốc quốc” Tiếng chim kêu hay tiếng khóc thảm sầu của một hồn đau nhớ nước?” [66, 426]
1.4.2.2 Thủ pháp tả để gợi
Những bài thơ Đường luật xuất sắc đều giải quyết tốt mối quan hệ giữa tả và gợi Thơ Đường luật có lượng ngôn từ nhỏ, bởi vậy nếu đặt trọng tâm vào việc tả, tức là trực tiếp biểu thị đối tượng, sẽ bất cập Người xưa coi trong các thủ pháp “ họa vân xuất nguyệt” (vẽ mây làm hiện trăng),
“tá khách trình chủ” (mượn khách để trình bày chủ) là giải quyết mối quan
hệ giữa tả và gợi
Chúng ta có thể xét đến ngôn ngữ thơ trong các tác phẩm của Hồ
Xuân Hương vì các tác phẩm ấy có khả năng gợi tả rất mạnh Trong Thi pháp hiện đại, Đỗ Đức Hiểu cho rằng “Hồ Xuân Hương sáng tạo một
phong cách thơ luật Đường mới, một thế giới đời thường thắm tươi, một thiên nhiên tràn đầy sức sống, một triết lí tự nhiên của cuộc đời trần thế, của trực giác, cảm giác, bản năng, của say mê, một cái đẹp góc cạnh và vui tuơi của sự vận động hối hả, căng thẳng với những nhịp thơ nhảy múa, những đa thanh vang động, những điệu vanxơ chóng mặt” Thơ Hồ Xuân Hương là “ngày hội của bản năng” [20, 50]
Thế giới thơ Hồ Xuân Hương là thế giới sống động, tung hoành Thiên nhiên, con người đều chuyển động dữ dội (Gió giật sườn non, sóng dồn mặt nước, cơn gió tốc, hạt sương gieo; chen chân xọc, mỏi mắt dòm, đạp xuống, đâm ngang…) Tất cả tạo nên một thế giới sôi động rất trần tục
Trang 29
26 phá vỡ những khuôn khổ chật hẹp của thơ Đường cũng như cái tráng lệ, trang trọng thường thấy của nó
Cái thế giới đa thanh của thơ Hồ Xuân Hương cũng thật lạ: “bằng một
từ, có khi bằng một âm thanh, hoặc một nhịp điệu bất thường, nhà thơ nói cái này, song ý nghĩa của nó lại là cái khác” Những tiếng như “phòm”,
“hom”, “dòm”, “khom” khiến người đọc giật mình, ngạc nhiên và nghĩ ngay đến một “cái động’’ khác “Động Hương Tích” Đó chính là khả năng gợi tả tuyệt vời của ngôn ngữ Hồ Xuân Hương
Thơ Hồ Xuân Hương có nhiều dạng hình học: tròn, ba góc, hình méo, hình khòm, rồi rộng, hẹp, dài, ngắn, mỏng, dày, sù sì, tùm hum,… đủ cả Những hình dạng ấy không đứng yên mà chuyển động, cựa mình Nó như khua động, gọi dậy sức sống, cái bản năng trong con người Nó là “ẩn dụ bản năng sự sống” mà có lẽ bất cứ tâm hồn nhạy cảm nào cũng dễ nhận ra
Nguyễn Trãi cũng dùng thủ pháp nghệ thuật này để tả cảnh cỏ cây ngày xuân tràn sức sống, sông đây ắp nước, còn hoạt động của con người thì
ít ỏi, được thể hiện qua bài thơ Bến đò xuân đầu trại Người đọc có thể dễ
dàng nhận ra bố cục cân đối của bài thơ Hai câu đầu miêu tả hai hiện tượng thiên nhiên về mùa xuân, hai câu sau miêu tả hoạt động của con người Trong thơ, ranh giới giữa miêu tả và biểu hiện rất linh động nên cùng với việc lĩnh hội bức tranh thiên nhiên và sinh hoạt của con người thì người đọc có thể hình dung được tâm trạng của tác giả - Nguyễn Trãi nhà thơ trữ tình sâu sắc
Và chúng ta cũng không thể quên câu thơ Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu trong bài thơ Hoàng Hạc Lâu tống Mạch Hạo Nhiên chi Quảng Lăng của Lý Bạch, câu thơ đã tập trung biểu hiện tâm trạng của
chủ thể, có điều ẩn kín sau con mắt nhìn chứ không nói bằng ngôn từ trực trần kì sự Câu thơ dùng thủ pháp quen thuộc của Đường thi, đó là thủ
Trang 30
27 pháp “vẽ mây nẩy trăng”, lấy cái có (chỉ thấy sông Trường Giang chảy lưng trời) để nói cái không có (còn đâu hình bóng bạn, bạn đi thật rồi) Chúng ta còn bắt gặp thủ pháp này trong thơ của Nguyễn Khuyến tiêu biểu là chùm thơ nức danh về mùa thu Trong chùm thơ này, nhà thơ đã miêu
tả về trời thu, nước thu, trăng thu bằng phút pháp gợi là chủ yếu nhưng vẫn có đôi nét tả Ở đây, chúng ta thấy rõ là thi nhân không nói cụ thể hoa mùa thu
nào Hoa năm ngoái là mấy chùm hoa đã nở từ năm trước, nay lại đã trổ
bông? Hay tác giả dùng theo nghĩa gợi về quá khứ, đồng nhất quá khứ và
hiện tại như trong Truyện Kiều: Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông?
Ngoài ra, nhà thơ Tú Xương, một người được biết đến trước hết là một nhà thơ trào phúng xuất sắc Thơ ông lấy cảm hứng từ các vấn để xã
hội với nhiệt tình phê phán mạnh mẽ Bài thơ Thương vợ lại biểu hiện tình
cảm riêng tư của Tú Xương và cho chúng ta thấy chất trữ tình đằm thắm của nhà thơ và qua bài thơ chúng ta còn thấy được khả năng tả người gợi cảnh đầy tài hoa của tác giả
Bài thơ Thương vợ làm theo thể thất ngôn bát cú Câu phá đề kể một
cách khái quát về công việc của người vợ:
Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Lời thơ giản dị diễn tả sự ái ngại cho người vợ phải thường xuyên bươn chải nơi đầu sống ngọn gió Cảm xúc ấy đậm thêm khi nhà thơ kể ra nguyên cớ của nỗi gian truân kia Không dừng lại ở đó, nhà thơ tiếp tục cho người đọc thấy được nỗi vất vả của bà Tú trong những không gian và thời gian cụ thể, điều này được thể hiện ở hai câu thực:
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông
Cả hai câu thơ đều dùng lối đảo ngữ và biện pháp đối lập thật hiệu quả Một bên là sự vắng vẻ, côi cút của thân cò lặn lội Một bên là tiếng đông người với tiếng eo sèo, lời qua tiếng lại, tranh giành mua bán Hai
Trang 31
28 câu thơ cũng gợi cho người đọc thấy được một hình tượng quen thuộc trong văn học dân gian khi nói về người vợ cần mẫn tội nghiệp:
Con cò lặn lội bờ sông Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non
Lặn lội thân cò là hình ảnh đậm nét về nổi vất vả mà bà Tú phải trải qua để lo lắng cho giang sơn nhà chồng, với gánh nặng trên vai mà ông chồng chẳng đỡ đần được việc gì
Một biểu hiện nữa của tài năng thơ Tú Xương ở bài thơ này là ở nghệ thuật dùng số từ Thơ Đường luật số chữ ít nên quan hệ từ được tỉnh lược cao độ, số từ cũng ít được dùng Vậy mà chỉ trong một bài thơ, Tú Xương đã ba lần dùng cặp đôi số từ (năm, một; một, hai; năm, mười) rất thoải mái và điều chủ yếu nhất là làm cho sức diễn tả của câu thơ phong phú hẳn lên
Tiếp theo, chúng tôi đi vào tìm hiểu những khó khăn và thuận lợi của việc dạy học thơ Đường luật Đồng thời chúng tôi đã bàn đến hướng khai thác những tác phẩm thuộc thể lthơ Đường luật
Cuối cùng, nhằm giúp giáo viên thuận lợi hơn khi dạy các tác phẩm thuộc thể loại thơ Đường luật, chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu ba tri thức chủ yếu của thơ Đường luật, đó chính là sự hàm súc, kín đáo; phép song hành và thủ pháp tả để gợi
Trang 32
29
Chương 2 HÌNH THÀNH TRI THỨC VỀ TRUYỆN TRUYỀN KỲ
2.1 Khái niệm truyện truyền kỳ
Truyện truyền kỳ là thể loại của văn học Trung Quốc được du nhập vào
nước ta Tên gọi thể loại này bắt nguồn từ tên tập truyện nhan đề Truyền kỳ của Bùi Hình đời Đường Khâu Chấn Thanh trong Lý luận văn học cổ điển Trung Quốc viết: “Theo sự khảo chứng của Vương Quốc Duy, cái tên Truyền kỳ bắt
đầu từ đời Đường, thoạt đầu nó chỉ tiểu thuyết đời Đường, đến thời Tống thì gọi các cung điệu là truyền kỳ Người Nguyên lại khen ngợi tạp kịch là truyền
kỳ Đến thời Minh thì coi các tác phẩm hay của hý khúc là truyền kỳ Cái tên
truyền kỳ từ thời Đường tới thời Minh tuy đã trải qua bốn lần thay đổi nhưng
chưa hề tách rời những tác phẩm có tính chất tự sự như loại tiểu thuyết, hài kịch vốn vẫn có tình tiết” [62 , 129-130] Lý Ngư (đời Thanh) nói: Một số tác phẩm trong lịch sử sở dĩ có thể lưu truyền được là do “tình tiết của nó khác lạ, độc đáo, chưa được người nhìn thấy và lưu truyền (Nhân kỳ sự thậm kỳ đặc, vị kinh nhân kiến nhi truyền chi)” và kết luận: Không kỳ không truyền (phi kỳ bất truyền)” [62, 130] Lý Ngư cũng nói rằng, “muốn đạt tới cái kỳ thì cái kỳ ấy phải xuất phát từ cuộc sống hiện thực, phải hợp với lôgic sự vật Kỳ không phải là cái hoang đường quái đản Ông nói: Phàm viết truyền kỳ, chỉ có thể nên tìm những cái gì gần gũi ngay trước tai mắt, chứ không nên tìm ở ngoài những cái nghe thấy, nhìn thấy”(phàm tác truyền kỳ, chỉ đương cầu vu nhĩ mục chi tiền, bất đương sách chư văn kiến chi ngoại) [62, 132]
Ở Việt Nam, khái niệm truyện truyền kỳ được hiểu theo nghĩa rộng,
hẹp khác nhau Có nhà nghiên cứu xếp tất cả những tác phẩm văn xuôi có yếu tố thần linh ma quái hoặc kỳ dị vào truyện truyền kỳ Có người nêu thêm tiêu chí hư cấu của nhà văn và cho rằng chỉ xếp vào truyện truyền kỳ những truyện trong đó con người là nhân vật chính chứ không phải thần
Trang 33Trong Từ điển tác giả, tác phẩm Văn học Việt Nam dùng cho nhà trường các tác giả viết: “ở thể loại này (truyện truyền kỳ) các tác giả thường mượn
các yếu tố thần linh, ma quái để tái tạo và qua đó gửi gắm cái nhìn và thái
độ đối với hiện thực của thời đại mình” Một số nhà nghiên cứu văn học nêu thêm tiêu chí: Vai trò hư cấu của nhà văn ở thể loại này và chỉ xếp vào thể loại truyện truyền kì những truyện trong đó con người là nhân vật chính chứ không phải là thần linh, ma quỷ
“Truyền kỳ là một hình thức văn xuôi tự sự cổ điển Trung Quốc, vốn bắt nguồn từ truyện kể dân gian, sau được các nhà văn nâng lên thành văn chương bác học, sử dụng những môtip kỳ quái hoang đường, lồng một cốt truyện có ý nghĩa trần thế, nhằm gợi hứng thú cho người đọc” [22, 30]
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, truyện truyền kỳ là “ thể loại tự sự
cổ điển của văn học Trung Quốc thịnh hành ở đời Đường, tên gọi này cuối đời Đường mới có “Kỳ” nghĩa là không có thực, nhấn mạnh tính hư cấu Thoạt đầu, tiểu thuyết truyền kỳ mô phỏng truyện chí quái thời Lục triều, sau phát triển độc lập” [19, 342]
Như vậy, dù được hiểu rộng hẹp khác nhau, về thể loại truyện truyền kỳ
có các đặc điểm: hình thức văn xuôi tự sự và việc tham gia của yếu tố kỳ lạ, tức là tính chất khác lạ của con người, sự vật, hiện tượng xuất hiện trong truyện Truyện truyền kỳ xây dựng những thế giới khác ngoài thế giới hiện
sinh của con người: thượng giới, âm phủ, thủy cung Ở đó, người ta có thể
sống bình thường Trong truyện truyền kỳ, con người có thể giao tiếp với thế giới siêu nhiên: tiên, phật, thánh thần, ma quỷ… Phổ biến nhất là ma quỷ
Trang 34
31 Đây là yếu tố chi phối các đặc điểm khác (cốt truyện sinh hoạt có tính thế sự, nhân vật chính là con người, vai trò hư cấu của nhà văn…) của thể loại truyện
truyền kỳ Sự có mặt xuyên suốt của yếu tố “kỳ” và vai trò tích cực của nó
đối với vấn đề xây dựng cốt truyện và xây dựng nhân vật chính là bản chất thẩm mỹ của thể loại truyện truyền kỳ
Giải thích từ “kỳ”, Từ điển tiếng Việt do giáo sư Hoàng Phê chủ biên
viết “kỳ” là “lạ đến mức làm người ta phải ngạc nhiên” Tại đây, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều khái niệm để giải thích yếu tố “kỳ” Chẳng hạn như: “kỳ ảo” (kỳ lạ, tựa như có thật mà chỉ có trong tưởng tượng); “kỳ dị” (khác hẳn với những gì thường thấy đến mức lạ lùng); “kỳ diệu” (có cái gì vừa rất lạ lùng như không cắt nghĩa nổi, vừa làm người ta phải ngợi ca); “kỳ quái” (đặc biệt lạ lùng, chưa bao giờ thấy); “kỳ quặc” (kỳ lạ tới mức trái hẳn với lẽ thường, khó hiểu) [56, 499] Nhìn chung yếu tố “kỳ” được hiểu là kỳ
lạ, kỳ diệu, kỳ ảo, kỳ quái Yếu tố “kỳ” có ý nghĩa đặc biệt nên đã được sử dụng trong văn chương ngay từ thời xa xưa Trong văn học Việt Nam, yếu
tố kỳ được sử dụng rất độc đáo và đắc địa qua văn xuôi tự sự thời trung đại
Với hàng loạt tác phẩm nổi bật, lưu danh như: Thánh Tông di thảo (khuyết danh), Truyền kỳ tân phả (Đoàn Thị Điểm), đặc biệt là Truyền kỳ mạn lục
của Nguyễn Dữ
Truyện truyền kỳ là một thể loại văn học có diện mạo và tính chất riêng Thể loại này thường sử dụng một số thể văn như văn xuôi, văn vần, văn biền ngẫu, có phương thức diễn đạt riêng như phô diễn tâm tình (trữ tình), thuật bày sự việc (tự sự), biện luận lý giải (chính luận) Nó là thể loại văn học có tính chất lịch sử vừa ổn định vừa tương đối, vừa dần có sự biến đổi để phù hợp với tư duy văn học [ 63, 64-65]
Chẳng hạn, đặc điểm lớn nhất của nhân vật truyện truyền kỳ là luôn
có tính chất thực và tính chất hư, thiếu một trong hai tính chất này không phải là nhân vật truyện truyền kỳ đích thực Hơn nữa, ở kiểu nhân vật này cái thực luôn được hư hoá và ngược lại Sự tích về người đàn bà họ Vũ ở
Trang 35Chuyện chức phán sự đền Tản Viên) Để thuyết phục độc giả, nhà văn đã
gắn nhân vật này với đền Tản Viên - một ngôi đền có thật, nơi thờ một trong tứ bất tử của Việt Nam
2.2 Giới thiệu sơ bộ về tác giả và tác phẩm truyền kỳ Việt Nam đƣợc dạy học ở trung học phổ thông
Cho đến nay những tài liệu ghi chép về Nguyễn Dữ không nhiều
Theo Từ điển văn học (bộ mới), “Nguyễn Dữ là nhà văn Việt Nam, người
xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, nay thuộc Thanh Miện, Hải Dương Chưa
rõ ông sinh và mất năm nào, chỉ biết ông là con trai cả Nguyễn Tường Phiêu, Tiến sĩ khoa Bính thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 27 (1496) Nguyễn Tường Phiêu sau khi thi đỗ được trao chức Thừa chánh sứ và khi mất được phong chức Thượng thư Từ những tư liệu ít ỏi này, một số nhà nghiên cứu cho rằng : Nguyễn Dữ có khả năng sinh vào cuối thế kỉ XV, sống và sáng tác chủ yếu vào nửa đầu thế kỉ XVI Và một điều cũng có thể suy đoán rằng: nhà văn chắc cũng có một thời gian dài được sống cùng cha ở chốn kinh đô, được chứng kiến những bước thăng trầm của xã hội và con người nơi đây Đây là vốn sống hết sức quan trọng cho những sáng tác xuất chúng của ông khi về ở ẩn” [44, 1124]
Theo Hà Thiện Hán, tác giả bài “Tựa” cuốn Truyền kì mạn lục in năm
1547, thì Nguyễn Dữ lúc nhỏ rất chăm học, đọc rộng nhớ nhiều, từng ôm
ấp lí tưởng lấy văn chương nối nghiệp nhà Sau khi đậu Hương tiến, Nguyễn Dữ thi Hội nhiều lần, đạt trúng trường và từng giữ chức Tri huyện Thanh Tuyền (nay là Bình Xuyên, Phú Thọ), nhưng chỉ được một năm thì
Trang 36
33 xin từ quan về phụng dưỡng mẹ già, từ đó “trải mấy mươi sương chân
không bước đến thị thành” Ông để lại cho đời sau tập Truyền kì mạn lục
để “ngụ ý” cảm thán về thời cuộc Lê Quí Đôn trong sách Kiến văn tiểu lục còn cho biết thêm: “Vì ngụy Mạc cướp ngôi, ông thề không ra làm
quan, ở thôn quê dạy học trò, không bao giờ đặt chân đến chốn thị thành,
và ông đã viết tác phẩm Truyền kì mạn lục”
Nguyễn Dữ đã không chọn chốn mình sinh ra làm nơi ẩn dật như một
số danh sĩ khác Mà ông đã tìm đến ẩn mình nơi núi rừng Thanh Hóa xa xôi và yên tĩnh và cũng chính nơi ấy trở thành không gian để ông cho ra đời những tác phẩm bất hủ trong dân gian
Truyền kì mạn lục gồm hai mươi truyện, viết bằng tản văn, xen lẫn
biền văn và thơ ca, cuối mỗi truyện thường có lời bình của tác giả, hoặc của một người cùng quan điểm với tác giả Hầu hết các truyện xảy ra ở đời
Lý, đời Trần, đời Hồ hoặc đời Lê sơ từ Nghệ An trở ra Bắc Lấy tên sách là
Truyền kì mạn lục hình như tác giả muốn thể hiện thái độ khiêm tốn của
một người chỉ ghi chép truyện cũ Nhưng căn cứ vào tính chất của các
truyện thì thấy Truyền kì mạn lục không phải là một công trình sưu tập như Lĩnh Nam chích quái, Thiên Nam vân lục liệt truyện (Những truyện ghi
chép vô số ở cõi trời Nam)… mà là một sáng tác văn học với ý nghĩa đầy
đủ của từ này, đánh dấu bước phát triển quan trọng của thể loại tự sự trong văn học chữ Hán Nguyễn Dữ đã dựa vào những sự tích có sẳn, tổ chức lại kết cấu, xây dựng lại nhân vật, thêm bớt tình tiết, tu sức ngôn
từ tái tạo thành những thiên truyện mới Truyền kì mạn lục vì vậy, tuy
có vẻ là những truyện cũ nhưng lại phản ánh sâu sắc hiện thực thế kỉ XVI Trên thực tế thì đằng sau thái độ có phần dè dặt khiêm tốn, Nguyễn
Dữ rất tự hào về tác phẩm của mình, qua đó ông bộc lộ tâm tư, thể hiện hoài bão;ông đã phát hiện nhận thức, bày tỏ quan niệm của mình về những vấn đề lớn của xã hội, của con người trong khi chế độ phong kiến đang suy thoái
Trang 37
34
Trong Truyền kì mạn lục, có truyện vạch trần chế độ chính trị đen tối,
hủ bại, đả kích hôn nhân bạo chúa, tham quan lại nhũng, đồi phong bại tục,
có truyện nói đến quyền sống của con người như tình yêu trai gái, hạnh phúc lứa đôi, tình nghĩa vợ chồng, có truyện thể hiện đời sống và lí tưởng của sĩ phu ẩn dật… Nguyễn Dữ đã phản ánh hiện thực mục nát của chế độ phong kiến một cách có ý thức Toàn bộ tác phẩm thấm sâu tinh thần và màu sắc của cuộc sống, phạm vi phản ánh của tác phẩm tương đối rộng rãi, khá nhiều vấn đề của xã hội, con người được đề cập tới Bất mãn trước thời cuộc và bất lực trước hiện trạng, Nguyễn Dữ ẩn dật và đã thể hiện một
quan niệm sống của kẻ sĩ lánh đục về trong qua Câu chuyện đối đáp của người tiều phu núi Nưa Ở ẩn mà nhà văn vẫn quan tâm đến thế sự, vẫn
không quên đời, vẫn nuôi hi vọng ở sự phục hồi của chế độ phong kiến Tư tưởng chủ đạo của Nguyễn Dữ là tư tưởng Nho gia Ông phơi bày những cái xấu xa của xã hội là để cổ vũ thuần phong mỹ tục xuất phát từ ý thức bảo vệ chế độ phong kiến, phủ định triều đại mục nát đương thời để khẳng định vương triều lí tưởng, lên án bọn “bá giả” để đề cao “thuần vương”, phê phán bọn vua quan tàn bạo để ca ngợi thánh quân hiền thần, trừng phạt bọn người gian ác, xiểm nịnh, dâm tà, để biểu dương những gương tiết
nghĩa, nhân hậu thủy chung Tuy nhiên Truyền kì mạn lục không phải chỉ
thể hiện tư tưởng nhà Nho, mà còn thể hiện sự dao động của tư tưởng ấy trước sự rạn nứt của ý thức hệ phóng kiến Nguyễn Dữ đã có phần bảo lưu những tư tưởng phi Nho giáo khi phóng tác truyện dân gian, trong đó có
tư tưởng Phật giáo, Đạo giáo và chủ yếu là tư tưởng nhân dân Nguyễn Dữ
đã viết truyền kì để ít nhiều có thể thoát ra khỏi khuôn khổ của tư tưởng chính thống đặng thể hiện một cách sinh động hiện thực cuộc sống với nhiều yếu tố hoang đường, kỳ lạ Ông mượn thuyết pháp của Phật, Đạo
để lý giải một cách rộng rãi những vấn đề đặt ra trong cuộc sống với những quan niệm nhân quả, báo ứng, nghiệp chướng luân hồi; ông cũng chịu ảnh hưởng của tư tưởng nhân dân khi miêu tả cảnh cùng cực, đói khổ, khi thể
Trang 38
35 hiện đạo đức, nguyện vọng của nhân dân, khi làm nổi bật sự đối kháng giai cấp trong xã hội Cũng chính vì ít nhiều không bị gò bó trong khuôn khổ khắt khe của hệ ý thức phong kiến và muốn dành cho tư tưởng và tình cảm của mình một phạm vi rộng rãi, ông hay viết về tình yêu nam nữ Có những truyện ca ngợi tình yêu lành mạnh, chung thủy sắt son, thể hiện nhu cầu tình cảm của các tầng lớp bình dân Có những truyện yêu đương bất chính, tuy vượt ra ngoài khuôn khổ lễ giáo nhưng lại phản ánh lối sống đồi bại của Nho sĩ trụy lạc, lái buôn hãnh tiến Nguyễn Dữ rất táo bạo và phóng túng khi viết về những mối tình si mê, đắm đuối, sắc dục, thể hiện
sự nhượng bộ của tư tưởng nhà Nho trước lối sống thị dân ngày càng phổ biến ở một số đô thị đương thời Tuy vậy, quan điểm chủ đạo của Nguyễn
Dữ vẫn là bảo vệ lễ giáo, nên ý nghĩa tiến bộ toát ra từ hình tượng nhân vật thường mâu thuẫn trong tư tưởng, tinh cảm tác giả, phản ánh sự rạn nứt của ý thức hệ phong kiến trong tầng lớp Nho sĩ trước nhu cầu và lối sống
của xã hội Truyền kì mạn lục có giá trị hiện thực vì nó phơi bày những tệ
lậu của chế độ phong kiến và có giá trị nhân đạo vì nó đề cao phẩm giá con người, tỏ niềm thông cảm với nỗi khổ đau và niềm mơ ước của nhân dân
Truyền kì mạn lục còn là tập truyện có nhiều thành tựu nghệ thuật,
đặc biệt là nghệ thuật dựng truyện, dựng nhân vật, với lời văn cô đọng, súc
tích, chặt chẽ, hài hòa và sinh động Truyền kì mạn lục là mẫu mực của thể
truyền kì, là “thiên cổ kì bút”, là “áng văn hay của bậc đại gia”, tiêu biểu cho những thành tựu của loại hình văn học hình tượng viết bằng chữ Hán dưới ảnh hưởng của sáng tác dân gian
Chuyện chức phán sự đền Tản Viên là một trong số 20 truyện trong tác phẩm Truyền kì mạn lục viết bằng chữ Hán của Nguyễn Dữ (nhà văn Việt Nam thế kỉ XVI) Theo TS Phạm Tuấn Vũ “Chữ mạn
trong tên sách này rất khó dịch Tên sách đã được dịch là “Sao chép tản mạn những chuyện lạ”, “ghi chép tản mạn những truyện truyền
Trang 39
36 kì”, hoặc giải nghĩa là “Truyện truyền kì được viết một cách tùy hứng không gò bó”… dường như đều chưa thật thỏa đáng Hẳn ai cũng hiểu hai chữ mạn lục, là tùy hứng xa ý nghĩa của từ, và có lẽ Nguyễn Dữ cũng không nhìn nhận lao động nghệ thuật của mình như vậy” [75, 169]
Mở đầu tác phẩm, tác giả đã giới thiệu một cách cụ thể về tên tuổi của nhân vật một cách rất ngắn gọn Tác giả đã đưa người đọc vào một thê giới kì lạ Đó là cõi âm, một thế giới không có thực Việc đốt đền của Tử Văn gắn liền với việc hồn ma của một tướng quân Ngô chiếm đền và luôn quấy nhiễu dân lành Sau khi hành động thì nhân vật Tử Văn đã bước sang một thế giới khác Và trong thế giới này, Tử Văn đã gặp gỡ nhiều người Người đâu tiên là cư sĩ đến đòi đền, rồi tiếp theo là thổ công Qua cuộc gặp gỡ và trao đổi với thổ công thì bộ mặt thực của cõi âm được bộc lộ Đó là tệ nạn hối lộ để bao che cho kẻ xấu và làm điều sai trái Truyện có cảnh xét xử ở âm ti cũng diễn ra giống như ở trần gian, kẻ ác, người làm điều sai luôn luôn dùng lí lẽ để biện hộ Trước sự ranh ma ấy, Tử Văn phải đưa ra những lí lẽ, bằng chứng mới thoát tội và được đền đáp xứng đáng
Mặc dù đó là thế giới tưởng tượng, hư cấu, song nhờ tài năng của Nguyễn Dữ, diễn biến tâm lí của nhân vật rất chân thực Hồn ma của tướng giặc họ Thôi lúc Tử văn đốt đền thì đến dọa nạt, đòi đền, nhưng trước phiên tòa thì hắn dùng lí lẽ để vu tội cho Tử Văn Khi tử văn chuẩn bị đưa
ra bằng chứng thì hắn lập tức mềm mỏng và xin tha tội cho Tử Văn
“Gã kia là một kẻ học trò, thật là ngu bướng, quả đáng tội lắm Nhưng đã trách mắng như vậy cũng đủ răn đe rồi Xin đại vương khoan dung tha cho hắn để tỏ cái đức rộng rãi Chẳng cần đòi hỏi dây dưa Nếu thẳng tay trị tội nó, sợ hại đến đức hiếu sinh” Từ hình ảnh viên tướng họ Thôi, tác giả đã vạch trần bộ mặt gian tà của không ít kẻ “quen dùng chước dối lừa, thích làm trò thảm ngược”
Trang 40
37
Với tác phẩm Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, Nguyễn Dữ đã
thành công ở bút pháp hiện thực và kì ảo Yếu tố kì ảo là biện pháp để tăng tính hấp dẫn của câu chuyện
2.3 Những thuận lợi và khó khăn của việc dạy học truyện truyền kì ở trung học phổ thông
2.3.1 Thuận lợi
Những truyện truyền kì được tuyển chọn đưa vào chương trình phổ thông không nhiều nhưng mỗi truyện đều có đặc điểm riêng, đều thể hiện được nội dung tư tưởng với hình thức nghệ thuật độc đáo để phản ánh cuộc sống Các môtíp kì ảo trong truyện truyền kì đều gợi cảm hứng cho học sinh
Truyện truyền kì thường sử dụng cốt truyện dân gian hoặc dã sử để xây dựng thành truyện mới, chính vì vậy truyện truyền kì mang đậm yếu tố hiện thực và nhân văn
Tài liệu tham khảo khá phong phú: sách học tốt, sách giáo viên, thiết
kế bài giảng, các công trình nghiên cứu, phê bình của nhiều tác giả giúp người dạy, người học có nhiều điều kiện thuận lợi để tìm ra cho mình những định hướng chính xác khi tiếp cận văn bản thuộc thể loại truyện truyền kỳ
2.3.2 Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi mà chúng tôi vừa nêu ở trên , thì khi dạy và học truyện truyền kỳ giáo viên và học sinh cũng gắp rất nhiều khó khăn Trong chương trình Ngữ văn phổ thông hiện nay có dạy một số
truyện truyền kì như: Con hổ có nghĩa, Chuyện người con gái Nam Xương, Chuyện chức phán sự đền Tản Viên… Việc không dạy và học loại tác
phẩm này ở cấp tiểu học là hợp lí, bởi đặc điểm lứa tuổi và trình độ của học sinh chưa phù hợp để cảm thụ, rất dễ xảy ra tình trạng ngược với điều
mà nhà giáo dục mong muốn Ở các cấp học trên, kể cả ở đại học, còn có những biểu hiện cho thấy việc dạy và học các loại tác phẩm này chưa đúng