1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số tỉnh phú thọ hiện nay luận văn ths triết học 60 22 85 pdf

99 544 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các dân tộc trong tỉnh cũng có những bản sắc riêng độc đáo của mình : người Mường có hát ví, hát đúm, ném còn, hội cồng chiêng, người Dao có tết Nhảy, người Việt có hát xoan, hát ghẹo,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN THỊ NHƯ PHƯƠNG

PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TỈNH PHÚ THỌ HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN THỊ NHƯ PHƯƠNG

PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TỈNH PHÚ THỌ HIỆN NAY

Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Mã số : 60 22 85

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN DƯƠNG

HÀ NỘI - 2012

Trang 3

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 Chương 1 QUAN NIỆM VỀ VĂN HÓA VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC PHÁT HUY

GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH PHÚ THỌ 8

1.1 Khái niệm văn hóa và giá trị văn hóa truyền thống dân tộc thiểu số 8 1.2 Vai trò của việc phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số đối với

sự phát triển kinh tế xã hội tỉnh Phú Thọ 24

Chương 2 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA

TRUYỀN THỐNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TỈNH PHÚ THỌ

HIỆN NAY 31

2.1 Đặc điểm kinh tế xã hội và đặc trưng giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số Phú Thọ 31 2.1.1 Đặc điểm kinh tế xã hội 31 2.1.2 Đặc trưng giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số Phú Thọ 37 2.2 Những thành tựu đạt được và hạn chế trong việc phát huy giá trị văn hóa truyền

thống các dân tộc thiểu số tỉnh Phú Thọ hiện nay và những yêu cầu đặt ra 52 2.2.1 Những thành tựu đạt được trong việc phát huy giá trị văn hóa truyền thống

các dân tộc thiểu số tỉnh Phú Thọ hiện nay 52 2.2.2 Hạn chế trong việc phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu

số tỉnh Phú Thọ hiện nay và nguyên nhân 58 2.2.3 Những yêu cầu đặt ra nhằm phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân

tộc thiểu số tỉnh Phú Thọ hiện nay 65

Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN

HÓA TRUYỀN THỐNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TỈNH PHÚ THỌ TRONG NHỮNG NĂM TỚI 67

3.1 Như ̃ng quan điểm chỉ đa ̣o 67 3.2 Những giải pháp cơ bản 70 3.2.1 Tập trung phát triển kinh tế, cải thiện đời sống vật chất của đồng bào các

dân tộc thiểu số trong tỉnh 70 3.2.2 Nâng cao dân trí và trình độ nhận thức của đồng bào các dân tộc trong quá

trình giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống 76 3.2.3 Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong tỉnh đáp ứng yêu cầu

phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc thiểu số 79 3.2.4 Kế thừa, phát huy những di sản văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc

thiểu số Phú Thọ đồng thời đẩy mạnh giao lưu, tiếp thu các giá trị văn hoá của các dân tộc anh em 83 3.2.5 Phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Phú Thọ đi đôi với xây dựng nếp

sống văn hóa mới, bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan 85

Trang 4

KẾT LUẬN 88 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 5

BẢNG QUY ƯỚC CHỮ VIẾT TẮT

NN & PTNT: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn THPT: Trung học phổ thông

UBND: Ủy ban nhân dân

VH-TT-TT: Văn hóa - Thông tin - Truyền thông VHTT: Văn hóa thông tin

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là một trong những nhiệm vụ quan trọng song hành cùng mục tiêu phát triển kinh tế xã hội.Việt Nam là một quốc gia với 54 dân tộc anh em đã tạo nên một bản sắc văn hóa phong phú, đa dạng Nghị quyết 5 của Ban chấp hành trung ương khóa VIII khẳng định: “nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Hơn 50 dân tộc sống trên đất nước

ta đều có giá trị và sắc thái văn hóa riêng Các giá trị và sắc thái đó bổ sung cho nhau làm phong phú nền văn hóa Việt Nam và củng cố sự thống nhất dân tộc là cơ sở giữ vững sự bình đẳng và phát huy tính đa dạng văn hóa của các dân tộc anh em”

Hiện nay trên thế giới đang diễn ra xu hướng toàn cầu hóa tạo nên

sự biến đổi mọi mặt trong đời sống của mỗi quốc gia Bên cạnh những tác động tích cực, quá trình toàn cầu hóa còn có thể triệt tiêu sự khác biệt về văn hóa của các dân tộc dẫn đến nguy cơ đồng hóa, xâm lăng về văn hóa của các dân tộc Vì vậy, vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

có ý nghĩa sống còn với mọi quốc gia và với mỗi dân tộc trong quốc gia đó

Trong suốt hơn 70 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng cộng sản Việt Nam luôn coi trọng mặt trận văn hóa mà cốt lõi của nó là vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc Định hướng dân tộc đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt những văn kiện của Đảng về văn hóa, văn nghệ Nghị quyết số 22 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VI nhấn mạnh: “Tôn trọng

và phát huy những phong tục tập quán và truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc” Đặc biệt là nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc khẳng định: “Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số”

Trang 7

Phú Thọ được coi là vùng đất tổ cội nguồn của Việt Nam thuộc khu vực vùng núi trung du phía Bắc có diện tích là 3465 km2, nơi có hơn 20 dân tộc anh em chung sống: Tày, Việt, Mường, Dao, Thái, Nùng, Cao Lan, Sán Chay, với bản sắc văn hóa truyền thống phong phú, đa dạng Sau thời gian sát nhập thành tỉnh Vĩnh Phú, từ ngày 1-1-1997, Phú Thọ được tái lập và công nhận là một tỉnh miền núi Phú Thọ là vùng đất cổ có nền văn hóa rực rỡ lâu đời, là cái nôi của nền văn hóa Lạc Việt, trung tâm sinh tụ của người Việt Cổ thời các vua Hùng dựng nước Văn Lang Các dân tộc trong tỉnh cũng có những bản sắc riêng độc đáo của mình : người Mường có hát ví, hát đúm, ném còn, hội cồng chiêng, người Dao có tết Nhảy, người Việt có hát xoan, hát ghẹo, chọi trâu,…

Thực hiện Nghị quyết Trung ương khóa VIII về một số nhiệm vụ văn hóa văn nghệ trước mắt để chấn hưng nền nghệ thuật dân tô ̣c , đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân , Ủy ban nhân dân, Sở Văn hóa Thông tin đã chủ động xây dựng kế hoạch phát triển các hoạt động văn hóa với hình thức đa dạng làm phong phú thêm đời sống tinh thần của nhân dân đồng thời bảo tồn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc: nghiên cứu và khôi phục các lễ hội truyền thống có giá trị lịch sử và văn hóa như lễ hội cồng chiêng của dân tộc Mường xã Tất Thắng, Tết Nhảy của đồng bào Cao Lan xã Tây Cốc,… Công tác nghiên cứu khoa học phục vụ cho các hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc được quan tâm đầu tư như: “Điều tra vốn

di sản văn hóa phi vật thể ở Phú Thọ”, “Phục dựng nguyên bản hội Phết Hiền Quan”, “Làng cổ Tứ Xã”,… làm cho văn hóa ngày càng thấm sâu vào đời sống tinh thần góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc trong tỉnh

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trong tỉnh còn có những hạn

Trang 8

chế cần khắc phục Có không ít những giá trị văn hóa truyền thống đã và đang dần bị mai một

Trước sự ảnh hưởng của cơ chế thị trường, có không ít những giá trị văn hóa truyền thống đã bị tác động, nhiều phong tục tập quán tốt đẹp, đặc trưng ngôn ngữ, trang phục với bản sắc độc đáo của các dân tộc đang ít nhiều bị tác động

Những tồn tại này đặt ra đòi hỏi các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân trong tỉnh cần nhận thức trên cơ sở nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về văn hóa dân tộc nhằm giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống, đa dạng của các dân tộc thiểu số tỉnh Phú Thọ Việc bồi dưỡng, nâng cao nhận thức để chủ động giữ gìn và phát huy tinh hoa văn hóa của mỗi tộc người là hết sức cần thiết đặc biệt trong giai đoạn hiện nay Nhận thức được tầm quan trọng của việc phát huy giá trị văn hóa trong quá trình phát triển của đất nước nói chung và Phú Thọ nói riêng, tôi

lựa chọn vấn đề: “Phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu

số tỉnh Phú Thọ hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sỹ Đây là đề tài chứa

đựng nhiều vấn đề lí luận và thực tiễn góp phần đi sâu nghiên cứu về các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số Phú Thọ giai đoạn hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu

Trong thời gian qua đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về văn hóa, văn hóa các dân tộc thiểu sổ ở Việt Nam nói chung và văn hóa các dân tộc Phú Thọ nói riêng Thực hiện chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước đối với phát triển miền núi và vùng dân tộc thiểu số, đặc biệt là vấn

đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống thì lĩnh vực này đang ngày càng được quan tâm, trong đó phải kể đến các công trình nghiên cứu:

Các công trình nghiên cứu về văn hóa dân tộc và văn hóa dân tộc thiểu số như: “Bản sắc dân tộc của văn hóa”, Viện văn hóa, 1990, Đỗ Huy -

Trang 9

Trường Lưu; “Suy nghĩ về về bản sắc văn hóa dân tộc”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994; Nguyễn Từ Chi “Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người”, Nxb Văn hóa dân tộc, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội, 2003, Trần Văn Bính chủ biên; “Văn hóa các dân tộc Tây Bắc - thực trạng và những vấn đề đặt ra”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 Phan Hữu Dật, "Góp phần nghiên cứu dân tộc học Việt Nam", Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, 2004 Qua các công trình này, các tác giả đã khái quát một cách có

hệ thống những nét truyền thống đặc trưng, vai trò,… của văn hóa trong đời sống kinh tế xã hội nước ta hiện nay

Các công trình tiêu biểu nghiên cứu về văn hóa các dân tộc Phú Thọ: Nguyễn Ngọc Thanh “Gia đình và hôn nhân của người Mường ở tỉnh

Phú Thọ”, Luận án tiến sỹ khoa học lịch sử, Viện dân tộc học, Hà Nội, 1999; “Tổ chức xã hội cổ truyền và những biến đổi của nó ở người Mường Thanh Sơn - Phú Thọ, Luận án tiến sỹ khoa học lịch sử của Hà Văn Linh, Viện dân tộc học, Hà Nội, 2005; “Những làng văn hóa, văn nghệ dân gian đặc sắc ở tỉnh Phú Thọ”, Hội Văn học nghệ thuật Phú Thọ, Nxb Từ điển bách khoa, 2009; Việt Nam các vùng văn hóa - Phú Thọ - Miền đất cội nguồn”, Nxb Trẻ, 2010, Dương Huy Thiện Các công trình này góp phần nghiên cứu những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, khái quát được những nét đặc trưng của các giá trị văn hóa tinh thần thể hiện qua các hình

thức mang tính dân tộc độc đáo

Ngoài ra còn có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về giá trị văn hóa truyền thống độc đáo của các dân tộc Phú Thọ được đăng trên các báo, tạp chí điện tử: “Trò chơi dân gian vùng đất Tổ” của giáo sư Trần Quốc Vượng, Tạp chí Văn hóa Thể thao Du lịch tỉnh Phú Thọ, số 2 - 2009; Nguyễn Khắc Xương, Hát xoan Phú Thọ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Thọ, 2008… Các nghiên cứu này góp phần chỉ ra sự cần thiết phải xây dựng, bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số

tỉnh Phú Thọ giai đoạn hiện nay

Trang 10

Các công trình nghiên cứu trên đã góp phần thể hiện những quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước trong vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể trong sự nghiệp phát triển văn hóa các dân tộc Đồng thời các nghiên cứu đã cho thấy phương diện văn hóa tộc người, đặc điểm chính trong đời sống văn hóa tinh thần của các dân tộc tỉnh Phú Thọ góp phần đề xuất những giải pháp bảo tồn và phát huy vai trò

của văn hóa các dân tộc nói chung và các dân tộc tỉnh Phú Thọ nói riêng

Những kết quả đã đạt được là hết sức quý báu gợi ra nhiều hướng nghiên cứu mới trực tiếp phục vụ cho quá trình giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc trong một nền văn hóa thống nhất Tuy nhiên, các công trình trên chỉ đề cập một cách khái quát hoặc một số khía cạnh của văn hóa dân tộc và văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số Phú Thọ Trước những yêu cầu và nhiệm vụ của thời kì mới, việc phát huy giá trị văn hóa truyền thống độc đáo của các dân tộc thiểu số tỉnh Phú Thọ là cần thiết nhưng cho đến nay những công trình nghiên cứu vấn đề này còn rất thiếu

Vì vậy, nghiên cứu một cách cơ bản và hệ thống về việc phát huy các giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số tỉnh Phú Thọ được đặt ra đặc

biệt là giai đoạn hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở nghiên cứu các giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số ở tỉnh Phú Thọ và thực trạng phát huy giá trị văn hóa truyền thống, khảo sát đánh giá thực trạng của quá trình phát huy giá trị văn hóa truyền thống đó, luận văn đề xuất hệ giải pháp phát huy các giá trị văn hóa truyền

thống của các dân tộc thiểu số Phú Thọ trong thời gian tới

* Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt được mục đích nghiên cứu đã đặt ra, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:

Trang 11

Thứ nhất, làm nổi bật những đặc trưng của các giá trị văn hóa truyền thống Phú Thọ trong quá trình phát triển

Thứ hai, đánh giá thực trạng phát huy các giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay

Thứ ba, nêu lên phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy các giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số Phú Thọ giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những đặc trưng của giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số tỉnh Phú Thọ

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ nghiên cứu về những giá trị văn

hóa truyền thống có ý nghĩa tích cực của các dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong giai đoa ̣n hiê ̣n nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở sử dụng các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề văn hóa dân tộc, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số

Các phương pháp chủ yếu được sử dụng : Phương pháp lôgic và li ̣ ch

sử, Phương pháp quy nạp và diễn dịch, Phương pháp phân tích và tổng hợp,… cùng với các phương pháp liên ngành khác

6 Những đóng góp mới của luận văn

* Đóng góp mới về mặt khoa học:

Luận văn góp phần nghiên cứu những nét đặc thù của văn hóa các dân tộc thiểu số Phú Thọ , khẳng định những giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình vận động, biến đổi của xã hội đồng thời đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm phát huy hiệu giá trị văn hóa truyền thống của các dân

tộc thiểu số tỉnh Phú Thọ hiện nay

Trang 12

* Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn:

Luận văn làm rõ và sâu sắc hơn những giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số tỉnh Phú Thọ, sự tác động của thời kì đổi mới, hội nhập đối với các giá trị văn hóa truyền thống của các đồng bào thiểu số trong tỉnh, từ đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp phát huy giá trị

văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số tỉnh Phú Thọ hiện nay

Ở một mức độ nhất định, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy những nội dung có liên quan đến vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số, giúp cho việc nhận thức đúng đắn về sự cần thiết phải kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong quá

trình giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, pần kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương, 6 tiết:

Chương 1: Quan niệm về văn hóa và vai trò của việc phát huy các

giá trị văn hóa truyền thống dân tộc thiểu số đối với sự phát triển kinh tế xã hội tỉnh Phú Thọ

Chương 2: Thực trạng của việc phát huy giá trị văn hóa truyền thống

các dân tộc thiểu số tỉnh Phú Thọ hiện nay

Chương 3: Quan điểm và giải pháp cơ bản phát huy giá trị văn hóa

truyền thống các dân tộc thiểu số tỉnh Phú Thọ trong những năm tới

Trang 13

Chương 1 QUAN NIỆM VỀ VĂN HÓA VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH PHÚ THỌ

1.1 Khái niệm văn hóa và giá trị văn hóa truyền thống dân tộc thiểu số

Về khái niê ̣m văn hóa

Cho đến nay đã có hàng trăm đi ̣nh nghĩa về văn hóa, điều đó có nghĩa

là để định nghĩa một cách chính xác về văn hóa là điều không đơn giản Văn hóa nói chung và văn hóa các dân tộc thiểu số nói riêng đang được rất nhiều

sự quan tâm của xã hội với tư cách là một trong những lĩnh vực quan trọng

nhất của đời sống xã hội

Thuật ngữ "văn hóa" xuất hiện từ rất sớm trong ngôn ngữ nhân loại (xuất phát từ gốc chữ latinh "Cultura" - có nghĩa là trồng trọt, canh tác) Cho đến nay có rất nhiều cách tiếp cận văn hoá theo những quan điểm khác nhau như cách tiếp cận sinh thái học, chức năng luận với các lý thuyết vị chủng, tương đối, Theo quan điểm triết học mác xít , nói văn hóa là nói tới con người, nói tới sự biểu hiện của phương thức tồn tại người Văn hóa không được Mác đề cập như một lĩnh vực nghiên cứu chuyên biệt, độc lập Nhưng toàn bộ tư tưởng của Mác về vấn đề này tự nó lại được khái quát lên và thể hiện ra trong hệ thống các quan điểm duy vật biện chứng của Mác về con người và xã hội Trong triết học Mác, bản chất của văn hóa được thể hiện trong mối quan hệ biện chứng với bản chất của con người và xã hội

Trước hết , văn hóa là do con người làm nên , thuộc về con người , những gì không do con người làm nên không thuô ̣c về văn hóa Từ đó , văn hóa là đặc trưng cơ bản phân biệt con người với động vật đồ ng thời cũng là tiêu chí cơ bản để phân biệt sản phẩm nhân tạo với sản phẩm tự nhiên Văn

Trang 14

hóa xuất hiện một cách chủ động và có ý thức của con người với tự nhiên , nên văn hóa cũng là sản phẩm của sự thích nghi ấy Do vậy, trình độ phát triển của văn hóa phụ thuộc vào trình độ nhận thức và sức sáng tạo của con người trong quá trình hoạt động thực tiễn của họ Nếu tách văn hóa ra khỏi đời sống của con người và xã hội loài người thì văn hóa chẳng còn ý nghĩa gì cả C.Mác cho rằng: “con người sản xuất” là một “thực thể song trùng” thống nhất giữa “cái tự nhiên và cái xã hội” Con người là sản phẩm tự nhiên, là kết quả của quá trình tiến hoá lâu dài của giới hữu sinh đêù phải tuân theo quy luâ ̣t vốn có của tự nhiên Song con người không phải là động vật thuần tuý như các động vật khác mà xét trên khía cạnh xã hội thì con người là động vật

có tính xã hội, con người là sản phẩm của xã hội, mang bản tính xã hội Những yếu tố xã hội là tất cả những quan hệ, những biến đổi xuất hiện do ảnh hưởng của các điều kiện xã hội khác nhau, những quy định về mặt xã hội ta ̣o nên con người Con người chỉ có thể tồn ta ̣i được khi tiến hành lao động sản xuất của cải vật chất để thoả mãn nhu cầu mình và chính lao động sản xuất là yếu tố quyết định hình thành con người và ý thức Lao động là nguồn gốc duy nhất của văn hoá vật chất và tinh thần Trong quá trình lao đô ̣ng sản xuât, bản chất của con người thể hiện ra trong mối quan hệ giữa mỗi người với người khác, giữa mỗi người với cộng đồng xã hội và thể hiện trong kết cấu xã hội hiện thực, ở một không gian, thời gian xác định Trong luận cương về Phơbách, C.Mác viết: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” [38, tr.11]

Con người được sinh ra và sống trong giới tự nhiên Quá trình cải biến

tự nhiên, con người cũng tạo ra lịch sử cho mình Con người không những là sản phẩm của xã hội mà con người còn là chủ thể cải tạo làm cho nó trở thành giới tự nhiên thứ hai, giới tự nhiên của chính mình, đồng thời qua đó cải biến chính bản thân mình - Đó chính là văn hóa C.Mác viết:

Trang 15

“Cố nhiên, con vật cũng sản xuất… Nhưng súc vật sản xuất cái mà bản thân nó hoặc con nó trực tiếp cần đến; nó sản xuất một cách phiến diện, trong khi con người sản xuất một cách toàn diện; con vật chỉ sản xuất vì bị chi phối bởi nhu cầu thể xác trực tiếp, còn con người sản xuất ngay cả khi không bị nhu cầu thể xác ràng buộc, và chỉ khi không bị nhu cầu đó ràng buộc thì con người mới sản xuất theo ý nghĩa chân chính của từ đó; con vật chỉ tái sản xuất

ra bản thân nó, thế còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên” [39, tr.137]

Trong giới tự nhiên chỉ có duy nhất con người sống và hoạt động với tư cách là chủ thể của bản thân mình, làm chủ giới tự nhiên, hòa vào giới tự nhiên nguyên sơ, để tạo nên một “thiên nhiên thứ hai” nhằm thỏa mãn những nhu cầu, ham muốn chinh phục tự nhiên, xã hội… của bản thân con người -

Đó là văn hóa C.Mác cho rằng, xét đến cùng, văn hóa có nguồn gốc từ lao động Bởi lẽ, mọi hoạt động sáng tạo của con người nhằm cải biến tự nhiên và

xã hội đều bắt đầu từ lao động Chính lao động đã sáng tạo ra con người và xã hội loài người, làm cho con người ngày càng thoát ra khỏi bản năng động vật, tiến dần đến trình độ trưởng thành về nhân cách, trình độ trưởng thành về văn hóa của mỗi cá nhân

Trong quá trình lao động, con người đã in dấu mình vào trong từng khâu, từng yếu tố, từng mặt, từng bộ phận… của thành quả lao động, làm cho

tự nhiên tự hiện hình trong hoạt động của con người C.Mác viết: “…Bằng thực tiễn, bằng con đường cách mạng; họ sẽ làm cho “tồn tại” của mình phù hợp với bản chất của mình” [40, tr.507] Sự thích nghi của con người với tự nhiên không phải là sự thích nghi máy móc mà là sự thích nghi có sáng tạo , phù hợp với các giá tri ̣ chân - thiê ̣n - mỹ Như vậy, theo C.Mác, văn hóa được hình thành và phát triển trên cơ sở sự hình thành và phát triển con người Thước đo của sự tiến bộ và phát triển này chính là mức độ hình thành và phát triển bản chất người trong quá trình con người chinh phục và biến đổi tự

Trang 16

nhiên, trong mối quan hệ giữa con người với cộng đồng, mà bao trùm là quan

hệ giữa đời sống tinh thần và không gian sống vật chất của con người và của

xã hội loài người Nếu môi trường đầu tiên cho con người sự hình thành và phát triển, quyết định sự tồn tại của con người là sản xuất vật chất, thì môi trường thứ hai cho con người bộc lộ, phát huy những năng lực và bản chất người trong các hoạt động sống, đó chính là sản xuất văn hóa

Quan niệm của V.I.Lênin về văn hóa khá rộng và bao quát Từ cách tiếp cận hình thái kinh tế - xã hội, V.I.Lênin cho rằng: Sự phát triển của văn hóa gắn liền với sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội, mỗi một hình thái kinh tế - xã hội có một nền văn hóa tinh thần đặc trưng (như một giá trị lịch sử), khi hình thái kinh tế - xã hội thay đổi, thì nền văn hóa tương ứng với

nó cũng có sự thay đổi nhất định Đây không có nghĩa là sự đứt đoạn hay đoạn tuyệt với các giá trị văn hóa truyền thống, mà trong quá trình chuyển hóa, nền văn hóa mới luôn kế thừa những di sản, thành tựu của nền văn hóa trước đó, đồng thời bổ sung những yếu tố mới phù hợp với những đặc điểm

và quan hệ của hình thái kinh tế - xã hội mới V.I.Lênin khẳng định: Ở đâu có hoạt động của con người thì ở đó có văn hóa và văn hóa không chỉ dừng lại ở văn hóa tinh thần mà còn bao hàm cả văn hóa vật chất Người coi văn hóa là phương tiện quan trọng nhất trong tất cả các loại hình hoạt động của con người và là kết quả của quá trình hoạt động đó Vì vậy, trong quá trình xây dựng nền văn hóa mới, V.I.Lênin nhấn mạnh nguyên tắc tính đảng, tính nhân dân, tính dân tộc, tính nhân loại trong văn hóa, cách mạng văn hóa, trước hết

là cách mạng trong trí tuệ, trong ý thức của quần chúng Người khẳng định: hoạt động văn hóa và sản phẩm văn hóa phải là “của” nhân dân, chứ không phải “cho” nhân dân Người viết: “Chủ nghĩa xã hội được xây dựng không phải bằng mệnh lệnh từ trên Tinh thần của nó xa lạ với bộ máy nhà nước quan liêu; Chủ nghĩa xã hội sinh động, sáng tạo, tức là sáng tạo của chính quần chúng” [34, tr.464]

Trang 17

Sáng kiến của Người đã khơi dậy tiềm năng, tính chủ động sáng tạo của quần chúng nhân dân, mở ra hướng đi và nhiệm vụ mới cho cách mạng vô sản

- cách mạng văn hóa Đó là cuộc cách mạng giải phóng triệt để con người và

xã hội loài người khỏi những áp bức bất công cả trong lao động cũng như trong mọi hoạt động sáng tạo của họ

Theo V.I.Lênin, muốn xây dựng một nền văn hóa mới, nền văn hóa vô sản có khả năng phát triển toàn diện năng lực và bản chất người, cần phải kế thừa có phê phán các giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại, đồng thời phát triển nó lên một tầm cao mới, mang đậm chất liệu văn hóa và bản chất người Người nói rằng: Nền văn hóa vô sản không phải từ trên trời rơi xuống, nó không phải là do những người tự cho mình là chuyên gia về văn hóa vô sản bịa đặt ra… văn hóa vô sản phải là sự phát triển hợp quy luật của vốn kiến thức mà loài người đã tạo ra dưới ách áp bức của xã hội tư bản, địa chủ và của

xã hội quan liêu [34, tr.402]

Người cũng chỉ ra rằng, chỉ có xây dựng thành công chủ nghĩa xã hô ̣i , chủ nghĩa cộng sả n thì con người mới có điều kiện thể hiện đầy đủ năng lực sáng tạo, trình độ làm chủ của mình trước tự nhiên, xã hội và ngay cả trước bản thân mình Từ đó, con người và xã hội loài người mới có điều kiện xây dựng và phát triển sự công bằng, bình đẳng, tự do cho bản thân, các tiêu chí: chân, thiện, mỹ… mới được xác lập và hoàn thiện, hoạt động sáng tạo của con người mới có đầy đủ điều kiện đạt tới trình độ nhân văn đích thực Có thể nói một cách bao quát: Tất cả những gì có quan hệ với con người (con người với

tư cách cá nhân và cộng đồng) với mọi cách thức tồn tại của nó đều là biểu hiện của văn hóa

Kế thừa tư tưởng chủ nghĩa Mác -Lênin, Hồ Chí Minh - nhà mácxit Việt Nam đầu tiên đã đưa ra mô ̣t đi ̣nh nghĩa ở cấp đô ̣ khái quát về văn hóa đã viết:

"Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn

Trang 18

học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn" [41, tr.431]

Quan điểm của người đã khái quát được nội dung rộng nhất của phạm trù văn hoá, chỉ ra văn hoá không chỉ bao hàm các hoạt động tinh thần của con người mà còn bao hàm trong đó cả những hoạt động vật chất Người cũng chỉ

ra nguồn gốc sâu xa của văn hoá đó chính là nhu cầu sinh tồn của con người, với tư cách là chủ thể hoạt động của đời sống xã hội Đồng thời chỉ ra nguồn gốc động lực sâu xa của văn hoá đó là nhu cầu sinh tồn của con người với tư cách là chủ thể hoạt động của đời sống xã hội - một hoạt động khác hẳn với hoạt động sinh tồn bầy đàn của các loài động vật Theo ý nghĩa này, chất văn hoá được hàm chứa trong mọi lĩnh vực hoạt động kể cả hoạt động tinh thần và hoạt động vật chất cùng với các giá trị vật chất và tinh thần mà con người tạo ra trong hoạt động của mình Nó biểu hiện sự thống nhất của yếu tố tự nhiên, yếu

tố xã hội trong con người, biểu hiện khả năng và sức sáng tạo của con người Quan điểm về văn hóa của Người bao chứa trong đó rất nhiều nô ̣i dung : văn hóa là sự phát triển tự thân và t ất yếu, mang tính xã hô ̣i cao , do nhu cầu tồn ta ̣i của con người , văn hóa là phương thức hoa ̣t đô ̣ng và không ngừng nâng cao phương thức theo tiến triển xã hô ̣i ; trong cái chung về phương thức hoa ̣t đô ̣ng

có cái riêng về công cụ cho sinh hoa ̣t hằng ngày,… Từ các mă ̣t đó, vai trò sáng

tạo và giá trị nhân văn đã trở thành cốt lõi của văn hóa

Văn hóa luôn luôn gắn với những cái mang giá trị tinh thần tốt đẹp cho con người, phục vụ con người Cần lưu ý ở đây là những giá trị tinh thần tốt đẹp chứ không phải mọi giá trị tinh thần Những hành vi, sản phẩm gây ra sự đau đớn cả về vật chất và tinh thần cho con người đều không thể coi là giá trị

văn hóa Văn hóa phải gắn với cái nhân văn, nhân đạo

Trang 19

UNESCO trong “Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa” đã đưa ra đi ̣nh nghĩa văn hóa là “tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của con người

đã diễn ra trong quá khứ cũng như trong hiện tại Qua hàng thế kỷ các hoạt động sáng tạo ấy đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống thị hiếu thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình” [52, tr.5]

UNESCO thừa nhận văn hóa là cội nguồn trực tiếp của phát triển xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội Nó không những là yếu tố nội sinh của sự phát triển, mà còn là mục tiêu động lực cho sự phát triển xã hội Văn hóa là những gì còn lại sau những chu trình lịch sử khác nhau, qua đó người ta có thể phân biệt được các dân tộc với nhau Thông qua mỗi chu kỳ của sự phát triển, các dân tộc đó tương tác với mình và với những dân tộc khác cái còn lại được gọi là bản sắc Theo cách tiếp cận này, văn hóa

là cái bản sắc để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác

Trong quan niệm của Đảng ta, văn hoá là một lĩnh vực thực tiễn của đời sống xã hội, nó cũng có quy luật vận động phát triển riêng, trong đó tính dân tộc được coi là thuộc tính cơ bản của văn hoá, phản ánh mối quan hệ giữa dân tộc và văn hoá trong điều kiện dân tộc đã hình thành Tính dân tộc là nội dung quan trọng luôn được Đảng ta đặt lên vị trí hàng đầu Trong bản đề cương văn hoá (1943) Đảng ta khẳng định nền văn hoá mới, phải đảm bảo tính dân tộc, tức là bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống của văn hoá dân tộc Quan điểm này tiếp tục được khẳng định trong suốt quá trình tiến hành cuộc cách mạng tư tưởng văn hoá Tới Hội nghị Trung ương 5 khoá VIII quan điểm đó được cụ thể hoá trong nghị quyết “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Gần đây tại Đại hội IX, nghị quyết Đại hội một lần nữa khẳng định: “Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển

xã hội [16, tr.114]

Trang 20

Dưới góc độ tiếp cận xem lao động sáng tạo là cội nguồn, khởi điểm của văn hóa hướng về các giá trị nhân bản nhằm hoàn thiện con người, nhà nghiên cứu Hoàng Vinh đã có quan niệm xác đáng rằng: "Văn hóa là toàn

bộ sáng tạo của con người, tích lũy lại trong quá trình hoạt động thực tiễn xã hội, được đúc kết thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội, biểu hiện thông qua vốn di sản văn hóa và hệ ứng xử văn hóa của cộng đồng người Hệ giá trị xã hội là một thành tố cốt lõi làm nên bản sắc riêng của một cộng đồng xã hội,

nó có khả năng chi phối đời sống tâm lý và một họat động của những con người sống trong cộng đồng xã hội ấy" [54, tr.43]

Nghiên cứu về văn hóa các nhà văn hóa Việt Nam cũng đưa nhiều định nghĩa khác nhau: “Văn hóa là khái niệm dùng để chỉ tổng thể những năng lực bản chất người trong tất cả các dạng hoạt động của họ, là tổng thể các hệ thống giá trị - cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra trong hoạt động thực tiễn và lịch sử xã hội của mình” [44, tr.13-14]

Như vậy, nói đến văn hóa là nói đến con người Lịch sử văn hóa là lịch

sử của con người và loài người: Con người tạo ra văn hóa và văn hóa làm cho con người trở thành Người Điều đó có nghĩa là tất cả những gì liên quan đến con người, đến mọi cách thức tồn tại của con người đều mang trong nó cái gọi

là văn hóa

Trong thực tế, văn hóa vật chất và tinh thần luôn gắn bó mật thiết với nhau và có thể chuyển hóa cho nhau, không phải ngẫu nhiên mà K.Marx nói rằng "Tư tưởng sẽ trở thành những lực lượng vật chất khi nó được quần chúng hiểu rõ” Đôi khi, chúng ta không thể phân chia văn hóa một cách rạch ròi thành “văn hóa vật chất” hay “văn hóa tinh thần” Bởi vì, cái gọi là “văn hóa vật chất” thực chất chỉ là sự “vật chất hóa” các giá trị tinh thần, bản thân các giá trị tinh thần cũng hiếm khi tồn tại dưới dạng tinh thần thuần túy, mà nó thường được “vật thể hóa” trong các dạng tồn tại của vật chất Ngay cả các giá trị tinh thần tồn tại dưới dạng phi vật thể nhưng vẫn mang tính vật chất

Trang 21

khách quan như văn hóa trong các lĩnh vực đạo đức, giao tiếp, ứng xử, lối sống, phong tục, tập quán… khi tiếp cận vấn đề văn hóa cần phải xét văn hóa dưới dạng cấu trúc hoàn chỉnh Dù là văn hoá vật chất hay văn hoá tinh thần cũng đều là sản phẩm trực tiếp hay gián tiếp của con người, do con người sáng tạo ra vì mục đích của cuộc sống

Kế thừa những quan điểm nêu trên, có thể khái quát về văn hóa như

sau: Văn hóa là tổng thể các hệ thống giá trị (cả giá trị vật chất lẫn giá trị

tinh thần) do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn lịch

sử xã hội của mình được tích lũy, duy trì, bảo tồn và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử, theo đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình

Văn hóa là sản phẩm của con người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong các giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra Vì vậy, nói tới văn hóa là nói tới con người, phát huy năng lực bản chất của con người Cơ sở của mọi hoạt động văn hóa là khát vọng vươn tới cái “chân”, “thiện”, “mỹ” Đó là

ba cột trụ vĩnh hằng của sự phát triển văn hóa nhân loại Có thể nói, văn hóa

là sự hóa thân vào đời sống nó thấm vào mọi hoạt động của con người và trở thành thước đo trình độ phát triển của xã hội, quốc gia nhân loại

Vậy, giá trị văn hoá truyền thống được hiểu như thế nào?

Giá trị là hạt nhân của văn hóa truyền thống Theo các tác giả Viện Điển sử Lai-xich, thì:

Giá trị như là những điểm tích tụ (tập trung) của tư tưởng một giai cấp nhất định hoặc một chế độ xã hội nhất định Tức là, các giá trị thể hiện một cách lịch sử, cụ thể các mục tiêu, quy tắc, lý tưởng của lợi ích xã hội, các yêu cầu của mỗi chế độ xã hội và mỗi giai cấp nhất định Và do đó, giá trị trong

Trang 22

nhiều trường hợp là định hướng phát triển cơ bản của đời sống tinh thần nhân loại trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định [20, tr.129]

Theo đây, giá trị gắn liền với tư tưởng, cụ thể hơn, gắn với quan niệm về lợi ích của một cộng đồng nhất định, mà hạt nhân của nó là quan điểm giai cấp

Giá trị văn hoá được xem là sự kết tinh những thành tựu của con người trong quá trình hoạt động thực tiễn, cải tạo thế giới và cải tạo chính bản thân

Đó là những phẩm chất cao quý, có ý nghĩa mà cả xã hội cùng ao ước và chia

sẻ Ví dụ: lòng yêu nước, lòng nhân ái, đức tính bao dung, tinh thần đoàn kết

Giá trị không tồn tại riêng lẻ mà hợp thành một hệ thống phản ánh quan niệm thống nhất của một cộng đồng về ý nghĩa của các sự vật, hiện tượng trong đời sống Do vậy, giá trị như hạt nhân tinh thần liên kết cộng đồng, là tấm biển chỉ dẫn hành vi của con người Các nhà nghiên cứu Nga cho rằng với tư cách là yếu tố điều chỉnh, giá trị "thống trị" đời sống văn hoá

Có nhiều quan niệm về hệ thống các giá trị Nho giáo Trung Hoa đề

cao trung, hiếu, tiết, nghĩa Trong khi đó, người Nhật đề cao thiện - ích - mỹ

Nếu xem xét hoạt động sống của con người từ ba góc độ nhận thức, hành động và cảm xúc, chúng ta thấy hệ giá trị văn hoá bao gồm ba phạm trù

cơ bản là: Chân - Thiện - Mỹ Trong đó, Chân là đối tượng của nhận thức và sáng tạo khoa học, Thiện là đối tượng của nhận thức và hành vi đạo đức, Mỹ

là đối tượng của nhận thức và hoạt động thẩm mỹ - nghệ thuật Chân, Thiện

và Mỹ thống nhất nhau, phản ánh quan niệm của con người về những mối quan hệ ứng xử với tự nhiên và xã hội, khả năng sáng tạo theo các quy luật của cái đẹp của con người Phạm trù Chân - Thiện - Mỹ đã hàm nghĩa phân biệt với các hiện tượng phản giá trị đối lập như: giả - ác - xấu Điều này cũng cho thấy văn hoá là quá trình vận động của chủ thể người và xã hội theo hướng ngày càng tiếp cận và khẳng định các giá trị Chân - Thiện - Mỹ, đấu tranh với cái phản giá trị (cái giả - ác - xấu) trong con người và xã hội

Trang 23

Nói tới giá trị là nói tới mối liên hệ không thể chia cắt được của văn hóa đối với con người Trong mối quan hệ này, con người tồn tại với tư cách vừa là chủ thể của thế giới văn hóa, vừa là khách thể - sản phẩm của thế giới văn hóa, lại vừa là đại biểu mang giá trị văn hóa do chính mình tạo ra Cho nên, xét về mặt chức năng, khái niệm "văn hóa" và "giá trị" là gần như trùng hợp

Có thể nói rằng, "giá trị", đó là thực chất của văn hóa

Vậy, văn hóa truyền thống là gì? Theo GS.TSKH Trần Ngọc Thêm:

“Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới những khuôn mẫu xã hội được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và được cố định hóa dười dạng những phong tục tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận…” [51, tr.26]

Giáo sư Trần Văn Giàu khẳng định: “Giá trị truyền thống được hiểu là cái tốt, bởi vì những cái tốt mới được gọi là giá trị Thậm chí không phải bất

cứ cái gì tốt đều được gọi là giá trị; mà phải là cái tốt cơ bản, phổ biến, có nhiều tác dụng tích cực cho đạo đức, cho sự hướng dẫn nhận định, đánh giá

và dẫn dắt hành động của một dân tộc thì mới mang đầy đủ ý nghĩa của khái niệm “giá trị truyền thống” [2, tr.26]

Ý kiến khác cho rằng: “nền văn hóa được truyền lại được gọi là truyền thống văn hóa Như vậy, nó phản ánh được những thành tựu của con người, tích tập trong quá trình tìm hiểu, thực hiện và truyền bá ý nghĩa sâu lắng nhất của cuộc sống Đó chính là truyền thống theo nghĩa hài hòa của nó như là một hiện thân trí tuệ” [25, tr.19]

Theo TS.Nguyên Việt thì: “Theo đó có thể coi truyền thống là một bộ phận tương đối ổn định của ý thức xã hội, được lặp đi lặp lại trong suốt tiến trình hình thành và phát triển của các nền văn hóa tinh thần và vật chất, là một giá trị nhất định đối với từng nhóm người, từng giai cấp, cộng đồng và xã hội nói chung” [25, tr.113]

Trang 24

Như vậy có thể khái quát văn hóa truyền thống có những tính chất cơ bản:

Thứ nhất: Tính giá trị Cũng như văn hóa nói chung, văn hóa truyền

thống mang tính giá trị Đối với mỗi dân tộc, văn hóa là căn cước, là chứng chỉ, nó chỉ rõ anh là ai, thiếu nó anh không tồn tại như một giá trị Bản sắc

dân tộc bao gồm cả hai mặt: Một mặt, nó là cái cốt lõi bên trong, cái sức mạnh tiềm tàng, bền vững, nó chi phối tư tưởng, hành vi của dân tộc Mặt khác, nó

là biểu hiện ra bên ngoài thành những phong tục, tập quán trong sinh hoạt, thường được gọi là hình thức, màu sắc, hay sắc thái dân tộc

Về mặt lịch sử, cái “tự nhiên thứ hai”, cái tự nhiên rất người, hay văn hóa không phải được tạo ra một lần và tồn tại mãi mãi, mà ở các cộng đồng người khác nhau, không gian và phương thức sống khác nhau thì văn hóa sẽ mang những diện mạo khác nhau Hạt nhân của mỗi nền văn hóa là hệ thống các giá trị Hệ giá trị (hay bảng giá trị) là một tập hợp các phạm trù giá trị khác nhau, được cấu trúc theo những thứ bậc khác nhau, và có mối liên hệ có tính lịch sử

cụ thể với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định Nó có tính phát triển nội tại và có khả năng chuyển hóa sang một hệ thống khác, nhằm thích ứng với điều kiện và môi trường lịch sử - xã hội Hạt nhân của mỗi nền văn hóa là hệ thống giá trị Có thể coi hệ thống giá trị là chỉ số đánh giá trình

độ và tính chất đã đạt được của một nền văn hóa

Văn hóa truyền thống trở thành một bộ phận thiết yếu của cuộc sống và góp phần phát triển cuộc sống Văn hóa truyền thống mang giá trị bởi vì đó là những chuẩn mực, là thước đo cho hành vi đạo đức, cho những quan hệ ứng

xử giữa người với người trong một cộng đồng, một quốc gia, một dân tộc nhất định Hệ giá trị là những gì nhân dân quan tâm, là niềm tin mà nhân dân cho

là thiêng liêng bất khả xâm phạm Giá trị là nhân tố nền tảng góp phần quyết định nhận thức và hành động các nhân cách; đóng vai trò điều chỉnh các nguyện vọng và hành động của con người và cộng đồng; là chỗ dựa để đánh

Trang 25

giá hành động của người khác và để định đoạt lợi ích xã hội của các thành viên trong cộng đồng Do đó, giá trị xác định tiêu chuẩn của thang bậc xã hội Khi được chuyển thành các chuẩn mực xã hội, nó định hướng cho sự lự a chọn trong hành động của cá nhân và cộng đồng Vì vậy, nó là cơ sở tinh thần cho

sự ổn định xã hội và sự vững vàng của chế độ

Thứ hai: Tính lưu truyền Văn hóa ra đời suốt chiều dài của dân tộc

phát triển trong sử dân tộc, những giá trị của nó được chuyển giao và tiếp nối qua nhiều thế hệ đã làm cho giá tị văn hóa truyền thống được giữ gìn và phát huy lên một tầm cao mới Đó chính là những giá trị kinh tế, văn hóa, xã hội, đạo đức, tư tưởng, phong tục tập quán, lối sống,… có tác động tới các thành viên trong cộng đồng được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

Qua hàng ngàn năm lịch sử, những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam như chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhăn văn, tinh thần đoàn kết tương thân tương ái được lưu truyền phát triển tạo thành một hệ giá trị mới của dân tộc Việt Nam Quá khứ, hiện tại, tương lai của mỗi dân tộc là một quá trình phát triển liên tục, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Biết phát huy mặt tích cực của truyền thống chính là khai thác một nguồn động lực quan trọng vào công cuộc xây dựng xã hội mới đồng thời giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “mỗi dân tộc phải chăm lo đặc tính của mình” trong văn hoá, nghệ thuật và các dân tộc “nên chú ý phát huy cốt cách dân tộc”, phát huy những bản sắc văn hoá riêng của dân tộc mình Hơn ai hết, Người thấu hiểu rằng: không có một nền văn hoá của dân tộc nào trường tồn lại tách rời khỏi những giá trị của truyền thống, đoạn tuyệt với những giá trị làm nên bản sắc độc đáo của một dân tộc nhất định (dù đó là dân tộc đa số hay dân tộc thiểu số) và giá trị vượt không gian, vượt thời gian của mọi nền văn hoá, đó chính là chân, thiện, mỹ, là những giá trị được lưu truyền hàm chứa trong di sản văn hoá vật thể, phi vật thể của mỗi dân tộc

Trang 26

Thứ 3: Tính ổn định Trong phạm vi dân tộc, văn hóa là những yếu tố

đã định hình, ổn định “neo giữ” những giá trị chung Những giá trị của văn hóa truyền thống được gạn lọc, khẳng định qua nhiều thế hệ, nó trở thành cái

“chân”,“thiện”, „mỹ” được lịch sử thừa nhận Nó là một trong những hệ giá trị của dân tộc, là một thành tố ổn định trở thành những giá trị ổn định Nó là những thước đo, khuân mẫu đánh giá nhân cách con người, hành vi của mỗi

cá nhân và cộng đồng xã hội Hệ giá trị có tính ổn định rất lớn và có tính bền vững tương đối, có sức mạnh gắn bó mọi thành viên trong cộng đồng Trong

sự tiến bộ và phát triển của xã hội, các giá trị này thường không biến mất mà hóa thân vào các giá trị của thời sau theo quy luật kế thừa và tái tạo Các trị nói trên tạo thành nền tảng tinh thần của xã hội, nó được thấm nhuần trong mỗi con người và cộng đồng, được truyền lại tiếp nối và phát huy qua các thế

hệ, được vật chất hóa và khẳng định vững chắc trong cấu trúc xã hội của từng dân tộc (thí dụ: cấu trúc này ở Việt Nam là cấu trúc Nhà - Làng - Nước) đồng thời nó tác động hàng ngày đến cuộc sống, tư tưởng, tình cảm của mọi thành viên xã hội bằng môi trường xã hội - văn hóa bao gồm văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể) Cái hồn của truyền thống ấy là văn hóa và bản lĩnh sáng tạo, sức sống của con người Việt Nam

Dân tộc Việt Nam có một truyền thống từ lâu đời về văn hóa và văn hiến, kết tinh thành hệ giá trị chân - thiện - mỹ như một hệ giá trị phổ quát của văn hóa, của mọi dân tộc trong quốc gia - dân tộc mình và trong cộng đồng nhân loại Song mỗi dân tộc, do những điều kiện sống và hoàn cảnh lịch sử riêng của mình từ những trải nghiệm trực tiếp trong thực tiễn lao động và đấu tranh, trong môi trường tự nhiên và xã hội để tồn tại và phát triển, lại có những quan niệm và cách biểu hiện riêng của mình về chân - thiện - mỹ Nó biểu hiện thành tâm lý và ý thức, phong tục tập quán và lối sống tạo thành tính cách của con người và cộng đồng dân tộc Các giá trị văn hóa truyền thống đó kết tinh lại trong quan niệm, tư tưởng, triết lý, đạo đức và cách ứng

Trang 27

xử, phản ánh diện mạo tinh thần, tâm hồn và tình cảm của cả một dân tộc Tóm lại, văn hóa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử dân tộc, nó làm nên sức sống mãnh liệt giúp cộng đồng dân tộc Việt Nam vượt qua sóng gió và thác ghềnh để tồn tại và không ngừng phát triển

Văn hóa truyền thống là hệ giá trị bền vững của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; đó là lòng nhân ái khoan dung, trọng tình nghĩa, đạo lý, là đức tính cần cù, sáng tạo

trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống Bản sắc

văn hóa dân tộc còn đậm nét trong cả hình thức biểu hiện mang tính dân tộc

độc đáo

Bản sắc văn hóa dân tộc là hệ giá trị các di sản văn hóa, là những kinh nghiệm được con người tích lũy trong quá trình thích ứng với tự nhiên, với môi trường mà họ đang sinh sống; là những chuẩn mực trong ứng xử giữa cá nhân với nhau, giữa cá nhân với cộng đồng, giữa cộng đồng này với cộng đồng khác Đó là những thói quen trong nếp nghĩ, là những tri thức đã tích lũy được, là biểu tượng, là niềm tin trong thế giới tinh thần… được trải nghiệm trong lịch sử, được chuyển giao một cách rất tự nhiên giữa các thế hệ người (trong hệ thống cấu trúc tạo thành bản sắc văn hóa dân tộc không ngoại trừ văn hóa các dân tộc thiểu số - văn hóa tộc người)

Văn hóa dân tộc thiểu số là tổng thể các yếu tố: “Tiếng nói, chữ viết, lối sống, phong cách sống, cách ứng xử với môi trường tự nhiên; các mối quan

hệ xã hội, các sắc thái tâm lý, tình cảm, những tập quán trong sinh hoạt đời thường, trong phong tục, lễ nghi, tín ngưỡng; trong chu kỳ sống của đời người, trong quan niệm về vũ trụ nhân sinh… Những yếu tố này được hình thành trong lịch sử, nó có tính đặc thù, đặc trưng, bền vững và ổn định, được chuyển giao và phát triển không ngừng từ thế hệ này qua thế hệ khác, được

Trang 28

hoàn thiện dần cùng với sự phát triển của tộc người” [38, tr.39] Vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc được rất nhiều quốc gia trên thể giới quan tâm (đặc biệt là các nước đang phát triển) Trong “thập kỷ thế giới văn hóa phát triển” (1988 - 1997) UNESCO ghi rõ: "Mối quan tâm lớn của những xã hội đương thời là việc giữ gìn những nét độc đáo trong bản sắc văn hóa của dân tộc mình và ngăn chặn sự sói mòn những giá trị văn hóa do sự biến đổi của thị hiếu, lối sống, ảnh hưởng của nước ngoài" [52, tr.79]

Văn hóa do con người sáng tạo ra, nhưng văn hóa không mất đi cùng với thế hệ người tạo ra nó, mà văn hóa tồn tại trong những lớp trầm tích các di sản, được bổ sung những cái tiên tiến, tạo nên dấu ấn riêng biệt cho mỗi dân tộc, đó chính là bản sắc văn hóa dân tộc Nói cách khác, bản sắc văn hóa là các giá trị truyền thống được chắt lọc và kết tinh (tinh hoa) được cộng đồng lựa chọn tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc

Giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số là tổng thể những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của một dân tộc - tộc người cụ thể, được hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển tộc người ấy, đã trở nên ổn định, có sức sống mạnh mẽ, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

Truyền thống như sợi chỉ đỏ xuyên suốt cộng đồng được gạn đục khơi trong để giữ lấy những tinh hoa là vốn quý của dân tộc Do đó, giá trị thực chất là phản ánh quan hệ cơ bản của con người Các hệ giá trị là cái nhãn quan giúp con người lụa chọn những gì phù hợp với bản sắc văn hóa cộng đồng tạo nên những tập quán, thói quen, nếp sống đẹp gắn chặt cố kết cộng đồng và phân biệt với cộng đồng khác Trong quá trình giao lưu văn hóa, những yếu tố đặc trưng cốt lõi của mỗi dân tộc vẫn được giữ lại, duy trì và phát huy, nó làm nên những sắc thái văn hóa độc đáo không trộn lẫn với dân tộc khác

Trong thực tiễn, ý thức tộc người được nảy sinh từ văn hóa tộc người, nếu văn hóa tộc người bị mai một thì ý thức tộc người đó cũng sẽ mất dần,

Trang 29

bản thân tộc người cũng sẽ tàn lụi và thậm chí không còn cả tên gọi; nói cách khác, nếu dân tộc nào tự đánh mất những sắc thái văn hóa mang tính bản sắc thì cũng chính là đánh mất mình Để bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người không chỉ nói tới các yếu tố cụ thể của văn hóa dân tộc đó mà còn phải chú ý tới những con người, chủ thể sáng tạo ra nền văn hóa ấy; tức là, song hành giữa yếu tố văn hóa cụ thể cần bảo tồn, bảo vệ và những con người cụ thể đã tạo ra sắc thái văn hóa của họ

1.2 Vai trò của việc phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số đối với sự phát triển kinh tế xã hội tỉnh Phú Thọ

Văn hóa trong quá trình xây dựng để trở thành một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc cần phải bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, làm sống lại tinh hoa văn hóa các dân tộc để phát triển chính dân tộc mình đóng góp xứng đáng vào đời sống văn hóa nhân loại, tham gia quá trình hội nhập quốc tế với sự tự biểu hiện, tự khẳng định giá trị, bản sắc

Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại

Tuy nhiên văn hoá không phải là “cái chung trừu tượng” giống nhau ở mọi xã hội, mọi cộng đồng - dân tộc Nếu mỗi cộng đồng- dân tộc có đời sống

xã hội riêng biệt, đặc thù, một lịch sử hình thành và một hiện thực con người không đồng nhất với các cộng đồng khác, thì tất nhiên văn hoá mang tính riêng biệt, đặc thù của mỗi dân tộc Một dân tộc tồn tại là tồn tại cùng với nền văn hoá do chính mình tạo ra Văn hoá in dấu mọi mặt của đời sống xã hội thuộc một dân tộc nhất định, của một cộng đồng riêng biệt tạo nên những nét đặc sắc trong một nền văn hóa chung thống nhất

Giữ gìn giá trị truyền thống của dân tộc là giữ gìn cốt cách của dân tộc Theo nghĩa Hán - Việt cốt là xương, cách là tiêu chuẩn, phạm vi, quy định Nói tới cốt cách của con người là nói đến nét đặc sắc, đặc trưng về tính cách của một con người hoặc một tầng lớp xã hội Chẳng hạn, người ta nói đến cốt cách của nhà Nho, nhà văn, nhà trí thức,… Nói đến cốt cách của một dân tộc

Trang 30

thì không thể không nói tới những nét đặc sắc được thể hiện qua tính cách mà còn thông qua toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc Cốt cách của dân tộc là cái tương đối ổn định và bền vững bởi nó được hình thành và tạo dựng và khẳng định trong lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc Yêu nước, thương người là sự cao quý của tư tưởng và tâm hồn Việt Nam, là giá trị nhân cách của con người Việt Nam, đó là truyền thống dân tộc trải qua bao biến thiên của lịch sử vẫn tồn tại một cách bền bỉ và tỏa sáng rạng rỡ trên gương mặt tinh thần của cả dân tộc Đó cũng là một truyền thống văn hóa, văn hóa chính trị gắn liền với văn hóa đạo đức của dân tộc Việt Nam Đây chính là nền tảng vững chắc để chống lại sự “ô nhiễm văn hóa”, xâm lăng văn hóa một cách chủ động đồng thời giúp dân tộc thích ứng được với những cái mới và biến nó thành tài sản của dân tộc, mang tâm hồn dân tộc Thực tế, sự thiếu thốn, nghèo nàn về bản sắc văn hóa, sự mất mát về cốt cách dân tộc nhiều khi còn đáng sợ hơn sự thiếu thốn, nghèo nàn về vật chất Sự mất mát

về bản sắc văn hóa dân tộc làm mất đi cốt cách dân tộc, có thể làm mất đi ý nghĩa tồn tại của một dân tộc Như vậy, sự phát triển kinh tế có thể mang lại

sự đầy đủ về vật chất và tiện nghi sinh hoạt nhưng không đồng nhất với sự phồn vinh, thịnh vượng nếu ở đó thiếu vắng những giá trị văn hóa dân tộc Sự phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa, đặc biệt là giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc gắn với giữ gìn cốt cách dân tộc là một nguyên tắc luôn cần được tôn trọng trong quá trình phát triển kinh tế thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế Lịch

sử đã chứng minh sự tiếp biến kì diệu của nền văn hóa Việt Nam trong điều kiện bị nước ngoài xâm lược “Một dân tộc qua các biến cố lịch sử một lúc nào đó, một thời đại nào đó có thể mất độc lập, bị người ngoài đô hộ nhưng nếu dân tộc ấy vẫn giữ được tiếng nói của mình, vẫn giữ được vốn văn nghệ dân gian, vẫn giữ và phát triển được bản sắc văn hóa của mình, thì dân tộc ấy vẫn nắm chắc trong tay chìa khóa của sự giải phóng, chìa khóa của tự do, độc

Trang 31

lập” [39, tr.48] Đó là sự tiếp biến giữ được giá trị truyền thống và phát triển được bản sắc dân tộc trước những thách thức của lịch sử

Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là cơ sở củng cố ý thức tự tôn dân tộc

và là nền tảng cho sự phát triển kinh tế bền vững Nghị quyết 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII); và đặc biệt, đến Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đã đề cập đến toàn bộ các vấn đề văn hóa liên quan đến quốc tế dân sinh, đến xây dựng đời sống tinh thần cho con người Trong năm quan điểm chỉ đạo cơ bản của nghị quyết, quan điểm thứ nhất đã khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy

sự phát triển kinh tế - xã hội” [17, tr.55], cho thấy: chính sách kinh tế trong văn hóa mà Nghị quyết Trung ương năm (khóa VIII) đã đề cập nhằm mục đích gắn văn hóa với hoạt động kinh tế, khai thác các tiềm năng kinh tế hỗ trợ cho các hoạt động phát triển văn hóa và đồng thời cũng đảm bảo được các yêu cầu về chính trị, tư tưởng của hoạt động văn hóa, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Hồ Chí Minh đã từng nói, văn hóa phải “đi sâu vào tâm lý quốc dân” để từ

đó “văn hóa soi đường cho quốc dân đi” Tổng Thư ký UNESCO trong lễ phát động “Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa (1987-1997)” khẳng đi ̣nh “Hễ nước nào tự đă ̣t cho mình mục tiêu phát triển kinh tế mà tách khỏi môi trường văn hóa, thì nhất định sẽ xảy ra những mất cân đối nghiêm trọng , cả về kinh tế, lẫn văn hóa và tiềm năng sáng ta ̣o của nước ấy sẽ suy giảm đi rất nhiều”

Giá trị văn hóa truyền thống không chỉ có ý nghĩa trong việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc còn đối với cả quá trình phát triển nói chung, phát triển kinh tế nói riêng Nguồn lực nô ̣i sinh của mô ̣t dân

tô ̣c thấm sâu trong văn hóa Sự phát triển của mô ̣t dân tô ̣c phải vươn tới cái mới, tiếp câ ̣n cái mới nhưng không thể tách khỏi cô ̣i nguồn Ngày nay, trong điều kiê ̣n cách ma ̣ng khoa ho ̣c công nghê ̣ và kỹ thuâ ̣t hiê ̣n đa ̣i , yếu tố quyế t

đi ̣nh cho sự tăng trưởng kinh tế là khả năng phát huy đến mức cao nhất tiềm năng sáng ta ̣o của con người Tiềm năng sáng ta ̣o này nằm trong các yếu tố

Trang 32

cấu thành văn hóa , nghĩa là trong t ri thức, khả nảng sáng tạo , trong bản lĩnh tự đổi mới của cá nhân và của cả cô ̣ng đồng Nói cách khác, hàm lượng văn hóa trong các lĩnh vực của đời sống con người càng cao bao nhiêu thì khả năng phát triển kinh tế xã hội càng bền vững bấy nhiêu Mă ̣t khác, văn hóa sử dụng sức ma ̣nh của các giá tri ̣ truyền thống , của đạo lý dân tộc để hạn chế xu hướng sùng bái lợi ích vật chất , sùng bái tiền tệ dẫn tới suy thoái xã hội

Mỗi dân tộc có bản sắc riêng biệt, tính độc đáo thống nhất trong nền văn hóa chung của dân tộc Trên cơ sở phát huy bản sắc riêng biệt, tính độc đáo của văn hóa các dân tộc anh em để làm phong phú thêm nền văn hóa chung của cả nước, đồng thời nâng cao tính thống nhất của văn hóa Việt Nam nâng cao trình độ phát triển của nền văn hóa các dân tộc là mục tiêu có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển của nền văn hóa dân tộc

Phát huy các giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số còn góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần, bảo tồn và duy trì các yếu tố tích cực trong các hoạt động văn hóa - xã hội Xét theo nghĩa rộng nhất của văn hoá, hoạt động sống nào của con người cũng chứa đựng các giá trị văn hoá, từ ăn, mặc, ở, đi lại đến giao tiếp, vui chơi Đó chính là quá trình sản xuất, bảo quản, phân phối và tiêu dùng các giá trị văn hoá Thông qua hoạt động này, giá trị sẽ được sản sinh, vận động và lan toả trong đời sống Hoạt động sáng tạo, bảo quản, truyền bá có thể là hoạt động của cá nhân nhưng nó luôn diễn ra trong mối liên hệ với cộng đồng Gia đình, dòng họ, làng bản có vị trí rất quan trọng trong đời sống xã hội của các dân tộc miền núi Do trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều nên tổ chức xã hội

ở các dân tộc còn mang nhiều yếu tố truyền thống khác nhau Những giá trị văn hóa truyền thống được thể hiện qua truyện cổ, thành ngữ, tục ngữ, âm nhạc, múa, lễ hội… phản ánh những nhận thức , triết lý của cộng đồng dân tộc

ấy về vũ trụ, nhân sinh, về chân - thiện - mỹ trong những hoàn cảnh kinh tế xã hội và môi trường cụ thể Trong sinh hoạt văn hóa của các cộng đồng dân tộc

Trang 33

đã giúp cho mỗi thành viên trong cộng đồng ấy hiểu về cội nguồn, tổ tiên, truyền thống đấu tranh, về những hình thức nghệ thuật dân tộc, làm cho mọi người thấy được cái hay, cái đẹp của dân tộc mình góp phần làm tăng tính cố kết cộng đồng

Toàn cầu hóa là một hiện tượng mới mẻ và phức tạp vừa mang lại cho

ta những cơ hội mới để phát triển: sự phát triển của khoa học công nghệ như

vũ bão đạt được những thành tựu kỳ diệu, đưa lại năng suất lao động gấp

nhiều lần so với trước Nó đã trực tiếp thúc đẩy quá trình phân công lao động

và hợp tác quốc tế, đẩy nhanh sự chuyên môn hóa trong sản xuất của các quốc gia và trong các quốc gia Làm cho nền kinh tế mỗi nước không chỉ gói gọn trong phạm vi quốc gia thuần túy Các vấn đề liên quan đến đời sống con người như: nhu cầu ăn, uống, lao động, thông tin, hưởng thụ, hợp tác… được đáp ứng trên phạm vi toàn cầu, chất lượng cuộc sống của người dân, sự thịnh vượng về kinh tế của các quốc gia được nâng cao rõ rệt, mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại trong văn hóa được khẳng định Sự tiếp thu khoa học

và công nghệ hiện đại đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc truyền bá, lưu giữ, phát triển những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc, tạo cơ hội giao lưu, tìm hiểu, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại, làm giàu thêm những giá trị văn hóa truyền thống

Tuy nhiên, quá trình toàn cầu hóa kinh tế cũng có thể hướng con người

đến lối sống thực dụng, cá nhân, ích kỷ, chạy theo lợi ích vật chất và xu hướng làm giàu không lành mạnh Tuy nhiên, cùng với những tác động tích cực, toàn cầu hoá cũng gây ra những hệ quả tiêu cực đối với nền văn hoá Việt Nam, như: một bộ phận giới trẻ có dấu hiệu xa rời giá trị văn hoá truyền thống; một số giá trị văn hoá truyền thống không được bảo quản, gìn giữ, thậm chí đem ra mua bán để trục lợi; có những giá trị tinh thần bị biến dạng hoặc bị mai một, không ít gia đình phá bỏ quan hệ truyền thống tốt đẹp, bị quan niệm sống thực dụng chi phối… Hơn nữa, trong quá trình hội nhập kinh

Trang 34

tế quốc tế, một số các quốc gia kém phát triển bị phụ thuộc vào các nước giàu, dẫn tới nguy cơ bị đồng hóa, đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc, làm suy giảm sức mạnh dân tộc và có thể dẫn đến mất chủ quyền quốc gia Văn hóa các dân tộc thiểu số cũng không nằm ngoài sự tác động đó Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã làm cho cuộc sống mọi mặt của đồng bào được nâng lên

rõ rệt, nhưng cũng có một thực tế là lưới điện quốc gia phát triển đến đâu thì cối xay tay, cối giã gạo nước, đuống gỗ (một loại cối giã gạo của người Mường)… vắng bóng đến đó Cơ chế thị trường, kinh tế hàng hóa, sản xuất công nghiệp phát triển thì nhà sàn, ngôn ngữ, phong tục tập quán…cũng mai một dần Cùng với sự bùng nổ về thông tin, sự du nhập tràn lan của các loại hình văn hóa đã làm cho nhu cầu thưởng thức các loại hình nghệ thuật dân gian của giới trẻ giảm đi và đang có nguy cơ mất hẳn

Nhưng cho dù nhìn nhận quá trình tác động của quốc tế hóa kinh tế dưới góc độ tích cực hay tiêu cực, thì chúng ta vẫn phải khẳng định: quốc tế hóa kinh tế mà đỉnh cao của nó là toàn cầu hóa là một xu thế khách quan không thể đảo ngược, nó đã, đang và sẽ tiếp tục phát triển Vấn đề là ở chỗ,

xu thế khách quan này được diễn ra thông qua hoạt động có ý thức của con người (chủ thể kinh tế) Nên đối với mỗi quốc gia, để không bị tụt hậu về kinh

tế trên trường quốc tế, cần chuẩn bị tốt nội lực, sáng suốt trong lựa chọn đường đi nước bước, nhận thức đúng bản chất thời đại, để hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực và hội nhập thành công Ngoài những tác động tích cực thì quốc tế hóa kinh tế cũng sẽ tạo cơ hội để các thế lực thù địch thông qua những tác động của tư tưởng chính trị để tuyên truyền những quan điểm sai trái, các chiêu bài tự do, dân chủ… nhằm công kích đường lối lãnh đạo của một số quốc gia, lôi kéo quần chúng nhân dân vào những hoạt động chống lại lợi ích của chính quốc gia mình Qua đó, nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, xóa bỏ sự thống nhất trong nền văn hóa của chính quốc gia đó

Trang 35

Các thế lực thù địch ra sức lợi dụng văn hóa để chia rẽ phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cố tình tuyệt đối hóa bản sắc riêng của văn hóa từng dân tộc, phủ nhận tính thống nhất và giá trị chung của văn hóa nhằm thực hiện mưu đồ thâm độc là kích động chia rẽ tạo ra xu hướng ly khai dân tộc cực đoan Chính vì vậy, cùng với cuộc đấu tranh làm thất bại âm mưu kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự trong chiến lược “diễn biến hòa bình”của các thế lực thù địch, phải coi trọng đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa mà nhiệm vụ hàng đầu là bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của từng tộc người nhằm xây dựng một nển văn hóa Việt Nam đa dạng mà thống nhất

Phú Thọ là tỉnh có nhiều dân tộc cư trú, mỗi dân tộc lại có một diện mạo văn hóa riêng, những nét riêng này không phá vỡ đặc điểm chung của văn hóa Việt Nam mà đan xen lẫn nhau tạo cho nền văn hóa có sự thống nhất trong đa dạng Vì vậy, trước xu thế toàn cầu hóa hiện nay cần phát huy những giá trị văn hóa truyền thống và có những bước đi thích hợp cho quá trình hội nhập, góp phần vào nguồn lực nội sinh to lớn của đất nước từ đó có đủ sức đề kháng, khả năng miễn dịch mạnh mẽ trước những yếu tố văn hóa tiêu cực du nhập từ bên ngoài và nảy sinh ngay từ bên trong do mặt trái của nền kinh tế thị trường

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA

TRUYỀN THỐNG CÁC DÂ N TỘC THIỂU SỐ

TỈNH PHÚ THỌ HIỆN NAY

2.1 Đặc điểm kinh tế xã hội và đặc trưng giá trị văn hóa các dân

tô ̣c thiểu số Phú Tho ̣

2.1.1 Đặc điểm kinh tế xã hội

- Về nguồn gốc, lịch sử:

Phú Thọ là một tỉnh t rung du miền núi thuô ̣c vùng Đông Bắc Bô ̣ , được thành lập ngày 5/5/1903; năm 1968 sát nhập với Vĩnh Phúc gọi là tỉnh Vĩnh Phú; đến ngày 1/1/1997 tỉnh Phú Thọ được tái lập , dân số là 1.216.599 người,

có hơn 20 dân tô ̣c anh em c ùng chung sống , trong đó có 171.620 người là dân

tô ̣c thiểu số chiếm 14.11% dân số toàn tỉnh Đồng bào các dân tộc thiểu số sống tâ ̣p trung chủ yếu ở các huyê ̣n : Thanh Sơn , Tân Sơn, Yên Lâ ̣p , Thanh Thủy, Đoan Hùng Theo các nhà n ghiên cứu Phú Tho ̣ thời tiền sử và li ̣ch sử cổ đa ̣i luôn có hai hê ̣ ngôn ngữ cùng sinh sống xen kẽ nhau đó là ngôn ngữ Viê ̣t - Mường và Tày - Thái

Phú Thọ là đất Tổ cội nguồn của dân tộc, là nơi ra đời nhà nước Văn Lang của người Lạc Việt, tức là Việt Mường Do vậy mới tồn lưu kho báu văn hoá Việt Mường hay văn hoá Hùng Vương Phú Thọ là tỉnh miền núi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số cùng chung sống: Tày, Việt, Mường, Dao, Thái, Nùng, Cao Lan, Sán Chay, Về nguồn gốc, người dân tộc Mường có cùng nguồn gốc với người Việt cư trú lâu đời ở vùng Hoà Bình, Thanh Hoá, Phú Thọ Dân tộc Mường và dân tộc Dao là hai nhóm có số dân đông hơn các dân tộc thiểu số khác sau người Kinh Dựa theo các tiêu chí ngôn ngữ, tộc người, đặc điểm văn hoá và ý thức tự giác tộc người, các nhà nghiên cứu đó khẳng định: Người Dao ở Phú Thọ hiện chỉ có mặt 2 nhóm nhỏ trong một

Trang 37

Chẹt thuộc nhóm Đại Bản Theo tác giả Nguyễn Hữu Nhàn trong văn cúng và các tài liệu điền dã dân tộc học, người Dao nói chung di cư từ Trung Quốc vào Việt Nam từ nhiều thời gian và con đường khác nhau, chủ yếu họ đi theo đường biên giới Việt - Trung

Sự biến đổi về môi sinh, quá trình lịch sử và dân số… đã tác động mạnh đến nếp sống và phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số ở Phú Thọ, Theo các nhà nghiên cứu, các dòng di dân đã diễn ra không ngừng trong lịch

sử trung cận đại Tuy có di dân xảy ra nhưng văn hoá gốc, văn hoá bản địa không bao giờ mất khiến cho các giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số ở Phú Thọ vừa có những nét chung của văn hóa Việt Nam lại vùa có những nét riêng, độc đáo

- Về vị trí định canh, định cư:

Đặc điểm nổi bật trong phân bố dân cư của các dân tộc trong tỉnh Phú Thọ sự xen kẽ giữa người Việt và các dân tộc thiểu số khác trong các địa phương cũng diễn ra theo nhiều cấp độ khác nhau, những xã gần huyện lỵ thì chủ yếu là người Mường và người Việt sống xen kẽ

Ở những nơi vùng sâu, vùng xa thì mức độ xen kẽ là ngay trong cùng một làng nhưng tỷ lệ người Việt rất ít, chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số: Dao, Mường, Tày,… có những nơi như xã Trung Sơn, huyện Yên Lập; xã Lai đồng, xã Tân Sơn, huyện Thanh Sơn tỷ lệ người Việt cư trú là dưới 100 người trong một xã

- Tính đặc thù trong kinh tế

Các dân tộc: Mường, Cao Lan, sống định canh, định cư nên trong sản xuất nông nghiệp, chủ yếu canh tác lúa nước, sản xuất nhỏ theo kiểu tự túc, tự cấp; ngoài việc cấy lúa nước họ còn phát nương trồng lúa, ngô, hoa màu.Người Mường sống định canh định cư ở miền núi, nơi có nhiều đất sản xuất, gần đường giao thông, thuận tiện cho việc làm ăn Đồng bào các dân tộc thiểu số Phú Tho ̣ có truyền thống làm ruộng từ lâu đời, lúa nước là cây lương thực chủ yếu

Trang 38

Bảng 1.1: Dân số toàn tỉnh Phú Thọ chia theo dân tộc

Đơn vị tính: Người

1 Dân tộc Kinh 1.108.991 Toàn tỉnh

2 Dân tộc Mường 184.141 Thanh Sơn, Tân Sơn

5 Dân tộc Sán Chay 3.294 Đoan Hùng

Trang 39

song Nghề thủ công tiêu biểu của người Mường là dệt vải, đan lát, ươm tơ Người dân tộc Sán Dìu chủ yếu làm ruộng nước, làm nương, soi, bãi Thêm vào đó là chăn nuôi gia súc, khai thác lâm sản, đánh bắt, nuôi thả cá, làm gạch ngói, đan lát… Sau năm 1999, với dự án 135 hỗ trợ phát triển kinh tế cho các

xã miền núi đặc biệt khó khăn, đã tạo ra những bướ c đột phá trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp của đồng bào các dân tộc nhờ đó mà mức sống và thu nhập của người dân được cải thiện

Một số các dân tộc khác cư trú trên địa bàn tỉnh: dân tộc Mông, dân tộc Dao, cư trú chủ yếu ở các bản động khác nhau trước đây vẫn có truyền thống

du canh, du cư Là cư dân nông nghiệp, làm ruộng nước thành thạo nhưng nương rẫy vẫn có vai trò to lớn trong đời sống kinh tế và phương thức canh tác chọc lỗ tra hạt vẫn tồn tại cho đến ngày nay Do thực hiện chính sách định canh định cư của Đảng nên hiện nay trong phương thức sản xuất của đồng bào đã có nhiều thay đổi

Cơ chế thị trường đã tác động rất lớn đến tập quán canh tác và chăn nuôi của đồng bào các dân tộc trong tỉnh Việc mua bán hàng hóa trong đồng bào các dân tộc thiểu số cũng diễn ra phong phú và nhộn nhịp không khác gì các chợ miền xuôi, đây là điều kiện thuận lợi để người dân thoát dần ra khỏi tập quán canh tác cũ, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào Nghề thủ công truyền thống của các dân tộc: Mường, Dao, Thái, Mông, Cao Lan,… chủ yếu là nghề mộc, đan lát, dệt vải Trước đây, gia đình người Mường, Thái nào cũng có khung cửi, họ tự trồng bông, trồng dâu, nuôi tằm và dệt vải, người phụ nữ làm ra những vuông vải cho mình, cho những người trong gia đình và làm của hồi môn đem đến nhà chồng Sự khéo léo thể hiện trong những vuông vải trở thành một trong những tiêu chuẩn về giá trị của người phụ nữ Hiện nay, huyện Thanh Sơn phục hồi được 3 làng nghề dệt vải

ở Tân Phú, Lai Đồng, Xuân Đài nhưng cũng gặp rất nhiều khó khăn (người biết dệt vải theo cách cổ truyền không nhiều, vốn và đầu ra cho sản phẩm rất

Trang 40

khó khăn) Một số dân tộc có nghề truyền thống: nghề mộc của người Mường, nghề làm giấy dó của người Dao, nghề dệt vải của người Mông nhưng cũng chỉ mang tính chất tự cung tự cấp ở phạm vi tương trợ, giúp nhau dựng nhà, làm khung cửi hoặc phục vụ cho sản xuất vui chơi chứ chưa thực sự trở thành nền sản xuất hàng hóa

Chính những nét đặc thù trong hoàn cảnh sống và kinh tế đã góp phần làm nên những giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể độc đáo của các dân tộc thiểu số ở Phú Thọ Tuy nhiên, nhìn từ góc độ bảo tồn, phát huy những tinh hoa văn hóa cổ truyền thì tốc độ phát triển nhanh và mạnh của kinh tế cũng làm cho các giá trị văn hóa truyền thống của vùng đồng bào Phú Tho bị lãng quên, đặc biệt là các giá trị văn hóa tinh thần; những câu hát ví, những điệu múa dân gian, những lễ hội cổ truyền của các dân tộc thiểu số đang mai một dần, trong số ít các thể loại văn hóa còn tồn tại và được phục hồi hiện nay cũng bị Kinh hóa khá cao

Về thiết chế xã hội và cộng đồng:

Thiết chế xã hội của mỗi dân tộc khác nhau lại có những nét khác nhau

Đối với dân tộc Mường, Mường là tổ chức xã hội trên xóm và là tổ chức xã

hội lớn nhất của người Mường, dùng để chỉ một địa vực cư trú, một thái ấp, một vùng dân cư.Tổ chức cộng đồng xưa kia với hình thái tổ chức xã hội đặc thù của người Mường là chế độ lang đạo, các dòng họ lang đạo như Đinh, Quách, Bạch, Hà chia nhau cai quản các vùng Đứng đầu mỗi mường có các lang cun, dưới lang cun có các lang xóm hoặc đạo xóm, cai quản một xóm Cũng giống như các vùng Mường khác, tổ chức Mường của người Mường tỉnh Phú Thọ không quy định phạm vi lớn, bé và có bao nhiêu xóm hợp thành Nhưng điểm khác biệt ở tổ chức mường của người Mường ở Phú Thọ đó là không có mường lớn bao chùm lên các mường khác nhỏ hơn như ở Thanh Hóa hay Hòa Bình mà chỉ có các mường do nhà lang quản lý trực tiếp đến các

xóm [23, tr.88] Xóm là tổ chức xã hội dưới mường, là tập hợp dân cư thành

Ngày đăng: 18/12/2015, 23:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban thường vụ tỉnh ủy tỉnh Phú Thọ (2006), Nghị quyết số 01/NQ-TU về phát triển du lịch Phú Thọ giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020, Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 01/NQ-TU về phát triển du lịch Phú Thọ giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020
Tác giả: Ban thường vụ tỉnh ủy tỉnh Phú Thọ
Năm: 2006
2. Nguyễn Duy Bắc (2005), Chính sách phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số ở nước ta trong thời kỳ đổi mới, Nxb. Thông tin Văn hóa và phát triển, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số ở nước ta trong thời kỳ đổi mới
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc
Nhà XB: Nxb. Thông tin Văn hóa và phát triển
Năm: 2005
3. Bộ Văn hóa Thông tin, Cục Văn hóa Thông tin cơ sở (1999), Hỏi và đáp về xây dựng làng văn hóa, nếp sống văn hóa tổ chức và quản lí lễ hội truyền thống, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi và đáp về xây dựng làng văn hóa, nếp sống văn hóa tổ chức và quản lí lễ hội truyền thống
Tác giả: Bộ Văn hóa Thông tin, Cục Văn hóa Thông tin cơ sở
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1999
4. Bộ Văn hóa Thông tin (2003), Sổ tay văn hóa - thông tin vùng dân tộc thiểu số và miền núi, Nxb. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay văn hóa - thông tin vùng dân tộc thiểu số và miền núi
Tác giả: Bộ Văn hóa Thông tin
Nhà XB: Nxb. Hà Nội
Năm: 2003
5. Trần Văn Bính (2006), Đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Trần Văn Bính
Nhà XB: Nxb. Lý luận chính trị
Năm: 2006
6. E.B. Tylor (???), “Văn hóa nguyên thủy”, Huyền Giang dịch từ tiếng Nga, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, (số ???), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa nguyên thủy”, Huyền Giang dịch từ tiếng Nga, "Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật
7. Các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX (2001), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX
Tác giả: Các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
8. Huy Cận (1994), Suy nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc
Tác giả: Huy Cận
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1994
9. Nguyễn Từ Chi (2003), “Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người”, Tạp chí Văn học nghệ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người”," Tạp chí Văn học nghệ thuật
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Năm: 2003
10. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (2002), Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2002
11. Cục thống kê Phú Thọ (2010), Tổng điều tra dân số và nhà ở tỉnh Phú Thọ năm 2009, các chỉ tiêu chủ yếu, Niên giám thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng điều tra dân số và nhà ở tỉnh Phú Thọ năm 2009, các chỉ tiêu chủ yếu
Tác giả: Cục thống kê Phú Thọ
Năm: 2010
12. Đảng cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 51, Nxb. Chinh trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chinh trị quốc gia
Năm: 1991
13. Đảng cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1998
14. Đảng cộng sản Việt Nam (1998), Chỉ thị số 27 CT/TW ngày 12/1/1998 về thực hiện Nếp sống văn minh trong việc cưới, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 27 CT/TW ngày 12/1/1998 về thực hiện Nếp sống văn minh trong việc cưới
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1998
15. Đảng cộng sản Việt Nam (2004), Kết luận Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương khóa IX ngày 20/7/2004, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương khóa IX ngày 20/7/2004
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
16. Đảng cộng Sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
17. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ XVI nhiệm kỳ 2005-2010, Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ XVI nhiệm kỳ 2005-2010
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2006
18. Dương Hà Hiếu (2001), "Ngôi nhà dân gian của người Mường ở Thanh Sơn", Tạp chí Dân tộc và Thời đại, tr.13-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôi nhà dân gian của người Mường ở Thanh Sơn
Tác giả: Dương Hà Hiếu
Năm: 2001
19. Trần Thu Hiếu (2005), Văn hóa vật chất của người Dao Quần Chẹt ở Phú Thọ, Viện Dân tộc học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa vật chất của người Dao Quần Chẹt ở Phú Thọ
Tác giả: Trần Thu Hiếu
Năm: 2005
20. Đinh Thị Hoa (2006), Nhân tố chủ quan với việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường Tỉnh Phú Thọ hiện nay, Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân tố chủ quan với việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường Tỉnh Phú Thọ hiện nay
Tác giả: Đinh Thị Hoa
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Dân số toàn tỉnh Phú Thọ chia theo dân tộc - Phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số tỉnh phú thọ hiện nay   luận văn ths  triết học  60 22 85 pdf
Bảng 1.1 Dân số toàn tỉnh Phú Thọ chia theo dân tộc (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w