1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tài chính giáo dục quốc tế trong só sánh giáo dục

30 443 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 326,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tỷ trọng chi cho giáo dục trong tổng chi tiêu của chính phủ:Vùng các nước Ả rập đã dành tỷ phần trong tổng chi tiêu của chính phủ cao hơn đáng kể các nước khác trong vùng.. Mặc dù các

Trang 1

TÀI CHÍNH GIÁO DỤC

QuỐC TẾ

TS Đỗ thị Bích Loan

Trang 2

Nội dung

Một số chỉ số phát triển GD-ĐT

Tài chính giáo dục của một số nước

So sánh giữa Việt Nam với một số

nước về tài chính giáo dục

Trang 3

I Chỉ số phát triển giáo dục ở một số nước trên thế giới

1 1 Số năm đi học bình quân

Từ nguồn số liệu thống kê của UNESCO năm 2007 cho thấy số năm đi học bình quân ở một số nước phát triển là tương đối cao, từ 14,9 năm ở Nhật đến 15,9 ở Đức và Mỹ, 16,7 năm ở Anh và 20,3 năm ở

Úc

Đối với các nước mới phát triển, số năm đi học bình quân của Ấn Độ là 10,5 năm, Indonesia: 11,7 năm, Thái Lan: 12,2 năm, Chi Lê: 14,1 năm Số năm học bình quân ở Việt Nam là 10,8 năm, cao hơn Ấn

Độ 0,3 năm, thấp hơn Thái Lan 1,8 năm, thấp hơn Nhật 4,1 năm, thấp hơn Đức và Mỹ 5,1 năm, thấp hơn Úc 9,5 năm

Trang 4

1 2 Số sinh viên trên 1 vạn dân

Theo số liệu Thống kê của Ngân hàng Thế giới, thì số sinh viên trên 1

vạn dân ở các nước phát triển và mới phát triển là rất khác nhau

ví dụ năm 2005 ở Úc là 504 sinh viên/1vạn dân, Hàn Quốc là 674, Mỹ

là 576, trong khi đó ở Anh là 380, ở Pháp là 359, Nhật: 316, Thái Lan: 374, Chi Lê: 407, Ấn Độ: 112, Indonesia: 162

So với các nước mới phát triển và các nước phát triển thì Việt Nam

vẫn còn ở mức thấp: 191 sinh viên/1 vạn dân (năm 2008), nhưng cao hơn Ấn Độ và Indonesia

Trang 5

1.3 Dân số và GDP/1 người dân theo đô la sức mua tương đương

Năm 2006, GDP/người của Việt Nam theo sức mua tương đương là

2.363 PPP.USD

Ở nhóm nước phát triển, Mỹ là nước có GDP/người cao nhất (gần

44 nghìn PPP.USD/năm), gấp 18 lần Việt Nam Các nước khác như Úc, Pháp, Đức, Nhật và Anh đều có GDP/người trên 30 nghìn PPP.USD, cao gấp từ 13-15 lần của Việt Nam

Trong nhóm nước mới phát triển, Chi Lê có GDP/người là 13.030 PPP.USD, cao gấp 5,5 lần của Việt Nam, Thái Lan có GDP/người là 7.599 USD, cao gấp 3,2 lần của Việt Nam GDP/người của Việt Nam thấp hơn Indonesia và gần bằng Ấn Độ

Trang 6

II Tài chính cho giáo dục của một số nước trên thế giới

2.1 Chi tiêu công cho giáo dục

Trang 7

Năm 2005, các nước ở Bắc Mỹ và Tây Âu có tỷ trọng cao nhất (trung bình 5,7%), sau đó là Châu Mỹ La tinh và Vùng biển Caribean, Châu phi cận Saharan (5%), Trung và Đông Âu (4,9%), Đông Á và Thái Bình Dương (4,7%), các nước Ả Rập (4,5%), Tây

và Nam Á (3,6%) và Trung Á (3,2%)

Sự khác nhau giữa các nước trong cùng một vùng cũng rất lớn, đặc biệt ở Đông Á và Thái Bình Dương, Châu Mỹ La Tinh và vùng biển Caribe, Châu phi cận Saharan Trong mỗi nước ở các vùng này, tỷ trọng chi tiêu công cho giáo dục trong tổng thu nhập quốc nội (GNP) cũng rất khác nhau, ít nhất là 9%

a Tỷ trọng chi cho giáo dục trong tổng thu nhập quốc nội (GNP)

Trang 8

 Trong 107 nước báo cáo, 26 nước có tỷ trọng chi tiêu công cho giáo dục trong GNP là 6% và lớn hơn, đó là: Botswana, Cape Verde, Ethiopia, Kenya, Lesotho, Namibia và Swaziland, Djibouti, Morocco, Saudi Arabia

va Tunisia, Malaysia, Bolivia va Guyana, Belarus Phần lớn các nước này

có dân số nhỏ (chỉ có 8 nước có dân số lớn hơn 5 triệu người) Riêng Bắc Mỹ và Tây Âu đã có 9 trong 26 nước có tỷ trọng chi hơn 6% và lớn hơn

 24 nước có tỷ trọng chi tiêu công cho giáo dục trong GNP là 3% và thấp hơn, đó là : Cameroon, Chad, Congo, Gambia, Guinea, Niger, Zambia, Lebanon, Mauritania, Ả rập thống nhất Emirates, Azerbaijan, Georgia và Kazakhstan, Campuchia, Indonesia, Lào, Philippin, Bangladesh, Pakistan, Dominican, El salvador, Guatemala, peru, Urguay

Trang 9

b Tỷ trọng chi cho giáo dục trong tổng chi tiêu của chính phủ:

Vùng các nước Ả rập đã dành tỷ phần trong tổng chi tiêu của chính phủ cao hơn đáng kể các nước khác trong vùng Vùng có tỷ trọng trung bình cao nhất là vùng Trung á (18%), sau đó là các nước Ả rập (17,5%) Đông Á và Thái Bình Dương, Châu Mỹ La Tinh và vùng biển Caribe, Tây và Nam Á có tỷ trọng trung bình giữa 13-15% Sự khác nhau giữa các nước này cũng rất lớn

Vùng Bắc Mỹ và Tây Âu có tỷ trọng chi cho giáo dục trong tổng thu nhập quốc nội (GNP) là cao nhất, nhưng lại có tỷ trọng chi cho giáo dục thấp nhất trong tổng chi tiêu của Chính phủ (dưới 13%)

Mặc dù các nước giàu có xu hướng dành phần chi GNP lớn hơn cho giáo dục và có ít sự khác nhau theo các nhóm thu nhập trong việc chia

sẻ tổng chi tiêu cho giáo dục Trung bình khoảng 16-17% đối với nhóm các nước có thu nhập thấp và trung bình thấp, cũng như nhóm các nước có thu nhập trung bình cao Còn nhóm các nước có thu nhập cao có tỷ trọng chi cho GD trong GNP thấp hơn (13%), bởi vì họ dành phần lớn hơn cho các phúc lợi xã hội (xem Bảng 4.2)

Trang 11

Sự thay đổi về tỷ trọng chi cho giáo dục trong tổng

thu nhập quốc nội (GNP) của các nước

Trang 12

2.2 Cấu trúc tài chính giáo dục theo các cấp học

Trang 14

2.3 Sự hưởng lợi chi tiêu công cho giáo dục đối với nhóm

hộ gia đình nghèo nhất và giàu nhất ở một số nước

Trang 15

2.4 Chi tiêu của hộ gia đình cho giáo dục

Trang 16

b Chi tiêu bình quân của hộ gia đìncho một học sinh tiểu học

Trang 17

c Chi tiêu của hộ gia đình cho giáo dục tiểu học theo nội dung chi

Trang 18

d Chi tiêu của hộ gia đình cho giáo dục theo các cấp học

Trang 19

III So sánh giữa Việt Nam và một số nước về

tài chính cho giáo dục

3.1 Chi phí hàng năm cho giáo dục tính bằng đô la theo sức mua tương đương của một số nước trên thế giới và Việt Nam

Phân tích số liệu thống kê chi phí hàng năm cho giáo dục của các nước trên thế giới tính theo sức mua tương đương cho thấy:

Chi cho giáo dục bình quân 1 học sinh, sinh viên ở Mỹ là cao nhất (năm 2002-2003 là 12.023 USD/học sinh, sinh viên/năm), gấp hơn 16 lần Việt Nam (năm 2006 chi cho 1 học sinh, sinh viên ở Việt Nam là

723 USD theo sức mua tương đương)

 ở Pháp là 7.807 USD (gấp hơn 11 lần Việt Nam), ở Thái Lan là 3.170 USD, Malaysia là 3.031 USD (gấp hơn 4 lần Việt Nam) (xem Bảng 1)

Trang 20

Biểu 1: Dân số, số năm đi học bình quân, số sinh viên trên 1 vạn dân, GDP/1 người dân theo đôla sức mua tương đương

GDP/người (Đô la sức mua tương đương)

So với Việt Nam (lần)

Trang 21

3.2 Chi cho giáo dục phổ thông (tiểu học, trung học) của 1 gia đình 4 người, có 2 con đi học (tính bằng Đô la Mỹ theo sức mua tương đương)

Chi phí cho con đi học phổ thông ở các nước phát triển chiếm từ 2,0% đến 10% thu nhập hộ gia đình,

ở các nước mới phát triển từ 1,9% đến 7,95%

Bình quân của 10 nước được khảo sát (Úc, Nhật, Hàn quốc, Mehico, Đức, Tiệp, Philipin, Indonesia, Ấn Độ, Chi Lê) là 5,74%, tức là gần 6% Vì đây là mức chi cho giáo dục của hàng trăm triệu hộ dân (dân số của 10 nước được khảo sát là hơn 2 tỷ người) mà họ đã chấp nhận trả thực tế, nên ta coi đây là mức chi trả bình quân tối đa khả thi theo kinh nghiệm quốc tế

Trang 22

Tỷ lệ chi bình quân của Nhà nước cho giáo dục mầm non ở nhóm 8

Hungary) là 80% tổng chi phí của giáo dục mầm non, người dân đóng góp 20%, phản ánh sự bao cấp cao của nhà nước đối với giáo dục mầm non Một số nước phát triển có tỷ lệ chi nhà nước cao như Anh, Pháp, Hungary (trên 90%); ngược lại một số nước có tỷ lệ chi của nhà nước khá thấp như Hàn Quốc (37,9%) và Nhật Bản (50%)

Tỷ lệ chi bình quân của Nhà nước cho giáo dục mầm non ở nhóm 4

66%, người dân chi 34% tổng chi phí cho giáo dục mầm non Ở Malaysia, nhà nước chi đến 92% tổng chi phí, nhưng ở Indonesia nhà nước chỉ chi có 5,3% tổng chi phí

3.3 Tỷ lệ chi của nhà nước và người dân cho giáo dục

mầm non, phổ thông và giáo dục nghề nghiệp

Trang 23

Tỷ lệ chi của nhà nước cho giáo dục mầm non ở Viêt Nam là 39%, gia đình người học chi trả 61% Tỷ lệ nhà nước chi cho giáo dục mầm non

ở Việt Nam đều thấp hơn so với bình quân nhóm nước phát triển và mới phát triển

Tỷ lệ chi bình quân của Nhà nước cho giáo dục phổ thông và giáo dục

Mỹ, Hungary) là 92% và 3 nước mới phát triển (Chi Lê, Ấn Độ, Indonesia) là 72,7% phản ánh sự bao cấp rất cao của nhà nước đối với giáo dục phổ thông và nghề nghiệp

Hầu hết các nước phát triển đều có tỷ lệ chi của nhà nước trên 80%,

một số nước nhà nước chi trả trên 90% chi phí (như Pháp, Hungary, Nhật, Mỹ) Việt Nam có tỷ lệ chi của nhà nước là 87%, cao hơn bình quân của các nước mới phát triển

Trang 24

3.4 Tỷ lệ chi của nhà nước và người dân cho đại học và sau đại học

Tỷ lệ chi của nhà nước và của người dân cho giáo dục đại học và sau đại học ở 8 nước phát triển là rất khác nhau, bình quân nhà nước chi 75,7%, người dân chi trả 24,3% (năm 2004) Những nước phát triển có tỷ lệ chi từ nhà nước cao hơn tỷ lệ bình quân, đó là: Đức 86,4%, Pháp 83,9%, Hungary: 79% Những nước phát triển có tỷ lệ chi từ nhà nước thấp hơn tỷ lệ bình quân là: Mỹ 35,4%, Hàn Quốc 21%, Nhật 41,2%, Úc 47,2%, Anh 69,6

 Ở 4 nước mới phát triển được khảo sát (Chi Lê, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia), tỷ lệ chi bình quân chung của nhà nước là 55,2%, người dân chi trả 44,8% Trong đó, một số nước có tỷ lệ chi từ nhà nước cao hơn tỷ lệ bình quân là: Ấn Độ 86,1%, Thái Lan 67,5%, một số nước có

tỷ lệ chi từ nhà nước thấp hơn tỷ lệ bình quân là Chi Lê 15,5%, Indonesia là 43,8%

Trang 25

 Ở Việt Nam, năm 2006, nhà nước chi chiếm 63,3% tổng chi phí đào tạo đại học, phần người dân chi là 36,7% Tỷ lệ nhà nước chi cho giáo dục đào tạo ở Việt Nam tương đương với Thái Lan, cao hơn tỷ lệ bình quân nhóm nước mới phát triển nhưng thấp hơn tỷ lệ bình quân nhóm nước phát triển

Trang 26

3.5 Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đào tạo so với GDP

 Chi ngân sách Nhà nước cho giáo dục và đào tạo ở 8 nước phát triển (Úc, Pháp, Đức, Nhật, Hàn Quốc, Anh, Mỹ, Hungary) chiếm

từ 3,6% đến 5,8% so với GDP, trong đó nước có tỷ lệ cao nhất là Pháp (5,8%) và nước có tỷ lệ thấp nhất là Nhật (3,6%), Anh và Mỹ đều có tỷ lệ là 5,3% GDP Tỷ lệ bình quân chi cho giáo giáo dục đào tạo ở các nhóm nước phát triển là 5,4% GDP

 Ở nhóm 7 nước mới phát triển (Chi Lê, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Philippin, Jamaica), tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho giáo dục khá khác biệt, từ 0,9% GDP ở Indonesia đến 6,2% GDP ở Malaysia Tỷ lệ bình quân của nhóm nước này là 3,9% GDP

 Việt Nam có tỷ lệ nhà nước chi cho giáo dục đào tạo tương đối cao (5,6% GDP) so với nhóm nước phát triển và mới phát triển Việt Nam chỉ thấp hơn Pháp trong nhóm nước phát triển và Malaysia trong nhóm nước mới phát triển

Trang 27

3.6 Tổng chi xã hội cho giáo dục và đào tạo

 So sánh tổng chi của xã hội cho giáo dục (bao gồm chi từ ngân sách nhà nước và chi từ người dân) với GDP ở một số nước cho thấy ở nhóm nước phát triển: Mỹ có tỷ lệ chi xã hội cho giáo dục

và đào tạo so với GDP là cao nhất (7,4% GDP), Nhật có tỷ lệ chi

xã hội cho giáo dục và đào tạo so với GDP là thấp nhất (4,8% GDP), Hàn Quốc: 7,2% GDP, Pháp: 6,1% GDP

 Một số nước có tỷ lệ chi ngân sách nhà nước không cao nhưng tỷ

lệ tổng chi xã hội cho giáo dục lại cao phản ánh tỷ lệ chi của người dân cho giáo dục và đào tạo khá cao ở những nước này (ví dụ như Hàn Quốc và Mỹ) Tỷ lệ tổng chi cho giáo dục đào tạo/GDP bình quân ở nhóm các nước phát triển là 5,7% và bình quân chi của tư nhân cho giáo dục đào tạo là 0,3% GDP

Trang 28

Phân tích tương tự cho thấy ở nhóm các nước mới phát triển, Chi Lê

có tỷ lệ chi cho giáo dục đào tạo là 6,4% GDP, Indonesia chỉ là 1,5% GDP, Chi Lê và Philippines có tỷ lệ chi của người dân cho giáo dục đào tạo khá cao, tương ứng là 2,9% GDP và 1,9% GDP Tỷ lệ bình quân nhóm các nước mới phát triển chi cho giáo dục đào tạo là 5,3% GDP, trong đó tỷ lệ chi bình quân của người dân cho giáo dục đào tạo

là 1,4% GDP

Việt Nam có tỷ lệ tổng chi xã hội cho giáo dục đào tạo trong GDP là 7,2% cao hơn bình quân các nước phát triển (5,7%) và mới phát triển (5,3%) Tỷ lệ Nhà nước chi cho giáo dục đào tạo/GDP của Việt Nam là 5,6%, cao hơn bình quân của các nước phát triển (5,4%) và các nước mới phát triển (3,9%) Tỷ lệ chi của người dân cho giáo dục đào tạo/GDP ở Việt Nam là 1,6%, cao hơn mức bình quân của các nước mới phát triển (1,4%) và các nước phát triển (0,3%), nhưng thấp hơn một số nước như Chi Lê (2,9%) và Philippin (1,9%)

Tổng hợp các so sánh Việt Nam với nhóm các nước phát triển và mới phát triển ở được trình bày trong Bảng 2

Trang 29

Biểu 2: Đầu tư cho giáo dục và đào tạo của Việt Namso với

các nước phát triển và mới phát triển

Trang 30

Xin trân trọng

cảm ơn

Ngày đăng: 03/12/2015, 22:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w