1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân cấp trong quản lý tài chính giáo dục

7 482 4

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 78,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2 Các tiêu chuẩn đánh giá mức độ phân quyền về tài chính Mức độ phân quyền trong quản lý tài chính của GD càng lớn có thể đo bằng các thông số: - Mật độ các quyết định về tài chính đượ

Trang 1

VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM

LỚP CAO HỌC CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ GIÁO DỤC KHOÁ 2008 – 2011

Hà Nội, ngày 30 tháng 7 năm 2010

TIỂU LUẬN KẾT THÚC MÔN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG GIÁO DỤC

Họ và tên: Hoàng Thu Hồng

Câu hỏi) Phân cấp trong quản lý tài chính giáo dục

1) Các tiêu chí/thông số đánh giá mức độ phân quyền trong quản lý tài chính của giáo dục; tác động của phân cấp về tài chính đối với quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội

2) Liên hệ với thực tế và khuyến nghị các biện pháp nhằm cải tiến phân cấp về tài chính cho giáo dục

Bài làm)

1) Các tiêu chí/thông số đánh giá mức độ phân quyền trong quản lý tài chính của giáo dục; tác động của phân cấp về tài chính đối với quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội.

1.1) Khái niệm:

- Quyền lực chẳng qua là mức độ độc lập trong hoạt động dành cho mọi người trong

tổ chức để tạo ra khả năng sử dụng những quyết đoán của họ thông qua việc trao cho họ quyền ra các quyết dịnh hay các chỉ thị

- Phân quyền là xu hướng phân tán các quyền ra quyết định theo cấp bậc của hệ thống tổ chức

- Tập quyền được sử dụng để mô tả các xu thế không có sự phân chia quyền lực

Đã tồn tại một cơ cấu tổ chức, đều có một sự phân quyền nào đó của các cơ quan quản lý nhà nước cho các cơ sở GD, nếu không thì cơ cấu đó không tồn tại

- Mặc dù có liên quan chặt chẽ với việc giao phó quyền hạn, nhưng sự phân cấp còn phản ánh rất rõ một đường lối về tổ chức và quản lý

1.2) Các tiêu chuẩn đánh giá mức độ phân quyền về tài chính

Mức độ phân quyền trong quản lý tài chính của GD càng lớn có thể đo bằng các thông số:

- Mật độ các quyết định về tài chính được đề ra ở cấp tổ chức thấp

- Mức độ quan trọng của các quyết định được đề ra ở cấp thấp

- Các chức năng chịu sự tác động bởi các quyết định được đề ra ở cấp thấp

- Cơ quan quản lý cấp trên càng ít phải kiểm tra các quyết định của cấp dưới

1.3) Các dấu hiệu nhằm xác định các cơ sở Giáo dục có quyền tự chủ về tài chính

Mục đích chủ yếu của việc giao quyền là làm cho hệ thống GD có thể hoạt động một cách có hiệu quả đáp ứng tốt nhất những đòi hỏi của xã hội

Các dấu hiệu chứng tỏ các cơ sở GD có quyền tự chủ cao về tài chính:

- Được khích lệ đa dạng hoá và tăng các nguồn thu

- Được tự quyết định các khoản chi tiêu

Trang 2

- Năng lực và mức độ kiểm tra các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí của chính bản thân cơ sở GD

- Khả năng phân bổ lại các nguồn tài chính trong nội bộ mỗi cơ sở GD

1.4) Các khía cạnh nhằm tăng trách nhiệm xã hội về tài chính của các cơ sở GD

Tăng trách nhiệm xã hội có ba khía cạnh:

- Thứ nhất: Trong điều kiện ngặt nghèo về nguồn lực, cần xác định các yếu tố đầu vào tối thiểu cần thiết để đầu tư và sử dụng NS được hiệu quả

- Thứ hai: Các cơ sở GD có trách nhiệm sử dụng các nguồn NSNN cấp theo đúng các quy định của nhà nước

- Thứ ba: Cùng với việc đa dạng hoá các nguồn tài chính, buộc các cơ sở giáo dục phải có trách nhiệm đầy đủ về tính thích hợp của các chương trình đào tạo, đây cũng là khía cạnh quan trọng

Lưu ý: Quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội luôn luôn phải song hành

Sơ đồ phân bổ NSNN cho giáo dục hiện nay

Trang 3

2) Liên hệ với thực tế và khuyến nghị các biện pháp nhằm cải tiến phân cấp về tài chính cho giáo dục.

Đối với các quốc gia tiên tiến, tự chủ tài chính phụ thuộc rất nhiều vào nguồn tài chính được cung cấp và thái độ của nhà tài trợ về việc sử dụng nguồn tài chính đó ở hầu hết các nước, nguồn tài chính lớn nhất cho hoạt động của các trường đại học được Chính phủ cấp trực tiếp hay gián tiếp Riêng đối với Hoa kỳ, các trường đại học hoàn toàn tự chủ

về tài chính: tự chủ từ việc xác định nguồn tài chính, đến thu chi và sử dụng kinh phí; chính phủ Liên bang và các tiểu bang cũng có các khoản kinh phí khổng lồ dành cho các

Các Bộ

ngành khác

Hai ĐH Quốc gia

Sở Tài Chính

Trường trực thuộc

Trường trực thuộc

Trường trực

thuộc

Sở ngành

khác

Sở GD &

ĐT

UBND Huyện

Trường thuộc tỉnh quản lý

Trường trực

thuộc

Trường trực thuộc (THPT, DTNT…)

Kinh phí cơ quan phòng GD&ĐT

Trường thuộc huyện quản lý (MN, TH, THCS, GDTX…)

CHÍNH PHỦ

Trang 4

trường đại học; các trường có thể tham gia đăng ký, cạnh tranh để dành ngân khoản; khi được Chính phủ cấp kinh phí thì các trường đại học phải chịu trách nhiệm tuân thủ các quy định của nơi cấp kinh phí đối với khoản kinh phí đã được cấp ở các quốc gia khác, các nguồn tài chính do Chính phủ cấp dùng cho xây dựng trường sở, mua sắm thiết bị, chi phí thường xuyên và nghiên cứu khoa học Ngoài ra, học phí, hợp đồng cung cấp dịch vụ, các khoản và thu phí khác cũng là nguồn thu lớn của các trường đại học

Tự chủ tài chính được thể hiện trong sự tự do của các trường đại học trong việc phân bổ nguồn lực nhận được từ nhà nước và các cơ quan tài trợ khác Quyền tự chủ tài chính phụ thuộc rất nhiều vào việc sử dụng cơ chế tài chính nào trong phân bổ ngân sách Pháp luật đã xác định 3 mô hình phân bổ tài chính từ bên ngoài: cơ chế phân bổ trọn gói,

cơ chế hành chính, cơ chế thị trường Trong cơ chế thứ nhất, trường đại học có thể xác định ưu tiên phân bổ và tự do sử dụng nguồn lực được cấp trong phạm vi quy chế của trường Trong mô hình thứ hai, cơ quan phân bổ tài chính bên ngoài xác lập các quy định theo đó tài chính được phân bổ và sử dụng trong trường đại học Trong mô hình thứ ba, trường đại học bán sản phẩm cho nhiều người tiêu dùng để nhận nguồn tài chính, do vậy không có một cơ quan bên ngoài nào có thể độc quyền kiểm tra trường đại học

Từ các mô hình trên cho thấy mô hình thứ nhất và mô hình thứ ba đảm bảo tính tự chủ của các trường đại học trong phân bổ và sử dụng tài chính Mô hình phân bổ trọn gói cho phép các học giả trong trường đại học có quyền tham gia vào việc ra quyết định phân

bổ và sử dụng tài chính Trong mô hình thị trường, các bên tham gia thuộc hai nhóm: nhóm người cung cấp dịch vụ và nhóm người trả phí để sử dụng dịch vụ Các trường đại học công, khi tham gia vào cơ chế này, cũng hoạt động như một thể chế tự chủ trong quan

hệ với các trường đại học cũng sẽ chỉ như người sử dụng dịch vụ trả phí của trường đại học Tuy nhiên, khi nhà nước cung cấp tài trợ, các trường có thể phải hoạt động trong khuôn khổ các quy định tài chính đã ban hành Ngày nay, ở nhiều quốc gia, các trường đại học đang cố gắng thu hút nhiều sinh viên đóng học phí vào học, do vậy, rất ít phụ thuộc vào nhà nước Mức học phí có thể rất khác nhau phụ thuộc vào chính sách của từng trường, chất lượng và uy tín của các văn bằng được cấp

Luật Giáo dục Đại học Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định rõ: Trường đại học độc lập quản lý và sử dụng tài sản do nhà tài trợ cung cấp, phụ cấp tài chính của nhà nước

và các tài sản được hiến tặng và cấp theo quy định của luật pháp

Đối với nước ta, bảo đảm vai trò định hướng, đầu tư của nhà nước đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo, song cần tạo cơ sở pháp lý để nhà trường tự chủ về quản lý kinh phí hoạt động thường xuyên, chủ động khai thác và huy động các nguồn lực xã hội để cùng với nguồn lực nhà nước đầu tư nâng cao chất lượng và mở rộng quy mô đào tạo của trường cũng như sử dụng kinh phí tiết kiệm để trả lương cao hơn cho cán bộ, công chức, viên chức nhà trường trên cơ sở chất lượng và hiệu quả công việc

Tiến tới thay việc giao chỉ tiêu đào tạo hằng năm cho nhà trường bằng cơ chế nhà nước đặt hàng theo các điều kiện bảo đảm chất lượng như cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên cơ hữu (giảng viên trong biên chế và hợp đồng không xác định thời hạn) của nhà trường

Trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các trường đại học, cao đẳng trong việc

tổ chức công việc, sắp xếp bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành

Trang 5

chức năng, nhiệm vụ được giao; phát huy mọi khả năng của cơ sở giáo dục, tăng nguồn thu; từng bước giải quyết thu nhập cho đội ngũ cán bộ, giảng viên

Thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với nhà trường; nhà nước có điều kiện dành ngân sách bảo đảm cho các đối tượng chính sách xã hội, các vùng khó khăn; đồng thời Nhà nước vẫn quan tâm đầu tư để hoạt động sự nghiệp ngày càng phát triển

Phân biệt rõ cơ chế quản lý nhà nước đối với trường công lập với cơ chế quản lý nhà nước, đối với cơ quan hành chính nhà nước theo hướng trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho nhà trường công lập Các cơ quan chủ quản không làm thay, không can thiệp sâu vào hoạt động nội bộ của nhà trường

Các trường công lập được nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên, tự bảo đảm một phần kinh phí hoạt động thường xuyên, được chủ động quyết định mua sắm tài sản, trang thiết bị; đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, tham dự đấu thầu các hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ phù hợp với nhà trường Được sử dụng tài sản để liên kết đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ với tổ chức, cá nhân nước ngoài phù hợp với quy định của Việt nam

Hiệu trưởng nhà trường được tự chủ điều chỉnh mức thu học phí, lệ phí trong khung quy định của Nhà nước phù hợp với đặc điểm, tính chất, đối tượng đào tạo và vị thế, thương hiệu của nhà trường, đồng thời được chủ động phân bổ sử dụng các nguồn kinh phí hoạt động của mình Căn cứ vào kết quả tài chính trong năm nhà trường được xác định quỹ lương theo hệ số điều chỉnh tăng thêm mức lương tối thiểu so với mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định

Để phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo, tạo điều kiện quản lý đầu tư có hiệu quả,

cơ chế quy định nhà trường được làm chủ đầu tư các dự án đầu tư cho nhà trường thuộc nhóm B bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước và quyết định đầu tư nhóm C bằng nguồn vốn phát triển sự nghiệp của nhà trường và vay vốn tín dụng ưu đãi của nhà nước phù hợp với quy hoạch phát triển nhà trường đã được nhà nước phê duyệt Các trường đại học phải được tự chủ phê duyệt các dự án đầu tư xây dựng cơ bản dưới 20 tỷ đồng

Trên cơ sở đổi mới tư duy và xu hướng cải cách giáo dục đại học, các chính sách tài chính cần được hoạch định cho phù hợp, mang tính chất tự chủ và tự chịu trách nhiệm của từng trường đại học, cao đẳng

Các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng công lập hay ngoài công lập đều có các nguồn tài chính như sau:

Kinh phí do Nhà nước cấp:Kinh phí chi thường xuyên cấp theo đầu sinh viên (được tính theo chi phí đào tạo thực cho một sinh viên nhân với tổng số chỉ tiêu sinh viên được đào tạo) Tổng chỉ tiêu sinh viên được đào tạo cho một cơ sở đào tạo được phân theo bốn tiêu chí như Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề xuất (1 Tỷ lệ sinh viên/1 giảng viên, 2 Diện tích mặt sàn/1 sinh viên, 3 Giá trị thiết bị/1 sinh viên, 4 Tỷ lệ sinh viên phi chính quy/sinh viên chính quy) Kinh phí chi thường xuyên này được chuyển cho nhà trường thông qua hình thức tín dụng của sinh viên Không chuyển trực tiếp cho trường như bấy lâu nay Cách chuyển kinh phí này nhằm: Bảo đảm cho mọi sinh viên trúng tuyển đều có điều kiện học với học phí cao, đủ lấy thu bù chi cho các khoản chi thường xuyên trong đào tạo, nâng cao trách nhiệm của các cơ sở đào tạo đối với người học, thu hồi một phần kinh phí sau tốt nghiệp có việc làm

Trang 6

Kinh phí chương trình mục tiêu cấp theo kế hoạch chiến lược trung hạn của các cơ

sở đào tạo, được một hội đồng quốc gia về tài chính giáo dục đại học xét duyệt; nghiên cứu khoa học được cấp theo các dự án nghiên cứu nhằm thực hiện chương trình nghiên cứu khoa học; chính sách xã hội được cấp theo đối tượng được hưởng chính sách xã hội;

do sản xuất và đào tạo bổ sung; Đào tạo nguồn nhân lực cho cơ sở sản xuất: mỗi bên chịu 50% (trường – doanh nghiệp); nghiên cứu khoa học và dịch vụ phục vụ sản xuất, tuỳ theo tính chất công trình nghiên cứu hay dịch vụ mà nhà trường có thể góp từ 5 đến 10 %; hoạt động dịch vụ, tài chính của nhà trường; thực hiện các dịch vụ chuyển giao công nghệ, đào tạo bồi dưỡng; do chuyển giao các kết quả nghiên cứu, các tài liệu khoa học (các giáo trình, học liệu cho các hình thức đào tạo; hoạt động tài chính: hoạt động tiết kiệm, trái phiếu, trứng khoán; cho thuê muợn các cơ sở vật chất kỹ thuật

Nhà nước cần có quy định chính sách liên doanh, liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp qua việc lấy liên doanh này là điều kiện để cấp kinh phí Một mặt, nhà trường phải

tổ chức đào tạo nhân lực, hợp tác nghiên cứu, hoạt động dịch vụ cho doanh nghiệp, mặt khác doanh nghiệp phải đóng góp một phần nguồn nhân lực (kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị thực hành…) cho nhà trường Chính sách này không chỉ tạo nguồn lực cho nhau

mà còn làm cho đào tạo, sản xuất và nghiên cứu gắn với nhau và có hiệu quả hơn Nói tóm lại, phải có chính sách để doanh nghiệp có trách nhiệm đóng góp nguồn lực cho giáo dục đại học ngược lại kinh phí nhà nước cấp cho giáo dục đại học phải góp phần phát triển nguồn nhân lực cho doanh nghiệp

Kinh phí thu được do các hoạt động dịch vụ và tài chính của nhà trường bấy lâu nay chưa được chú ý đúng mức vì còn nặng tư duy bao cấp, theo quy định và quan niệm cho rằng đào tạo đại học là ngành sản xuất phi lợi nhuận Do vậy, cần có cơ chế chính sách phải bảo đảm để cơ sở giáo dục đại học có thể tăng nguồn thu, biến nguồn thu phụ thành nguồn thu chính qua các hoạt động sau:

Các hoạt động dịch vụ: thông tin khoa học, chuyển giao công nghệ, tư vấn chuyên môn, thiết kế quy trình, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ;

Kinh doanh học liệu: giáo trình, tài liệu học tập, sách báo, băng đĩa…trang thiết bị thí nghiệm, khoa học phải là nguồn thu đáng kể cho nhà trường mà bấy lâu chúng ta để thất thoát;

Thuê bao, tổ chức: các hoạt động học thuật, hội nghị, hội thảo quốc gia và quốc tế; Hoạt động tín dụng, cổ phiếu phát triển nhà trường, tạo cơ sở để nhà trường từng bước làm quen với trách nhiệm thu hồi vốn đầu tư nhận được;

Mở rộng các hoạt động nhà trường và người học cùng đóng góp

Đồng thới các trường đại học, cao đẳng cũng phải tự chịu trách nhiệm về quản lý hoạt động tài chính trong các trường đại học, cao đẳng, theo hướng Nhà nước ban hành quy định trao quyền tự chủ tài chính cho các cơ sở đào tạo, nhưng cũng thực hiện nguyên tắc tự chịu trách nhiệm Theo hướng phân cấp hạch toán đến từng đơn vị: Các nguồn thu cần tập trung; phân phối kinh phí theo trọng điểm, theo dự án, theo định hướng chiến lược phát triển của nhà trường; Các khoản chi có định mức, tiết kiệm thì thưởng, lãng phí thì chịu chế tài; Thanh tra kiểm tra và kiểm toán kịp thời việc thực hiện tài chính công khai, minh bạch và chính xác

Ngày đăng: 04/12/2015, 10:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w