1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

biến đổi khí hậu và các ảnh hưởng

16 457 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biến đổi khí hậu và các ảnh hưởng
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên
Chuyên ngành Môi Trường
Thể loại bài luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Quảng Ngãi
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 585,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

trình bày về biến đổi khí hậu và các ảnh hưởng

Trang 1

CHƯƠNG IX BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ CÁC ẢNH HƯỞNG

9.1 Vấn đề phát thải khí nhà kính ở Quảng Ngãi

Khí nhà kính là những khí có khả năng hấp thụ các bức xạ sóng dài (hồng ngoại) được phản xạ từ bề mặt trái đất khi được chiếu sáng bằng ánh sáng mặt trời, sau đó phân tán nhiệt lại cho trái đất, gây nên hiệu ứng nhà kính Các khí nhà kính chủ yếu bao gồm: hơi nước, CO2, CH4, N2O, O3, các khí CFC

Tỷ lệ phần trăm các khí gây hiệu ứng nhà kính:

- CO2: 50%

- CFC: 20%

- CH4: 16%

- O3: 8%

- N2O: 6%

Tỷ lệ phần trăm các hoạt động của loài người đối với sự làm tăng nhiệt độ Trái Đất:

- Sử dụng năng lượng: 50%

- Công nghiệp: 24%

- Nông nghiệp: 13%

- Phá rừng: 14%

Theo kết quả kiểm kê khí nhà kính ở Việt Nam năm 1994, mức phát thải của chúng ta hiện vẫn còn rất thấp: 103 triệu tấn CO2 tương đương Tuy nhiên, trong xu

thế phát triển của đất nước, chắc chắn mức phát thải này sẽ còn tăng lên

Tại Quảng Ngãi, ngoài những lĩnh vực tiềm năng gây phát tán khí nhà kính như

sử dụng nhiên liệu hóa thạch trong công nghiệp, sử dụng nhiên liệu trong giao thông, phát tán khí mêtan (CH4) từ bãi rác và từ khai thác than, phá rừng… thì một lĩnh vực gây phát tán khí nhà kính cần đặc biệt quan tâm là từ các hồ chứa thủy lợi và thủy điện (có mật độ khá cao và đang gia tăng nhanh chóng)

Trong một thời gian dài trước đây, thủy điện được coi là nguồn năng lượng không phát thải Giờ đây, người ta biết rằng tất cả các phương án lựa chọn sản xuất năng lượng, trong chu kỳ sống của chúng, đều phát thải khí nhà kính, do quá trình xây dựng, vận hành và, đối với trường hợp nhiệt điện còn là do đốt nhiên liệu Mặc dù là nguồn năng lượng tái tạo, nhưng thủy điện có thể là nguồn phát thải khí nhà kính vì các hồ chứa thủy điện có thể phát thải cả cacbon điôxit (CO2) và mêtan (CH4), là hai loại khí nhà kính hàng đầu Tác động của methane tới nóng lên toàn cầu mạnh gấp 21 lần so với CO2 Mức độ phát thải thực tế này, như là một phần trong chu kỳ cacbon toàn cầu, còn chưa được đề cập một cách đầy đủ

Tất cả các hệ thống nước ngọt đều bốc ra khí nhà kính do sự phân hủy các chất hữu cơ Hồ, sông, cửa sông, đầm lầy, các vùng bị lũ lụt theo mùa và các hồ chứa đều phát thải khí nhà kính Trong một khu vực nhất định có cùng điều kiện sinh thái, hồ chứa và hệ thống nước tự nhiên tạo ra một mức phát thải như nhau tính theo một đơn

vị diện tích Trong một vài trường hợp, các khối nước tự nhiên và các hồ chứa nước ngọt hấp thụ nhiều khí nhà kính hơn là chúng thải ra

Hồ chứa nước ngọt là nơi thu gom các vật liệu đến từ toàn bộ lưu vực sông Như

là một phần của chu kỳ tự nhiên, chất hữu cơ được dồn vào nơi thu gom này từ các hệ

Trang 2

sinh thái trên cạn bao quanh Ngoài ra, chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp và ô nhiễm nông nghiệp cũng dồn vào hệ sinh thái này và phát thải khí nhà kính Khi ước tính lượng phát thải khí nhà kính nguồn gốc con người từ một hồ chứa, chỉ cần tính đến thay đổi ròng về lượng phát thải, bằng cách trừ đi lượng hấp thụ/phát thải tự nhiên

từ các vùng đất bị ngập, đầm lầy, sông và hồ nằm trong khu vực này trước khi ngăn nước, cũng như phát thải gây ra bởi hoạt động của con người ở xa trong lưu vực

9.2 Thiên tai

Là một tỉnh ven biển có địa hình đa dạng, phức tạp, hệ thống sông ngòi dày đặc, khí hậu thuộc vùng giao thoa giữa khí hậu Đại dương và khí hậu Lục địa, lại nằm gần một trong năm ổ bão lớn nhất thế giới vì vậy thiên tai, bão, lũ lụt, lũ quét, ngập úng, hạn hán, hỏa hoạn, sa mặc hoá, xâm nhập mặn, lốc, tố, sạt lở đất, nước biển dâng , là các hiện tượng tự nhiên thường xẩy ra hàng năm gây rất nhiều thiệt hại về người và tài sản cho nhân các địa phương trong tỉnh Theo cảnh báo của các nhà khoa học, động đất và sóng thần cũng là 02 loại thiên tai có thể xẩy ra, ảnh hưởng tới khu vực tỉnh Quảng Ngãi

Do ảnh hưởng của các yếu tố địa lý tự nhiên, địa hình, địa chất, khí hậu … hàng năm Quảng Ngãi thường bị thiên tai, bão, lụt gây nhiều thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản, các công trình hạ tầng cơ sở, môi trường sống Quảng Ngãi là tỉnh chịu thiệt hại về người vào hàng cao nhất cả nước (Hình 9.1)

9.2.1 Bão

Việt Nam nằm ở khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương là một trong những vùng bão với số lượng lớn và cường độ mạnh với xu thế ngày càng gia tăng, đặc biệt là trong 3 thập kỷ gần đây Bão là một trong những loại hình thiên tai chủ yếu và nguy hiểm ở Việt Nam, trong vòng hơn 50 năm (1954-2006) đã có 380 trận bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến Việt Nam, trong đó 31% đổ bộ vào Bắc Bộ, 36% đổ bộ vào Bắc và Trung Trung Bộ, 33% đổ bộ vào Nam Trung Bộ và Nam Bộ Bão vào thường gặp lúc triều cường nước biển dâng cao, kèm theo mưa lớn kéo dài, gây lũ lụt Có tới

80 - 90% dân số Việt Nam chịu ảnh hưởng của bão Hàng năm trong đoạn bờ biển từ Quảng Nam - Đà Nẵng đến Khánh Hòa trung bình có 1,04 cơn bão đổ bộ vào Bão là loại hình thời tiết nguy hiểm thường xuất hiện ở Quảng Ngãi từ tháng 9 đến tháng 11, khả năng tập trung vào tháng 9 là 20% tháng 10 khoảng 40% Theo Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, các tỉnh thành duyên hải Trung bộ (trong đó có Quảng Ngãi) thường xuyên gánh chịu khoảng 70% tổng số các cơn bão đổ bộ vào nước ta; trong đó,

có từ 60 - 65% số cơn bão có sức mạnh từ cấp 8 - cấp 12, gió bão thường đi kèm với triều cường ven biển nên hậu quả gây ra đối với môi trường và đời sống sản xuất của nhân dân là rất lớn, khôn lường

Trang 3

Hình 9.1 Tình hình thiệt hại do thiên tại tại các tỉnh Bảng 9.1 Tần suất bão đổ bộ vào các vùng bờ biển Việt Nam, 1961 - 2008

Vùng bờ biển T4 T5 T6 T7 T8 T9 T10 T11 T12

Quảng Ninh - Thanh Hóa 0.00 0.00 0.21 0.53 0.51 0.38 0.11 0.02 0.00 Nghệ An - Quảng Bình 0.00 0.00 0.02 0.09 0.23 0.32 0.23 0.00 0.00

Quảng Trị - Quảng Ngãi 0.00 0.04 0.09 0.02 0.13 0.36 0.21 0.06 0.02

Bình Định - Ninh Thuận 0.02 0.00 0.04 0.00 0.02 0.02 0.45 0.45 0.09 Bình Thuận - Cà Mau 0.00 0.00 0.02 0.00 0.00 0.00 0.09 0.17 0.00 Bắc Biển Đông 0.00 0.00 0.02 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00 Giữa Biển Đông 0.00 0.02 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00 0.02 0.00 Dọc Biển Đông 0.02 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00

Trang 4

Hình 9.2 Các cơn bão đổ bộ vào vùng biển Quảng Trị - Quảng Ngãi, 1961-2009

9.2.2 Lũ lụt

Lũ lụt là hiện tượng tự nhiên thường xuyên xẩy ra ở Quảng Ngãi Các sông từ Quảng Ngãi mùa lũ xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 12 Lũ chính vụ thường xẩy ra trong 2 tháng 10 và 11 Mùa mưa lũ chỉ kéo dài 4 tháng nhưng năm nhiều có thể có 5 -

6 đợt lũ, năm ít có tù 1-2 đợt lũ Đây là khu vực có hệ thống sông ngắn, dốc, lũ lên nhanh, xuống nhanh Các sông ở khu vực này có hệ thống đê ngăn lũ thấp hoặc chưa

có đê Nước lũ không chỉ chảy trong dòng chính mà còn chảy tràn qua đồng bằng, biên

độ dao động trên 8m

Lũ quét, lũ bùn đá thường xảy ra ở vùng đồi núi, nơi có độ dốc lớn, cường độ mưa lớn mà đường thoát nước bất lợi Lũ quét cũng có thể xảy ra do vỡ hồ chứa nhỏ, sạt lở đất lấp dòng chảy Lũ quét đã xảy ra và có nguy cơ xảy ra hầu khắp tại 33 tỉnh miền núi trong cả nước thuộc 4 vùng: vùng núi phía Bắc, Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ Do sự biến đổi của khí hậu trong những năm gần đây, lũ quét xuất hiện ngày càng nhiều ở nước ta, bình quân có từ 2 đến 4 trận lũ quét xảy ra trong mùa lũ hàng năm Có những nơi lũ quét xảy ra nhiều lần ở cùng một địa điểm Lũ quét thường phát sinh bất ngờ, xảy ra trong phạm vi hẹp nhưng rất khốc liệt và thường gây những tổn thất nghiêm trọng về người và của Các trận lũ quét điển hình như: trận lũ quét

Trang 5

ngày 27 tháng 7 năm 1991 tại thị xã Sơn La; trận năm 1994 tại Mường Lay, Lai Châu; trận lũ quét tại Hà Tĩnh ngày 20 tháng 9 năm 2002; trận lũ quét năm 2005 tại Yên Bái Lũ quét hiện chưa dự báo được nhưng có thể chủ động phòng tránh bằng cách khoanh vùng nhưng nơi có nguy cơ xảy ra lũ quét, xây dựng hệ thống cảnh báo

Giải pháp ứng phó: Để bảo vệ mùa màng, tính mạng, tài sản của nhân dân, giảm nhẹ thiệt hại do mưa lũ gây ra tỉnh đã áp dụng tổng hợp các biện pháp như: Nâng cao nhận thức và năng lực cộng đồng, Xây dựng các hồ điều tiết, xây dựng đê điều (đến nay đã đắp 157 km đê sông để ngăn lũ và 75 km đê biển để ngăn mặn) và công trình tiêu thoát lũ, trồng rừng phòng hộ, tổ chức lại sản xuất, quy hoạch các khu dân cư theo hướng thích nghi với tình hình lũ lụt ở địa phương Tuy nhiên, do hạn chế về kinh phí nên hệ thống đê còn nhiều bất cập và tiềm ẩn nhiều nguy cơ sự cố (hàng năm cứ có mưa lũ là có đê vỡ và hàng chục km khác bị sạt lở), các biện pháp khác đang được tiến hành chậm so với yêu cầu

Đối với vùng cao không bị ngập lụt, phương châm là hạn chế mưa trực tiếp xói mòn mặt đất tự nhiên, giữ nước, làm chậm dòng chảy, chống xói mòn, cải tạo và bảo

vệ đất Đối với vùng thấp trũng bị ngập lụt là xây dựng công trình chống được lũ tiểu mãn, lũ đầu vụ và lũ cuối vụ; phòng, né tránh, thích nghi và chung sống với lũ chính Tuy nhiên để tăng cường năng lực phòng tránh, ứng phó với lũ lụt cần tăng cường giải quyết các vấn đề sau:

Bảo vệ phát triển rừng đầu nguồn

Áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp để giữ nước, làm chậm lũ, chống xói mòn, cải tạo và bảo vệ đất như: chọn cơ cấu cây trồng và kỹ thuật trồng vừa có giá trị kinh tế vừa tạo được lớp phủ trên bề mặt, chống xói mòn, chắn cát và giữ nước; xây dựng đồng ruộng theo đường đồng mức, đào mương tiêu nước kiểu xương cá; dùng phế thải nông nghiệp hoặc nilon phủ trên mặt đất để giữ ẩm

Xây dựng các khu dân cư phù hợp với bão lụt và sát thực tế

Tăng khả năng thoát lũ trên các tuyến giao thông, tuyến kênh mương; xây dựng kiên cố hoá các tuyến đường giao thông Bê tông hoá kênh mương phù hợp với tình hình lũ lụt trên địa bàn

Xây dựng và tăng cường năng lực các cảng cá đảm bảo tàu thuyền ra vào thuận lợi và trú ẩn an toàn khi có bão lũ Tăng cường năng lực con người và phương tiện đánh bắt hải sản thích ứng với tình hình thiên tai trên biển

Tăng cường năng lực dự báo, dự tính, thông tin cảnh báo để chủ động đói phó với thiên tai

Tăng cường năng lực tìm kiếm cứu nạn trên biển và trên đất liền

Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao hiểu biết cho cộng đồng về thiên tai và ý thức chấp hành pháp luật trong công tác phòng chống thiên tai

Một số đề xuất cụ thể

Đẩy mạnh công tác chăm sóc quản lý rừng đầu nguồn, trồng rừng theo chương trình 5 triệu ha rừng Nghiên cứu đưa chương trình trồng rừng thêm nhiệm vụ trồng tre ven các bờ sông để chống sạt lở sau khi đã quy hoạch xác định tuyến chỉnh trị sông

Áp dụng mô hình tổng hợp về canh tác trên đất đốc là giữ nước, chống xói mòn, bảo vệ và cải tạo đất: trên đỉnh trồng cây lâm nghiệp, lưng chừng đồi trồng cây ăn quả,

Trang 6

tiếp theo là vườn đồi và đến hàng rào; xen giữa hai hàng rào chắn cát (trồng cây răng cưa, cây dứa ta, ) xây dựng nhà ở hoặc đất canh tác; tiếp theo đường giao thông có trồng tre chắn cát, chắn gió và mương tiêu nước (mương tiêu nước có tác dụng tập trung nước, cắt và lọc phèn); dưới cùng là ruộng lúa hoặc cây trồng cạn

Rà soát quy hoạch, lập dự án chỉnh trị sông ngòi, cửa sông, cửa biển làm cơ sở từng bước củng cố vững chắc, cải tạo toàn diện các tuyến đê, các công trình tiêu úng thoát lũ, khai thông dòng chảy trên các sông suối, cảI tạo những đoạn sông quá cong đảm bảo tiêu úng thoát lũ dễ dàng Di chuyển dân cư, công trình xây dựng tại những nơi làm cản trở dòng chảy và ảnh hưởng đến an toàn của đê Đẩy mạnh chương trình

bê tông hoá kênh mương nhằm tiết kiệm đất, giảm tổn thất nước và an toàn phòng chống bão lũ

Xây dựng các cụm dân cư, các kiểu nhà cao trên mực nước lũ lịch sử, kết hợp với các công trình công cộng cao tầng để nhân dân tạm trú khi xảy ra lũ lớn nhằm đảm bảo

an toàn lâu dài cho nhân dân các vùng thấp trũng, vùng hạ lưu các hồ chứa Di dân ra khỏi các vùng thường bị bão lụt uy hiếp và các vùng thuộc phạm vi bảo vệ các công trình theo quy định của pháp luật

Tăng cường khả năng thoát lũ trên các tuyến đường bằng cách cải tạo mở rộng khẩu độ thoát lũ các cầu, cống đã có; xây dựng thêm cầu, cống, tràn thoát lũ trên các tuyến đường, đặc biệt là tuyến đường Bắc - Nam; kết hợp quy hoạch các tuyến đường với quy hoạch các khu dân cư mới theo hướng dòng chảy lũ Các tuyến đường ở vùng

lũ cần đạt một cao trình tiêu chuẩn vượt lũ nhất định, các đoạn đường thấp dưới lũ cần

đổ bê tông mặt và kè đá hai bên

Xây dựng các trạm xử lý nước quy mô nhỏ ở các vùng trũng thấp thường xuyên

bị ngập lụt Tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân áp dụng “Sổ tay xử lý nước và vệ sinh môi trường trong mùa mưa lũ “của Bộ Y tế Xây dựng các bãi xử lý rác ở các huyện, xử lý phế thải và xác động vật trôi tấp ở các vùng rốn lũ

Tăng cường năng lực dự báo, dự tính, thông tin cảnh báo về bão lũ để chủ động đói phó với thiên tai Từng bước củng cố, tiêu chuẩn hoá các trạm thuỷ văn ở các sông chính và cửa biển, kết hợp với quan trắc môi trường nước nhằm thu thập đầy đủ, kịp thời các thông tin phục vụ cho dự báo, phòng chống và khắc phục hậu quả lũ lụt

Xây dựng bản đồ ngập lụt tỉnh

Đầu tư trung tâm tìm kiếm cứu nạn trên biển của tỉnh đủ mạnh để hàng ngày liên lạc được với các phương tiện đánh bắt hải sản trên biển và xây dựng lực lượng cán bộ

đủ năng lực độc lập tiến hành công tác tìm kiếm, cứu hộ trên vùng biển của tỉnh và lân cận Chủ động hình thành các đội tàu cứu nạn của nhân dân tại các cửa sông, cửa biển Thường xuyên quan hệ với uỷ ban tìm kiếm cứu nạn TW phối hợp hành động khi có

sự cố

Trang 7

Hình 9.3 Các trận lũ lớn khu vực phía nam, 1945-2009

9.2.3 Sạt lở đất

Sạt lở là loại hình thiên tai thường xảy ra ở Việt Nam, bao gồm: sạt lở bờ sông,

bờ biển, các sườn núi dốc và lún, nứt đất Sạt lở thường do các nguyên nhân: ngoại sinh (do nước), nội sinh (do biến động địa chất) và dân sinh (do khai thác khoáng sản bừa bãi hoặc thi công các công trình) Trượt lở đồi núi, sườn dốc thường do mưa lớn tập trung, kết hợp với nơi có cấu tạo địa chất yếu, tác động của con người như: bạt núi mở đường, chặt phá rừng Trượt lở đồi núi thường kèm theo lũ bùn đá, gây tổn thất nghiêm trọng đối với tính mạng và tài sản của người dân trong vùng Sạt lở bờ sông là hiện tượng phổ biến xảy ra hàng năm ở nước ta tại các sông, suối trong cả nước, làm mất đi số lượng đáng kể diện tích đất ở, đất canh tác; phá huỷ nhiều làng mạc ven sông Sạt lở bờ biển do sóng, thuỷ triều, nước biển dâng và dòng hải lưu gây

Trang 8

ra Sạt lở bờ biển dẫn đến hậu quả biển xâm thực vào đất liền, mất nhà ở, phá huỷ môi trường

Tại Quảng Ngãi, sạt lở thường xuất hiện tại các vùng đồi núi có độ dốc lớn, địa chất mềm yếu, tầng phủ mỏng, mưa lớn

Giải pháp ứng phó: Lập bản đồ nguy cơ sạt lở Nâng cao nhận thức và năng lực cộng đồng, trồng cây chắn sóng, gió, xây dựng các công trình chống sạt lở và di dời khỏi vùng nguy hiểm

9.2.4 Xâm nhập mặn

Bờ biển Việt Nam dài 3.260 km với nhiều cửa sông do vậy xâm nhập mặn xảy ra suốt dọc bờ biển với mức độ khác nhau Có 3 vùng có nguy cơ xâm nhập mặn cao, đó là: các tỉnh ven biển Tây Nam Bộ, các tỉnh duyên hải miền Trung và khu vực hạ lưu sông Đồng Nai Các tỉnh ven biển Tây Nam Bộ là khu vực chịu ảnh hưởng xâm nhập mặn nghiêm trọng nhất với 1,77 triệu ha đất bị nhiễm mặn, chiếm 45% diện tích Chi phí xây dựng các công trình ngăn mặn, giữ ngọt rất tốn kém

Biển Quảng Ngãi có chế độ nhật triều không đều đến nhật triều đều Biên độ triều thay đổi không đáng kể Trong tháng có 18-22 ngày nhật triều đều, 2 lần triều cuờng, 2 lần triều kém Thời kỳ triều kém thường có 01 con nước nhỏ Thời gian triều dâng dài hơn rút Biên độ triều 1,5-2,0 m, biên độ triều kém 0,5 m Chế độ triều ở vùng đầm và các cửa sông giống biển, sự khác nhau chủ yếu là biên độ triều vùng đầm nhỏ hơn vùng biển Chân triều vùng đầm cao hơn chân triều vùng biển 0,4-0,6 m Biên độ triều cường vùng đầm 1,3-1,4 m

Giải pháp ứng phó: đắp đê, đập ngăn mặn, trồng cây chắn sóng gió bảo vệ các cồn cát ven biển như một loại đê tự nhiên để ngăn chặn sự xâm nhập của nước biển

9.2.5 Hạn hán và hỏa hoạn

Hạn hán là loại hình thiên tai thường xảy ra ở Việt Nam và đứng thứ 3 về mức độ thiệt hại sau bão và lũ Trong những năm gần đây, hạn hán liên tiếp xảy ra ở khắp các vùng trong cả nước Hạn hán có năm làm giảm từ 20 - 30% năng suất cây trồng, giảm sản lượng lương thực, ảnh hưởng nghiêm trọng tới chăn nuôi và sinh hoạt của người dân Việc chống hạn thường gặp nhiều khó khăn do thiếu nguồn nước, các hồ chứa nước thượng nguồn cũng bị cạn kiệt Hạn hán kéo dài sẽ dẫn đến nguy cơ hoang mạc hoá ở một số vùng, đặc biệt là vùng Nam Trung Bộ, vùng cát ven biển và vùng đất dốc thuộc trung du, miền núi

Do địa hình quá dốc, nên hàng năm sau khi mùa mưa kết thúc chỉ vài ba tháng, dòng chảy trong sông đã cạn kiệt, trong khi đó, mùa khô ở Quảng Ngãi kéo dài từ tháng1 đến tháng 8, lượng mưa chỉ đạt 20 đến 25% lượng mưa năm, nhiều năm không

có mưa, hoặc mưa rất ít làm cho tầng phủ lưu vực và dòng sông khô kiệt, nền nhiệt độ cao, gió tây khô, nóng đã làm cây cối khô héo, hàng chục ngàn ha lúa bị hạn hán, nhiều nơi thiếu nước sinh hoạt, nguy cơ hỏa hoạn cao

Giải pháp ứng phó: xây dựng hàng loạt các hồ, đập điều tiết để trữ nước mùa

mưa dùng cho mùa khô Thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức và năng lực cộng đồng trong việc phòng chống cháy nổ, xây dựng các lực lượng chuyên nghiệp và lực lượng xung kích phòng cháy, chữa cháy ở các địa phương

Trang 9

Hình 9.4 Số tháng hạn trung bình nhiều năm khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam

Bộ, 1965-2009

Trang 10

Hình 9.5 Số ngày gió khô nóng trung bình nhiều năm khu vực nam trung bộ, Tây Nguyên và

Nam Bộ, 1965-2009

Ngày đăng: 25/04/2013, 15:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 9.1. Tình hình thiệt hại do thiên tại tại các tỉnh - biến đổi khí hậu và các ảnh hưởng
Hình 9.1. Tình hình thiệt hại do thiên tại tại các tỉnh (Trang 3)
Bảng 9.1. Tần suất bão đổ bộ vào các vùng bờ biển Việt Nam, 1961 - 2008 - biến đổi khí hậu và các ảnh hưởng
Bảng 9.1. Tần suất bão đổ bộ vào các vùng bờ biển Việt Nam, 1961 - 2008 (Trang 3)
Hình 9.2 Các cơn bão đổ bộ vào vùng biển Quảng Trị - Quảng Ngãi, 1961-2009 - biến đổi khí hậu và các ảnh hưởng
Hình 9.2 Các cơn bão đổ bộ vào vùng biển Quảng Trị - Quảng Ngãi, 1961-2009 (Trang 4)
Hình 9.3 Các trận lũ lớn khu vực phía nam, 1945-2009 - biến đổi khí hậu và các ảnh hưởng
Hình 9.3 Các trận lũ lớn khu vực phía nam, 1945-2009 (Trang 7)
Hình 9.4. Số tháng hạn trung bình nhiều năm khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam - biến đổi khí hậu và các ảnh hưởng
Hình 9.4. Số tháng hạn trung bình nhiều năm khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam (Trang 9)
Hình 9.5. Số ngày gió khô nóng trung bình nhiều năm khu vực nam trung bộ, Tây Nguyên và - biến đổi khí hậu và các ảnh hưởng
Hình 9.5. Số ngày gió khô nóng trung bình nhiều năm khu vực nam trung bộ, Tây Nguyên và (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w