1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

QUÁ TRÌNH LẬP KẾ HOẠCH GIÁO DỤC

8 637 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 135,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Soạn thảo một kế hoạch giáo dục là một quá trình nhằm xác định các hành động thích hợp để giải quyết các vấn đề, đề ra các mục tiêu và chỉ tiêu, và tạo cơ sở để phân bổ nguồn lực một các

Trang 1

VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM

Họ và tên: Hoàng Thu Hồng

“ QUÁ TRÌNH LẬP KẾ HOẠCH GIÁO DỤC”

Tiểu luận kết thúc môn: Kinh tế học giáo dục

Lớp cao học QLGD, khoá 2008 – 2010

Hà Nội, ngày 6 tháng 5 năm 2008

Trang 2

Kinh tế học là môn học ra đời cách đây hơn 2 thế kỷ; xuất hiện khá nhiều định nghĩa nhưng định nghĩa thông dụng được nhiều nhà kinh tế thống nhất:

“Kinh tế học là môn học nghiên cứu xem xã hội sử dụng như thế nào nguồn tài nguyên khan hiếm để sản xuất ra những hàng hoá cần thiết và phân phối cho các thành viên của xã hội”

Kinh tế học giáo dục là một môn khoa học thuộc phạm trù Khoa học Xã hội, mới được hình thành từ những điểm chung của 2 môn khoa học là Giáo dục học và Kinh tế học Bởi vậy, về nội dung nó dựa trên tri thức của 2 môn khoa học trên, tổng hợp lại và tách ra theo chủ đề, làm cho các tri thức này hoà quyện, xâm nhập, trao đổi lẫn nhau hình thành nên môn khoa học mới mang tính liên ngành

I/ Quá trình lập kế hoạch giáo dục:

Có 2 cách tiếp cận trong quá trình Lập kế hoạch giáo dục:

Cách tiếp cận 6 bước

Cách tiếp cận 9 bước

Cả 2 cách tiếp cận này đều cho chúng ta biết mục đích của lập kế hoạch giáo dục là:

- Tổ chức đang ở đâu?

- Tổ chức muốn đi đến đâu trong tương lai?

- Làm thế nào để đến đó?

- Và làm thế nào để đo được bước tiến lên?

Không có một định nghĩa quốc tế chuẩn cho thuật ngữ lập kế hoạch giáo dục Chủ đề lập kế hoạch giáo dục trong môn Kinh tế giáo dục sử dụng những thuật ngữ kỹ thuật được dùng phổ biến nhất và chúng cũng đang được sử dụng rộng rãi ở nước ta, tuy nhiên trên thực tế có sự khác biệt nhất định

Chính sách:

- Chính sách có nghĩa là một quyết định hoặc một tập hợp các quyết định

đề ra định hướng chung để chỉ dẫn các quyết định và hành động tiếp theo

- Tiến trình đề ra chính sách (tiến trình chuẩn bị các chính sách) gồm: a) phân tích thực trạng/phân tích tổng thể ngành; b) xác định các vấn đề; c) hình thành cách ứng phó đối với các vấn đề; d) và đánh giá tính khả thi

Trang 3

- Việc đề ra các chính sách và tiến trình lập kế hoạch có mối liên hệ qua lại với nhau

Một bản kế hoạch là kết quả của một quá trình lập kế hoạch Kế hoạch mô

tả chi tiết cách thức để theo đuổi đạt được các mục đích/mục tiêu/chỉ tiêu Kế hoạch mang tính cụ thể về việc: phải đạt được cái gì, vào lúc nào, bằng cách gì,

ai là người chịu trách nhiệm, nguồn lực yêu cầu (đầu vào: cơ sở vật chất, tài chính, nguồn lực con người); những nguồn lực cần thiết có khả năng cung cấp

và quản lý, tổ chức việc thực hiện kế hoạch

Các loại kế hoạch khác nhau được thiết kế tuỳ theo từng giai đoạn nhất định và mức độ chi tiết của kế hoạch:

- Các kế hoạch dài hạn thường kéo dài 10 năm hoặc hơn, chứa đựng những mục đích và mục tiêu chung, tổng quát

- Các kế hoạch trung hạn, thường kéo dài ba đến năm năm, hình thành nên các chiến lược thực hiện bằng cách đề ra những mục tiêu và chỉ tiêu có thể đo lường được, đề ra các ưu tiên và phác thảo cách thực hiện

- Các kế hoạch ngắn hạn, thường kéo dài từ 1 đến 3 năm, được gắn liền với chu kỳ ngân sách công và đề ra các chương trình hoặc kế hoạch hành động

cụ thể (kể cả các kế hoạch tài trợ chi tiết)

Soạn thảo một kế hoạch giáo dục là một quá trình nhằm xác định các hành động thích hợp để giải quyết các vấn đề, đề ra các mục tiêu và chỉ tiêu, và tạo cơ

sở để phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả về mặt chi phí Quá trình lập kế hoạch gồm 6 khâu, trong đó 4 khâu đầu tiên liên quan tới việc soạn thảo một văn bản kế hoạch

Khâu 1: tìm hiểu thực tế về tình hình hoạt động hiện tại của ngành/cơ sở

ra sao và xác định những vấn đề cần giải quyết trong tương lai, cũng như thế mạnh cần duy trì hoặc củng cố trong tương lai, và tiến hành phân tích tổng thể ngành/cơ sở hoặc một phân tích tình hình trên diện hẹp hơn;

Khâu 2: vạch hướng cho tương lai, tức là soạn thảo kế hoạch, bằng cách

đề ra các mục đích chính sách và mục tiêu, hình thành các chương trình thực hiện, đề ra các chỉ tiêu, đánh giá yêu cầu nguồn lực, đề ra ưu tiên và thiết kế chiến lược thực hiện;

Trang 4

Khâu 3: thiết kế hành động bằng cách phác thảo các kế hoạch thực hiện (các chương trình hành động/dự án/giải pháp thực hiện) Bước này trong những năm gần đây đã được đưa vào quá trình lập kế hoạch, nhất là trong việc soạn thảo kế hoạch trung hạn Phác thảo các kế hoạch hành động chi tiết không phải

là một phần của việc soạn thảo kế hoạch dài hạn hoặc trung hạn Các kế hoạch hành động hoặc thực hiện chi tiết được soạn thảo sau khi kế hoạch trung hạn đã được Chính phủ/chính quyền và các cơ quan lập pháp liên quan phê chuẩn, và những kế hoạch hành động này tương ứng với bước thực hiện đầu tiên của kế hoạch trung hạn

Khâu 4: phê chuẩn kế hoạch như là một văn bản chính thức của chính phủ/chính quyền với tư cách chuẩn mực, định hướng các chương trình hành động các quyết định theo luật định, và ngân sách Theo nguyên tác thì kế hoạch được phê chuẩn là văn bản có giá trị ràng buộc về pháp lý, cũng giống như các văn bản pháp quy khác

Khâu 5: thực hiện và giám sát thực hiện kế hoạch Lập kế hoạch là một quá trình liên tục, cũng bao gồm cả việc giám sát thực hiện kế hoạch, thường xuyên cập nhật thông tin phân tích tình hình ngành/cơ sở, đánh giá kết quả và tác động của việc thực hiện và trên cơ sở thông tin phản hồi đó hình thành việc điều chỉnh về mặt chính sách và giải pháp thực hiện trong suốt thời gian thực hiện kế hoạch

Khâu 6: đánh giá kế hoạch, bao gồm cả việc đánh giá những gì đạt được liên quan tới các mục tiêu và chỉ tiêu về chất lượng hay số lượng đã đề ra, đem lại kết quả và tác động mong đợi đối với các nhóm đối tượng ưu tiên, cũng như

về hiệu quả chi phí của kế hoạch Kết quả đánh giá được sử dụng để cải tiến quá trình lập kế hoạch và đề ra chính sách trong các kế hoạch nối tiếp nhau

II/ Lập kế hoạch giáo dục cho một cơ sở:

Khái quát về lịch sử phát triển Trường Đại học Điện lực:

Tiền thân của Trường Đại học Điện lực là Trường kỹ nghệ thực hành do người Pháp thành lập năm 1898 Sau ngày Hoà bình lập lại, Nhà nước đã tách Trường Kỹ nghệ thực hành thành Trường Kỹ thuật I và Trường Kỹ thuật II Tháng 8/1962 Trường Kỹ thuật I được đổi tên thành Trường Trung cao Cơ điện

Trang 5

Ngày 8/02/1966 Trường Trung cao Cơ điện được tách ra thành Trường Trung học Điện (về sau được gọi là Trường Trung học Điện I) và Trường Trung học

Cơ khí (nay là Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội)

Thực hiện chủ trương sắp xếp lại mạng lưới các trường thuộc Tổng Công

ty Điện lực Việt Nam (nay là Tập đoàn Điện lực Việt Nam – EVN), tháng 4/2000 Bộ Công Nghiệp quyết định hợp nhất Trường Bồi dưỡng tại chức với Trường Trung học Điện I và lấy tên là trường Trung học Điện I thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam Địa điểm chính của trường tại số 235 Hoàng Quốc Việt, Từ Liêm, Hà Nội và Cơ sở 2 đóng tại Xã Tân Minh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội Ngày 26/10/2001 Bộ Giáo dục và Đào tạo ra quyết định nâng cấp Trường Trung học Điện I thành Trường Cao đẳng Điện lực Sau 5 năm ngày 19/5/2006 Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập Trường Đại học Điện lực trên cơ sở Trường Cao đẳng Điện lực

Sứ mạng Trường Đại học Điện lực:

Trường Đại học Điện lực là cơ sở đào tạo đa cấp, đa ngành, nghiên cứu khoa học và bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ cao theo hướng công nghệ Đại học Điện lực là nơi đào tạo ra những con người có kiến thức, kỹ năng, thái độ đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của thị trường lao động Đại học Điện lực phấn đấu trở thành Trung tâm đào tạo hiện đại, năng động, hội nhập với nền giáo dục trong khu vực và thế giới Sinh viên tốt nghiệp của trường là người làm chủ và sử dụng sáng tạo kiến thức phục vụ cộng đồng và xã hội.

Trường Đại học Điện lực là một trường đại học công lập đa cấp, đa ngành

có nhiệm vụ chủ yếu là đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao ở các bậc đào tạo cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam cũng như phục vụ nhu cầu xã hội, đồng thời là một trung tâm nghiên cứu khoa học – công nghệ hàng đầu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam

Trường Đại học Điện lực hiện có 9 khoa chuyên môn, 01 bộ môn, 01 Xưởng thực hành, 9 phòng ban chức năng và 3 Trung tâm Tổ chức đào tạo 11 ngành Đại học, 9 chuyên ngành Cao đẳng, 5 ngành Trung cấp chuyên nghiệp và đào tạo nghề cho các doanh nghiệp trong nước có nhu cầu

Trang 6

Tổng số cán bộ nhân viên của trường là 313 trong đó: giảng viên là 208, chuyên viên và nhân viên là 105

Trong tổng số 313 cán bộ, nhân viên có:

- 7 PGS (chiếm tỷ lệ 2%)

- 14 TS (chiếm tỷ lệ 4,4%)

- 96 Th.S (chiếm tỷ lệ 30,7%)

- 131 ĐH (chiếm tỷ lệ 41,9%)

- Trình độ khác (CĐ, TC, SC, PTTH) 65 chiếm tỷ lệ 20,7%

Như vậy tổng số cán bộ, viên chức có trình độ sau đại học là 117 người (chiếm 37,1%), trong đó số PGS, TS là 21 người (chiếm 6,4%), thạc sỹ 96 người (chiếm 30,7%) Theo quy định thì số giảng viên có trình độ tiến sĩ, thạc sỹ của nhà trường quá thấp (Nghị quyết 14/2005/NQ-CP của Chính phủ thì đến năm

2010 số giảng viên có trình độ tiến sĩ phải đạt 25%, thạc sỹ đạt 40%)

Chiến lược phát triển đội ngũ giảng viên

Định hướng phát triển:

Tính khả thi của đề án chiến lược đến năm 2015 được quyết định phần lớn

từ công tác tổ chức cán bộ, do vậy việc xác định chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ chính là công tác trọng tâm trong mọi kế hoạch phát triển Những năm tới, nhà trường quyết tâm phấn đấu xây dựng đội ngũ cán bộ đạt chuẩn hoá vào năm 2015 về cả chất lượng lẫn số lượng

- Về chất lượng: trong vòng 3 đến 5 năm tới, phấn đấu để hầu hết các chuyên ngành đào tạo đều có giảng viên có trình độ cao

- Về số lượng: bám sát nhu cầu thực tế để dự báo kế hoạch đào tạo và nghiên cứu khoa học cho từng giai đoạn, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước, trên cơ sở đó có kế hoạch xây dựng quy mô đội ngũ cán bộ của trường

Xác định hợp lý nhu cầu về đội ngũ cán bộ:

Năm 2015 số lượng đào tạo thường xuyên của trường là khoảng 9.000 sinh viên cho cả 2 cơ sở, do vậy dự kiến số lượng cán bộ công chức của trường khoảng 600 người, bao gồm:

Trang 7

- Đội ngũ giảng viên, giáo viên thực hành là 470 người có nghiệp vụ chuyên môn trình độ cao (70% có trình độ trên đại học) để phát huy hơn nữa hiệu quả của nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và lao động sản xuất

- Đội ngũ cán bộ quản lý và phục vụ 130 người, trong đó đại học và trên đại học là 80% Số còn lại tối thiểu 15% có trình độ Cao đẳng hoặc tương đương

Chiến lược đầu tư phát triển và chính sách cán bộ:

- Có kế hoạch đào tạo liên tục và thường xuyên đội ngũ cán bộ hiện có

Sử dụng hợp lý năng lực chuyên môn Bố trí cán bộ theo hướng chuyên sâu, nhưng đồng thời vẫn có khả năng triển khai và thực hiện tốt các công việc của đơn vị khi cần thiết (đặc biệt là đội ngũ giảng viên)

- Xây dựng chính sách ưu đãi chuyên gia giỏi Đặc biệt coi trọng chính sách thu hút các chuyên gia hàng đầu, tạo sự chuyển biến mạnh về chất của đội ngũ giảng viên, phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế

- Xây dựng kế hoạch và chính sách đầu tư cho các sinh viên giỏi để đào tạo đội ngũ cán bộ kế cận

- Tạo điều kiện cho cán bộ đi học tập, nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước để nâng cao trình độ và khả năng hội nhập

- Cụ thể hoá các tiêu chuẩn tuyển dụng, đồng thời có chính sách đề bạt hợp lý tạo điều kiện cho mọi cán bộ công chức phấn đấu và phát triển

Giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên:

Để xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên có chất lượng và số lượng hợp lý, trường thực hiện các giải pháp sau:

- Cử giảng viên đi học tập về chuyên môn nghiệp vụ và chính trị theo chiến lược quy hoạch, đào tạo đội ngũ cán bộ của trường

- Tạo mọi điều kiện cần thiết về thời gian, kinh phí cho giảng viên và cán

bộ quản lý đi học trong nước để đạt trình độ chuẩn hoá theo qui định

- Thực hiện chế độ tuyển giảng viên đi đào tạo ở nước ngoài theo kế hoạch và đào tạo bồi dưỡng giảng viên theo phương thức kết hợp giữa nhà nước, nhà trường và cá nhân

Trang 8

- Thường xuyên tuyển chọn và có kế hoạch bồi dưỡng, giữ lại trường những sinh viên có phẩm chất đạo đức tốt và thành tích học tập xuất sắc để đào tạo thành giảng viên

- Kiên quyết thực hiện chế độ sàng lọc, tuyển chọn cán bộ công chức nhằm đảm bảo đội ngũ có phẩm chất, có năng lực, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ được giao

- Đối với giảng viên đã nghỉ hưu theo chế độ, nhà trường chủ trương hợp đồng giao trách nhiệm theo khả năng của họ trong việc đào tạo đội ngũ cán bộ trẻ trên cơ sở kinh nghiệm đã tích luỹ

Một số chỉ tiêu cụ thể:

- Đến năm 2015 tổng số cán bộ công chức của trường là 600 người, trong

đó có 470 giảng viên (chiếm 78% số cán bộ công chức toàn trường)

- Đội ngũ giảng viên đạt 70% có trình độ trên đại học

- (10 – 15% có trình độ tiến sĩ), trong đó tỉ lệ Giáo sư, Phó giáo sư đạt 5 đến 10% Giảng viên chính trên 20%

- Chủ nhiệm bộ môn các môn chuyên ngành phải có trình độ Tiến sĩ Các

bộ môn cơ bản chủ nhiệm bộ môn phải có trình độ Thạc sỹ

- 100% cán bộ công chức có trình độ ngoại ngữ tương đương trình độ B Riêng giảng viên 80% sử dụng được ngoại ngữ chuyên môn, đọc sách chuyên môn, giao tiếp thông thường

- 100% cán bộ lãnh đạo, quản lý đạt tiêu chuẩn nghiệp vụ theo chức danh đảm nhận; 100% nhân viên được đào tạo đạt tiêu chuẩn nghiệp vụ chuyên môn đảm trách

Ngày đăng: 04/12/2015, 10:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w