1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đề cương giới thiệu chuyên đề

16 196 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 29,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề cương giới thiệu chuyên đềMỘT SỐ NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO BỘ ĐỘI Ở ĐƠN VỊ CƠ SỞ Kỹ năng sống chính là những kỹ năng tinh thần và kỹ năng tâm lý – xã hội tích cự

Trang 1

Đề cương giới thiệu chuyên đề

MỘT SỐ NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG

CHO BỘ ĐỘI Ở ĐƠN VỊ CƠ SỞ

Kỹ năng sống chính là những kỹ năng tinh thần và kỹ năng tâm lý – xã hội tích cực, giúp quân nhân có bản lĩnh vững vàng trong cuộc sống cũng như trong học tập, rèn luyện, công tác tại đơn vị, có thể tự xử lý các tình huống về tư tưởng, tình huống giao tiếp, vượt qua được những khó khăn, thách thức hàng ngày Giáo dục kỹ năng sống là một nội dung – biện pháp rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách của mỗi con người, đặc biệt là đối với hạ sĩ quan – binh sĩ và những sĩ quan trẻ, giúp họ chủ động và có khả năng ứng xử một cách hiệu quả trước mọi tình huống xảy ra trong cuộc sống, sinh hoạt

Thực tiễn ở các đơn vị cơ sở trong thời gian qua cấp uỷ, chính uỷ, chính trị viên, chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp đã quan tâm đến những biểu hiện về tâm lý, cách ứng xử và giải quyết các vấn đề nảy sinh trong hoạt động của bộ đội Nhiều

vụ việc vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội như quân phiệt, quan hệ bất chính, hiếp dâm, cướp của, giết người, vay mượn với số tiền lớn không có khả năng chi trả… cũng có nguyên nhân là một số quân nhân thiếu kiến thức, kỹ năng sống trong tập thể, gia đình và xã hội

Vì vậy, nâng cao nhận thức về kỹ năng sống và công tác giáo dục, rèn luyện kỹ năng sống cho bộ đội ở các đơn vị cơ sở là vấn đề cấp thiết hiện nay

Trang 2

I MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ KỸ NĂNG SỐNG VÀ GIÁO DỤC

KỸ NĂNG SỐNG CHO BỘ ĐỘI.

1 Khái niệm kỹ năng sống

Thông thường, kỹ năng sống được hiểu là những kỹ năng thực hành rất cần thiết cho con người để có được sự an toàn, cuộc sống khoẻ mạnh, tham gia các hoạt động xã hội có chất lượng cao

a) Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO)

Kỹ năng sống là những kỹ năng thiết thực mà con người cần để có cuộc sống

an toàn và khoẻ mạnh, đó là những năng tâm lý xã hội và giao tiếp mà mỗi cá nhân

có thể có để tương tác với những người khác một cách hiệu quả hoặc ứng phó với những vấn đề hay những thách thức của cuộc sống hàng ngày

Tương đồng với quan niệm của WHO, còn có quan niệm kỹ năng sống là những kỹ năng tâm lý xã hội liên quan đến những tri thức, những giá trị và những thái độ, cuối cùng được thể hiện ra bằng những hành vi làm cho các cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống

b) Theo tổ chức vh, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO)

Kỹ năng sống là năng lực cá nhân để học thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày

Kỹ năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục:

Học để biết: gồm các kỹ năng tư duy như phê phán, tư duy sáng tạo, ra

quyết định, giải quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả…

Học để làm: gồm kỹ năng thực hiện công việc và nhiệm vụ như kỹ năng đặt

mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm…

Học để làm người: gồm các kỹ năng cá nhân như ứng phó với căng thẳng,

kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin…

Học để chung sống: gồm các kỹ năng xã hội như giao tiếp, thương lượng, tự

khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông/

c) Theo Tổ chức Quỹ nhi đồng Liên Hợp quốc (UNICEF)

Kỹ năng sống là tập hợp rất nhiều kỹ năng tâm lý xã hội và giao tiếp cá nhân giúp cho con người đưa ra những quyết định có cơ sở, giao tiếp một cách có hiệu quả, phát triển các kỹ năng tự xử lý và quản lý bản thân nhằm giúp họ có một cuộc sống lành mạnh và có hiệu quả Kỹ năng sống thể hiện ở những hành động cá nhân

và những hành động đó sẽ tác động đến hành động của nững người khác cũng như dẫn đến những hành động nhằm thay đổi môi trường xung quanh, giúp nó trở nên lành mạnh

Trang 3

Từ những quan niệm trên, có thể thấy rằng kỹ năng sống bao gồm một loạt các kỹ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người Bản chất của

kỹ năng sống là kỹ năng tự quản lý bản thân và kỹ năng xã hội cần thiết để cá nhân

tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc có hiệu quả… Nói cách khác, kỹ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi con người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó trước các tình huống của cuộc sống Kỹ năng sống hướng vào việc giúp con người thay đổi nhận thức, thái

độ và giá trị trong những hành động theo xu hướng tích cực và mang tính chất xây dựng

Điểm thống nhất trong các quan niệm về kỹ năng sống là đều cho rằng kỹ năng sống thuộc phạm trù năng lực (kỹ năng hiểu theo nghĩa rộng) chứ không thuộc phạm trù kỹ thuật của hành động, hành vi (kỹ năng hiểu theo nghĩa hẹp)

ở mỗi nước khác nhau, khái niệm kỹ năng sống cũng được hiểu rất khác nhau Ở một số nước, dạy kỹ năng sống chính là giáo dục cách vệ sinh, dinh dưỡng và phòng chống bệnh tật Ở những nước khác, kỹ năng sống được tập trung vào giáo dục hành vi, an toàn trên đường phố, bảo vệ môi trường hoặc giáo dục hoà bình…

Kỹ năng sống được hình thành thông qua một quá trình sống, rèn luyện, học tập trong gia đình, nhà trường và ngoài xã hội Chính vì thế, kỹ năng sống vừa có tính

cá nhân, vừa có tính xã hội, chịu ảnh hưởng của gia đình, cộng đồng, dân tộc Kỹ năng sống mang tính cá nhân bởi vì đó là khả năng của mỗi cá nhân Kỹ năng sống cũng có tính xã hội là vì trong mỗi giai đoạn của sự phát triển xã hội, trong mỗi quốc gia, dân tộc, tôn giáo, cá nhân đều phải thích nghi bằng những kỹ năng sống

cụ thể

Ví dụ: Kỹ năng sống của những người sống ở những vùng miền khác nhau sẽ

có sự khác nhau…

Nói tóm lại, kỹ năng sống là khả năng để mỗi người có thể ứng phó một cách thích hợp, chắc chắn với từng điều kiện cụ thể kinh tế, xã hội và văn hoá khác nhau/

Kỹ năng sống có nhiều lại khác nhau Ví dụ: Kỹ năng hợp tác còn gọi là kỹ năng làm việc nhóm; Kỹ năng kiểm soát cảm xúc còn gọi là kỹ năng xử lý cảm xúc, kỹ năng làm chủ cảm xúc, kỹ năng quản lý cảm xúc; Kỹ năng thương lượng còn gọi là kỹ năng đàm phán, kỹ năng thương thuyết…

Các kỹ năng sống có mối liên quan chặt chẽ với nhau

Kỹ năng sống không phải tự nhiên có được mà phải được hình thành trong quá trình học tập, lĩnh hội và rèn luyện trong cuộc sống

2 Tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng sống cho bộ đội.

Trang 4

- Giáo dục kỹ năng sống góp phần thúc đấy sự phát triển, hoàn thiện nhân cách của quân nhân Mọi quân nhân trong đơn vị có kỹ năng sống tốt, phong phú, hắc chắn hiệu quả trên các mặt công tác ở đơn vị sẽ tốt, nhờ đó mà đơn vị ngày một

ổn định và phát triển bền vững

- Giáo dục kỹ năng sống còn góp phần giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với đơn vị ở cơ sở Từ đặc thù hoạt động quân sự, thực tiễn công tác quản lý bộ đội

và tình hình vi phạm kỉ luật, pháp luật của quân nhân thời gian qua Thực tiễn cho thấy bộ đội thiếu hụt rất nhiều về kỹ năng sống, nhất là các kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ứng phó với những căng thẳng trong cuộc sống hàng ngày

- Giáo dục kỹ năng sống góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị và xây dựng môi trường văn hoá ở đơn vị

3 Nội dung, nguyên tắc giáo dục kỹ năng sống cơ bản cho bộ đội ở đơn

vị cơ sở.

a) Các kỹ năng cơ bản cần giáo dục cho bộ đội.

- Kỹ năng học và tự học

- Kỹ năng lãnh đạo bản thân và hình ảnh cá nhân

- Kỹ năng tư duy sáng tạo và mạo hiểm

- Kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc

- Kỹ năng lắng nghe

- Kỹ năng thuyết trình

- Kỹ năng giao tiếp và ứng xử

+ Kỹ năng giao tiếp và ứng xử giữa quân nhân với tự nhiên thông qua công việc/ + Kỹ năng giao tiếp và ứng xử giữa quân nhân với quân nhân

+ Kỹ năng giao tiếp và ứng xử giữa quân nhân với đơn vị và xã hội

+ Kỹ năng giao tiếp và ứng xử giữa quân nhân với chính gia đình của mình

- Kỹ năng giải quyết vấn đề

+ Kỹ năng giải quyết vấn đề giữa quân nhân với tự nhiên thông qua công việc

+ Kỹ năng giải quyết vấn đề giữa quân với quân nhân

+ Kỹ năng giải quyết vấn đề giữa quân với đơn vị và xã hội

+ Kỹ năng giải quyết vấn đề giữa quân với chính gia đình của mình

- Kỹ năng làm việc đồng đội

- Kỹ năng đàm phán

Trong đó, mỗi đối tượng có nhu cầu hoàn thiện kỹ năng khác nhau ở mỗi kỹ năng cũng khác nhau

b) Nguyên tắc giáo dục kỹ năng sống cho bộ đội (Nguyên tắc 5 chữ T)

Một là, nguyên tắc tương tác

Trang 5

Tương tác xã hội là hình thức giao tiếp xã hội hay trao đổi giữa cá nhân và các cộng đồng, trong đó mối quan hệ qua lại của chúng được thực hiện, hành động

xã hội được diễn ra và được sự thích ứng của một hành động này với một hành động khác, qua đó cũng tìm thấy cái chung trong sự hiểu biết tình huống, ý nghĩa hành động, nhằm đạt được mức độ hợp tác nhất định hoặc sự đồng tình giữa chúng/

Các loại hình tương tác xã hội có thể là:

- Trực tiếp – Gián tiếp

- Dễ thay đổi – Bền vững

- Có tính cá nhân – Mang tính cộng đồng

- Có hình thức – Phi hình thức

- Được thiết chế hoá – Không được thiết chế hoá…

Các khuôn mẫu chủ yếu của tương tác đều được chuẩn hoá và biến thành tập quán

Một số kiểu hình tương tác dựa trên cơ sở liên kết và độ bền của liên kết trở nên đặc trưng trong xã hội đó là:

+ Phản ứng liên kết: nhằm kết hợp, phối hợp con người chặt chẽ hơn: hợp tác, hoà giải, đồng hoá, thích nghi

+ Phản ứng ly tán: làm con người xa cách, kém đoàn kết, xung đột chống đối, cạnh tranh/

Hai là, nguyên tắc trải nghiệm

Giáo dục qua trải nhiệm thực tế, thực tiễn học tập, rèn luyện công tác và sinh hoạt tại đơn vị/

Giáo dục trải nghiệm có ý nghĩa hết sức quan trọng

Ba là, nguyên tắc tiến trình

Nội dung, phương pháp giáo dục kỹ năng sống phải được thực hiện theo một tiến trình cụ thể với các cấp độ từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp nằm trong

kế hoạch đã xác định

Bốn là, nguyên tắc thay đổi hành vi

Mọi người ai cũng có những hành vi mà họ muốn thay đổi Tuy nhiên ,tất cả những hành vi mà ta muốn thay đổi từ đơn giản như thay đổi thói quen học tập, giữ cho nhà cửa sạch sẽ gọn gàng hay khó hơn như cai nghiện thuốc lá…, đều cần phải

có sự nỗ lực và có kế hoạch thực hiện

Năm là, nguyên tắc thời gian – môi trường giáo dục

Giáo dục kỹ năng sống và xác định các kỹ năng, các giá trị cần giáo dục phải được đặt trong một thời gian và môi trường nhất định

c Một số điểm lưu ý trong giáo dục kỹ năng sống

Trang 6

- Phải tiếp cận con người một cách không định kiến, không có ai hoàn thiện, tránh định kiến “yêu nên tốt, ghét nên xấu”

- Phải tính đến mọi khả năng với nhiều phương án, phải biết nhìn ra “cái tốt” dù bé những đang lớn lên để kịp thời nâng đỡ, nhân rộng

- Phát hiện bệnh sớm để chữa trị kịp thời

- Phát hiện và quan tâm đến nhu cầu hoàn thiện của mỗi con người (khát vọng nghề nghiệp, nhu cầu tự khẳng định, nhu cầu quan tâm tới người khác, có trách nhiệm với chính bản thân mình) vươn tới chân – thiện – mỹ/

- Nắm vững tính đặc thù của lứa tuổi, vùng miền, dân tộc, tôn giáo

II MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP CƠ BẢN GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO BỘ ĐỘI Ở ĐƠN VỊ CƠ SỞ.

Là cách thức sử dụng các phương pháp và kỹ thuật tích cực để tạo điều kiện,

cơ hội cho quân nhân được thực hành, trải nghiệm kỹ năng sống trong quá trình học tập, công tác và sinh hoạt

1 Một số phương pháp cơ bản có thể sử dụng để giáo dục kỹ năng sống cho bộ đội.

a) Phương pháp động não

- Mô tả phương pháp

Động não là phương pháp giúp cho bộ đội tỏng một thời gian ngăn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó Đây là một phương pháp

có ích để đưa ra một “danh sách” các thông tin

- Các bước tiến hành:

+ Giáo viên (cán bộ) nêu cầu hỏi hoặc vấn đề (có nhiều cách trả lời) cần được tìm hiểu trước trung đội, đại đội hoặc trước một nhóm

+ Khích lệ bộ đội phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt

+ Liệt kê tất cả mọi ý kiến lên bảng hoặc giấy to không loại trừ một ý kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp

+ Phân loại các ý kiến

+ Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng

+ Tổng hợp ý kiến bộ đội, hỏi xem có thắc mắc hay bổ sung gì không

- Yêu cầu:

+ Phương pháp động não có thể dùng để lý giải bất kỳ một vấn đề nào, song đặc biệt phù hợp với các vấn đề ít nhiều đã quen thuộc trong cuộc sống thực tế của bộ đội

+ Phương pháp này có thể dùng cho cả câu hỏi có phần kết đóng và kết mở

+ Các ý kiến phát biểu nên ngắn gọn bằng một từ hay một câu thật ngắn

Trang 7

+ Tất cả mọi ý kiến đều cần được cán bộ hoan nghênh, chấp nhận mà không nên phê phán, nhận định đúng sai ngay

+ Cuối giờ thảo luận cán bộ nên nhấn mạnh kết luận này là kết quả của sự tham gia chung của tất cả bộ đội

+ Động não không phải là một phương pháp hoàn chỉnh mà chỉ là sự khởi đầu Một khi danh sách các câu trả lời đã được hoàn thành, cần phải cho tập thể quân nhân hay nhóm quân nhân dùng danh sách này để xác định xem câu trả lời nào là sai + Nhờ không khí thảo luận cơi mở nên bộ đội, đặc biệt là những đồng chí nhút nhát, trở nên bạo dạn hơn; bộ đội học được cách trình bày ý kiến của mình biết lắng nghe có phê phán ý kiến của bạn; từ đó giúp bộ đội sự tự tin, hứng thú trong học tập, sinh hoạt và hoà nhập tập thể

b) Phương pháp thảo luận nhóm

- Mô tả phương pháp

Như bản thân tiêu đề của phương pháp đã ngụ ý thực chất của phương pháp này là

để bộ đội bàn bạc, trao đổi trong nhóm nhỏ Thảo luận nhóm được sử dụng rộng rãi nhằm giúp cho bộ đội tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho bộ đội có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết một vấn đề

có liên quan đến bài học

Câu hỏi mà bộ đội bàn bạc có thể là kiểu câu hỏi đóng hoặc câu hỏi mở

Các nghiên cứu về phương pháp thảo luận nhóm đã chứng minh rằng nhờ việc thảo luận trong nhóm nhỏ mà:

+ Kiến thức của bộ đội sẽ giảm bớt phần chủ quan, phiến diện, là tăng tính khách quan khoa học

+ Kiến thức trở nên sâu sắc, bền vững, dễ nhớ và nhớ nhanh hơn do được giao lưu, học hỏi giữa các thành viên trong nhóm;

+ Nội dung thảo luận của các nhóm có thể giống hoặc khác nhau;

+ Quy định rõ thời gian thảo luận và trình bày kết quả thảo luận;

+ Sẽ thuận lợi hơn nếu mỗi nhóm chọn một trong những thành viên trong nhóm làm nhóm trưởng Nhóm trưởng điều khiển thảo luận của nhóm, gọi tên các thành viên lên phát biểu, chuyển sang câu hỏi khác khi thích hợp đảm bảo rằng mỗi người – bao gồm cả những cá nhân hay xấu hổ hoặc ngại phát biểu có cơ hội để đóng góp Đồng thời ở nhiều trường hợp những không phải là tất cả - trong nhóm còn có ghi biên bản, sẽ ghi lại những điểm chính của cuộc thảo luận để trình bày trước tập thể

Bộ đội cần được luân phiên nhau làm nhóm trưởng và thư ký và luân phiên nhau đại diện cho nhóm trình bày kết quả thảo luận

Trang 8

+ Kết quả thảo luận có thể trình bày dưới nhiều hình thức: bằng lời, đóng thay, viết hoặc vẽ trên giấy to… có thể do một người thay mặt nhóm trình bày, có thể nhiều người trình bày, mỗi người một đoạn nối tiếp nhau…

+ Trong suốt buổi thảo luận nhóm nhỏ, cán bộ cần đi vòng quanh các nhóm và lắng nghe ý kiến bộ đội Thỉnh thoảng cũng rất hữu ích nếu cán bộ xen lời bình luận vào giữa cuộc thảo luận của một nhóm Đối với những đề tài nhạy cảm thường có những tình huống mà bộ đội sẽ cảm thấy bối rối, xấu hổ khi phải nói trước mặt cán

bộ, trong trường hợp này cán bộ có thể quyết định tránh không xen vào hoạt động của nhóm khi thảo luận

- Các bước tiến hành:

+ Cán bộ nêu chủ đề thảo luận, chia nhóm, giao câu hỏi, yêu cầu thảo luận cho mỗi nhóm, quy định thời gian thảo luận và phân công vị trí ngồi thảo luận cho các nhóm

+ Các nhóm tiến hành thảo luận

+ Đại diện từng nhóm trình bày kết quả thảo luận của nhóm Các nhóm khác lắng nghe, chất vấn, trao đổi bổ sung ý kiến

+ Cán bộ tổng kết các ý kiến

- Yêu cầu:

+ Có nhiều cách chia nhóm,có thể theo số điểm danh, theo tổ, tiểu đội, theo vị trí ngồi…

Quy mô nhóm có thể lớn hoặc nhỏ tuỳ theo vấn đề thảo luận Tuy nhiên nhóm từ 3 đến 9 đ/c là tốt nhất

c) Phương pháp nghiên cứu tình huống (nghiên cứu trường hợp điển hình)

- Mô tả phương pháp:

Nghiên cứu tình huống thường là một câu chuyện được việt hoặc giới thiệu bằng lời nhằm tạo ra một tình huống “thật” để chứng minh một vấn đề hay loạt vấn đề Đôi khi nghiên cứu tình huống có thể được thực hiện trên video hay một băng catset mà không phải trên dạng chữ viết Vì tình huống này được nêu lên nhằm phản ánh tính đa dạng của cuộc sống thực, nó phải tương đối phức tạp, với các dạng nhân vật và những tình huống khác nhau chứ không phải là một câu chuyện đơn giản

- Các bước tiến hành

Các bước nghiên cứu tình huống có nghĩa là:

+ Đọc (hoặc xem hoặc nghe) tình huống thực tế

+ Suy nghĩ về nó (có thể viết một vài lĩnh vực đó trước khi thảo luận điều đó với người khác)

Trang 9

+ Đưa ra một hay nhiều câu hỏi hướng dẫn liên quan đến tình huống trong tài liệu viết hay từ cán bộ

+ Thảo luận tình huống thực tế

+ Thảo luận vấn đề chung hay các vấn đề được minh chứng bằng thực tế

- Yêu cầu:

+ Tình huống có thể dài hay ngắn, tuỳ từng nội dung vấn đề

+ TÌnh huống phải được đúc kết bằng một loạt các vấn đề hoặc câu hỏi xử trí tình huống như: bạn nghĩ điều gì sẽ xảy ra tiếp theo? Bạn sẽ làm gì nếu bạn là nhân vật A? Nhân vật B? … vấn đề có thể đã được ngăn chặn như thế nào? Lúc này cần phải làm gì để hạn chế tính trầm trọng của vấn đề?

+ Vấn đề trả lời các câu hỏi này phải được dùng để khái quát một tình huống rộng

d) Phương pháp đóng vai

- Mô tả phương pháp:

Đóng vai là phương pháp tổ chức cho bộ đội thực hành “làm thử” một số cách ứng

xử nào đó trong một tình huống giả định Đây là phương pháp giáo dục nhằm giúp

bộ đội suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự kiện cụ thể

mà bộ đội quan sát được Việc “diễn” không phải là phần chính của phương pháp này mà quan trọng nhất là sự thảo luận sau phần “diễn” ấy

Phương pháp đóng vai có nhiều ưu điểm như:

+ Bộ đội được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn

+ Gây hứng thú và chú ý cho bộ đội

+ Tạo điều kiện làm phát triển óc sáng tạo của bộ đội

+ Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của bộ đội theo hướng tích cực

+ Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói, việc làm của vai diễn

- Các bước tiến hành:

+ Cán bộ nêu chủ đề, chia nhóm, giao tình huống và yêu cầu đóng vai từng nhóm Trong đó có quy định rõ thời gian chuẩn bị, thời gian đóng vai của mỗi nhóm + Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai

+ Các nhóm lên đóng vai

+ Lớp thảo luận, nhận xét, thường thì thảo luận bắt đầu về cách ứng xử của các nhân vật cụ thể hoặc tình huống trong vở diễn, những sẽ mở rộng phạm vi xem thảo luận những vấn đề khái quát hơn hay những vấn đề và vở diễn chứng minh + Cán bộ kết luận

-Yêu cầu

Trang 10

+ Tình huống đóng vai phải phù hợp với chủ đề giáo dục, học để cùng chung sống, phù hợp với lứa tuổi, trình độ bộ đội và điều kiện, hoàn cảnh đơn vị và từng địa phương

+ Tình huống nên để mở, không cho trước “ kịch bản”, lời thoại

+ Phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị đóng vai

+ Người đóng vai phải hiểu rõ vai của mình trong bài tập để không lạc đề

+ Nên khích lệ cả những đồng chí nhút nhát cùng tham gia

+Nên có hoá trang và đạo cụ để tăng tính hấp dẫn của trò chơi đóng vai

e) Phương pháp tổ chức trò chơi

- Mô tả phương pháp

Trò chơi là phương pháp tổ chức cho bộ đội tìm hiểu một vấn đề hay thực hiện những hành động, thái độ, việc làm thông qua một trò chơi nào đó

( Chẳng hạn các trò chơi quân sự, các đơn vị thường áp dụng)

Cùng với học tập, giao lưu với bạn bè, vui chơi cũng là một nhu cầu của bộ đội Nếu biết tổ chức cho bộ đội vui chơi một cách hợp lý, lành mạnh thì đều mang lại hiệu quả giáo dục tốt Qua trò chơi, các cá nhân không những được phát triển về các mặt trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ mà còn được hình thành nhiều phẩm chất và hành

vi tích cực Chính vì vậy, trò chơi được sử dụng như một phương pháp dạy học quan trọng

+ Qua trò chơi, bộ đội có cơ hội để thể nghiệm những thái độ, hành vi Chính nhờ

sự thể nghiệm này, sẽ hình thành được niềm tin và thái độ, hành vi tích cực, tạo ra động cơ bên trong cho những hành vi ứng xử tích cực trong cuộc sống

+ Qua trò chơi, bộ đội sẽ được rèn luyện khả năng quyết định lựa chọn cho mình cách ứng xử đúng đắn, phù hợp trong mọi tình huống

+ Qua trò chơi bộ đội được hình thành năng lực quan sát, được rèn luyện kỹ năng nhận xét, đánh giá hành vi

+ Bằng trò chơi, việc học tập được tiến hành một cách nhẹ nhàng, sinh động; không khô khan, nhàm chán Bộ đội được lôi cuốn vào quá trình luyện tập một cách tự nhiên, hứng thú và có tinh thần trách nhiệm, đồng thời giải toả được những mệt mỏi, căng thẳng trong học tập

+ Trò chơi còn giúp tăng cường khả năng giao tiếp giữa quân nhân với quân nhân, giữa cán bộ với chiến sỹ

-Yêu cầu

+Trò chơi phải dễ tổ chức và thực hiện; phù hợp với chủ đề giáo dục “ học để cùng chung sống” , với đặc điểm và trình độ bộ đội, với quỹ thời gian và hoàn cảnh, điều kiện thực tế của đơn vị; không gây nguy hiểm cho bộ đội

Ngày đăng: 06/12/2015, 10:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w