Biện pháp 1: Phối hợp giữa giáo viên và phụ huynh trong việc bồi dỡng học Biện pháp 2: Khắc phục những sai lầm của học sinh trong từng mạch kiến Biện pháp 3: Phát hiện và lấp chỗ hổng ki
Trang 1
Lời nói đầu
Đề tài “ Một số biện pháp bồi dỡng học sinh yếu môn Toán lớp 4 - 5”
nhằm đề cập đến một số vấn đề dạy và học môn Toán của học sinh yếu lớp 4
- 5 Với mong muốn tháo gỡ phần nào những khó khăn của giáo viên khi bồidỡng học sinh yếu môn Toán và mang lại hiệu quả dạy học Chúng tôi đãtiến hành nghiên cứu và phân tích thực trạng dạy học cho đối tợng học sinhyếu đặc biệt là những khó khăn của học sinh: tích cực thu thập và xử lí tàiliệu và nguồn thông tin dạy học có liên quan Đồng thời trực tiếp trao đổi,tham khảo và tiếp thu ý kiến của một số thầy cô giáo có kinh nghiệm trongnghề và từ đó đa ra một số biện pháp giúp giáp viên có một số định hớng
ban đầu trong việc bồi dỡng cho đối tợng học sinh này
Trong quá trình làm đề tài này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi cònnhận đợc sự giúp đỡ nhiệt tình, chu đáo và có hiệu quả cuả các thầy cô giáotrong khoa Giáo dục tiểu học trờng Đại học Vinh Với tấm lòng biết ơn sâusắc, tôi xin chân thành cảm ơn tiễn sĩ : Phan Quốc Lâm giảng viên khoa giáodục tiểu học, các thầy cô giáo trờng tiểu học Hng Bình và trờng tiểu học CửaNam I đã tạo điều kiện và đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoànthành đề tài này Nhng do thời gian và trình độ nghiên cứu còn hạn chế, tàiliệu tham khảo ít nên không thể tránh khỏi những sai sót Tôi mong nhận đ-
ợc những ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn
Vinh, tháng 12 năm 2008
Ngời thực hiện
Lê Thị Lam Thanh
Mục lục Lời nói đầu
1
mở đầu
Trang 2
3 Khách thể và đối tợng nghiên cứu, giới hạn của đề tài 5
1.2 Vị trí, mục tiêu nội dung chơng trình môn toán lớp 4 – 5 7
1.3.3 Vấn đề bồi dỡng học sinh yếu môn Toán 12
1.2 Những sai lầm thờng gặp ở học sinh yếu lớp 4 - 5 trong từng
Trang 3
Biện pháp 1: Phối hợp giữa giáo viên và phụ huynh trong việc bồi dỡng học
Biện pháp 2: Khắc phục những sai lầm của học sinh trong từng mạch kiến
Biện pháp 3: Phát hiện và lấp chỗ hổng kiến thức, kỹ năng ở các lớp trớc 39
Biện pháp 4: Tạo hứng thú cho học sinh yếu trong học tập môn Toán 41
Biện pháp 5: Bồi dỡng năng lực huy động kiến thức cũ để vận dụng vào kiến
Biện pháp 6: Rèn khả năng tự lập bài toán với những số liện đã cho 44
Chơng III Thực nghiệm s phạm 47
Kết luận và kiến nghị
Phụ lục Tài liệu tham khảo
mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Từ năm học 2007 - 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo toàn ngành
Giáo dục tiếp tục thực hiện cuộc vận động “2 không” với 4 nội dung “ Nói
không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong Giáo dục” đồng thời
thực hiện cuộc vận động “Nói không với vi phạm đạo đức nhà giáo và khắc
phục tình trạng học sinh ngồi nhầm lớp” Toàn ngành Giáo dục đã thực hiện
“Dạy thực chất, học thực chất, thi thực chất” , các cán bộ quản lý nhà trờng
và giáo viên đã dần dần khắc phục đợc bệnh thành tích và hình thức Điều đó
dẫn đến một thực tế hiện nay là có quá nhiều học sinh yếu ở tất cả các bậc
học
Bậc tiểu học là một bậc học quan trọng, đặt nền móng cho sự phát
triển nhân cách con ngời, đặt nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông và
toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân ở bậc tiểu học, toán học chiếm một vị
trí hết sức quan trọng Mục tiêu của môn Toán bậc tiểu học là giúp học sinh
có những kiến thức cơ bản ban đầu về số tự nhiên, phân số, số thập phân; các
đại lợng thông dụng; một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản Hình
thành các kỹ năng tính, đo lờng, giải toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong
đời sống Góp phần bớc đầu phát triển năng lực t duy, khả năng suy luận hợp
lý và diễn đạt đúng (nói và viết) cách phát hiện và giải quyết các vấn đề đơn
Trang 4
giản, gần gũi trong cuộc sống: kích thích trí tởng tợng; gây hứng thú học tậptoán góp phần hình thành bớc đầu phơng pháp tự học và làm việc có kếhoạch, khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo
Thực tiễn của việc dạy học hiện nay ở lớp 4 - 5 cho thấy, có rất nhiềuhọc sinh yếu về môn Toán Thực tế này có rất nhiều nguyên nhân nhng chủyếu là hầu hết các giáo viên chỉ chú trọng chất lợng đại trà, chất lợng mũinhọn là bồi dỡng cho học sinh khá giỏi chứ cha chú trọng đến việc bồi dỡnghọc sinh yếu Một số giáo viên có chú ý thì cha có biện pháp, phơng phápdạy học thích hợp cho đối tợng này Về phía học sinh, các em cha nắm chắc
đợc kiến thức cơ bản ở các lớp dới, lời suy nghĩ nên kiến thức toán ở lớp dới
bị xói mòn Vì vậy, lên lớp trên các em khó tiếp thu Một nguyên nhân nữa
là một số phụ huynh cha thực sự quan tâm đến việc học của con em mình
Bồi dỡng cho học sinh yếu là một hoạt động bình thờng và không thểthiếu đợc trong bất kỳ trờng tiểu học nào Đây chính là một trong nhữngnhiệm vụ trọng tâm của mỗi giáo viên để góp phần giúp cho các học sinhkhông theo kịp bạn bè có thể nắm bắt đợc những lỗ hổng kiến thức bản thân.Làm thế nào để nâng cao chất lợng học tập môn Toán cho học sinh yếu lớp 4
- 5 Đó là vấn đề đặt ra cho mỗi giáo viên đứng lớp Vì vậy, chúng tôi chọn
đề tài nghiên cứu “Một số biện pháp bồi dỡng học sinh yếu môn Toán lớp
4 -5– nhằm đa ra một số biện pháp cơ bản giúp giáo viên tiểu học có một số
định hớng bồi dỡng cho học sinh lớp 4 - 5 yếu về môn Toán trong các buổibồi dỡng hàng tuần
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng một số biện pháp nhằm bồi dỡng học sinh học yếu mônToán lớp 4 - 5
3 Khách thể và đối tợng nghiên cứu, giới hạn của đề tài
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học môn Toán lớp 4 - 5
3.2 Đối tợng nghiên cứu
Những biện pháp bồi dỡng cho học sinh yếu môn Toán lớp 4 - 5
3.3 Giới hạn của đề tài
Nghiên cứu trên khách thể là học sinh tiểu học trong phạm vi thànhphố Vinh
4 Giả thiết khoa học
Trang 55 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận về học sinh yếu làm cơ sở để đề xuất nhữngbiện pháp
- Khảo sát, đánh giá thực trạng học sinh yếu môn Toán lớp 4 - 5
- Đề xuất những biện pháp nhằm bồi dỡng cho học sinh yếu môn Toánlớp 4 - 5
- Thực nghiệm s phạm để đánh giá hiệu quả các biện pháp đã đề xuất
6 Phơng pháp nghiên cứu
6.1 Phơng pháp nghiên cứu lí luận
Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu lí luận để giải quyết nhiệm vụ líluận của đề tài
6.2 Phơng pháp điều tra
Sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến hiện tợnghọc sinh học yếu môn Toán lớp 4- 5
6.3 Phơng pháp lấy ý kiến chuyên gia
Chúng tôi đã học hỏi kinh nghiệm giảng dạy của một số nhà quản lý,giáo viên trờng tiểu học và tham khảo một số ý kiến của họ
6.4 Phơng pháp thử nghiệm
Để kiểm tra tính khả thi và tính hiệu quả của các biện pháp đã đềxuất, chúng tôi đã tiến hành thử nghiệm những biện pháp này ở một số tr-ờng tiểu học để đánh giá hiệu quả của chúng
7 Kế hoạch và thời gian nghiên cứu
- Tháng 2 năm 2008 nhận đề tài
- Tháng 3 4 viết đề cơng
- Tháng 5 8 năm 2008 viết phần cơ sở lí luận
- Tháng 9 10 điều tra thực trạng và tiến hành thực nghiệm s phạm
- Tháng 1 năm 2009 hoàn thành và bảo vệ luận văn
8 Những đóng góp mới của đề tài
1 Về mặt lí luận
Trang 69 Cấu trúc của đề tài
Đề tài ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, phụ lục và danhmục, tài liệu tham khảo, đề tài có 3 chơng:
Chơng I Cơ sở lí luận và thực tiễn cuả đề tài
Chơng II Một số biện pháp bồi dỡng học sinh yếu môn toán lớp 4 - 5 Chơng III Thực nghiệm s phạm
Chơng 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
I Cơ sở lí luận
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Hiện nay, vấn đề về học sinh yếu đợc nhiều tác giả quan tâm và đợc
đề cập nhiều trong bài viết của mình
- Tác giả Tạ Quang Vỹ: ” 5 u tiên đối với học sinh yếu kém “ đã đa ranhững biện pháp giúp học sinh học yếu tiến bộ hơn trong học tập Tác giả đã
đa ra những biện pháp chung chứ cha cụ thể cho một phân môn nào ở tiểuhọc
- Tác giả Nguyễn Trờng An: “ Vì sao các em cha thích môn Toán“ đãtìm hiểu nguyên nhân và từ đó đa ra một số giải pháp giúp học sinh tiểu học
Trang 7động kích thích hứng thú cho học sinh tránh tình trạng học sinh yếu kémquá nhiều
- Trang web của Bộ Giáo dục và Đào tạo có bài viết: “ Phụ đạo họcsinh yếu kém “ Bài báo đã tìm thực trạng, nguyên nhân dẫn đến học sinhyếu từ đó đa ra một số biện pháp giải quyết nhng chủ yếu là đề cập đến thời
điểm phụ đạo và mối quan hệ giữa cha mẹ học sinh và giáo viên chứ cha cómột biện pháp cụ thể để giúp học sinh yếu môn Toán vơn lên trong học tập
Nhìn chung, việc nghiên cứu các tác giả mới chỉ dừng lại ở việc đa racác biện pháp chung chung chứ cha phân loại và đa ra biện pháp cụ thể giúphọc sinh yếu môn Toán lớp 4 - 5 Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài này nhằmkhắc phục một số hạn chế nêu trên
1.2 Vị trí, mục tiêu, nội dung chơng trình môn toán lớp 4-5
1.2.1 Vị trí
Việc dạy học môn toán cho học sinh giai đoạn 2 (lớp 4-5) tập trungvào các kiến thức sâu hơn, trừu tợng hơn, khái quát hơn, tờng minh hơn vớigiai đoạn lớp 1,2,3 Nhiều kiến thức có thể coi là trừu tợng, khái quát đối vớihọc sinh lớp 1, 2, 3 thì đến lớp 4, lớp 5 lại trở nên cụ thể và thờng đợc làmchỗ dựa để học các nội dung mới Do đó tính trừu tợng, khái quát của nộidung môn toán ở các lớp 4, 5 đã đợc nâng cao lên một bậc so với các lớp 1,
2, 3 Từ đầu lớp 4, học sinh đã có thể nhận biết và vận dụng một số tính chấtcủa số, phép tính, hình hình học ở dạng khái quát và tờng minh hơn so vớilớp 3
Nếu gọi giai đoạn 1 là giai đoạn học tập cơ bản thì giai đoạn 2 là giai
đoạn học tập sâu và toán 4 mở đầu cho giai đoạn học tập sâu với ý nghĩa làvẫn dạy học các kiến thức và kỹ năng cơ bản của môn toán nhng ở mức sâusắc hơn, khái quát hơn, tờng minh hơn
Nếu coi toán 4 là sự mở đầu thì toán 5 là sự phát triển tiếp theo và ởmức cao hơn của giai đoạn các nội dung cơ bản Do đó cơ hội hình thành vàphát triển năng lực t duy, trí tợng tợng không gian, khả năng diễn đạt (bằng
Trang 8ơng pháp tự học và làm việc có kế hoạch, khoa học, chủ động, linh hoạt,sáng tạo.
Ngoài ra, môn Toán còn góp phần hình thành và rèn luyện các phẩmchất, các đức tính cần thiết của ngời lao động trong xã hội hiện đại
1.2.3 Nội dung của môn Toán lớp 4
- Bổ sung, hoàn thiện, tổng kết về đọc, viết, so sánh, xếp thứ tự các số
tự nhiên; chính thức giới thiệu một số đặc điểm quan trọng của các số tựnhiên và hệ thập phân
- Bổ sung, hoàn thiện, tổng kết về kĩ thuật thực hiện phép cộng, phéptrừ, phép nhân, phép chia các số tự nhiên; chính thức giới thiệu một số tínhchất của các phép tính, đặc biệt là tính chất của phép cộng và phép nhân các
số tự nhiên
- Giới thiệu những hiểu biết ban đầu về phân số và bốn phép tính( cộng, trừ, nhân, chia ) với phân số trong mối quan hệ với số tự nhiên và cácphép tính với số tự nhiên
Trang 9
- Củng cố, mở rộng những ứng dụng của một số yếu tố đại số trongquá trình tổng kết số tự nhiên và dạy học phân số, các phép tính với phân số.Giới thiệu cách thu nhập và bớc đầu xử lí một số thông tin từ biểu đồ cột, tỷ
lệ bản đồ
- Bổ sung, hoàn thiện, tổng kết một số đơn vị đo khối lợng và một số
đơn vị đo thời gian thông dụng; giới thiệu tiếp một số đơn vị đo diện tích vàvận dụng trong giải quyết các vấn đề liên quan đến đo và ớc lợng các đại l-ợng đã học
- Giới thiệu những hiểu biết ban đầu về góc nhọn, góc tù, góc bẹt; hai
đờng thẳng song song và hai đờng thẳng vuông góc với nhau; hình bìnhhành và hình thoi; bớc đầu tạo lập mối liên hệ giữa một số hình học đã họcqua các hoạt động thực hành đo, vẽ, giải quyết một số vấn đề liên quan đếncác yếu tố hình học
- Giới thiệu một số dạng bài toán có lời văn ( nh: tìm số trung bìnhcộng, tìm hai số khi biết tổng và hiệu, tổng và tỷ số hoặc hiệu và tỷ số củahai số đó; tìm phân số của một số) và tiếp tục rèn luyện, phát triển các nănglực giải quyết vấn đề, khả năng diễn đạt thông qua giải các bài toán có lờivăn
1.2.4 Nội dung môn Toán lớp 5
Nội dung Toán 5 trong chơng trình môn Toán ở Tiểu học gồm bốnmạch nội dung: số học, đại lợng và đo đại lợng, yếu tố hình học, giải bàitoán có lời văn
Nội dung một số yếu tố thống kê, yếu tố đại số, sử dụng máy tính bỏ túi đợctích hợp trong mạch số học
Dới đây là nội dung Toán 5 trong chơng trình môn Toán ở Tiểu học
Bổ sung về phân số thập phân, hỗn số Một số dạng bài toán về “quan
Phép nhân các số thập phân có tới ba tích riêng và phần thập phân củatích có không quá ba chữ số
Trang 10
Phép chia các số thập phân, trong đó số chia có không quá ba chữ số(cả phần nguyên và phần thập phân), thơng có không quá bốn chữ số, vớiphần thập phân của thơng có không quá ba chữ số
Tính chất giao hoán và kết hợp của phép cộng và phép nhân, nhân mộttổng với một số
Bổ sung về phân số thập phân, hỗn số Một số dạng bài toán về “quan
- Giới thiệu biểu đồ hình quạt
- Cộng, trừ số đo thời gian; nhân, chia số đo thời gian với một số
- Vận tố, quan hệ giữa vận tốc, thời gian chuyển động và quãng đờng
Xăng-ti-mét khối (cm3), đề-xi-mét khối (dm3), mét khối (m3)
- Giới thiệu hình hộp chữ nhật; hình lập phơng; hình trụ; hình cầu
5 Diện tích và thể tích
Tính diện tích hình tam giác và hình thang Tính chu vi và diện tíchhình tròn Tính diện tích xung quanh, diện tích toàn phần, thể tích hình hộpchữ nhật, hình lập phơng
- Giải các bài toán có đến bốn bớc tính, trong đó có các bài toán đơngiản về quan hệ tỉ lệ; tỉ số phần trăm; các bài toán đơn giản về chuyển động
đều; các bài toán ứng dụng các kiến thức đã học để giải quyết một số vấn đềcủa đời sống; các bài toán có nội dung hình học
1.3 Một số vấn đề về học sinh yếu
1.3.1 Học sinh học yếu
Là giáo viên chúng ta quan niệm nh thế nào về học sinh yếu
Trang 11
Có rất nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này nh:
- Học sinh học yếu là học sinh không có khả năng tiếp thu và làm việcgì trong học tập, sinh hoạt
- Học sinh học yếu là học sinh lời, ham chơi
Theo tôi, học sinh học yếu là những học sinh không đạt chuẩn kiếnthức, kỹ năng mà môn học quy định nhng không phải kiến thức về cuộcsống các em không có Thực tế cho thấy những đối tợng này có thể làm tốtnhiều việc mà học sinh khá, giỏi trong học tập tỏ ra lúng túng nh lao độnghay giải quyết một số vấn đề có liên quan đến cuộc sống Học sinh yếu làyếu các kỹ năng học thuật nh (học bài mau quên, không vận dụng nhữngkiến thức đã học) chứ không phải là không thông minh, không phải là không
có khả năng tiếp thu
1.3.2 Vấn đề bồi dỡng học sinh học yếu
Từ bao năm nay, nhà trờng tiểu học vẫn bắt học sinh cùng một lớp họcthì cùng một thời khoá biểu, một giáo án dù khả năng tiếp thu của học sinhnày khác với học sinh khác ở cùng độ tuổi, khả năng tiếp thu của mỗi emtrong môn học này là khác với khả năng tiếp thu trong môn học kia Tất cảhọc sinh trong một lớp học khác nhau về trình độ, dù nhanh hay chậm khácnhau về nhận thức đều phải học chung một chơng trình Vì vậy, trong mộtlớp học khó tránh khỏi sự khập khiễng trong học tập và nhận thức dẫn tới sựphát triển không đồng đều của học sinh
Vì vậy ngay từ đầu năm học, nhà trờng cần tổ chức giao nhận lớp chocác giáo viên và rà soát lại danh sách học sinh yếu năm trớc Sau khi giáoviên nộp danh sách học sinh yếu nhà trờng cần tập trung các em lại và chocác em làm bài kiểm tra chất lợng đầu năm hai môn Toán và tiếng Việt.Những học sinh đạt dới điểm trung bình và những học sinh tuy đạt trungbình nhng không chắc chắn với kết quả ấy cần lập một danh sách theo dõi.Sau nửa tháng nhà trờng cần tổ chức kiểm tra lại để xác định xem các emyếu kiến thức, kỹ năng hay do thái độ Từ đó cần căn cứ vào số lợng, mức
độ để tổ chức các lớp học bồi dỡng cho các em
- Nếu số lợng học sinh yếu toàn khối ít hơn 10 thì giao quyền chogiáo viên chủ nhiệm kèm cặp các em trong các buổi học trên lớp bằng nhiềuhình thức khác nhau Giáo viên phải chịu trách nhiệm về chất lợng học sinhcủa mình
Trang 12
- Nếu số lợng học sinh yếu toàn khối trên 10 học sinh thì nhà trờngcần tổ chức thành một lớp học, mỗi tuần học một buổi Toán và một buổitiếng Việt để giải đáp những thắc mắc, những khó khăn học sinh mắc phảitrong tuần
Trong quá trình bồi dỡng, nếu em nào tiến bộ thì cho về lớp học đểgiáo viên chủ nhiệm tiếp tục kèm cặp Đến cuối năm học, nếu học sinh nào
có chuyển biến thì đợc lên lớp, nếu em nào cha hoàn thành chơng trình, nhàtrờng cần có kế hoạch kéo dài khoá học thêm trong hè để tiếp tục bồi dỡngcho học sinh
1.3.3 Vấn đề bồi dỡng học sinh yếu môn Toán lớp 4 – 5
Vấn đề bồi dỡng học sinh yếu cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổchức trong nhà trờng nh: Ban giám hiệu, Đội thiếu niên tiền phong, hội cha
mẹ học sinh
Bồi dỡng học sinh yếu môn Toán là việc làm tốn nhiều công sức, thờigian và sự tận tuỵ và những phơng pháp dạy học hợp lý của giáo viên Vìvậy, việc lựa chọn giáo viên bồi dỡng cho học sinh yếu môn Toán ở lớp 4 -5
là yếu tố quan trọng quyết định chất lợng dạy học Nhà trờng nên cho nhữnggiáo viên tâm huyết, tận tuỵ và có khả năng hiểu học sinh yếu do đặc điểmcủa môn toán cần có sự chính xác và khoa học trong tính toán nên giáo viênphải đi từ những cái căn bản nhất, tỉ mỉ nhất Nh vậy đòi hỏi giáo viên phảikiên trì Thực tế có nhiều giáo viên rất giỏi nhng khi dạy đối tợng này thìkhông có hiệu quả Ngợc lại, có những giáo viên không ” siêu sao” gì nhng
kỹ lỡng, tỉ mỉ và kiên trì với học sinh lại dạy đạt hiệu quả cao
Chơng trình giáo dục đợc thiết kế chung cho mọi trình độ học sinh Mỗi tiết
đợc sử dụng để truyền tải kiến thức đợc giả thiết là tiếp thu đợc với học sinh
có nhận thức trung bình thuộc lứa tuổi đó Từ đó mà hình thành những quy
Trang 13
luật bất di bất dịch trong công tác quản lí nhà trờng Lớp học nào thì học bộchơng trình ấy, cùng bắt đầu và kết thúc ở một thời điểm, mỗi môn học đợcquy định số tiết dạy trong tuần mà giáo viên không có quyền thay đổi, mọihọc sinh trong một lớp vào cùng thời điểm đều đợc học ( nghe thầy cô trìnhbày, giải thích, hớng dẫn luyện tập…) giống nhau về nội dung đợc quy địnhcho lớp đó
Nhng luận điểm trẻ em cùng một lứa tuổi thì cùng trình độ nhận thức khôngphải lúc nào cũng đúng Nh vậy cách biên soạn chơng trình có lợi cho ngờiquản lí và ngời dạy nhng hoàn toàn bất lợi cho học sinh
Đối với học sinh yếu không có một chơng trình giáo án nào có sẵn Giáo ántrên lớp đợc soạn theo kiểu đờng thẳng chứ không phân nhánh
1.2 Về thời gian
Một nguyên nhân quan trọng dẫn đến số lợng học sinh học kém nhiều là doviệc phân bố chơng trình giảng dạy hiện nay
Cáikhó của cả giáo viên và học sinh là vẫn phải đảm bảo đủ số tiết theo chơngtrình Vì vậy phải tính toán thời gian để cho giáo viên và học sinh có thểthực hiện tốt các số tiết quy định Hầu hết giáo viên lên lớp là phải làm sao “dạy cho hết tiết học” nghĩa là trong một tiết học phải đảm bảo dạy xong một
số kiến thức nhất định Điều này khiến cho các giáo viên không đủ thời gian
để quan tâm đến việc tiếp thu kiến thức của học sinh yếu Giáo viên cha có
điều kiện đi sâu đi sát vào từng học sinh Hơn nữa hiện nay sĩ số lớp học ởtiểu học quá đông nên giáo viên không đủ thời gian quan tâm tới từng đối t-ợng học sinh
1.3 Về chế độ
Hiện nay ngành Giáo dục quy định mỗi tuần phải tập hợp học sinhyếu ở các lớp lại để bổ sung kiến thức cho các em và cử một giáo viên đứnglớp đó Nhng theo Bộ Giáo dục và Đào tạo thì việc bồi dỡng cho học sinhyếu là nghĩa vụ phải làm đối với từng giáo viên cho nên không có một chế
độ nào cho giáo viên Mặt khác, hiện nay bồi dỡng học sinh yếu lại mấtnhiều thời gian và công sức Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đếnviệc bồi dỡng học sinh yếu cha đạt hiệu quả cao
Trang 14
1.4 Về phía giáo viên
Kể từ khi Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo ngành Giáo dục thực hiệncuộc vận động hai không thì hầu hết các giáo viên đã dồn hết công sức, tâmhuyết của mình để thực hiện một chủ trơng lớn của ngành
Với lòng nhiệt tình, yêu nghề, yêu trẻ, hầu hết các giáo viên đã suynghĩ, tìm tòi nhiều biện pháp để giúp đỡ học sinh yếu Đa số các giáo viên
đều tận tuỵ với công tác giảng dạy, chăm chút học sinh nhng cũng có trờnghợp chỉ thành công trong đối tợng học sinh khá trở lên, còn đối tợng họcsinh yếu thì cha hiệu quả hoặc ngợc lại Thực tế có nhiều giáo viên rất giỏichuyên môn nhng khi dạy đối tợng này thì không có hiệu quả Ngợc lại cónhững giáo viên không thật sự xuất sắc nhng kĩ lỡng, tỉ mỉ và kiên trì với họcsinh lại nâng cao đợc chất lợng cho học sinh yếu
Một số khó khăn khác là phần lớn giáo viên tiểu học dạy quá nhiềutiết, nhiều môn, phải soạn quá nhiều giáo án, phải chấm quá nhiều bài chohọc sinh nên không có thời gian gắn bó, chăm chút từng học sinh đợc Một
số giáo viên cha thực sự tâm huyết trong việc bồi dỡng đối tợng này bởi vì
họ cho rằng có nhồi nhét bao nhiêu đi chăng nữa thì cũng không thể đạt kếtquả cao Qua khảo sát 20 giáo viên dạy lớp 4 và 5 ở trờng tiểu học Cửa Nam
I và trờng tiểu học Hng Bình chúng tôi thu đợc kết quả nh sau:
1 Theo thầy cô thì nguyên nhân nào dẫn đến học sinh yếu môn Toán
Mức độ đánh giá
Không
ảnh ởng
h-ảnh hởng
Rất
ảnh ởng
2 Phơng pháp giảng dạy khó hiểu, ít hấp
3 Các hình thức dạy học cha đa dạng 10% 10% 80%
6 Phụ huynh cha quan tâm đến việc học
Đa số giáo viên đều cho rằng, nguyên nhân dẫn đến học sinh học yếumôn Toán là do trình độ học sinh (80%) Một nguyên nhân chiếm vị trí quantrọng ảnh hởng đến việc học Toán của học sinh là một số phụ huynh có tâm
lí là khoán hết cho nhà trờng, ít kiểm soát đợc việc học hành của con em,
Trang 15
a thực sự quan tâm, chăm lo và đôn đốc việc học của con em mình Việc hợp tác và thái độ của phụ huynh trong việc phối hợp với nhà trờng là cha cao Mặt khác, một số gia đình có hoàn cảnh khó khăn, lo việc kiếm sống không để ý đến việc học của con Ngoài ra chúng tôi còn tìm hiểu những học sinh nói trên bằng các ph-ơng pháp sau: - Nghiên cứu lý lịch học sinh: Thông qua nghiên cứu lý lịch học sinh, nắm đợc hoàn cảnh gia đình, nghề nghiệp của phụ huynh, gia đình đông con hay ít con để biết đợc phụ huynh có quan tâm, giáo dục các con hay không, địa bàn c trú của các em ở lớp 5D trờng Tiểu học Hng Bình có em Nguyễn Khánh Lâm, ở các lớp 1, 2, 3 em học Toán cũng rất tốt nhng bố mẹ thờng hay cãi nhau nên điều em luôn suy nghĩ là gia đình chứ việc học em ít để ý đến Từ đó dần dần kiến thức của em bị hổng - Nghiên cứu hồ sơ của các em: Nh học bạ, sổ liên lạc - Trao đổi với giáo viên chủ nhiệm và giáo viên dạy các năm trớc để biết đợc hoàn cảnh, những lỗ hổng kiến thức, kỹ năng và những đặc điểm tâm sinh lý của các em qua điểm kiểm tra môn Toán cũng nh những mặt mạnh bằng phiếu sau: Phiếu theo dõi tình hình học tập môn Toán của học sinh yếu Họ và tên học sinh:
Lớp:
Năm học:
Giáo viên chủ nhiệm:
T
T
Họ và
tên
Con
ông bà
Nơi ở Nguyên
nhân
Điểm kiểm tra
KL
Đầu năm
Giữa
kỳ I
Cuối
kỳ I
Giữa
kỳ II
Cuối năm
1
2
3
4
5
Trang 16
- Trao đổi với hoc sinh để lắng nghe tâm t, nguyện vọng chính đángcủa các em Dẫn các em nói lên những trăn trở, mong muốn của mình từ đónắm bắt những tâm t nguyện vọng, sở thích, thái độ trong học tập môn Toáncủa các em Từ đó giáo viên động viên và kích thích các em học tập
- Thông qua trao đổi với phụ huynh học sinh để nắm bắt đợc sự quantâm giáo dục hay thờ ơ của họ đối với việc học của con em mình từ đó có sự
t vấn và phối hợp với gia đình để phụ huynh lựa chọn hình thức giúp các emhọc Toán tốt hơn Lớp 4E Trờng Tiểu học Cửa Nam I có học sinh Trần MinhNam, bố mẹ là cán bộ công chức nhà nớc, luôn luôn kèm cặp theo dõi côngviệc học hành của con cái, nhng em rất nghịch và mảng chơi, lời suy nghĩnên chỉ học khá các môn xã hội còn môn Toán lại rất yếu
- Thông qua bài kiểm tra chúng tôi khảo sát đầu vào
Qua tìm hiểu 40 học sinh yếu ở hai trờng tiểu học Cửa Nam I và trờngtiểu học Hng Bình bằng các biện pháp nh đã nêu chúng tôi nhận thấy có 3nguyên nhân chính dẫn đến việc học sinh học yếu môn Toán là:
Nguyên nhân 1: Do khả năng lĩnh hội
Đặc điểm của những học sinh này là hiểu và ghi nhớ máy móc nên
tr-ớc một bài Toán bất kỳ thì các em thờng đặt bút tính luôn nhiều khi dẫn đếncác sai sót không đáng có do các em cha chú ý những yếu tố liên quan đếnbài toán
Trí nhớ các em mau quên và chỉ dừng lại ở t duy cụ thể còn t duy trừutợng, khái quát kém phát triển nên khi gặp những bài toán cần có sự t duy lôgic thì các em gặp khó khăn
Ví dụ: Khi biết công thức tính diện tích S, nếu cho độ dài đáy và đờngcao thì học sinh dễ dàng tính đợc diện tích nhng khi cho biết diện tích và đ-ờng cao, yêu cầu các em tính độ dài đáy thì các em không làm đợc
Do trí nhớ nhanh quên nên học xong một bài mới, cho các em thựchành luyện tập ngay thì các em làm đợc nhng chỉ sau một thời gian ngắnkiểm tra lại thì hầu nh các em quên hoàn toàn
Nguyên nhân 2: Do không có ý thức và ý chí học tập
(Có đến 19 học sinh chiếm 47,5%)
Những học sinh rơi vào tình trạng trên là do: không học bài, khôngchịu làm bài, thờng xuyên quên vở ở nhà, vừa học vừa chơi, không tập trungtrong giờ học
Nguyên nhân 3 : Do ảnh hởng môi trờng gia đình
Trang 17có mục đích Kết quả cuối cùng là học tập sa sút đi dẫn đến học yếu.
Vậy các giáo viên xem việc bồi dỡng học sinh yếu nh thế nào?
Anh (chị) cho biết, bồi dỡng học sinh yếu là công việc thờng phải làmhay không?
Thờng xuyên
Thỉnh thoảng
Không bao giờQua khảo sát chúng tôi thấy rằng, có 89 % giáo viên đồng ý với ýkiến thờng xuyên, 11 % giáo viên đồng ý với ý kiến thỉnh thoảng và không
có giáo viên nào đồng ý với ý kiến không bao giờ Nh vậy ta thấy rằng phầnlớn giáo viên đã nhận thức đợc việc bồi dỡng học sinh yếu là việc làm thờngxuyên Tuy nhiên chất lợng và hiệu quả công việc này nh thế nào?
Anh (chị) cho biết việc bồi dỡng học sinh yếu mà anh chị làm có hiệuquả không?
Đạt kết quả đáng kể
Đạt kết quả nhng không đáng kể
Không có hiệu quả caoQua điều tra chúng tôi thu đợc kết quả nh sau: Không có giáo viênnào đồng ý với ý kiến một; 80 % giáo viên cho rằng việc nâng kém đạt kếtquả nhng không đáng kể Qua đó ta thấy rằng, việc bồi dỡng cho học sinhyếu cũng cha có hiệu quả cao
2 Những sai lầm thờng gặp ở học sinh yếu lớp 4 - 5 trong từng dạng toán
Thông qua tìm hiểu 20 giáo viên và 40 học sinh yếu trờng Tiểu họcCửa Nam I và trờng Tiểu học Hng Bình cùng với kinh nghiệm của bản thântrong quá trình dạy học, chúng tôi nhận thấy học sinh yếu thờng mắc một sốlỗi nh sau”
2.1 Về số và phép tính
2.1.1 Lỗi sai khi thực hiện phép nhân mà thừa số có chứa chữ số 0
Ví dụ 1: Thực hiện phép tính: 1342 x 40
Trang 18
Học sinh làm: 1342 x 40 = 13420 Học sinh vận dụng quy tắc nhân một số với 10, 100, 1000 vào trờng hợp trên mà không nắm đợc bản chất 1342 x 40 = 1342 x 10 x 4 Tích này gấp 4 lần 1342 x 10 Ví dụ 2: Khi học sinh thực hiện phép nhân 563 x 308 ( lớp 4 ) thông thờng ta làm nh sau : 563
x308 4504
000
1689
173404
Sách giáo khoa hớng dẫn nh sau :do tích riêng thứ 2 toàn số 0 nên ta không viết tích riêng này mà viết gọn nh sau: 563
x308 4504
1689
173404
Vì vậy khi viết tích riêng thứ 2 phải lùi sang bên trái 2 cột với tích riêng thứ 1 nhng học sinh yếu không hiểu bản chất nên chỉ viết lùi sang trái
1 cột
1.2.2 Lỗi sai khi thực hiện phép chia có chữ số 0 ở thơng
Ví dụ 1: Đặt tính rồi tính
123220 : 404 86679 : 214 Học sinh làm
ở phép tính thứ nhất, học sinh đã quên viết 0 ở thơng khi hạ một chữ
số ở số bị chia xuống đợc số nhỏ hơn số chia
ở phép tính thứ hai, sau khi chia lợt đầu thấy số d nhỏ hơn số chia học sinh lại thêm 0 vào thơng
1.2.3 Lỗi sai khi thực hiện phép tính trên phân số
123220 404
35 2020
0
88679 214
4014 3079
939
Trang 19
Ví dụ 1: Tính:
4
3 3
2 2
1
x x
Học sinh làm đợc nh sau:
4
3 3
2 2
3 2
x x
x x
Cách làm trên là đúng nhng học sinh vận dụng máy móc để làm bàisau:
Ví dụ 2: Tính
3
2 2
3
1 3 2
2
+ +
Nh vậy học sinh đã vận dụng tính chất của phép nhân vào thực hiệnphép cộng nên đã rút gọn hai thành phần giống nhau ở trên tử và dới mẫu
Học sinh còn mắc một số lỗi do hiểu sai quy tắc
Ví dụ 3: Để tính diện tích hình vuông cạnh
5 = nên x =
4
3 4
5 :
7 5 8
7 6
+
+
= +
Ví dụ 5: Tính
7
4 : 9 5
Học sinh làm:
7
4 : 9
63
20 9
5 7
Trang 20
Sách giáo khoa đã đa ra quy tắc chia hai số thập phân là: “ Muốn chiahai phân số ta làm nh sau: Lấy phân số thứ nhất nhân với phân số thứ hai đảongợc”
ở ví dụ trên, học sinh đã không hiểu rõ nội dung của quy tắc mà hiểu
là “ đảo ngợc” ở đây chính là đảo ngợc vị trí của hai phân số Để hạn chếnhững sai lầm này của học sinh giáo viên nên đa ra những loại bài tập nhsau:
Trong các phép tính sau, phép tính nào đúng?
a)
3
2 9
6 3 6
1 5 3
1 6
+
+
= +
b)
18
5 3 6
1 5 3
1 6
x
x x
c)
3
4 3 6
1 5 3
5 3
1 3
1
:
6
1.2.4 Lỗi sai khi thực hiện phép tính trên số thập phân
Ví dụ 1: Khi thực hành cộng , trừ với số thập phân nhất là với nhữngdạng bài nh 605,26+ 217,3 ; 75,8 + 249,19 hoặc 46,8 – 9,34 ; 21,64 –10,3 học sinh thờng sai lầm trong cách đặt tính nh :
249,19 + 75,8
Học sinh tiểu học thờng chú ý đến đặc điểm bề ngoài của sự vật, hiệntợng nên thờng mắc phải những sai lầm nh trên
Ví dụ 3:
Đặt tính rồi tính: 6,8 x 15
Trang 221.2.5 Lỗi sai về thứ tự thực hiện phép tính trên phân số
Do cha nắm đợc thứ tự thực hiện phép tính trong biểu thức nên một sốhọc sinh khi thực hiện tính biểu thức có chứa các phép tính cộng, trừ, nhân,chia các phân số có cùng mẫu số thì các em bị ảnh hởng của yếu tố này
Ví dụ: Tính
3
1 5
1 5
1 5
1 5
2.2 Về đại lợng và đo đại lợng
Về đại lợng và đo đại lợng học sinh lớp 4 , 5 thờng mắc những sailầm sau :
2.2.1 Sai lầm khi tính chuyển đổi đơn vị
- Không nắm vững quan hệ giữa các đơn vị đo của một đại lợng nênmắc sai lầm khi viết : 28 m25dm2 = 285 dm2; 15m29cm2 = 1509 cm2; 2 phút
15 giây = 215 giây
Nói riêng, học sinh dễ mắc sai lầm khi coi mối liên hệ giữa các đơn vị
đo thời gian cũng giống nh trong hệ thập phân Vì vây, khi thực hiện phéptính:
Trang 23
5 giờ 30 phút + 2,5 giờ học sinh có thể mắc sai lầm: 5 giờ 30 phút = 5,3 giờ
và tính: 5,3 giờ + 2,5 giờ = 7,8 giờ
Hoặc không hiểu thế nào là 2,5 giờ và 2,5 giờ thì bằng bao nhiêu giờ
và bao nhiêu phút, do đó học sinh không tính đợc
- Lúng túng, không thuần thục trong việc xác định mối quan hệ giữacác đơn vị đo đại lợng, dẫn đến sai sót trong các trờng hợp phải thêm- bớtchữ số 0 hoặc di chuyển dấu phẩy trong các bài tập về chuyển đổi số đo đạilợng
Ví dụ: Viết số thập phân thích hợp vào chỗ chấm:
2.2.3 Sai lầm khi tính toán
Trang 24- Viết số thích hợp vào chỗ chấm : 4,5 giờ = … phút
Học sinh không hiểu thế nào là 4,5 giờ, do đó không trả lời đợc 4,5giờ bằng bao nhiêu phút
2.3 Về hình học
Trong mảng hình học, việc nắm vững công thức tính chu vi, diện tích
và thể tích chủ yếu là ghi nhớ và áp dụng máy móc Học sinh cha hiểu đầy
đủ và rõ ràng về công thức tính Vì vậy, hạn chế khả năng vận dụng côngthức khi giải bài toán nhất là những bài tập yêu cầu phải suy luận hoặc phảivận dụng trí tởng tởng không gian
Trong sách giáo khoa lớp 4, 5 có những hệ thống bài tập về hình học
mà các bài tập thờng gắn liền với thực tế, học sinh yếu thờng dễ mắc sai lầmtrong việc tính toán
Ví dụ1 : Tính diện tích miếng bìa có kích thớc nh sau (Bài 4, trang 65, SGKlớp 4)
Ví dụ 2 : Một khu đất có kích thức theo hình vẽ dới đây Tính diện tích khu
Trang 25
Học sinh thờng nhầm lẫn khi tính chu vi và diện tích
Ví dụ 3 : Cho hình chữ nhật có chu vi là 2400 cm (xem hình vẽ) Chu vi hìnhthang AMCB là 1650 cm Tính chu vi hình tam giác MDC?
Giải
Chu vi hình tam giác MDC là:
2400 – 1650 = 750 (cm)
Đáp số: 750 cm
Đây là sai lầm mà rất nhiều học sinh tiểu học thờng mắc phải Các em
đã nhầm lẫn giữa cách tính chu vi với tính diện tích Giáo viên phải nắm đợcnguyên tắc cơ bản: ” Diện tích là đại lợng cộng đợc, còn chu vi là đại lợngkhông cộng đợc” và lu ý cho học sinh để các em biết đợc chu vi hình tamgiác không thể bằng chu vi hình chữ nhật trừ đi chu vi hình thang nh họcsinh đã làm ở trên
Nhiều khi học sinh thờng mắc sai lầm khi tính chu vi và diện tíchhình tròn và sai lầm khi tính diện tích hình tròn
Ví dụ 4: Miệng giếng nớc là một hình tròn có bán kính 0,7 m Ngời ta xâythành giếng rộng 0,3 m bao quanh miệng giếng tính diện tích của thànhgiếng?
Học sinh đã áp dụng công thức S = r x r x 3,14 nhng không thể hiểu
đợc độ dài của bán kính bằng khoảng cách từ tâm đến một điểm trên đờngtròn nên đã xem bề dày của thành giếng là bán kính Mặt khác học sinhcũng không hiểu phần diện tích cần tìm là phần nào trên hình
50 cm
40,5 cm
30 cm100,5 cm
Trang 26
2.4 Về giải toán
Đối với những dạng toán nh :
Lớp 4: Tìm số trung bình cộng
Tìm 2 số khi biết tổng (hiệu) và tỉ số của hai số đó
Tìm 2 số khi biết tổng và hiệu
Lớp 5: Toán về tỉ số phần trăm
Giáo viên cho số, học sinh thay vào công thức để tính kết quả thì dễdàng làm đợc Nhng đối với dạng toán ngợc (gián tiếp) nh sau thì học sinhyếu thờng gặp khó khăn
Ví dụ 1: Trung bình cộng của 2 số bằng 28 Biết một trong 2 số đóbằng 30 Tìm số kia
Ví dụ 2: Một xởng may đã dùng hết 345 m vải để may quần áo, trong
đó số vải may quần chiếm 40% Hỏi số vải may áo là bao nhiêu mé Tiểu kết
chơng I
Trong chơng I, chúng tôi đã chỉ ra cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đềnghiên cứu, làm cơ sở cho việc đề ra các biện pháp thực hiện trong quá trìnhbồi dỡng học sinh yếu nhằm thực hiện mục đích của đề tài: Một số biệnpháp bồi dỡng học sinh yếu môn Toán lớp 4 -5
Chơng 2
đề xuất Một số biện pháp bồi dỡng
I Các nguyên tắc để đề xuất biện pháp
Các biện pháp bồi dỡng học sinh yếu môn Toán cho học sinh lớp 4 - 5
đợc xây dựng dựa vào những nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 1: Các biện pháp đợc đề xuất cần căn cứ vào sự phát triển của học sinh yếu
Trang 27
Những biện pháp đợc dựa vào những tác động phù hợp với sự pháttriển trí tuệ của từng học sinh, phải hớng tới việc hình thành một cách vữngchắc các kiến thức nền tảng cho học sinh thông qua việc tổ chức các hoạt
động đồng thời luôn tạo ra vùng chuẩn bị phát triển cao hơn để các em cóthể vơn tới những kiến thức khác một cách tự nhiên và đảm bảo tính khoahọc Phơng pháp phải hớng tới việc đảm bảo tính vừa sức, phù hợp với trình
độ trí tuệ và trình độ thao tác của từng học sinh
Nguyên tắc 2: Những biện pháp đợc đề xuất nhằm nhằm quán triệt mục tiêu dạy học Toán
Dù có tổ chức dạy học cho học sinh yếu theo những cách nào đi chăngnữa thì các biện pháp cũng phải đáp ứng đợc mục đích dạy học Toán trongtrờng Tiểu học đó là: Giúp học sinh có những kiến thức cơ bản ban đầu về sốhọc, các đại lợng thông dụng, một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản.Hình thành các kỹ năng tính, đo lờng và giải bài toán có nhiều ứng dụngthiết thực trong cuộc sống Góp phần bớc đầu phát triển năng lực t duy, kháiniệm suy luận hợp lý và diễn đạt đúng, cách phát hiện và cách giải quyết cácvấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống, kích thích trí tởng tợng gây hứngthú học tập Toán, góp phần bớc đầu phơng pháp tự học và làm việc có kếhoạch, khoa học, chủ động
Nguyên tắc 3: Các biện pháp đề xuất trên cơ sở tôn trọng chơng trình Sách giáo khoa hiện hành
Trên cơ sở khai thác triệt để các tình huống còn tiềm ẩn trong sáchgiáo khoa để thực hiện mục đích bồi dỡng
Nguyên tắc 4: Các biện pháp đợc đề xuất dựa trên định hớng đổi mới
ph-ơng pháp dạy học hiện nay
Giáo viên là ngời hớng dẫn, tổ chức các em tự mình khám phá kiếnthức, dạy cho các em phơng pháp học trong đó cơ bản là phơng pháp tự học
Thứ nhất: Xác lập vị trí chủ thể ngời học, đảm bảo tính tự giác, tíchcực của học sinh là chủ thể chiếm lĩnh kiến thức, rèn khái niệm, hình thànhthái độ chứ không phải là nhân vật bị động hoàn toàn làm theo lệnh giáoviên Hình thức tích cực của các em ở chỗ học sinh tự nêu vấn đề còn thắcmắc, đợc trao đổi, thảo luận với bạn bè, thầy cô để khám phá kiến thức
Thứ hai: Xác định vai trò mới của giáo viên là không phải làm thayhọc sinh mà giáo viên phải thiết kế, điều khiển, học sinh hoạt động tự giác
để giải quyết vấn đề và thông qua đó chiếm lĩnh tri thức
Trang 28
II Một số biện pháp bồi dỡng
Để quá trình giáo dục đạt hiệu quả cao không dễ chút nào khi trongthực tế một lớp học bao giờ cũng có sự chênh lệch về trình độ tiếp thu củahọc sinh và nhất là đối với học sinh yếu thì quả là một gánh nặng Gánhnặng đó khiến các em khó vợt qua để theo kịp các bạn trong lớp Vậy làmsao để giúp học sinh lớp 4 -5 vá lại lỗ hổng kiến thức, bắt kịp kiến thức trênlớp và có hứng thú học tập môn Toán đặc biệt là giáo dục các em trở thànhcon ngời toàn diện theo yêu cầu xã hội hiện nay: có tính độc lập, tự chủ, tựgiác cao trong nhiên cứu tìm tòi, sáng tạo học hỏi để tiếp thu kiến thức nhẹnhàng nhng hiệu quả cao Đó chính là vấn đề mà chúng ta đặt ra và cần cóhớng giải quyết Từ thực tế trên, qua tìm hiểu trao đổi với một số giáo viêncộng với một số kinh nghiệm của bản thân trong quá trình dạy học tôi rút ramột số biện pháp sau:
Biện pháp 1: Phối hợp giữa giáo viên và phụ huynh học sinh
Ta biết rằng, gia đình là môi trờng giáo dục có ảnh hởng đến trẻ Songmỗi gia đình có những điểm mạnh riêng của nó nên giáo viên phải biết phốihợp nh thế nào để đảm bảo đợc tính thống nhất, toàn vẹn trong quá trìnhgiáo dục
Với những học sinh loại này, ngoài những buổi bồi dỡng để cung cấp kiếnthức cho các em, giáo viên cần:
- Tìm cơ hội để trao đổi trực tiếp với phụ huynh học sinh, trao đổi,giải thích rõ cho họ hiểu sức học cụ thể của con em họ, phơng hớng phấn
đấu của các em vì mục tiêu, kế hoạch chung của cả lớp, của trờng để phụhuynh biết đợc sự lo lắng quan tâm và trách nhiệm của nhà trờng từ đó phốihợp tạo điền kiện cho con em mình đi học đầy đủ Giáo viên phải làm thếnào để phụ huynh thấy rằng việc bồi dỡng là việc làm giúp đỡ con em họkhông theo kịp bạn bè, không theo kịp chơng trình học
- Hợp tác giữa giáo viên và phụ huynh là điều cần thiết để các em họctập rèn luyện Qua đó, giáo viên và phụ huynh sẽ nhận đợc thông tin haichiều, giáo viên phải thông tin kịp thời đến phụ huynh về kết quả học tập,hạnh kiểm của con em mình qua sổ liên lạc Giáo viên cần yêu cầu phụhuynh theo dõi và kiểm tra bài vở của con em mình thờng xuyên, kèm họcsinh làm hết những bài tập cô giáo ra về nhà Xây dựng cho con cái mìnhthời gian biểu hợp lí và phải thờng xuyên liên hệ với giáo viên dạy bồi dỡng
Trang 29
để nắm đợc tình hình học tập của con Khi nắm bắt đợc thông tin phải phảnhồi lại với giáo viên Giáo viên và phụ huynh cần động viên khuyến khíchcác em khi các em học tập tiến bộ, nhắc nhở kịp thời khi các em có biểuhiện cần uốn nắn nh chán học môn Toán, không chịu làm bài
- Giáo viên phải đánh vào tâm lí của các em (tác động vào hành vi,tình cảm, thái độ) trò chuyện và nắm tâm t nguyện vọng của các em, khuyếnkhích các em học tập
- Giáo viên phải tạo điều kiện tốt nhất về thời gian để học sinh có thểhình thành bài học ngay tại lớp
- Vận động học sinh giỏi trong lớp giúp đỡ học sinh yếu trong các giờhọc trên lớp đặc biệt là trong các giờ học Toán
Ngoài ra ban giám hiệu nhà trờng và giáo viên bồi dỡng cần phối hợpthật tốt với các tổ chức đoàn thể khác trong nhà trờng để giáo dục các em tốthơn Nhằm động viên đối tợng này nhà trờng cần có hình thức khen thởngkịp thời với những học sinh tiến bộ nh: trao phần thởng cuối tháng, nêu gơngdới cờ
Còn đối với những học sinh không có ý thức và ý chí học tập Để các emhứng thú hơn trong học tập môn Toán, trong các buổi bồi dỡng giáo viên cầnthay đổi các hình thức dạy học phù hợp Ngoài ra, giáo viên cần trao đổi trựctiếp đến từng đối tợng học sinh bằng lời nói, cử chỉ, mệnh lệnh thật thuyếtphục để các em nắm đợc tầm quan trọng của việc học, làm cho các em hiểu
đợc học phải đi đôi với hành Giáo viên phải xây dựng cho các em động cơhọc tập đúng đắn Ngoài ra giáo viên cần phải cử học sinh giỏi trong tổ kèmcặp giúp đỡ các bạn
Biện pháp 2: Khắc phục những sai lầm của học sinh trong từng dạng toán
Bồi dỡng kiến thức cho học sinh yếu là giáo viên phải bổ sung những
lỗ hổng kiến thức cho học sinh để giải quyết, để dành lại kiến thức mà các
em cha lĩnh hội hết trong tiết dạy chính trên lớp Từ đó, học sinh có thể hoànhập, theo kịp với các bạn trong các tiết học đang diễn ra trên lớp
Theo tôi muốn làm tốt hoạt động này thì bản thân giáo viên phải nắm bắtchính xác và đánh giá đợc mức độ kiến thức đọng lại ở mỗi học sinh trongmỗi tiết dạy để chuẩn bị kế hoạch bồi dỡng sao cho có hiệu quả nhất Giáo
Trang 30Nh vậy, cần ở học sinh phải hoàn toàn tự giác cao trong suy nghĩ vàhành động, tích cực phối hợp với giáo viên có suy nghĩ, cân nhắc kỹ lỡngthông tin nhận đợc để “ vá lại lỗ hổng kiến thức” và phản hồi lại kiến thứcmột cách chính xác, khoa học nhất Muốn vậy, giáo viên là ngời rất quantrọng cần phải có các hớng dẫn cụ thể để giúp học sinh.
Hình thức để chuẩn bị cho buổi bồi học sinh yếu kém này là:
- Lên danh sách học sinh và tập trung thành lớp học
- Yêu cầu học sinh xem lại kiến thức và nêu lên những điều mình thắc mắctrong tuần
- Giáo viên cùng với học sinh thảo luận những kiến thức cần bổ sung lại
- Vận dụng giải thử một số bài tập bằng nhiều hình thức khác nhau (trò chơi,làm bảng, nêu miệng…)
- Cho học sinh kiểm tra cuối buổi bồi dỡng để đánh giá ngay kiến thức họcsinh vừa nắm bắt
Ví dụ 1: Hình tam giác
ở lớp 5, hình tam giác đợc dạy từ tiết 85 đến tiết 88, trong đó có mộttiết về nhận dạng và các đặc điểm tình hình, các tiết còn lại dành cho việchình thành và vận dụng công thức tính diện tích
Tiết 85: Sách giáo khoa giới thiệu về hình tam giác với 3 góc, 3 đỉnh,
3 cạnh, cách xác định đờng cao tơng ứng với cạnh đáy và nhận diện các loạihình tam giác Bài này giáo viên cần giúp học sinh yếu nắm bắt đợc một số
Trang 31
Việc tiến hành dạy bài này nh sau: Từ phân tích nội dung, khi các em
đã nắm đợc trọng tâm bài, giáo viên giúp học sinh xác định rõ đờng cao xuấtphát từ 1 đỉnh luôn vuông góc với đáy tơng ứng
Khi giúp học sinh phân biệt 3 dạng hình giáo viên cần tiến hành thêmmột số công việc nh sau:
a Với tam giác có 3 góc nhọn
B
ớc 1:
Học sinh quan sát trong sách giáo khoa về đặc điểm của loại hìnhnày, giáo viên có thể gợi mở bằng 1 số câu hỏi sau:
- Ba góc của tam giác lớn hơn hơn nhỏ hơn góc vuông?
- AH là đờng cao tơng ứng với đáy BC nh hình vẽ trên bảng Nếu lấy đáy là
AC ta sẽ có đờng cao nào? Tơng tự nếu lấy đáy là AB thì đờng cao sẽ hạ từ
Trang 32b Tam giác có một góc tù và 2 góc nhọn
Với đối tợng học sinh yếu thì việc xác định đờng cao trong loại tamgiác này thực sự khó khăn, các em sẽ không kẻ đợc nếu không có sự giúp đỡcủa giáo viên Sách giáo khoa đã giới thiệu đờng cao AH tơng ứng với đáy
BC nhng giáo viên cần lu ý học sinh để kẻ đợc đờng cao trớc hết ta phải kéodài đáy sang hai bên, sau đó kẻ đờng cao AH từ đỉnh A vuông góc xuống BC
Tơng tự phần trên, giáo viên cũng đa ra các tam giác với các vị trí đáykhác nhau và yêu cầu học sinh thực hành kẻ đờng cao tơng ứng với các đáy.Nhng giáo viên vẫn phải lu ý học sinh thực hiện theo 2 bớc:
- Kéo dài đáy sang 2 bên
- Kẻ đờng cao từ đỉnh vuông góc xuống đáy
Sau khi các em thực hiện xong, đáp án đúng sẽ là:
::
Đáy BC, đờng cao AH Đáy AB, đờng cao CH Đáy AC, đờng cao BH
Cuối cùng, giáo viên hỏi: Em có nhận xét gì về 3 đờng cao trong tamgiác có 1 góc tù, 2 góc nhọn? (Có 2 đờng cao ngoài và 1 đờng cao trong tamgiác)
CH
Trang 33
Việc sử dụng đờng cao ngoài của tam giác rất khó cho học sinh yếutuy nhiên ta vẫn phải cho các em làm quen để học sinh nắm đợc bản chất từ
đó các em có điều kiện học tốt hơn ở các bài học khác
c Tam giác có 1 góc vuông và 2 góc nhọn
Trong Sách giáo khoa chỉ giới thiệu AB là đờng cao ứng với đáy BCcòn ở bài tập 2 chỉ yêu cầu học sinh xác định đờng cao trong tam giác thìgiáo viên cho học sinh quan sát và khẳng định thêm:
- Nếu xem BC là đáy thì AB là đờng cao
- Nếu xem AB là đáy thì BC là đờng cao
Sau khi học sinh nhận biết đợc đáy, chiều cao của một loại tam giácnày, giáo viên lại cho học sinh xác định với các tam giác có vị trí đáy khácnhau Đáp án cuối cùng là:
Nhận xét về các đờng cao trong tam giác vuông: 2 cạnh góc vuông vớinhau chính là hai đờng cao tơng ứng với đáy và 1 đờng cao nữa nằm trongtam giác
Kết luận: Trong 1 tam giác ta có thể kẻ 3 đờng cao tơng ứng với 3 đáycủa nó Tuỳ vào hình dạng, đặc điểm của tam giác và đáy của nó mà đờngcao tam giác có thể nằm trong hay nằm ngoài hay chính là cạnh của tamgiác
Ví dụ 2: Diện tích tam giác
Sách giáo khoa đã hình thành quy tắc, công thức tính rõ ràng;
s =
2
axh
(Trong đó: S là diện tích, a là độ dài đáy, h là chiều cao)
Đối với học sinh yếu, các em ít sự sáng tạo nên khi cho biết độ dài
đáy và độ dài đờng cao học sinh lắp số liệu vào sẽ tính đợc diện tích Nhng
có những bài toán cho biết diện tích, độ dài đáy, yêu cầu học sinh tính chiềucao hay những bài toán cho biết diện tích , chiều cao yêu cầu học sinh tính
độ dài đáy thì các em thờng gặp khó khăn Vì vậy, giáo viên phải làm rõ chocác em nội dung sau:
Đáy AC, đ ờng cao BK