1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhịp điệu trong thơ mới (Khảo sát qua thơ Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên

130 6,2K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhờ nhịp điệu gắn liền với những chỗ ngừng, chỗ ngắt được phân bố hợp lý căn cứ vào quy luật tổ chức nội dung ý nghĩa ngôn từ và khả năng chú ý, theo dõi cũng như nhịp thở tùy thuộc trạn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

HỒ HẠNH NGỌC

NHỊP ĐIỆU TRONG THƠ MỚI

(KHẢO SÁT QUA THƠ HÀN MẶC TỬ, XUÂN DIỆU,

HUY CẬN, CHẾ LAN VIÊN)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội - 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

HỒ HẠNH NGỌC

NHỊP ĐIỆU TRONG THƠ MỚI

(KHẢO SÁT QUA THƠ HÀN MẶC TỬ, XUÂN DIỆU,

HUY CẬN, CHẾ LAN VIÊN)

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60 22 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS MAI NGỌC CHỪ

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3

DANH MỤC BẢNG 4

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Lịch sử vấn đề 6

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Mục đích nghiên cứu 8

5 Đóng góp của luận văn 8

6 Phương pháp nghiên cứu 8

7 Bố cục luận văn 9

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NHỊP ĐIỆU VÀ NHỊP ĐIỆU TRONG THƠ VĂN VIỆT NAM 10

1.1 Nhịp điệu và sự phân loại nhịp điệu 10

1.1.1 Nhịp điệu 10

1.1.2 Phân loại nhịp điệu 11

1.1.3 Nhịp điệu trong thơ văn Việt Nam 13

1.2 Các tiêu chí nhận diện và miêu tả nhịp điệu 17

1.2.1 Dấu câu 18

1.2.2 Ngừng/ ngắt nhịp 20

1.2.3 Trường độ 20

1.2.4 Cao độ 21

1.2.5 Tốc độ 22

1.2.6 Cường độ 22

1.2.7 Điểm nhấn 23

1.2.8 Đường nét 24

1.2.9 Hiệp vần (hòa âm) 24

1.2.10 Phối hợp thanh điệu (hòa thanh) 24

1.3 Các yếu tố chi phối nhịp điệu 25

1.3.1 Yếu tố tâm - sinh lý 25

1.3.2 Yếu tố nội dung, cảm xúc, hình tượng nghệ thuật của tác phẩm 26

1.3.3 Yếu tố vần 26

1.4 Một số kiểu tổ chức nhịp điệu tiêu biểu 27

1.4.1 Nhịp điệu đối xứng 28

Trang 4

1.4.2 Nhịp điệu trùng điệp 28

1.4.3 Nhịp điệu đồng đều 28

1.4.4 Nhịp điệu tự do 29

Chương 2 NHỊP ĐIỆU TRONG THƠ MỚI 31

2.1 Các thể thơ và sự ngắt nhịp 31

2.2 Các phương thức tạo nhịp trong Thơ mới 36

2.2.1 Dấu câu 37

2.2.2 Luân phiên thanh điệu bằng - trắc 51

2.2.3 Lặp theo độ dài của cấu trúc 52

2.2.4 Cấu trúc lặp vòng 56

2.2.5 Các danh từ riêng viết hoa 57

2.2.6 Các từ được viết hoa “bất thường” ở trong câu 58

2.2.7 Hiện tượng vắt dòng phổ biến trong Thơ mới 59

2.3 Giá trị nghệ thuật và sức mạnh biểu đạt ý nghĩa của nhịp điệu trong Thơ mới 60

2.3.1 Giá trị nghệ thuật của nhịp điệu trong Thơ mới 60

2.3.2 Sức mạnh biểu đạt ý nghĩa của nhịp điệu trong Thơ mới 66

Chương 3 DẤU ẤN TÁC GIẢ TRONG TẠO NHỊP 71

3.1 Đặc điểm nhịp điệu trong Thơ mới Hàn Mặc Tử 71

3.1.1 Giới thiệu tác giả 71

3.1.2 Đặc điểm nhịp điệu 72

3.2 Đặc điểm nhịp điệu trong Thơ mới Xuân Diệu 75

3.2.1 Giới thiệu tác giả 75

3.2.2 Đặc điểm nhịp điệu 76

3.3 Đặc điểm nhịp điệu trong Thơ mới Huy Cận 82

3.3.1 Giới thiệu tác giả 82

3.3.2 Đặc điểm nhịp điệu 83

3.4 Đặc điểm nhịp điệu trong Thơ mới Chế Lan Viên 86

3.4.1 Giới thiệu tác giả 86

3.4.2 Đặc điểm nhịp điệu 87

3.5 Một vài nhận xét khái quát 94

KẾT LUẬN 96

DANH MỤC TÀI LIỆU TRÍCH DẪN 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

PHỤ LỤC 106

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 Chữ viết tắt

B: Thanh bằng T: Thanh trắc

2 Ký hiệu

/: Ngừng ngắn //: Ngừng vừa ///: Ngừng lâu hoặc ngừng hẳn w: Tốc độ nhanh

: Tốc độ chậm

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng các bài thơ của Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan

Viên và các thể thơ 31

Bảng 2.2: Thống kê số lượng câu thơ kết thúc bởi các dấu câu 37

Bảng 2.3: Thống kê số lượng câu thơ mở đầu bởi dấu gạch ngang 38

Bảng 2.4: Thống kê số lượng câu thơ có các tiết nhịp hình thành bởi dấu phẩy 39

Bảng 2.5: Thống kê số lượng câu thơ có các tiết nhịp hình thành bởi dấu chấm 42

Bảng 2.6: Thống kê số lượng câu thơ có các tiết nhịp hình thành bởi dấu hai chấm 43

Bảng 2.7: Thống kê số lượng câu thơ có các tiết nhịp hình thành bởi dấu hỏi 44

Bảng 2.8: Thống kê số lượng câu thơ có các tiết nhịp hình thành bởi dấu chấm phẩy 45

Bảng 2.9: Thống kê số lượng câu thơ có các tiết nhịp hình thành bởi dấu gạch ngang 46

Bảng 2.10: Thống kê số lượng câu thơ có các tiết nhịp hình thành bởi dấu chấm than 47

Bảng 2.11: Thống kê số lượng câu thơ có các tiết nhịp hình thành bởi dấu ba chấm 48

Bảng 2.12: Thống kê số lượng câu thơ có các tiết nhịp hình thành bởi sự kết hợp các dấu 49

Bảng 2.13: Thống kê số lượng câu thơ có nhịp mở đầu và kết thúc theo sự luân phiên thanh điệu Bằng - Trắc 51

Bảng 2.14: Thống kê tần số xuất hiện của cấu trúc đề - thuyết 53

Bảng 2.15: Thống kê tần số xuất hiện của cấu trúc chủ - vị 54

Bảng 2.16: Thống kê tần số xuất hiện của mở rộng đoản ngữ 55

Bảng 2.17: Thống kê số lượng bài thơ sử dụng cấu trúc lặp vòng 56

Bảng 2.18: Thống kê vị trí của danh từ riêng 57

Bảng 2.19: Thống kê các từ viết hoa “bất thường” trong câu 58

Bảng 2.20: Thống kê tần số xuất hiện của hiện tượng vắt dòng 60

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ xưa đến nay, các nhà nghiên cứu ngữ văn đều coi nhịp điệu là nét đặc trưng cơ bản nhất của ngôn ngữ thi ca Văn học nói chung và thơ ca nói riêng, cũng như âm nhạc, đều là những bộ môn thể hiện nghệ thuật thời gian, vì vậy người nghiên cứu bao giờ cũng quan tâm tới vấn đề nhịp điệu Nếu không có nhịp điệu người ta không thể nào nhận thức nổi, nhận thức đúng về nội dung của chuỗi âm thanh, chuỗi ngôn từ phát ra tưởng chừng vô tận theo thời gian Nhờ nhịp điệu gắn liền với những chỗ ngừng, chỗ ngắt được phân bố hợp lý căn cứ vào quy luật tổ chức nội dung ý nghĩa ngôn từ và khả năng chú ý, theo dõi cũng như nhịp thở tùy thuộc trạng thái cảm xúc của độc giả mà chuỗi ngôn từ bất định kia được cấu trúc, trở thành tác phẩm nghệ thuật, có khả năng gây xúc động và đưa lại những nhận thức mới về cuộc sống Nhiều khi, một câu thơ có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào cách ngắt nhịp Những trạng thái, cung bậc tình cảm có sự biến thiên tương ứng với cách ngắt nhịp trong câu thơ Như vậy, nhịp điệu trở thành yếu tố đặc trưng nhất của thơ, trở thành đơn vị biểu hiện, bộc lộ cảm xúc của tác giả

và của người thưởng thức Cùng với vần và thanh điệu, nhịp điệu góp phần đắc lực tạo nên tính nhạc cho thơ Với mỗi cách ngắt nhịp khác nhau, một câu thơ sẽ có cách hiểu tương ứng Có khi là nhịp hành quân dồn dập, nhịp tâm trạng buồn bã hay vui mừng, nhịp xúc cảm khi mênh mang, khi dồn nén, lúc vui nhộn nhịp, lúc não ruột ê chề…

Trong việc nghiên cứu nhịp điệu thi ca, có một thực tế là, cho đến nay, người ta mới chỉ quan tâm nhiều tới nhịp điệu của ca dao và thơ truyền thống vốn

có một niêm luật hết sức chặt chẽ, còn nhịp điệu trong Thơ mới, đặc biệt là thơ tự

do thì chưa có nhiều người quan tâm Vì vậy để góp một “tiếng nói” nhỏ bé của mình vào việc tìm hiểu vấn đề thú vị này, chúng tôi đã chọn đề tài “Nhịp điệu

trong Thơ mới”

Như mọi người đều biết, đầu thế kỉ XX, Phong trào Thơ mới xuất hiện và đã

có những đóng góp vô cùng quan trọng cho nền văn học nước nhà Nó như một

“luồng gió lạ”, mang đến cho thơ ca Việt Nam nhiều yếu tố mới cả về nội dung lẫn

hình thức biểu hiện Đó là “cuộc cách mạng thi ca” đã chuyển đổi toàn bộ hệ thống

quan niệm, tư duy, thi pháp thơ từ mô hình cổ điển sang mô hình thơ ca hiện đại

Thơ mới, ngay khi ra đời, đã tự đặt mình trong mối quan hệ “xung khắc” rồi dần đến “hòa giải” với thơ cũ Sở dĩ có sự chuyển đổi này là do giới trí thức trẻ bấy giờ

Trang 8

tiếp thu văn hóa Pháp và nhanh chóng nhận ra vần luật, niêm luật của Nho gia đã

quá gò bó trong việc thể hiện “tiếng nói của cõi lòng” Năm 1929, Trịnh Đình Rư viết trên báo Phụ nữ tân văn số 26: “Cái nghề thơ Đường luật khó đến như thế, khó

cho đến đỗi kẻ muốn làm thơ, mỗi khi có nhiều tư tưởng mới lạ muốn được muốn phát ra lời, song vì khó tìm chữ đối, khó chọn vần gieo, nên ý tưởng dầu hay cũng thành bỏ bớt Cái phạm vi của thơ Đường luật thật là hẹp hòi, cái quy củ của thơ Đường luật thật là tẩn mẩn Ta nếu còn ưa chuộng mà theo lối thơ này mãi, thì nghề thơ văn của ta chắc không có bao giờ mong phát đạt được vậy” Chính vì thế

mà “Muốn cho tình tứ không vì khuôn khổ mà bị “đẹt” mất, thì rất cần phải có một

lối thơ khác, do lề lối nguyên tắc rộng rãi hơn Thơ này khác hơn lối xưa nên gọi là Thơ mới” (theo Phụ nữ tân văn số 211 ra ngày 10/8/1933 bài diễn thuyết của cô

Nguyễn Thị Kiêm) Đồng thời, nguyên tắc của Thơ mới cũng được nêu trong bài

viết “Nên bàn về lối Thơ mới” đăng trên Tạp chí tân văn số 215 ra ngày 7/9/1933 như sau: “Những nhà phát minh Thơ mới cũng nên biết rằng Thơ mới là để cho ta

đặng tự do, song cái tự do ấy có mực thước, có chuẩn bằng, có quy tắc Lời thơ phải ở trong một cái phạm vi nhất định Nếu kẻ làm thơ muốn vượt ra ngoài lề lối

ấy, thì tôi tưởng rằng bài thơ không phải là vận văn mà là “tản văn” là phải Ngoài cái nguyên tắc ấy thơ lại phải có âm hưởng véo von Khi đọc bài thơ nghe ra như khúc đàn êm ái: khi khoan thai, khi nhặt, lúc bổng, lúc trầm Người xem thơ tư tưởng rằng đứng vào cảnh ngày hè hoặc đêm thu, nghe dế ngâm ve hót Đó là kể sơ qua phương diện bề ngoài, bài thơ lại phải có ý tứ sâu xa, lời lẽ hùng hồn, câu văn chính đáng Thơ có hồn mà không có xác thì chưa phải là thơ toàn, mà có xác lại không có hồn thì khác chi đóa hoa tươi không hương nhụy, chỉ đáng cho ta vứt bỏ

đi mà thôi”

Trong Thơ mới, một trong số những cách sử dụng ngôn ngữ độc đáo và rất

có hiệu quả chính là nhịp điệu Khai thác sâu hơn vào cách sử dụng nhịp điệu trong

Thơ mới chắc chắn sẽ tìm ra được “những cái hay, cái đẹp của tiếng Việt ta” theo

cách nói của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng

2 Lịch sử vấn đề

Vấn đề nhịp điệu trong thơ ca nói chung, thơ ca Việt Nam nói riêng, đã được

đề cập đến ở những góc độ và mức độ khác nhau trong nhiều tài liệu lý luận phê bình văn học và ngôn ngữ học

Từ góc độ ngôn ngữ học, có thể chỉ ra một số giáo trình và tài liệu tiêu biểu

như: Dẫn luận ngữ pháp chức năng của M.A.K Haliday (1985), Từ điển phong

Trang 9

cách học của Katie Wales (1989), Từ điển thi pháp học và tu từ học của Henri

Morie (1989), Từ điển bách khoa về ngôn ngữ và ngôn ngữ học do R.E Asher chủ

biên (1994), v.v Hầu hết các tác phẩm này đều trình bày những ý kiến về nhịp điệu trong lời nói tự nhiên và trong ngôn ngữ văn chương

Trong những công trình nghiên cứu trong nước, vấn đề nhịp điệu cũng đã

được bàn tới ở một số bài viết như: Nguyên tắc ngừng nhịp trong thơ ca Việt Nam của Mai Ngọc Chừ (1984), Bước thơ của Võ Bình (1984), Nhận dịp nhịp điệu trong

thơ trữ tình của Phan Huy Dũng (2001), Nhịp thơ của Nguyễn Thế Lịch (2004), Một

số vấn đề về nhịp điệu trong ngôn ngữ thơ văn Việt Nam của Vũ Thị Sao Chi (2005)

v.v Phần lớn các bài viết vừa nêu đều cố gắng chỉ ra nguyên tắc ngắt nhịp và giá trị của nhịp điệu trong thơ ca Việt Nam

Từ cách tiếp cận nghiên cứu, phê bình văn học, nhịp điệu trong thơ ca

Việt Nam đã được đề cập đến trong những công trình tiêu biểu như Thơ ca Việt

Nam – Hình thức và thể loại (Bùi Văn Nguyên – Hà Minh Đức), Phong trào Thơ mới (Phan Cự Đệ), Thi nhân Việt Nam (Hoài Thanh – Hoài Chân), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại (Hà Minh Đức), v.v Trong những công trình

này, các tác giả đã đề cập đến các kiểu nhịp và sức mạnh biểu đạt ý nghĩa của nhịp thơ Việt Nam

Gần đây nhất, một công trình nghiên cứu khá toàn diện về nhịp điệu là luận

án Tiến sĩ của Vũ Thị Sao Chi với tiêu đề Nhịp điệu trong văn chính luận Hồ Chí

Minh Trong luận án, tác giả đã phân biệt rõ nhịp điệu thơ với nhịp điệu văn xuôi,

nhịp điệu thơ với nhịp điệu lời nói tự nhiên, đồng thời đưa ra một hệ thống các tiêu chí nhận diện và miêu tả nhịp điệu khá cụ thể và chi tiết Đây là một đóng góp quan trọng của luận án

Trong số những công trình đã dẫn ra ở trên chỉ có một công trình bàn trực

tiếp về nhịp điệu trong Thơ mới, đó là cuốn Phong trào Thơ mới của Giáo sư Phan

Cự Đệ Tuy nhiên, trong tác phẩm này, nhịp điệu cũng mới chỉ được xem xét với số trang viết rất khiêm tốn và cũng chỉ dừng lại ở việc phân tích một số ví dụ về nhịp

điệu và một số kiểu nhịp Thực sự thì cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào

xem xét một cách toàn diện và hệ thống về nhịp điệu trong Thơ mới Vì vậy đề tài

mà chúng tôi triển khai sẽ góp phần làm sáng tỏ vấn đề này

Trong khi triển khai nghiên cứu đề tài, một số vấn đề liên quan về mặt lý luận, chúng tôi sẽ dựa vào kết quả nghiên cứu của những người đi trước, trong đó

có luận án Tiến sĩ của Vũ Thị Sao Chi mà chúng tôi đã nhắc đến ở trên

Trang 10

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trong Phong trào Thơ mới có rất nhiều tác giả mà tác phẩm của họ đã ghi lại dấu ấn không thể phai mờ Tuy nhiên do khuôn khổ hạn chế của một luận văn,

chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi khảo sát tư liệu trong Tuyển tập Phong trào Thơ mới

1932 - 1945 - Tác giả và tác phẩm (Nhà xuất bản Giáo dục 1998) với 268 bài thơ và

5.426 dòng thơ của bốn tác giả Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử

Số liệu khảo sát cụ thể là như sau:

Xuân Diệu 100/2.212 Huy Cận 50/953 Hàn Mặc Tử 73/1.368 Chế Lan Viên 45/893

5 Đóng góp của luận văn

5.1 Về phương diện lý luận

Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm khái niệm nhịp điệu trong thơ văn Việt Nam

Những kết quả nghiên cứu của luận văn cũng sẽ góp phần làm rõ hơn những đặc trưng của ngôn ngữ thi ca, trong đó có thơ tự do là thể thơ có ít nhiều khác biệt

so với thơ ca truyền thống

5.2 Về phương diện thực tiễn

Những kết quả thu được từ nghiên cứu của luận văn có thể ứng dụng trong việc bình giảng văn học, phân tích thơ, cảm thụ và cảm nhận cái hay, cái đẹp của thơ văn

6 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết những nhiệm vụ của đề tài, luận văn đã sử dụng tổng hợp một

số phương pháp và thủ pháp sau đây:

Trang 11

- Phương thức miêu tả được sử dụng để miêu tả cấu tạo của nhịp điệu và các kiểu tổ chức nhịp điệu

- Phương pháp thống kê được sử dụng để khảo sát mức độ phổ biến của từng kiểu nhịp điệu trong Thơ mới

- Phương pháp đối chiếu, so sánh được sử dụng để chỉ ra sự giống nhau và khác nhau trong cách thức tạo nhịp của từng tác giả

- Phương pháp phân tích văn chương để tìm ra được thi pháp sáng tạo nhịp điệu trong Thơ mới

Chương 3 Dấu ấn tác giả trong tạo nhịp

Như vậy, nội dung chính của luận văn này nằm chủ yếu ở chương 2 và chương 3, trong đó chương 2 là trọng tâm Chính vì vậy, số lượng trang viết dành cho chương 2 là nhiều nhất

Trang 12

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NHỊP ĐIỆU

VÀ NHỊP ĐIỆU TRONG THƠ VĂN VIỆT NAM

1.1 Nhịp điệu và sự phân loại nhịp điệu

1.1.1 Nhịp điệu

Nhịp điệu (Rhythm) là một thuật ngữ được sử dụng ở nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong văn học nghệ thuật Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một quan điểm, một định nghĩa thống nhất mang tính phổ quát về nhịp nói chung và nhịp thơ nói riêng

Theo tác giả Nguyễn Thế Lịch thì “Nhịp là một tiếng của ngôn ngữ đời

thường, cũng là tên gọi một đơn vị của âm nhạc và của thơ ca (tiếng Hán: jiezou, tiếng Anh: rhythm, tiếng Pháp: rythme, tiếng Nga: ritm)” [59, tr.61]

Nói chung, nhịp điệu được hiểu là sự vận động lặp lại, luân phiên đều đặn, tuần hoàn theo những khoảng cách hay những chu kỳ nhất định và sự vận động này

có tính quy luật

Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa nhịp điệu là “sự lặp lại một cách tuần hoàn các âm mạnh và nhẹ theo những trật tự, cách thức nhất định” [78, tr.892] Với ý nghĩa đó chúng ta có thể nhận ra nhịp điệu khi nghe tiếng

đập của trái tim, tiếng tích tắc của kim đồng hồ quay, tiếng bước chân đều của đoàn quân duyệt binh và rất nhiều âm thanh, chuyển động hằng ngày khác có tính tuần hoàn

Theo nghĩa rộng nhất, nhịp điệu là hình thức phân bố trong thời gian những chuyển động nào đó Như vậy, có thể nói về nhịp điệu của bất kỳ sự chuyển động nào, trong đó có âm thanh của bất kỳ thứ ngôn ngữ nào chúng ta nghe được mà không cần hiểu nghĩa Nhịp điệu thể hiện tính chất đều đặn của chuyển động, sự cân đối của những độ dài về thời gian hay sự luân phiên dưới dạng chuyển động âm thanh Nhịp điệu được tạo bởi âm thanh và những khoảng lặng Những âm thanh và

sự im lặng này hợp thành đơn vị âm thanh, lặp đi lặp lại phát sinh thành nhịp điệu

Từ các ý kiến trên, chúng tôi tạm thời rút ra một số nhận xét như sau làm cơ

sở cho việc nghiên cứu:

1 Nhịp điệu là cách thức diễn ra của các hiện tượng tự nhiên hoặc xã hội theo kiểu lặp lại đều đặn tuần hoàn trong những khoảng cách cân bằng hay chu kỳ nhất định

Trang 13

2 Dựa vào cách thức tạo lập và tính chất nội dung có thể phân chia nhịp điệu thành hai loại: nhịp điệu tự nhiên và nhịp điệu nhân tạo Nhịp điệu tự nhiên là

sự tuần hoàn đơn giản theo phản xạ tự nhiên của một số kích thích nhất định, không

có ý nghĩa Còn nhịp điệu nhân tạo được phân biệt với mức độ cao hơn Đó là thứ nhịp điệu có ý nghĩa do con người tạo ra xuất phát từ nhu cầu nhận thức, thông tin, thẩm mỹ, muốn mô phỏng, tái tạo lại cái tự nhiên khách quan trong sự/ cách cảm

nhận chủ quan [13, tr.13]

1.1.2 Phân loại nhịp điệu

1.1.2.1 Nhịp điệu trong lời nói tự nhiên

Các âm trong lời nói tự nhiên không phải là chuỗi âm thanh kế tiếp nhau một cách đơn giản, mà có những quan hệ nhất định với nhau, tổ chức nên những kết cấu ngữ pháp - ngữ nghĩa như: từ, cụm từ, câu, đoạn, văn bản Khi phát âm, những kết cấu này được phân biệt bởi những chỗ ngừng (hay còn gọi là chỗ ngắt nhịp) của dòng âm thanh Khoảng ngừng sau mỗi đơn vị thuộc các cấp độ ngữ pháp - ngữ nghĩa khác nhau là khác nhau Thường sau một cụm từ thì ngừng ngắn, sau một câu thì ngừng vừa, sau một đoạn thì ngừng dài, sau một văn bản thì ngừng hẳn phát âm văn bản ấy Để cho lời nói thoát ra tự nhiên, thuận miệng, xuôi tai thì những khoảng ngừng này có xu hướng được bố trí đều đặn tạo thành nhịp điệu

Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập phân tiết và giàu thanh điệu Không chỉ ngôn ngữ trong nghệ thuật mới có tính thơ, tính nhạc mà ngay cả ngôn ngữ sử dụng trong đời thường cũng có thể có tính thơ, tính nhạc nếu được người nói bắt vần và chú trọng đến tiết tấu, nhịp điệu Nghiên cứu về tính chất âm thanh của tiếng Việt, tác giả Cù Đình Tú cho rằng âm tiết tiếng Việt có diện mạo rõ ràng Tính chất gọn gàng, tách biệt của từng âm tiết, cấu tạo hai bộ phận với 16 loại hình khác nhau của

nó, cùng độ cao, đường nét của thanh điệu chính là những cơ sở ngữ âm để cho tiếng ta có thể lên bổng xuống trầm, khi thì nhẹ nhàng ngân vang, khi thì nghẹn ngào đóng lại, khi thì thoải mái tự do, khi thì hài hòa cân xứng Thực tế cho thấy rằng tiếng ta, nói đúng hơn là người Việt Nam ta, trong tiềm thức tự nhiên rất có ý thức phát huy các tính chất âm thanh của âm tiết, phối hợp luân phiên các âm tiết

cao - thấp, bổng - trầm, nặng - nhẹ, đóng - mở để tạo ra những lời nói “thuận

miệng êm tai”, có vần điệu, tiết tấu nhịp nhàng [101, tr.232-233]

Chính sự giàu có về nhịp điệu của tiếng Việt đã khiến cho người nước ngoài nghe người Việt nói mà ngỡ như là hát Thậm chí người Việt chửi cũng có vần có

điệu, cân đối, nhịp nhàng Ví dụ: Làng trên (B)/ xóm dưới (T),/ bên sau (B)/ bên

Trang 14

trước (T),/ bên ngược (T)/ bên xuôi (B)!// Tôi có con gà mái xám nó sắp ghẹ ổ (T),/

nó lạc ban sáng (T),/ mà thằng nào (B)/ con nào (B), đứa ở gần mà qua (B),/ đứa ở

xa mà lại (T),/ nó dang tay mặt (T),/ nó đặt tay trái (T), nó bắt mất của tôi (B),/ thì buông tha (B) thả bỏ nó ra (B),/ không thì (B) tôi chửi cho đấy (T)!/// (trích trong

tiểu thuyết Nguyễn Công Hoan)

Nói chung, không chỉ về mặt ngữ nghĩa mà cả về mặt ngữ âm các phát ngôn của người Việt thường có xu hướng đăng đối, trước sau hô ứng, cân xứng, nhịp nhàng

1.1.2.2 Nhịp điệu trong nghệ thuật

Đây là hình thức tổ chức nghệ thuật xuất hiện thường xuyên ở tất cả các loại hình nghệ thuật Nhịp điệu này do người nghệ sĩ sáng tạo nên trong tác phẩm của mình do nhu cầu của nhận thức, cảm xúc, tình cảm mang tính thẩm mỹ Nó được thực hiện trên cơ chế của sự lặp lại đều đặn, hoặc cách quãng, luân phiên có tính chất chu kỳ của các yếu tố cùng loại trong không gian, thời gian, hay trong quá trình

mà tùy theo đặc thù của từng bộ môn nghệ thuật nhằm chia tách và kết hợp các ấn tượng thẩm mỹ [13, tr.14]

Theo Ôpxiannhicốp, “Nhịp điệu nghệ thuật là sự lặp lại có quy luật những

thành tố, đơn vị đồng nhất và tương tự nhau theo những khoảng đều nhau trong không gian hoặc trong thời gian nhưng có sự thống nhất và tác động qua lại giữa chuẩn mực và sai lệch, trật tự và không trật tự, nhằm cảm thụ và tạo dựng hình thức, xây dựng nội dung hình tượng” [76]

Mỗi loại hình nghệ thuật có một dạng thức nhịp điệu khác nhau

* Bộ môn nghệ thuật không gian như kiến trúc, điêu khắc, hội họa, hoa văn

Nhịp điệu ở các bộ môn này được thể hiện ở sự tổ chức, phối hợp đường nét, mảng, hình khối, màu sắc, độ sáng - tối Chẳng hạn họa tiết hoa văn chạm trổ trên những bức tường, đồ gốm, vải, gỗ bố trí theo sự luân phiên, đều đặn cân đối của các màu sắc, đường nét, hình khối

* Bộ môn nghệ thuật thời gian như âm nhạc, văn học Nhịp điệu ở đây diễn

ra trong thời gian và được cảm nhận bằng thính giác Trong âm nhạc, có nhịp 2/4, 3/4, đó là sự nối tiếp và lặp lại một cách đều đặn, tuần hoàn các độ dài thời gian bằng nhau, làm nền cho nhạc Có thể nói, đối với âm nhạc, nhịp điệu mang tính quy định và bắt buộc Trong nhạc, dưới nhịp còn có phách là đơn vị thời gian cơ bản, ví

dụ nhịp 2/4 có phách mạnh, phách nhẹ Sự nối tiếp các âm mạnh - nhẹ với những phách bằng nhau về thời gian đã tạo nên dòng âm thanh chuyển động nhịp nhàng

Trang 15

Nhịp điệu trong âm nhạc được thể hiện rất mạnh và rõ nét ở tiết tấu, tiết nhịp và nhịp độ

Tiết tấu là tương quan trường độ của các âm thanh nối tiếp nhau Trong sự

chuyển động nhịp nhàng của dòng âm thanh của tác phẩm âm nhạc, có các âm thanh của một số phách nổi lên mạnh hơn Những nốt mạnh hơn ấy gọi là trọng âm Những phách có trọng âm gọi là phách mạnh Những phách không có trọng âm gọi

là phách yếu Sự nối tiếp đều đặn các phách mạnh và yếu gọi là tiết nhịp

Nhịp độ là tốc độ của sự chuyển động Trong âm nhạc, nhịp độ với tư cách là

một trong các phương tiện diễn cảm, phụ thuộc vào nội dung của tác phẩm âm nhạc Nhịp điệu được chia thành ba nhóm cơ bản: chậm, vừa và nhanh [dẫn theo 13]

Tiết tấu, tiết nhịp và nhịp độ có ý nghĩa rất lớn vì chúng quyết định sự chuyển động, tính tổ chức và tính cách âm nhạc

1.1.3 Nhịp điệu trong thơ văn Việt Nam

Không chỉ trong nghệ thuật, trong các tác phẩm văn học, nhịp điệu càng được biểu hiện sinh động và tinh tế

Văn chương phản ánh cuộc sống thông qua những rung động tình cảm Thế giới nội tâm của người nghệ sĩ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà còn bằng cả âm thanh, nhịp của từ ngữ ấy Âm và nhịp làm tăng thêm hàm nghĩa cho từ, gợi ra những điều mà từ ngữ không thể nói ra hết, góp phần làm sáng tỏ những khía cạnh tinh vi của tình cảm con người Tạo nhịp là cách thức tổ chức hình thức âm thanh ngôn ngữ trong tác phẩm văn học (tổ chức các âm tiết, kết hợp số tiếng trong câu, ngắt nhịp, phối vần, phối thanh, phối âm, trường độ, cường độ, tốc độ), nhằm tạo

ra một hình thức ngữ âm cân đối nhịp nhàng, uyển chuyển có tác dụng tạo nên những

ấn tượng thẩm mỹ gợi hình, gợi cảm, tăng sức mạnh biểu đạt cho tình ý nội dung

1.1.3.1 Một số quan niệm về nhịp điệu trong thơ văn Việt Nam

* Đồng nhất “nhịp điệu” với “nhạc điệu”

Theo Gô-gôn: “Âm điệu du dương không phải là chuyện vô ích, như có một

số người không quen biết với thơ thường nghĩ Nhịp điệu, bản thân sự chuyển động của thơ, sự tổng hợp giữa ngữ điệu, cách láy, chỗ ngừng và cách đảo đó là một ma thuật có tác dụng làm say mê và lôi cuốn mạnh mẽ đối với bạn đọc Âm thanh mạnh

mẽ, đa dạng của thơ cũng như âm nhạc có tổ chức làm chấn động, khêu gợi tình cảm, không có cái đó thì thơ, cho dù là thơ có mang theo tư tưởng sâu sắc bao nhiêu cũng không dẫn đến ấn tượng cần thiết Nhịp điệu, âm nhạc có ảnh hưởng hết sức to lớn đối với từng người và đối với xã hội” [13, tr17]

Trang 16

Như vậy cái mà Gô-gôn gọi là nhịp điệu phải chăng chính là nhạc điệu Thực

ra, nhịp điệu và nhạc điệu là hai khái niệm khác nhau Nhịp điệu là một trong số các nhân tố tạo nên nhạc điệu Nhịp điệu là phương tiện, còn nhạc điệu là hiệu quả của việc sử dụng các phương tiện, trong đó có nhịp điệu

* Đồng nhất “nhịp điệu” với “nhịp”

Hồ Văn Hải nhận định: “Nhịp điệu được xem xét từ cơ sở hình thành, đó là

sự ngưng nghỉ theo một cách thức nhất định khi phát âm (hay còn gọi là ngắt nhịp)” [36]

Trong bài viết về Nhịp thơ, Nguyễn Thế Lịch chỉ nói đến “nhịp” mà lãng quên yếu tố “điệu”: “Trong thơ, nhịp là đơn vị thuộc dòng thơ Mỗi dòng thường

có vài ba nhịp Kết thúc nhịp cuối cùng của dòng cũng là kết thúc dòng” [59]

Các quan niệm trên mới chỉ nêu được một nhân tố cấu thành nhịp điệu là yếu

tố “nhịp” còn chưa nói đến một nhân tố nữa của nhịp điệu là “điệu”

Theo Hà Minh Đức, “Nhịp điệu trong một bài thơ, một câu thơ không phải

chỉ bộc lộ ở cách ngắt thành những đoạn tiết tấu mà do nhiều nhân tố tạo thành Thanh điệu của từ, thanh điệu của đoạn tiết tấu, vần thơ đều tham gia vào việc tổ chức nhịp điệu” [30, tr.384] Đây chính là cơ sở để nhận định rằng, tham gia vào

việc cấu thành nhịp điệu không chỉ có nhân tố nhịp mà còn cả yếu tố điệu nữa

* Quan niệm “nhịp điệu” là đặc trưng riêng của thơ

Tác giả Hồ Văn Hải coi nhịp điệu là đặc trưng riêng của thơ Theo ông thì

“Trong thơ nhịp điệu mang tính đặc thù Nó là xương sống của dòng thơ, đoạn thơ, bài thơ, nó là kết quả hòa phối âm thanh được tạo ra từ sự ngắt nhịp Nhịp liên kết các yếu

tố ngữ âm lại để tạo ra nhạc tính Chỉ riêng thuộc tính ngữ âm này thôi cũng giúp ta phân biệt được hai loại kết cấu ngôn ngữ khác nhau: văn xuôi và thơ” [36] Nguyễn

Thị Phương Thùy trong bài Vần, thanh điệu, nhịp điệu trong câu thơ mới bảy chữ cũng cho rằng: “Nhịp thơ là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên tiết tấu, giai điệu,

âm hưởng cho câu thơ, có giá trị góp phần khu biệt thi ca với văn xuôi” [98]

* Quan niệm “nhịp điệu” là đặc trưng chung của thơ văn

Tiêu biểu cho xu hướng này là Henri Morier Khi phân tích khái niệm nhịp điệu, ông đã không giới hạn ở thơ mà xem xét nó ở cả trong văn

Ở Việt Nam, nhà văn Nguyễn Tuân là một trong những cây bút tiên phong

đặt ra yêu cầu câu văn phải có nhịp điệu: “Người làm nghề phải biết tạo ra những

câu văn có khớp xương, biết co duỗi nhịp nhàng” [62]

Như vậy, nhịp điệu không phải là đặc trưng riêng của thơ mà của cả văn xuôi nữa

Trang 17

* Quan niệm “nhịp điệu” là hiện tượng chỉ thuộc về mặt âm thanh của ngôn

ngữ nghệ thuật

Tiếng Việt có kiểu nhịp âm tiết Nhịp điệu tiếng Việt là sự kết hợp của hai yếu tố: nhịp và điệu

Nhịp là những nhóm âm tiết trong chuỗi ngữ lưu được “cắt” ra (phân định

ranh giới ngữ âm) bởi những khoảng ngừng (ngắt) ổn định Một nhịp được đánh dấu bằng độ dài âm thanh giữa hai khoảng ngừng

Điệu là đường nét, tính chất âm thanh của nhịp với các thuộc tính như: dài - ngắn, cao - thấp, lên giọng - xuống giọng, nhanh - chậm, mạnh - yếu, bằng phẳng - không bằng phẳng Điệu làm nên dáng vẻ sắc thái của nhịp điệu

Ý kiến của Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức: “Nhịp điệu là sự láy lại một

cách đều đặn và nhịp nhàng những đoạn tiết tấu của câu thơ mà sự sắp xếp những tiết tấu đó lại do quy luật của thanh điệu chi phối Nhịp điệu rất linh hoạt và cơ động, tạo thành do sự phối hợp những quy luật riêng về âm thanh Thể thơ là những hình thức biểu hiện cụ thể và xác định của nhịp điệu” [70, tr.326]

Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên cũng định nghĩa tương tự về nhịp

điệu: “Nhịp điệu là sự lặp lại một cách tuần hoàn các âm mạnh nhẹ và sắp xếp theo

những hình thức nhất định Nhịp điệu khoan thai Bản trường ca giàu nhịp điệu”

[78, tr.720]

Như vậy, nhịp điệu trong những quan điểm trên mới chỉ thấy được mặt âm thanh còn chưa làm rõ được cấu tứ, hình ảnh, nội dung ý nghĩa của tác phẩm

* Quan niệm “nhịp điệu” là hiện tượng thuộc về cả hai mặt hình thức âm

thanh và nội dung ý nghĩa của tác phẩm thơ văn

Ở Việt Nam, tiêu biểu cho xu hướng này là các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình

Sử, Nguyễn Khắc Phi Nhịp điệu đã được các ông nhìn nhận trên tất cả các phương

diện trong cấu trúc của văn bản nghệ thuật: “Nhịp điệu là một phương tiện quan

trọng để cấu tạo hình thức nghệ thuật dựa trên sự lặp lại có tính chất chu kỳ, cách quãng hoặc luân phiên của các yếu tố có quan hệ trong thời gian hay trong quá trình nhằm chia tách và kết hợp các ấn tượng thẩm mỹ Trong văn học, nhịp điệu là sự lặp lại cách quãng đều đặn và có thay đổi của các hiện tượng ngôn ngữ, hình ảnh, motip nhằm thể hiện sự cảm nhận thẩm mỹ về thế giới, tạo ra cảm giác vận động của sự sống, chống lại sự đơn điệu, đơn nhất của văn bản nghệ thuật” [dẫn theo 13]

Những quan niệm trên đã nêu rõ được nhịp điệu là hiện tượng thuộc về cả hai mặt hình thức âm thanh và nội dung ý nghĩa của tác phẩm thơ văn

Trang 18

Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu ý kiến của các tác giả đi trước, để triển khai công

việc, chúng tôi tạm thời nêu lên một cách hiểu về nhịp điệu trong văn học: Nhịp điệu là

hình thức tổ chức các phương tiện ngôn ngữ dựa trên cơ chế của sự lặp lại đều đặn, tuần hoàn (liên tục hay cách quãng) các thành tố, đơn vị đồng nhất và tương tự nhau theo những khoảng cách cân bằng hay chu kỳ nhất định trong không gian hoặc thời gian để chia tách và kết hợp các yếu tố nghệ thuật nhằm thể hiện sự cảm nhận thẩm mỹ

về thế giới, tạo ra cảm giác vận động của sự sống, tạo ra vẻ đẹp hài hòa, cân xứng, nhịp nhàng cho tác phẩm, chống lại sự đơn điệu, đơn nhất của văn bản nghệ thuật

Như vậy, nhịp điệu là sự thống nhất và tác động qua lại giữa chuẩn mực và sai lệch, trật tự và không trật tự nhằm cảm thụ và tạo dựng hình thức, xây dựng nội dung hình tượng

Nhịp điệu bao gồm các nhịp có quan hệ với nhau trong một thể thống nhất, nối tiếp nhau tạo thành mạch lưu chuyển, vận động nhịp nhàng Nhân tố nòng cốt của nhịp điệu không phải cái gì khác chính là nhịp

1.1.3.2 Phân biệt nhịp điệu thơ và nhịp điệu văn xuôi

Trong văn học, có hai hình thức ngôn ngữ nghệ thuật cơ bản là ngôn ngữ thơ

và ngôn ngữ văn xuôi, do đó hình thành hai loại nhịp điệu: nhịp điệu thơ và nhịp điệu văn xuôi Mỗi loại hình nghệ thuật khác nhau lại có những cách vận dụng các phương tiện tạo nhịp điệu khác nhau

Nhịp điệu là yếu tố bắt buộc phải có của thơ Nó bao gồm nhiều yếu tố cấu thành: trọng âm, vần, phép lặp, chuỗi âm tiết, hiệu ứng âm thanh, số lượng âm tiết Dòng thơ lại có kiểu ngắt nhịp của luật thơ, có độ dài ngắn, cân đối hoặc không cân đối khác nhau

Trong văn xuôi , người ta chú ý đến các đơn vị nhấn , trọng âm, kết thúc câu , câu trùng điệp, phép lặp Nhạc tính mà văn xuôi có được là do sự lặp lại cả cấu trúc chứ không ở từng yếu tố ngữ âm đơn lẻ như trong thơ

Đối với văn xuôi, nhịp chỉ là kết quả kéo theo của sức sáng tạo ngôn từ, trong khi ở thơ thì nhịp lại là cái giàn khung bắt buộc về thi luật để ngôn từ tựa vào

Trong văn học Việt Nam, dạng văn có nhịp đơn giản nhất là những câu thành ngữ, tục ngữ Thường được chia thành hai vế, đọc thành hai nhịp, đối xứng khá đều đặn về thanh điệu, tạo nên tính nhịp cân đối, nhịp nhàng dễ đi vào trí nhớ Quy luật đối xứng đó được thể hiện ở chỗ các âm tiết cuối mỗi vế thường mang những thanh đối lập nhau về âm điệu Mô hình đối xứng là .B/ T (bằng - trắc); hay T/ B

(trắc - bằng) Ví dụ: Màn trời/ chiếu đất

Trang 19

Tính chất âm điệu nhịp nhàng cũng được thể hiện rất đặc trưng trong những câu văn của những áng sử thi hay trong các thể văn cổ (phú, tế, biền, văn ), nhịp cũng được đưa vào những mô hình chung có tính chất cách luật, không những có sự đối xứng giữa các cặp câu, các vế mà còn có sự hô ứng về nhịp, thanh điệu, vần

điệu cho nên câu văn đọc lên rất nhịp nhàng uyển chuyển Ví dụ: “Ta thường tới

bữa quên ăn,/ nửa đêm quên ngủ,/ ruột đau như cắt,/ nước mắt đầm đìa ” (Hịch

tướng sĩ - Trần Quốc Tuấn)

Kiểu văn vần chú trọng đến nhịp không chỉ chiếm ưu thế trong các thể văn cổ

mà còn tiếp tục ảnh hưởng mạnh đến một số tác phẩm của tác giả văn xuôi hiện đại

Câu văn hiện đại sau này ngày một phong phú, sáng tạo, gọn ghẽ, tự nhiên, không còn bị gò bó trong những khuôn nhịp đối xứng như trước Mặc dù vậy, nó vẫn không thể mất đi tính cân đối, nhịp nhàng uyển chuyển cố hữu của ngôn ngữ nghệ thuật Rất nhiều các nhà văn hiện đại, nhất là ở giai đoạn đầu thế kỷ XX như Tản Đà, Phạm Quỳnh, Xuân Diệu, Hồ Chí Minh, Nguyễn Tuân đã sử dụng một

lối văn giàu nhịp Xin dẫn một ví dụ: “Rồi tập chuyển bước./ Học xoè khăn./ Rồi

học xoè quạt./ Rồi học xoè nón./ Học đến xoè nhạc,/ khiến được cánh tay/ cùi tay/

cổ tay,/ đã có thể gọi là học giỏi./ Thành thục đôi tay/ đôi chân,/ rồi nhún,/ rồi đánh gối,/ đánh mông,/ đánh cánh/ đánh cổ/ đánh cùi.” (Xoè - Nguyễn Tuân)

Không khó nhận thấy sự khác biệt giữa nhịp của văn hiện đại với nhịp của thơ và văn cổ Nhịp của văn hiện đại không do những nguyên tắc của nhịp điệu mô hình có tính chất cách luật điều khiến mà chủ yếu được hình thành từ cảm hứng, cảm xúc, ý muốn của người viết Mặc dù không bị ấn định dòng, vế, số nhịp, số tiếng, vần, bằng - trắc, nhưng câu văn hiện đại vẫn có thể tạo ra nhịp từ sự phối hợp ngữ điệu giữa các nhịp, hoặc sự hoà âm, hoà thanh của một số âm tiết giữa các nhịp, hoặc sự bố trí các nhịp có tính chất song song, cân xứng, hô ứng về cú pháp hay về ngữ nghĩa, hoặc sự sắp xếp các nhịp theo một trình tự logic, khoa học tạo nên sự đều đặn, cân đối, hài hoà Nhìn chung, nhịp trong văn hiện đại xuất hiện ít hơn trong thơ và văn cổ, song cũng rất sáng tạo, linh hoạt và tinh tế Cảm thụ nhịp trong văn hiện đại phức tạp và cũng có phần khó hơn

1.2 Các tiêu chí nhận diện và miêu tả nhịp điệu

Nghiên cứu nhịp điệu, điều không thể không làm là đi vào tìm hiểu những tiêu chí để nhận diện ra chúng trong từng câu thơ, khổ thơ hay câu văn, đoạn văn, thậm chí toàn bộ văn bản nghệ thuật Qua tìm hiểu, có thể nêu lên 10 tiêu chí là dấu hiệu để nhận diện ra nhịp điệu

Trang 20

1.2.1 Dấu câu

Dấu câu là ký hiệu dùng trong văn viết Đó là phương tiện dùng để phân biệt các ý nghĩa, các đơn vị ngữ pháp trong một câu văn Dấu câu được dùng để chỉ ranh giới giữa các câu, các thành phần câu, các thành tố trong cụm từ, trong các liên hợp cụm từ, v.v Nhờ có dấu ngắt câu mà ta đọc đúng, hiểu đúng bài văn viết dễ dàng hơn, đặc biệt là khi đọc diễn cảm bài văn, bài thơ

1.2.1.1 Dấu chấm “.” là dấu ngắt câu đặt ở cuối câu trần thuật So với dấu phẩy, dấu chấm là chỗ có quãng ngắt tương đối dài hơn Ví dụ:

Ta vừa thấy bóng nàng trên cỏ biếc

Suối tóc dài êm chảy giữa dòng trăng

Ta vừa nghe giọng sầu bi tha thiết Của Chiêm nương gờn gợn sóng cung Hằng

(Mộng - Chế Lan Viên) 1.2.1.2 Dấu chấm hỏi “?” thường ở cuối câu hỏi (nghi vấn) Khi đọc, phải ngắt câu với ngữ điệu hỏi thường lên giọng ở cuối câu Ví dụ:

Hay im lặng chuyển mình trên máu đỏ?

Hay rừng xanh lăn nhẹ khối U Sầu?

(Chiến tượng - Chế Lan Viên) 1.2.1.3 Dấu chấm lửng hay còn gọi dấu ba chấm “ ” được dùng để biểu thị

sự ngắt quãng tạo ý châm biếm, mỉa mai, hoặc để chỉ ra rằng người nói chưa nói

hết Ví dụ:

Môi đầy hương tôi không dám ngậm cười, Hồn vội mớm cho tôi bao ánh sáng

(Hồn là ai - Hàn Mặc tử) 1.2.1.4 Dấu chấm phẩy “;” thường dùng trong câu phức hoặc câu đơn mở rộng, để phân chia các thành phần tương đẳng, có tính chất độc lập tương đối Đoạn ngừng do dấu chấm phẩy ký hiệu thường dài hơn so với dấu phẩy nhưng ngắn hơn

độ cảm xúc do câu gây ra Ví dụ:

Trang 21

Đứng lại dùm, tôi đã mỏi theo sau

Ôi! Nỡ nào suốt đời đuổi bắt nhau!

(Cầu khẩn - Huy Cận) 1.2.1.6 Dấu hai chấm “:” dùng trong các câu phức không liên từ hoặc câu đơn, để chỉ ra phần đứng sau nó là phần thuyết minh, giải thích, hoặc là nguyên

nhân của phần đứng trước Ví dụ:

Màu thiên thanh rời rợi, gió long lanh:

Hồn nhớ thương em dệt áo dâng anh

(Tình tự - Huy Cận) 1.2.1.7 Dấu phẩy “,” có tần số xuất hiện nhiều nhất trong thơ văn, được dùng

để tách các từ, cụm từ, các vế của câu ghép Ví dụ:

Ta ôm bó, cánh tay ta làm rắn, Làm dây da quấn quýt cả mình xuân,

(Xuân Diệu) Đối với nhịp điệu, tất cả các loại dấu câu trên đều góp phần quan trọng vào việc thể hiện sự nhịp nhàng của dòng chảy âm thanh trong đó dấu phẩy đặc biệt quan trọng vì nó nhiều khi xuất hiện không phải với chức năng phân cắt cấu trúc

câu mà là để biểu thị cảm xúc Ví dụ:

Em phải nói, phải nói, và phải nói:

Bằng lời riêng nơi cuối mắt, đầu mày, Bằng nét vui, bằng vẻ thẹn, chiều say, Bằng đầu ngả, bằng miệng cười, tay riết,

(Phải nói - Xuân Diệu) 1.2.1.8 Một đặc điểm rất quan trọng, khá phổ biến mà chúng tôi thấy được

khi tiếp xúc với các bài thơ trong phong trào Thơ mới, đó là những câu thơ không

dấu, tức là không có dấu ngắt câu Điều cần nhấn mạnh ở đây là đó không phải sự

“lãng quên” của tác giả Đó chính là những dụng ý, thậm chí có thể coi là những

sáng tạo của người viết, góp phần làm nên diện mạo mới lạ của Thơ mới Sau

những câu thơ không dấu, nhịp ngắt thường rất ngắn, câu thơ trên “quấn lấy” câu

thơ dưới, có khi là cả một chuỗi mấy câu thơ không dấu Nhờ biện pháp này mà các nhà Thơ mới thỏa sức trải lòng theo dòng cảm xúc mà không bị gò bó ép thơ lại theo khuôn phép nữa Ví dụ:

Trang 22

Ta để xiêm lên mây, rồi nhẹ bước Xuống dòng Ngân loà chói ánh hào quang Sao tán loạn đua bơi trên mặt nước

Tiếng lao xao dội thấu đến cung Hằng

Rồi trần truồng, ta nằm trên điện ngọc, Hai tay cuồng vơ níu áo muôn tiên Đầu gối lên hàng Thất tinh vừa mọc Hồn giạt trôi về đến nước non Chiêm

(Ngủ trong sao - Chế Lan Viên)

1.2.2 Ngừng/ ngắt nhịp

Như ta đã biết, yếu tố tạo nên nhịp điệu quan trọng nhất chính là những chỗ ngừng, chỗ ngắt trong sự phân bố mau thưa đa dạng của chúng, là độ dài, ngắn khác nhau của các quãng nghỉ hơi sau mỗi khổ thơ, đoạn thơ Chỗ ngừng hay ngắt của nhịp điệu là khoảng lặng của dòng âm thanh, vừa là dấu hiệu kết thúc một nhịp vừa

là dấu hiệu bắt đầu nhịp tiếp theo Ngoài ra chúng còn làm nhiệm vụ chia tách và liên kết các nhịp

Thời lượng một điểm ngừng/ ngắt của nhịp điệu nói chung chỉ có tính tương đối Thường thì sau một cụm từ là khoảng ngừng ngắn, sau một câu thì ngừng vừa

và sau một đoạn thì ngừng lâu

Trong thơ, sự phân dòng, chia khổ là yếu tố cơ bản để đánh dấu chỗ ngừng/ ngắt của nhịp điệu Một câu thơ cũng có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau tùy thuộc vào cách ngắt nhịp Những trạng thái, cung bậc tình cảm có sự biến thiên tương ứng với cách ngắt nhịp

Có thể quy ước dùng những ký hiệu sau đây để đánh dấu chỗ ngừng của nhịp điệu:

- Ngừng ngắn: một vạch chéo (/)

- Ngừng vừa: hai vạch chéo song song (//)

- Ngừng lâu hoặc ngừng hẳn văn bản: ba vạch chéo song song (///)

1.2.3 Trường độ

Trường độ của nhịp điệu chính là độ dài/ ngắn của các nhịp Cơ sở để xác định trường độ của nhịp điệu chính là số lượng âm tiết (số tiếng) của nhịp

Trang 23

Sự luân phiên các nhịp dài/ ngắn sẽ tạo thành chu kỳ của nhịp điệu Ở mỗi thể loại văn thơ có sự biểu hiện riêng về nhịp điệu Có chu kỳ ngắn hoặc dài, đều đặn duy trì ổn định từ đầu đến cuối tác phẩm nhưng cũng có những chu kỳ không đều đặn, cách quãng, các nhịp ngắn dài đan xen

Trong thơ, chu kỳ nhịp điệu xuất hiện ở một số biến thể của các sáng tác mang đậm dấu ấn phong cách của nhà thơ, thường thấy trong thể thơ tự do Nhiều bài thơ tự do có các nhịp đang dàn trải đều đặn với 4 tiếng thì đột nhiên cảm xúc dâng tràn tới 8, 9 tiếng, tạo ra những biến nhịp độc đáo Ví dụ:

Tôi gò mây lại,/

Tôi kìm sao bay.//

Gió nào tràn ngập xứ này,/

Và tràn ngập cả những ngày xa xôi.//

Không trào nước mắt không thê thảm,/

Tôi dọa không gian, rủa tới cùng.///

(Chơi trên trăng - Hàn Mặc Tử)

1.2.4 Cao độ

Cao độ của nhịp điệu chính là độ cao/ thấp hay tính chất bổng/ trầm, lên giọng/ xuống giọng của nhịp điệu Nó được xác định chủ yếu ở tính chất âm vực của thanh điệu, đặc tính của nguyên âm chính trong âm tiết và ngữ điệu của câu

- Các thanh có âm vực cao: không dấu, ngã, sắc

- Các thanh có âm vực thấp: huyền, hỏi, nặng

- Các nguyên âm bổng: i, iê, ê, e

- Các nguyên âm trầm: u, uô, ô, o

- Các nguyên âm có âm sắc trung hòa: ư, ươ, ơ, a, ă, â

- Ngữ điệu đi xuống (xuống giọng) dùng trong câu tường thuật, câu cầu khiến với lời đề nghị nhẹ nhàng

- Ngữ điệu đi lên (lên giọng) thường dùng trong các câu hỏi, câu cảm thán, câu mệnh lệnh có yêu cầu mạnh Ví dụ:

Ta ôm bó,/ cánh tay ra làm rắn,//

Làm dây da quấn quýt cả mình xuân.//

Không muốn đi,/ mãi mãi ở vườn trần,//

Chân hóa rễ để hút mùa dưới đất.///

(Xuân Diệu)

Hàng loạt âm tiết mang thanh điệu cao “bó, rắn, da, quýt, xuân, đi, hút, đất” tạo

nên nhịp điệu hối hả, cuống quýt, thể hiện ước muốn của nhà thơ ngày càng tăng cao

Trang 24

1.2.5 Tốc độ

Tốc độ là độ nhanh/ chậm của nhịp điệu Nó được xác định bởi số lượng âm tiết phát ra trong một đơn vị thời gian nhất định của mỗi nhịp Độ dài của nhịp trong nhịp điệu cũng chi phối tốc độ phát âm Ở những bài có nhịp ngắn - dài xen kẽ, thì những nhịp ngắn được nén lại và được phát âm với tốc độ nhanh, gấp gáp hơn, nhất

là trong những trường hợp điệp cú pháp, hoặc những trường hợp có tính chất liệt kê

- Tốc độ nhanh (kí hiệu là w ở đầu nhịp) Ví dụ:

w Hãy sát đôi đầu!/ Hãy kề đôi ngực!/

Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài!/

Những cánh tay!/ Hãy quấn riết đôi vai!/

Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt!/

Hãy khăng khít những cặp môi gắn chặt/

Cho anh nghe đôi hàm ngọc của răng;/

Trong say sưa anh sẽ bảo em rằng:/

“Gần thêm nữa!/ Thế vẫn còn xa lắm!”///

(Xa cách - Xuân Diệu) Nhịp điệu đoạn thơ trên được biểu hiện rất rõ nét ở cường độ và tốc độ âm

thanh Hàng loạt điệp từ “hãy” được nhắc đi nhắc lại với một tốc độ nhanh, cường

độ cảm xúc mạnh, gấp gáp gắn liền với các động từ thể hiện cảm giác mạnh “sát,

kề, trộn, quấn, riết, gắn, dâng” để thể hiện khát vọng được hòa quyện của những

người yêu nhau một cách cuống quýt và cuồng nhiệt

- Tốc độ chậm (dấu chấm giãn nhịp ở đầu nhịp) Ví dụ:

Trăng nhập vào giây cung nguyệt lạnh,//

Trăng thương,/ trăng nhớ,/ hỡi trăng ngần.//

Đàn buồn,/ đàn lạnh,/ ôi đàn chậm!//

Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.///

(Nguyệt cầm – Xuân Diệu) Nhịp điệu của bài thơ chậm rãi với hàng loạt âm tiết trầm, thể hiện tâm trạng

buồn “nhập, nguyệt, lạnh, ngần, buồn, chậm, giọt, tàn” Từng nhịp đàn buồn, cô

đơn rơi từng nhịp khắc khoải trong đêm lạnh, hòa điệu với nỗi nhung nhớ giăng mắc khắp màn đêm

Trang 25

- Các phụ âm cuối tắc nổ như - p, - t, -k (c, ch) có cường độ mạnh thường tạo nên những âm tiết mạnh Các bán âm cuối: - u, - i và các phụ âm vang mũi như - m,

- n, - ng (- nh) có cường độ nhẹ thường tạo nên những âm tiết nhẹ

- Các thanh điệu có đường nét bằng phẳng (thanh bằng) có cường độ yếu thường tạo nên những âm nhẹ Các thanh điệu có đường nét không bằng phẳng (thanh trắc) có cường độ mạnh thường tạo nên những âm mạnh

Tính chất mạnh/ yếu của nhịp thường được quy định ở những âm đầu nhịp, giữa nhịp, cuối nhịp, âm mang vần, nhưng rõ nhất là những âm cuối nhịp và những

âm mang vần Ví dụ:

Hôm nay,/ trời nhẹ lên cao,/

Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn //

Lá hồng rơi lặng ngõ thuôn,/

Sương trinh rơi kín tự nguồn yêu thương.///

(Chiều - Xuân Diệu)

Ở cả bốn câu thơ, nhịp đều dừng ở những âm tiết mang thanh bằng “nay,

cao, buồn, sao, hồng, thuôn, trinh, thương” kết hợp với những âm vang, tạo nên

nhịp điệu nhẹ nhàng bay bổng như chính tâm hồn của tác giả

1.2.7 Điểm nhấn

Điểm nhấn của nhịp điệu chính là âm tiết được dằn mạnh khi phát âm (âm tiết mang nhịp đập) Đối lập với nó là những âm tiết không được nhấn mạnh (điểm lướt) đây là những âm tiết không mang trọng âm (âm tiết yếu) và nhờ chúng mà những âm nhấn mạnh được nổi bật Ví dụ:

Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu/

Đợi gió đông về để lả lơi/

Ánh nắng/ lao xao/ trên đọt tre//

Tiếng ca/ lanh lảnh/ trong vườn me//

Tiếng ca im bặt.// Rồi thấp thoáng/

Vạt áo màu nâu hiện trước hè.///

(Quả dưa - Hàn Mặc Tử)

Trang 26

1.2.8 Đường nét

Đường nét của nhịp điệu chính là tính chất bằng phẳng hay không bằng phẳng của nhịp điệu Nó được tạo bởi sự phối hợp âm điệu của các thanh và ngữ điệu lên/ xuống giữa các nhịp

- Các thanh trắc có đường nét không bằng phẳng Do đó sự phối hợp các âm tiết mang thanh trắc thường tạo nên một nhịp điệu trúc trắc, không bằng phẳng

- Các thanh bằng có đường nét bằng phẳng Do đó sự phối hợp các âm tiết mang thanh bằng thường tạo nên nhịp điệu bằng phẳng, mượt mà Ví dụ:

Sương nương theo trăng ngừng lưng trời, Tương tư nâng lòng lên chơi vơi

(Nhị hồ - Xuân Diệu)

1.2.9 Hiệp vần (hòa âm)

Hiệp vần là một trong những cách có tác dụng nhấn mạnh sự ngừng nhịp và tăng sức gợi cảm Ví dụ:

Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;//

Mênh mông không một chuyến đò ngang.//

Không cầu gợi chút niềm thân mật,//

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.///

(Tràng giang - Huy Cận)

Ở điểm này Mai Ngọc Chừ cũng có một phát hiện rất thú vị: “Do ở thơ tự

do, số lượng âm tiết trong từng dòng thường không cố định, đơn vị nhịp điệu có thể dài ngắn khác nhau, người ta không thể ngừng nhịp theo mô hình sẵn có, khi ấy nhiều trường hợp, vần trở thành một tiêu chí quan trọng giúp người ta ngừng nhịp đúng chỗ” [17, tr.30]

1.2.10 Phối hợp thanh điệu (hòa thanh)

Giàu thanh điệu chính là một đặc trưng của tiếng Việt, vì vậy trong ngôn ngữ văn chương, người ta rất chú ý đến việc phối thanh Sự luân phiên bằng - trắc, bổng

- trầm, đối lập hay không đối lập thanh điệu ở những vị trí nhất định trong câu thơ, câu văn sẽ góp phần quan trọng vào việc tạo nên nhịp điệu

Những thể thơ cổ như Thất ngôn Đường luật và Lục bát thường có quy tắc về

sự đối nhau của thanh điệu Chẳng hạn, thể thơ Lục bát mỗi cặp Lục bát chính thể ngắt nhịp 2/2/2 và 2/2/2/2 thì trong câu lục, nhịp thứ nhất kết thúc bằng thanh bằng, nhịp thứ hai kết thúc bằng thanh trắc, nhịp thứ ba kết thúc bằng thanh bằng Trong câu bát, nhịp thứ nhất kết thúc bằng thanh bằng, nhịp thứ hai kết thúc bằng thanh

Trang 27

trắc, nhịp thứ ba kết thúc bằng thanh bằng, nhịp thứ tư kết thúc bằng thanh bằng nhưng đối lập về âm vực so với thanh bằng kết thúc nhịp ba Ví dụ:

Đầu lòng (B)/ hai ả (T)/ tố nga (B).//

Thúy Kiều (B)/ là chị (T)/ em là (B)- âm vực thấp/ Thúy Vân (B)- âm vực cao.//

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

1.3 Các yếu tố chi phối nhịp điệu

Mỗi nhịp điệu được dùng trong câu thơ hay câu văn đều có dụng ý Nó chịu sự chi phối, ảnh hưởng của nhiều yếu tố liên quan Ngoài yếu tố khách quan trong chính văn bản là hệ thống vần luật còn chịu sự chi phối chủ quan của tình cảm tác giả

1.3.1 Yếu tố tâm - sinh lý

Tác phẩm văn học là sản phẩm sáng tạo nghệ thuật của một người nghệ sỹ cụ thể hướng tới những độc giả cụ thể Do đó, các nhân tố cấu thành tác phẩm đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của yếu tố tâm - sinh lý của người sáng tác và người tiếp nhận Nhân tố nhịp điệu cũng không nằm ngoài quy luật đó Theo Nguyễn Thế Lịch

thì “Đời có nhịp mà hồn cũng có nhịp Sự lựa chọn nhịp thơ tùy thuộc nhịp điệu

cuộc sống được thơ miêu tả và nhịp cảm xúc, điệu tâm hồn của nhà thơ Cuộc đời

và tâm hồn đều là những thế giới vô cùng vô tận, là những sinh thể mà nhịp đập của

nó vừa ổn định lại cũng rất biến hóa Nhịp thơ chính là bản điện đồ nhịp sống và nhịp tâm hồn Bằng phương tiện riêng của mình là âm tiết với các thanh điệu nhịp thơ tiếng Việt phản ánh hai loại nhịp hết sức sống động kia Chính sự phản ánh này khiến cho tính tương đối ổn định của nhịp trong từng thể loại thơ dễ bị phá vỡ, câu thơ thường xuyên chuyển đổi nhịp” [59]

Theo kết quả khảo sát của Bùi Công Hùng, người lớn khi vui vẻ thở 17 nhịp trong một phút còn khi buồn nản chỉ thở 9 nhịp trong một phút [42] Điều này giúp chúng ta lý giải vì sao nhà thơ khi diễn tả tâm trạng vui, phấn chấn thường có các nhịp ngắn, nhanh, mạnh, gấp gáp còn khi diễn tả tâm trạng buồn thương lại có nhịp điệu dài, triền miên Ví dụ:

w Trời xanh đây là của chúng ta/

Những cánh rừng thơm mát/

Trang 28

Nước chúng ta/

Đêm đêm/ rì rầm trong tiếng đất//

(Đất nước - Nguyễn Đình Thi) Nhịp thơ và nhịp tâm trạng tác giả đã hòa quyện làm một trong cảm xúc tự

do và gợi nhớ Hàng loạt âm tiết cao “ta, mát, bát ngát, sa” kết thúc dòng thơ thể

hiện niềm sung sướng tột cùng của người được làm chủ đất nước Ở đây nhịp điệu thơ có trường độ ngắn, cường độ mạnh, tốc độ nhanh Chuyển sang những câu thơ viết về hồi ức, hồi tưởng những thế hệ cha anh đi trước với niềm tự hào thì nhịp điệu chậm rãi, trải dài ra, đưa lòng người về cõi nhớ

1.3.2 Yếu tố nội dung, cảm xúc, hình tượng nghệ thuật của tác phẩm

Như ta đã biết, một tác phẩm nghệ thuật bao giờ cũng phải có sự thống nhất cao giữa nội dung và hình thức Chính vì thế các yếu tố nội dung, cảm xúc, hình tượng nghệ thuật có mối quan hệ qua lại và tác động đến việc tổ chức nhịp điệu của thơ văn Chẳng hạn để thể hiện cảm xúc buồn, nhà văn không thể sử dụng nhịp điệu nhanh, gấp gáp với những âm tiết cao được Ngược lại khi ngắt một nhịp người ta

cũng chịu ảnh hưởng của nội dung ý nghĩa Theo Nguyễn Thế Lịch thì “Nói đến

nghĩa trước hết là nghĩa từ Từ là đơn vị hai mặt (âm và nghĩa) trong khi âm tiết chỉ

có mặt âm Trong các đơn vị ngôn ngữ, bắt đầu từ từ trở lên là những đơn vị mang nghĩa Việc ngắt nhịp thể hiện cách hiểu của người cảm thụ, người phân tích Có cách ngắt nhịp khiến câu thơ vô nghĩa Đã không có nghĩa thì rõ ràng đó không phải là cách ngắt nhịp đáng có, tuy vậy trường hợp này cũng không phải là hiếm ngặp trong thơ Có cách ngắt nhịp dẫn tới một nghĩa khác, nghĩa là với cùng một câu thơ có thể có không phải chỉ một cách ngắt nhịp nhưng ngắt nhịp theo cách nào còn tùy thuộc ý nghĩa tạo ra có liên quan với những câu khác như thế nào, tức là phải bảo đảm sự liền mạch về ý tứ, cảm xúc Không loại trừ trường hợp có nhiều cách ngắt nhịp dẫn tới những ý nghĩa khác nhau mà văn lý vẫn thông, thậm chí có ý nghĩa rất thú vị mà chính tác giả cũng không ngờ tới” [59]

Đây chính là lý do để trả lời cho câu hỏi tại sao các nhà Thơ mới lại tìm đến thể thơ Tự do Thể thơ Tự do với những nhịp điệu tự do mới nói hết được cảm xúc, hình tượng mà tác giả muốn thể hiện

1.3.3 Yếu tố vần

Giữa nhiều yếu tố đảm bảo sự liên kết trong kết cấu văn bản , vần và nhịp thường vẫn được xem là hai yếu tố cơ bản nhất Khi nói về nhịp chúng ta không thể

Trang 29

không nói về vần Ngược la ̣i, điểm xuất phát của vần cũng bi ̣ ràng buô ̣c bở i cấu trúc nhịp Vần và nhịp ta ̣o điều kiê ̣n tồn ta ̣i cho nhau vì chúng đều có nguồn cội từ mối quan hê ̣ giữa thi ca và sự vật

Vần không chỉ có chức năng tổ chức , liên kết mà còn có chức năng phân giới Vần ta ̣o nên những chỗ ngừng và từ đó ta ̣o nên các nhi ̣p cho mô ̣t văn bản Nhịp là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên tiết tấu, giai điệu âm hưởng cho câu thơ, có giá trị góp phần khu biệt thi ca với văn xuôi Một câu thơ có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau, tuỳ thuộc vào cách ngắt nhịp Những trạng thái, cung bậc tình cảm có sự biến thiên tương ứng với cách ngắt nhịp trong câu thơ

Giáo sư Mai Ngọc Chừ đã đi tới một phổ quát cao hơn, khi ông cho

rằng.“Vần là sự hoà âm, cộng hưởng nhau theo những quy luật ngữ âm nhất định

giữa hai từ hoặc hai âm tiết ở trong hay cuối dòng thơ và thực hiện những chức năng nhất định như liên kết các dòng thơ, gợi tả, nhấn mạnh sự ngừng nhịp” [16,

tr.12] Theo định nghĩa này, đơn vị hiệp vần có thể là từ (như trong thơ ca Nga - Xô viết) hoặc âm tiết (thơ ca Trung Quốc, Việt Nam)

Vần và nhịp tuy là hai hiện tượng khác nhau nhưng lại có mối quan hệ khăng khít với nhau Nhịp là tiền đề của vần nhưng một chiều khác chính vần cũng có sự tác động trở lại nhịp Nói cách khác, trong nhiều trường hợp, vần có chức năng nhấn mạnh

sự ngừng nhịp Vần không chỉ có chức năng tổ chức, liên kết các dòng thơ lại thành khổ, thành đoạn mà còn có chức năng phân cách ranh giới giữa các dòng, nhấn mạnh nhịp Vần là tín hiệu cuối cùng, điểm ngừng, điểm ngắt nhịp dòng thơ [18, tr.30]

Trong thơ ca Việt Nam, đồng thời với vần chân ở cuối dòng còn có vần lưng

ở trong dòng thơ Kiểu vần này có quan hệ với sự ngừng nhịp ở trong dòng Đối với những âm tiết đóng vai trò vần lưng ở cuối đoạn tiết tấu thì tác dụng làm rõ, làm đậm chỗ ngừng, tác dụng nhấn mạnh sự ngừng nhịp của chúng rất hiển nhiên như những âm tiết đóng vai trò vần chân

Có thể nói nhịp giữ vai trò rất quan trọng trong việc biểu hiện và cảm thụ thi

ca, là nhựa sống tạo nên chất nhạc trong thơ Thơ mới và thơ ca cách mạng đã có những đóng góp lớn trong cách tân về nhịp nhằm đáp ứng những cảm xúc mới trước hiện thực mới của các thi nhân

1.4 Một số kiểu tổ chức nhịp điệu tiêu biểu

Từ tính chất nhịp điệu của các mô hình thể loại, luận văn xin tham khảo và dẫn theo [13] đưa ra một số kiểu tổ chức nhịp điệu tiêu biểu phổ biến trong thơ văn Việt Nam: nhịp điệu đối xứng, nhịp điệu trùng điệp, nhịp điệu đồng đều, nhịp điệu

tự do

Trang 30

1.4.1 Nhịp điệu đối xứng

Nhịp điệu đối xứng là kiểu nhịp điệu có sự cân xứng, ứng đối nhau Cụ thể là nhịp trước hô ứng với nhịp sau, giống nhau về cách ngắt nhịp, cân bằng về số tiếng, đối xứng về thanh điệu Đây là cách tổ chức nhịp điệu dựa trên mô hình đối xứng

Nó đi liền với các phép đối ngữ, song song

Đặc điểm nổi bật của nhịp điệu đối xứng là sự tổ chức nhịp điệu thành từng cặp có các vế đối xứng nhau về sự ngắt nhịp, số tiếng, thanh điệu, khả năng hiệp vần hoặc không hiệp vần Ví dụ:

Khôn nhà (B)/ dại chợ (T)/// (Tục ngữ) Giỏ nhà ai (B)/ quai nhà nấy (T)/// (Tục ngữ) 1.4.2 Nhịp điệu trùng điệp

Nhịp điệu trùng điệp là kiểu nhịp điệu có sự lặp, trùng nhiều lần một yếu tố hay một dáng điệu, đường nét âm thanh nào đó Chẳng hạn: các nhịp lặp, trùng nhau về âm tiết, hoặc cao độ, hoặc điểm nhấn, hoặc thanh điệu, Đây là cách tổ chức nhịp điệu dựa trên sự trùng lặp, nó đi liền với các phép điệp từ, điệp ngữ, điệp kiểu câu, phép liệt kê Ví dụ:

Con vỏi con voi Cái vòi đi trước Hai chân trước đi trước Hai chân sau đi sau Còn cái đuôi đi sau rốt Tôi xin kể nốt

Cái chuyện con voi Hai chân trước đi trước

(Đồng dao)

1.4.3 Nhịp điệu đồng đều

Nhịp điệu đồng đều là cách gọi tạm thời để chỉ kiểu tổ chức nhịp điệu có sự thống nhất theo một khuôn hình chung nhất định để tạo thành chuỗi nhịp đồng đều nhau, tương đương, ngang bằng nhau về số tiếng và có sự phân bố hài hòa, đều đặn

về vần, thanh điệu Ví dụ:

Hạnh phúc rất đơn sơ (B);/

Nhịp đời đi chậm rải (T) /

Mái nhà yên bóng trưa (B);/

(Hối hận - Huy Cận)

Trang 31

Kiểu tổ chức nhịp điệu này gắn liền với mô hình nhịp điệu của các thể thơ, tức là mỗi thể thơ có một cách tổ chức nhịp điệu đồng đều đặc trưng, theo những khung nhịp đã được ấn định Chẳng hạn, thơ Lục bát có khung nhịp đặc trưng là mỗi cặp 6 tiếng/ 8 tiếng và cách ngắt nhịp đôi: 2/2/2 và 2/2/2/2 Thanh điệu kết thúc các nhịp là: B/ T/ B và B/ T/ B/ B

1.4.4 Nhịp điệu tự do

Nhịp điệu tự do là kiểu nhịp điệu không nhất thiết phải gò theo một khuôn hình nhịp điệu nhất định nào, không bị cô vào các thế đối xứng, không có sự duy trì

âm nòng cốt, không bị ấn định về nhịp, vần, thanh

Kiểu tổ chức nhịp điệu tự do rất linh hoạt, sáng tạo Đây là kiểu nhịp điệu đặc trưng của thơ văn hiện đại Và đây chính là một kiểu tổ chức câu thơ đặc trưng trong phong trào Thơ mới Ví dụ:

Khát khao trăng gió mà không hay///!

Ta đi bắt nắng ngừng/, nắng reo/, nắng cháy//

Trên sóng cành/, - sóng áo cô gì má đỏ hây hây///

Ta rình nghe niềm ý bâng khuâng trong gió lảng,/

Với là hơi thở nồng nàn của tuổi thơ ngây///

(Ngủ với trăng - Hàn Mặc Tử)

TIỂU KẾT

Là nghệ thuật thời gian, cũng như âm nhạc, văn học nói chung bao giờ cũng quan tâm tới vấn đề nhịp Nếu không có nhịp , người ta không thể cảm nhâ ̣n đúng được nội dung mà chuỗi âm thanh đang chuyên chở Nhờ nhịp gắn liền với những chỗ ngừng, chỗ ngắt được phân bố hợp lý căn cứ vào quy luật tổ chức nội dung ý nghĩa của ngôn từ và khả năng chú ý, theo dõi cũng như nhịp thở tuỳ trạng thái cảm xúc của độc giả mà chuỗi ngôn từ bất định kia được cấu trúc, trở thành tác phẩm nghệ thuật, có khả năng gây xúc động và đưa lại những cảm xúc và những nhận thức mới về cuộc sống

Cùng với vần và thanh điệu, nhịp góp phần tạo nên giai điệu, nhạc tính cho câu thơ Mỗi cách ngắt nhịp khác nhau, câu thơ sẽ có cách hiểu tương ứng Nhịp

Trang 32

hành quân dồn dập, nhịp tâm trạng buồn bã, nhịp xúc cảm khi mênh mang, khi dồn nén, lúc vui nhộn nhịp, lúc não ruột tràn trề đều được in dấu qua các cách ngắt nhịp, qua nhịp

Nhịp điệu gồm hai yếu tố cấu thành là nhịp và điệu Nhịp là những khoảng đều đặn được nối tiếp và lặp lại nhiều lần theo một chu kỳ nhất định của một hiện tượng ngôn ngữ nào đó trong tác phẩm Mỗi một nhịp được đánh dấu ở chỗ tách rời

và luân phiên giữa hai khoảng cân bằng của hiện tượng Điệu là đường nét chuyển động hay tính chất của nhịp Điệu làm nên dáng vẻ, sắc thái riêng của nhịp điệu Nhịp điệu bao gồm các nhịp có quan hệ với nhau trong một thể thống nhất, nối tiếp nhau tạo thành mạch lưu chuyển, vận động nhịp nhàng

Để nhận diện và miêu tả nhịp điệu trong ngôn ngữ thơ văn Việt Nam, có thể dựa trên 10 tiêu chí đối lập là: dấu câu, ngừng nhịp - không ngừng nhịp, độ dài - ngắn, độ cao - thấp, độ mạnh - yếu, độ nhanh - chậm, điểm nhấn - lướt, đường nét bằng phẳng - không bằng phẳng, hiệp vần - không hiệp vần, hài thanh - độc thanh

Việc tổ chức nhịp điệu trong mỗi tác phẩm chịu nhiều yếu tố chi phối ngoài ý chủ quan của tác giả Theo tìm hiểu của chúng tôi nhịp điệu chịu sự chi phối của các yếu tố sau: yếu tố tâm sinh lý của người sáng tác và người tiếp nhận, yếu tố nội dung, cảm xúc, hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm và đặc biệt là yếu tố vần

Thơ ca Việt Nam phong phú với nhiều thể loại khác nhau Mỗi thể loại lại có những cách tổ chức nhịp điệu đặc trưng riêng để làm nên dấu ấn cho tác phẩm Trong thơ văn Việt Nam có một số kiểu nhịp điệu tiêu biểu là: nhịp điệu đối xứng, nhịp điệu trùng điệp, nhịp điệu đồng đều, nhịp điệu tự do Nhịp điệu đối xứng là kiểu nhịp điệu

có sự cân xứng, giống nhau về cách ngắt nhịp, cân bằng về số tiếng, đối xứng về thanh điệu Nhịp điệu trùng điệp là kiểu nhịp điệu có sự lặp, trùng nhiều lần một yếu

tố hay một dáng điệu, đường nét âm thanh nào đó Đây là cách tổ chức nhịp điệu dựa trên sự trùng lặp, nó đi liền với các phép điệp từ, điệp ngữ, điệp kiểu câu, phép liệt kê Nhịp điệu đồng đều là cách gọi tạm thời để chỉ kiểu tổ chức nhịp điệu có sự thống nhất theo một khuôn hình chung nhất định để tạo thành chuỗi nhịp đồng đều nhau, tương đương, ngang bằng nhau về số tiếng và có sự phân bố hài hòa, đều đặn về vần, thanh điệu Nhịp điệu tự do là kiểu nhịp điệu không nhất thiết phải gò theo một khuôn hình nhịp điệu nhất định nào, không bị cô vào các thế đối xứng, không có sự duy trì âm nòng cốt, không bị ấn định về nhịp, vần, thanh mà chỉ cốt tạo ra sự cân đối, nhịp nhàng, hài hòa trong nhịp điệu bằng cách phối hợp các nhịp dài - ngắn xen

kẽ, hoặc hòa thanh, hòa âm giữa một số âm tiết trong các nhịp

Trang 33

Chương 2 NHỊP ĐIỆU TRONG THƠ MỚI

2.1 Các thể thơ và sự ngắt nhịp

Thuật ngữ “Thơ mới” không nhằm để chỉ một thể thơ xác định và duy nhất

nào như thơ Đường luật, thơ Lục bát, thơ Văn xuôi Từ xưa đến nay, câu thơ được hiểu là một dòng thơ, do đó trong luận văn này chúng tôi dùng khái niệm câu thơ với tư cách là dòng thơ

Thơ mới với những hình thức phổ biến được thể hiện trong 6 thể thơ: bốn âm tiết, năm âm tiết, bảy âm tiết, tám âm tiết, Lục bát và Tự do Thể thơ mà các tác giả

sử dụng góp phần quan trọng vào việc chế định, tạo “áp lực” cho việc hình thành

nhịp điệu thơ

Bảng 2.1 Số lượng các bài thơ của Xuân Diệu, Huy Cận,

Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên và các thể thơ

Dưới đây chúng tôi nêu khái quát đặc điểm của 6 thể thơ phổ biến mà các nhà Thơ mới sử dụng

a) Thể bốn âm tiết

Thể bốn âm tiết, trong thơ ca dân gian thường dùng trong vè dưới hình thức nói lối, kể chuyện Thơ bốn âm tiết trong Thơ mới thường không dùng vần lưng hoặc vần nối đuôi nhau của thể nói lối mà dùng vần chân hoặc vần gián cách, hoặc liên tiếp hoặc ôm nhau theo những cách hiệp vần phổ biến của Thơ mới Vì cấu trúc bốn âm tiết, câu thơ thường có nhịp điệu 2/2

Theo số liệu chúng tôi thống kê được thì số lượng các bài thơ thể bốn âm tiết của các tác giả như sau

Trang 34

Xuân Diệu: 2 bài (Thời gian, Tiếng không lời) Ví dụ:

Dưới thuyền/ nước trôi;//

Trên nước/ thuyền chuồi//

Và nước/, và thuyền//

Xuôi giòng/ đi xuôi.///

(Thời gian)

Hàn Mặc Tử: không có bài thơ nào thể 4 âm tiết

Chế Lan Viên: 2 bài (Chiều, Chiều tin tưởng)

b) Thể năm âm tiết

Thể năm âm tiết vốn đã có trong thơ ca dân gian (phổ biến là lối hát giặm Nghệ Tĩnh) và trong các loại thơ cổ phong và thơ Đường

Thể năm âm tiết của phong trào Thơ mới không cô đúc một cách gò bó như ngũ ngôn Đường luật, mạch thơ mở rộng hơn, tứ thơ bay bổng và tình ý thiết tha hơn Thanh điệu ở đây nhịp nhàng và lối diễn đạt nhuần nhị nhờ sự vận dụng nhiều vần bằng cũng như cách sắp xếp hài hòa giữa tiết tấu và thanh điệu

Câu thơ thường gồm 2 nhịp 3/2 hoặc 2/3, sử dụng những cách gieo vần chân theo lối vần liên tiếp và gián cách

Cũng có một hiện tượng đáng chú ý là do lối gieo vần mới của từng cặp một chéo nhau, ôm nhau hoặc gián cách nên nhiều bài thơ thường ngắt ra từng bốn câu một (từng khổ thơ bốn câu có dáng dấp như một bài ngũ ngôn tứ tuyệt) Nhưng khổ thơ đó vẫn gắn liền với hơi thở của toàn bài

Theo số liệu thống kê, số lượng các bài thơ thể năm âm tiết của 4 tác giả như sau:

Xuân Diệu: 5 bài (Chàng sầu, Viễn khách, Chiếc lá, Mười chữ, Chiều đợi

chờ) Ví dụ:

Trốn nỗi buồn/ vô cớ,// (T) Sao anh chẳng/ vui đi?// (B)

- Tôi ráng tìm/ hạnh phúc,// (T) Song chẳng biết/ nhờ chi./// (B)

Trang 35

Anh hãy là/ thi nhân //(B) Hát nỗi buồn/ vô cớ: //(T)

- Tôi không biết/ làm thơ.// (B) Thơ không làm/ bớt khổ ///(T)

(Chàng sầu)

Huy Cận: 5 bài (Hối hận, Tiễn đưa, Thu, Ê chề, Khung tình)

Hàn Mặc Tử: 7 bài (Tình quê, Nhớ nhung, Sáng trăng, Cao hứng, Điềm lạ,

Anh điên, Em điên)

Chế Lan Viên: không có bài thơ nào thể 5 âm tiết

c) Thể bảy âm tiết

Thể bảy âm tiết còn gọi là thất ngôn là thể thơ được sử dụng khá phổ biến trong phong trào Thơ mới

Những bài thơ thất ngôn dài ngắn không hạn định về số câu song thường tập hợp lại thành những khổ 4 câu

Hình thức bài thơ 4 khổ (16 câu) là hiện tượng khá phổ biến trong Thơ mới thất ngôn Ngoài ra cũng có những bài thơ thất ngôn ba khổ (12 câu)

Lối ngắt nhịp chủ yếu là 4/3 và 2/2/3, thanh bằng sử dụng nhiều hơn thanh trắc nên câu thơ mềm mại và uyển chuyển

Theo số liệu chúng tôi thống kê được thì số lượng các bài thơ thể bảy âm tiết của 4 tác giả như sau:

Xuân Diệu: 47 bài (Nụ cười xuân, Vì sao, Nguyên đán, Trăng, Huyền diệu,

Gặp gỡ, Đơn sơ, Giờ tàn, Thu, Ngẩn ngơ, Nguyệt cầm )

Huy Cận: 19 bài (Buồn, Xuân, Học sinh, Em về nhà, Tràng giang, Vạn lý

tình, Gánh xiếc, Dấu chân trên đường, Nhớ hờ, Hồn xa, Giấc ngủ chiều, Ngủ chung, Song song )

Hàn Mặc Tử: 35 bài thơ (Nụ cười, Gái quê, Tiếng vang, Bẽn lẽn, Tôi không

muốn gặp, Duyên muộn, Quả dưa, Trái mùa, Em lấy chồng, Một đêm nói chuyện gái quê )

Chế Lan Viên: 4 bài thơ (Đọc sách, Thu, Xuân, Mơ trăng) Ví dụ:

Chao ôi/! thu đã/ tới rồi sao?// (B) Thu trước/ vừa qua/ mới độ nào!// (B) Mới độ nào đây/, hoa rạn vỡ// (T) Nắng hồng/ choàng ấp/ dãy bàng cao./// (B) Cũng mới độ nào/ trong gió lộng//(T)

Trang 36

Nến lau bừng sáng/ núi lau xanh,// (B) Bướm vàng nhè nhẹ/ bay ngang bóng// (T) Những khóm tre cao/ rũ trước thành./// (B)

(Thu – Chế Lan Viên)

d) Thể thơ tám âm tiết

Thể thơ tám âm tiết có thể coi là một sáng tạo của phong trào Thơ mới Một

bộ phận quan trọng của Thơ mới được viết bằng thể thơ này Thể thơ không hạn định về số câu, chỉ có vần chân, gần như không có vần lưng Câu thơ tám âm tiết thường ngắt nhịp theo hai hay ba tiết tấu Sự nhịp nhàng vẫn được giữ vững trên cơ

sở quy luật cân đối giữa các âm tiết, các tiết tấu, các đoạn mạch Những yếu tố mới

đó làm cho thể thơ tám âm tiết có một đặc tính và khả năng diễn tả riêng

Tuy nhiên thực chất thì thể tám âm tiết vẫn bắt nguồn từ các thể thơ ca dân tộc và trực tiếp hơn là ở thể hát nói Thể thơ tám âm tiết phát triển từ thể hát nói, song có nhiều điểm khác với hát nói Cấu tạo của toàn bài thơ tám âm tiết không có

sự hạn định về số câu, số khổ thơ như bài hát nói, không có những thành phần như mưỡu đầu (là những câu thơ lục bát mượn trong ca dao hay thơ của người xưa hoặc

do chính tác giả làm ra đặt ở đầu bài hát nói), mưỡu cuối (đặt ở cuối bài trước câu kết thúc) và hai câu thơ theo cách luật riêng ở giữa bài Về cú pháp thơ ca, thể thơ tám âm tiết cũng có nhiều điểm mới trong vận dụng ngôn ngữ so với thể hát nói Đây là một thể thơ giàu tính sáng tạo của phong trào Thơ mới

Theo số liệu thống kê, số lượng các bài thơ thể tám âm tiết của 4 tác giả như sau:

Xuân Diệu: 37 bài (Cảm xúc, Yêu, Xa cách, Phải nói, Hẹn hò, Vội vàng, Biệt

ly êm ái, Tương tư chiều, Tiếng gió, Sắt, Ca tụng ) Ví dụ:

Là thi sĩ/, nghĩa là/ ru với gió//

Trang 37

Huy Cận: 16 bài (Trình bày, Thân thể, Cầu khẩn, Tình tự, Đi giữa đường

thơm, Vỗ về, Tựu trường, Họa điệu, Trò chuyện, Chết, Nhạc Sầu, Lời dịu, Quanh quẩn, Bi ca, Mai sau)

Hàn Mặc Tử: 20 bài (Thi sĩ chàm, Đàn Ngọc, Hãy nhập hồn em, Khói

hương tan, Đôi ta, Dấu tích, Trường tương tư, Hồn là ai, Biển hồn ta )

Chế Lan Viên: 36 bài (Cái sọ người, Những sợi tơ lòng, Mộng, Điệu nhạc

điên cuồng, Đừng quên lãng )

đ) Thể Lục bát

Ngoài các thể thơ ổn định và phổ biến như năm âm tiết, bảy âm tiết và tám

âm tiết, các thể Lục bát và song thất Lục bát cũng được nhiều nhà Thơ mới sử dụng

Về cấu trúc thể thơ thì thể Lục bát và song thất Lục bát vẫn ổn định Còn về cú pháp thơ ca thì ít nhiều có thay đổi cho phù hợp với nội dung và tình cảm mới

Nhịp điệu của câu thơ Lục bát được thể hiện hoàn chỉnh qua hai dòng thơ: sự kết hợp giữa hai loại vần chân và vần lưng và thường được gieo ở số từ chẵn đã tạo cho thể Lục bát một âm hưởng và một nhịp điệu riêng, đặc biệt là vần chân cũng như vần lưng bao giờ cũng hiệp vần với thanh bằng nên nhịp điệu chung của câu thơ Lục bát thường nhẹ nhàng, uyển chuyển và ngân vang Những bài Thơ mới đã khai thác triệt để đặc trưng này của nhịp điệu để diễn tả những nỗi buồn mơ hồ và kéo dài, những tình cảm bâng khuâng thương nhớ, vừa lơ lửng lại vừa quẩn quanh

Các nhà thơ thường vận dụng nhiều thanh bằng, ngắt dòng thơ theo nhịp chẵn và dùng nhiều từ láy hoặc sóng đôi để tạo cho bài thơ một nhịp điệu nhẹ nhàng, kéo dài một cách u uẩn hoặc thanh thoát

Trong thơ Lục bát cũng đã có hiện tượng bắc cầu, một số trường hợp câu thơ được ngắt nhịp linh hoạt hoặc có một ngữ điệu đặc biệt

Theo số liệu chúng tôi thống kê được thì số lượng các bài thơ thể Lục bát của

4 tác giả như sau:

Xuân Diệu: 7 bài thơ (Đi thuyền, Mùa thi, Chiều, Cặp hài vạn dặm, Bụi mưa

Cái bay/ không đợi/ cái trôi;// (B)

Từ tôi/ phút trước/, sang tôi (B)/ phút này ///

(Đi thuyền)

Trang 38

Các nhà Thơ mới đã khai thác những đặc trưng vốn có của thể loại Lục

bát để thể hiện những cảm xúc mới mẻ của mình Khuynh hướng “hiện đại hóa”

hòa quyện với khuynh hướng trở về với ca dao được vận dụng linh hoạt trong từng sáng tác

Huy Cận: 8 bài thơ (Buồn đêm mưa, Trông lên, Chiều xưa, Đẹp xưa, Thuyền

đi, Ngậm ngùi, Xuân ý, Thu rừng)

Hàn Mặc Tử: 2 bài thơ (Say nắng, Này đây lời ngọc song song)

Chế Lan Viên: không có bài thơ nào làm theo thể Lục bát

e) Thể thơ Tự do

Trong phong trào Thơ mới, thể thơ phổ biến nhất là từ 5 đến 8 âm tiết Những thể 9, 10 âm tiết trở lên rất hiếm Chúng tôi xếp những bài thơ có các câu dài câu ngắn từ 8 âm tiết trở lên hoặc ít hơn đan xen với nhau vào chung một thể thơ gọi là thể thơ Tự do Và đối với những bài thơ thuộc thể này thì thường quy luật về thanh điệu không được rõ ràng Sự phân nhịp dựa chủ yếu vào nội dung ý nghĩa của câu thơ

Theo số liệu chúng tôi thống kê được thì số lượng các bài thơ thể Tự do của

4 tác giả như sau:

Xuân Diệu: 2 bài (Hoa nở để mà tàn, Thở than)

Huy Cận: không có bài thơ nào thuộc thể tự do

Hàn Mặc Tử: 9 bài (Ngủ với trăng, Say trăng, rượt trăng, Trăng tự tử, Chơi

trên trăng, Một miệng trăng, Lang thang, Muôn năm sầu thảm, Say chết đêm nay)

Chế Lan Viên: 3 bài thơ (Ngủ trong sao, Mồ không, Chiến tượng)

2.2 Các phương thức tạo nhịp trong Thơ mới

Để tạo nhịp, các nhà thơ sử dụng nhiều phương thức khác nhau Nhưng điểm chung của các phương thức này là ở chỗ: sử dụng dấu câu như một dấu hiệu hình thức để chế định nhịp, mô hình luật bằng trắc như một giàn khung giăng mắc các dòng thơ vào những cấu trúc nhịp bài thơ theo những lối đi riêng

Ngoài ra phép lặp cũng là một trong những phương thức quan trọng để tạo

nên nhịp của các bài Thơ mới: lặp từ vựng; lặp cấu trúc ngữ đoạn (Lặp độ dài cấu

trúc đoản ngữ, độ dài cấu trúc đề - thuyết và độ dài cấu trúc chủ - vị); phép lặp

vòng trong phạm vi tổ chức một bài thơ

Hiện tượng vắt dòng (dòng thơ trên tràn xuống dòng thơ dưới); sử dụng các danh từ riêng ở những vị trí đặc biệt và danh từ, động từ, tính từ được viết hoa một

Trang 39

cách hữu ý trong câu thơ cũng là những phương thức vô cùng quan trọng góp phần hình thành nên những kiểu nhịp điệu riêng của Thơ mới

2.2.1 Dấu câu

Dấu câu, một phương tiện hình thức rất dễ nhận thấy khi tiếp xúc với bất kỳ một loại văn bản nào Nhìn vào dấu câu, người đọc dễ dàng ngắt nhịp đúng chỗ Đối với thơ, ngoài áp lực về luật thơ, hệ thống vần vốn là dấu hiệu hình thức nhận diện

ra nhịp điệu của câu thơ thì dấu câu là một dấu hiệu hình thức vô cùng quan trọng Sau mỗi dấu câu, ta có những khoảng ngừng ngắn, dài khác nhau và ngữ điệu cao, thấp cũng khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm từng loại dấu câu Và điểm ngắt ở mỗi dấu câu ấy chính là một tiết nhịp của câu thơ

Trong những tư liệu khảo sát, chúng tôi chỉ căn cứ vào dấu câu mà các tác giả sử dụng trong từng câu thơ để nhận diện ra nhịp điệu của từng câu thơ

a) Nhịp điệu hình thành dựa trên sự kết thúc bởi các dấu câu

Các nhà Thơ mới rất có ý thức về việc sử dụng dấu câu như một công cụ thuận lợi cho việc diễn đạt, và điều này hỗ trợ rất nhiều cho việc tiếp nhận ý nghĩa câu thơ Tuy nhiên, như chúng tôi đã nói ở chương trước, ở một số bài thơ, một số nhà Thơ mới đã “cố tình” không sử dụng dấu câu với một dụng ý nhất định Chúng tôi tạm gọi đó là những câu thơ không dấu

Dưới đây là bức tranh chung về việc sử dụng các dấu câu để kết thúc câu thơ

ở các nhà thơ đang được khảo sát

Bảng 2.2: Thống kê số lƣợng câu thơ kết thúc bởi các dấu câu

Dấu câu

Tác giả

Dấu phẩy

Dấu chấm phẩy

Dấu chấm

Dấu chấm than

Dấu hỏi

Dấu hai chấm

Dấu

ba chấm

Dấu ngạch ngang

Khôn

g dấu Xuân Diệu 609 266 628 185 68 48 105 3 305 Huy Cận 225 105 299 70 28 23 60 0 145 Hàn Mặc Tử 350 23 337 43 52 20 66 0 490 Chế Lan Viên 126 0 111 125 72 7 3 0 429 Tổng số 1.310 394 1.375 423 220 98 234 3 1.369

Tỷ lệ % 24.1 7.26 25.3 7.79 4.05 1.80 4.31 0.05 25.3

Việc sử dụng dấu câu kết thúc mỗi câu thơ góp phần quan trọng vào việc hình thành nhịp điệu câu thơ đó Như ta đã biết, nếu thấy dấu chấm tức là đã hết câu, nhịp sẽ chậm lại và dừng lâu, còn dấu phẩy thì báo hiệu câu chưa hết và dừng

Trang 40

nhanh, nhịp cũng sẽ nhanh lên Đôi khi, những dấu phẩy kết thúc câu liên tiếp sẽ khiến nhịp nhanh hối hả, ngược lại với những dấu ba chấm là nhịp đi hết sức chậm rãi, nặng nề, như suy tư

Theo thống kê, số lượng câu thơ kết thúc bởi dấu chấm (1.375 câu) và không dấu (1.369 câu) chiếm số lượng lớn nhất, đều là 25,3% Sau đó đến câu thơ kết thúc bằng dấu phẩy (1.310 câu) chiếm 24,1%, dấu chấm than (423 câu) chiếm 7,79% Thấp nhất là những câu thơ kết thúc bằng dấu gạch ngang (3 câu) chiếm 0,05%

Cần lưu ý rằng việc không dùng dấu câu ở cuối câu thơ không có nghĩa là không ngừng nhịp cuối câu Ngừng nhịp ở cuối câu thơ được coi là sự đương nhiên

của thơ Việt và của nhiều nền thơ trên thế giới Và chính vì sự “đương nhiên” ấy

mà nhiều khi người viết đã không dùng dấu câu Đây là một trong những lý do chính giải thích vì sao số lượng câu thơ không kết thúc bằng dấu câu lại chiếm tỷ lệ rất cao (25,3%)

b) Nhịp điệu hình thành dựa trên sự mở đầu của dấu câu gạch ngang

Bảng 2.3: Thống kê số lƣợng câu thơ mở đầu bởi dấu gạch ngang

Tác giả Xuân Diệu Huy Cận Hàn Mặc Tử Chế Lan Viên Dấu gạch ngang 33 16 12 4

Với chức năng của mình, dấu gạch ngang sử dụng đầu câu và nhịp điệu do

nó tạo ra thường mang tính chất liệt kê, nhấn mạnh, khẳng định, mạnh mẽ, quyết liệt Theo bảng thống kê, Xuân Diệu là nhà thơ sử dụng những câu thơ mở đầu bằng dấu gạch ngang nhiều nhất: 33 câu thơ chiếm 50,7%, còn Chế Lan Viên ít nhất: 4 câu thơ chiếm 6,15% Ví dụ:

- Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ

Mà vạn vật là muôn đá nam châm;

(Cảm xúc - Xuân Diệu)

Không biết nữa, thiên đường hay địa ngục;

- Quên, quên, quên đã mang trái tim người

(Trình bày - Huy Cận)

c) Nhịp điệu hình thành dựa trên sự cắt nhịp của dấu phẩy

Như ta đã biết, dấu phẩy có tần số xuất hiện nhiều nhất trong thơ văn Dấu phẩy được sử dụng để tách các từ, cụm từ, các vế của câu thơ, để phân các thành phần tương đẳng có trong một câu và phân các bộ phận nòng cốt hay không nòng cốt, các vế trong câu ghép

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Thị Anh (2005), Sự tiếp thu về mặt thi pháp của thơ mới đối với thơ đường, Nghiên cứu văn học, (Số 11), tr. 111-122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn học
Tác giả: Lê Thị Anh
Năm: 2005
2. Phạm Thị Kim Anh (2002), Hình thức ngôn ngữ và ý nghĩa biểu trưng của tín hiệu thẩm mỹ “liễu” trong thơ mới, Ngôn ngữ, (Số 7), tr.63-74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: liễu” trong thơ mới, "Ngôn ngữ
Tác giả: Phạm Thị Kim Anh
Năm: 2002
3. Diệp Quang Ban (1998), Ngữ pháp tiếng Việt tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt tập 2
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
4. Diệp Quang Ban (2002), Ngữ pháp truyện và một vài biểu hiện của tính mạch lạc trong truyện, Ngôn ngữ , (Số 10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ
Tác giả: Diệp Quang Ban
Năm: 2002
5. Diệp Quang Ban (2003), Giao tiếp, văn bản, mạch lạc, liên kết, đoạn văn, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp, văn bản, mạch lạc, liên kết, đoạn văn
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2003
6. Diệp Quang Ban (2005), Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản và liên kết trong tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
7. Diệp Quang Ban (2005), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
8. Nguyễn Đại Bằng (2001), Khuôn vần tiếng Việt và sự sáng tạo từ, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuôn vần tiếng Việt và sự sáng tạo từ
Tác giả: Nguyễn Đại Bằng
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2001
9. Trần Văn Bính, Hà Minh Đức, Nguyễn Xuân Nam (1973), Có sở lý luận văn học: loại thể văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Có sở lý luận văn học: loại thể văn học
Tác giả: Trần Văn Bính, Hà Minh Đức, Nguyễn Xuân Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1973
10. Đỗ Hữu Châu (2003), Đại cương ngôn ngữ học, ngữ dụng học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học, ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
11. Vũ Thị Sao Chi (2005), Một số vấn đề nhịp điệu trong ngôn ngữ thơ văn Việt Nam, Ngôn ngữ , (Số 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ
Tác giả: Vũ Thị Sao Chi
Năm: 2005
12. Vũ Thị Sao Chi (2004), Một số kiểu tổ chức nhịp điệu trong văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ngôn ngữ , (Số 9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ
Tác giả: Vũ Thị Sao Chi
Năm: 2004
13. Vũ Thị Sao Chi (2008), Nhịp điệu trong văn chính luận Hồ Chí Minh trên nền nhịp điệu thơ văn Việt Nam, Luận án tiến sỹ ngữ văn, Viện ngôn ngữ học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhịp điệu trong văn chính luận Hồ Chí Minh trên nền nhịp điệu thơ văn Việt Nam
Tác giả: Vũ Thị Sao Chi
Năm: 2008
14. Mai Ngọc Chừ (1984), Mấy suy nghĩ về nguyên tắc ngừng nhịp trong thơ ca Việt Nam, Ngôn ngữ, (Số 1), tr.5-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Năm: 1984
15. Mai Ngọc Chừ (1986), Tìm hiểu vần thơ Việt Nam, Luận án PTS, ĐHTH Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu vần thơ Việt Nam
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Năm: 1986
16. Mai Ngọc Chừ (1991), Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1991
17. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Ngọc Phiến (2001), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, tái bản lần thứ tư, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, tái bản lần thứ tư
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Ngọc Phiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
18. Mai Ngọc Chừ (2006), Tính nhạc trong thơ ca Việt Nam, Ngôn ngữ , (Số 5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Năm: 2006
19. Hoàng Cao Cương (1984), Nhận xét về một đặc điểm ngữ âm các từ láy đôi tiếng Việt, Ngôn ngữ, (Số 4), tr. 29-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ
Tác giả: Hoàng Cao Cương
Năm: 1984
20. Hoàng Cao Cương, Nguyễn Thu Hằng (1985), Thanh điệu trong từ láy đôi, Ngôn ngữ, (Số 4), tr. 17-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ
Tác giả: Hoàng Cao Cương, Nguyễn Thu Hằng
Năm: 1985

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Số lƣợng các bài thơ của Xuân Diệu, Huy Cận, - Nhịp điệu trong thơ mới (Khảo sát qua thơ Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên
Bảng 2.1. Số lƣợng các bài thơ của Xuân Diệu, Huy Cận, (Trang 33)
Bảng 2.2: Thống kê số lƣợng câu thơ kết thúc bởi các dấu câu - Nhịp điệu trong thơ mới (Khảo sát qua thơ Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên
Bảng 2.2 Thống kê số lƣợng câu thơ kết thúc bởi các dấu câu (Trang 39)
Bảng 2.4: Thống kê số lƣợng câu thơ có các tiết nhịp - Nhịp điệu trong thơ mới (Khảo sát qua thơ Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên
Bảng 2.4 Thống kê số lƣợng câu thơ có các tiết nhịp (Trang 41)
Hình thành bởi dấu hai chấm - Nhịp điệu trong thơ mới (Khảo sát qua thơ Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên
Hình th ành bởi dấu hai chấm (Trang 45)
Hình thành bởi dấu hỏi - Nhịp điệu trong thơ mới (Khảo sát qua thơ Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên
Hình th ành bởi dấu hỏi (Trang 46)
Bảng 2.9: Thống kê số lƣợng câu thơ có các tiết nhịp - Nhịp điệu trong thơ mới (Khảo sát qua thơ Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên
Bảng 2.9 Thống kê số lƣợng câu thơ có các tiết nhịp (Trang 48)
Bảng 2.10: Thống kê số lƣợng câu thơ có các tiết nhịp hình thành - Nhịp điệu trong thơ mới (Khảo sát qua thơ Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên
Bảng 2.10 Thống kê số lƣợng câu thơ có các tiết nhịp hình thành (Trang 49)
Hình thành bởi dấu ba chấm - Nhịp điệu trong thơ mới (Khảo sát qua thơ Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên
Hình th ành bởi dấu ba chấm (Trang 50)
Hình thành bởi sự kết hợp các dấu - Nhịp điệu trong thơ mới (Khảo sát qua thơ Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên
Hình th ành bởi sự kết hợp các dấu (Trang 51)
Bảng 2.13: Thống kê số lƣợng câu thơ có nhịp mở đầu và kết thúc - Nhịp điệu trong thơ mới (Khảo sát qua thơ Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên
Bảng 2.13 Thống kê số lƣợng câu thơ có nhịp mở đầu và kết thúc (Trang 53)
Bảng 2.18: Thống kê vị trí của danh từ riêng - Nhịp điệu trong thơ mới (Khảo sát qua thơ Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên
Bảng 2.18 Thống kê vị trí của danh từ riêng (Trang 59)
Bảng 2.19: Thống kê các từ viết hoa “bất thường” trong câu - Nhịp điệu trong thơ mới (Khảo sát qua thơ Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên
Bảng 2.19 Thống kê các từ viết hoa “bất thường” trong câu (Trang 60)
Bảng 2.20: Thống kê tần số xuất hiện của hiện tƣợng vắt dòng - Nhịp điệu trong thơ mới (Khảo sát qua thơ Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên
Bảng 2.20 Thống kê tần số xuất hiện của hiện tƣợng vắt dòng (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w