Đào Tấn làm một ông quan to, áo mũ xênh xang nhưng trước sau ông không có hành động phản nước, hại dân và trong ông quan to ấy lại là một người dân nô lệ ôm nỗi đau đất nước tang thương,
Trang 1_
Phạm Thị Hồng Duyên
ĐẶC ĐIỂM THƠ VÀ TỪ ĐÀO TẤN
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Phạm Thị Hồng Duyên
ĐẶC ĐIỂM THƠ VÀ TỪ ĐÀO TẤN
Trang 3M ỤC LỤC
Trang phụ bìa 1
Mục lục D ẪN NHẬP 1
Ch ương 1: ĐÀO TẤN – CON NGƯỜI, THỜI ĐẠI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC 11
1.1 Con người và thời đại 11
1.1.1 Con người 11
1.1.2 Thời đại 24
1.2 Sự nghiệp sáng tác 29
1.2.1 Kịch bản tuồng 29
1.2.2 Thơ và Từ khúc 35
Ch ương 2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHÍNH TRONG NỘI DUNG THƠ VÀ TỪ ĐÀO TẤN 37
2.1 Tấm lòng ưu quốc ái dân 37
2.1.1 Nỗi niềm ưu tư quốc nạn 37
2.1.2 Tấm lòng yêu thương nhân dân 49
2.2 Tâm sự lữ khách tha phương và ước vọng hoàn hương ẩn dật 55
2.2.1 Nỗi niềm thương nhớ quê nhà 55
2.2.2 Giấc mộng hoàn hương ẩn dật 64
2.3 Tình yêu thiên nhiên và tình cảm thân tộc, bằng hữu 70
2.3.1 Tình yêu thiên nhiên 70
2.3.2 Tình cảm thân tộc sâu nặng, thiêng liêng 77
2.3.3 Tình bằng hữu keo sơn, thân thiết 90
Ch ương 3 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHÍNH TRONG NGHỆ THUẬT THƠ VÀ T Ừ ĐÀO TẤN 94
3.1 Ngôn ngữ 94
3.1.1 Từ ngữ 95
3.1.2 Câu thơ 104
3.2 Thể loại 119
Trang 43.2.1 Thơ tứ tuyệt 119
3.2.2 Từ khúc 127
3.3 Giọng điệu 133
3.3.1 Giọng trăn trở, cảm thương 134
3.3.2 Giọng châm biếm, phê phán 138
K ẾT LUẬN 140
DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 144
Trang 5D ẪN NHẬP
1 Lí do ch ọn đề tài
Năm 1858, giặc Pháp chính thức nổ súng tấn công nước ta, bằng thủ đoạn
“tằm ăn dâu” nham hiểm, chỉ trong một thời gian ngắn, chúng nhanh chóng chiếm
được sáu tỉnh Nam Kì Trong lúc đất nước khốn nguy “Nước về Phú lãng lương
ti ền cạn, Dân mắc cu li cốt nhục tàn”, chính quyền phong kiến nhà Nguyễn đã
chẳng hết lòng cùng nhân dân chống giặc lại còn vô cùng ươn hèn và khiếp nhược khi liên tiếp kí các hiệp ước giao đất cho kẻ thù Chẳng mấy chốc, giang sơn Việt Nam hoàn toàn rơi vào tay giặc
Trước sự xâm lăng của quân Pháp và sự đầu hàng của triều Nguyễn, tầng lớp
sĩ phu yêu nước đồng loạt nổi dậy lãnh đạo nhân dân chống giặc và chống chính quyền Trong không khí sục sôi nhiệt huyết cứu quốc đó, các văn sĩ chân chính đã
chọn cho họ những con đường đi khác nhau Có người chọn con đường cứu nước,
cứu dân, sẵn sàng hi sinh tất cả vì sự nghiệp giải phóng quê hương như Trương Định, Phan Bội Châu, Phan Đình Phùng, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Trọng Trì… có người chọn con đường cáo quan về ở ẩn để giữ trọn khí tiết, kí thác bao luyến tiếc cho giang sơn hào hùng một thuở vào thơ phú như Nguyễn Khuyến, Tú Xương… và cũng có những người tuy ra làm quan với nhà Nguyễn nhưng vẫn giữ
“chút lòng trinh bạch” với nước, với dân Họ cộng tác với triều đình chẳng qua là vì chưa thể thoát khỏi sự ràng buộc cố hữu của Nho gia về lí tưởng trung quân: mọi
việc trên thế gian đều do ý Trời quyết định, Trời giao phó tất cả cho vua – người mang chân mệnh thiên tử – “thế thiên hành đạo”, mọi sự phải trái vua chịu trách nhiệm với trời, còn nghĩa vụ của kẻ sĩ là phải lo sao cho trọn đạo “quân thần” Bề ngoài, họ lãnh đạm giữ những chức vụ quan trọng trong triều nhưng bên trong, họ đau buồn, tủi nhục trước cảnh nước mất nhà tan, nhân dân rên xiết dưới làn mưa đạn của kẻ thù Đào Tấn là một trong số những văn sĩ như thế Trong khi ở Bình Định, hàng loạt nghĩa sĩ hồ hởi tham gia phong trào Cần Vương, mấy nghìn sĩ tử bỏ thi về quê tụ nghĩa đánh Tây thì Đào Tấn thêm một lần nữa, bị ngụy triều đình của
Trang 6Đồng Khánh trưng tập ra kinh thành Huế Nhìn vào sự hanh thông trên con đường
hoạn lộ của Đào Tấn, có người đã từng thắc mắc: một ông quan làm đến chức Cơ
mật viện đại thần, hưởng nhiều ân sủng của các triều vua từ Tự Đức đến Thành Thái, lại còn trốn tránh phong trào Cần Vương, chẳng dám chống lại kẻ thù như Đào Tấn thì có gì đáng để biện minh? Thật ra, khi đánh giá một con người chúng ta
“không nên dùng cái thước đo giữa họ với mình” (K Marx), không thể chỉ căn cứ
vào những hành động, biểu hiện bề ngoài của họ Đào Tấn làm một ông quan to, áo
mũ xênh xang nhưng trước sau ông không có hành động phản nước, hại dân và trong ông quan to ấy lại là một người dân nô lệ ôm nỗi đau đất nước tang thương, nhân dân điêu linh, một nhà Nho yêu nước, yêu dân nhưng ngơ ngác, bơ vơ, trĩu
nặng những giằng xé về hai chữ trung quân trong cơn sóng gió của thời đại Hơn
nữa, theo đồng bào Bình Định, Đào Tấn thăng quan tiến chức nhanh là nhờ tiếng hay chữ và tiếng làm nghệ sĩ (thầy tuồng) hơn là vì làm “việc quan” giỏi
Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hạnh đã từng nói, đại ý: để tìm hiểu tư tưởng
của một con người, đặc biệt là người nghệ sĩ, người ta có thể căn cứ vào thành phần
của anh ta, vào những lời anh ta phát biểu đây đó, trong gia đình hay ngoài xã hội, vào những tác phẩm chính luận nhưng “phần tư tưởng sâu kín và trung thực nhất
của anh ta, phần có sức thuyết phục nhất đối với người đọc lại nằm ngay trong tác phẩm nghệ thuật” Điều đó đúng với tất cả mọi nghệ sĩ và đúng với Đào Tấn Vị
“trạng nguyên tuồng hát” (Nguyễn Hiến Dĩnh) ấy không có những tác phẩm chính
luận đanh thép, hùng hồn nhưng ông gói trọn tấc lòng ưu quân ái quốc, nỗi sầu thương đất nước nô lệ, nhân dân cơ cực, lầm than trong rất nhiều kịch bản tuồng, hàng trăm bài thơ, từ, văn biểu Với hàng chục vở tuồng xuất sắc đã sáng tác, nhuận
sắc và những đóng góp to lớn cho sự phát triển nghệ thuật tuồng, Đào Tấn được người đời yêu mến, kính trọng và tôn phong là hậu tổ của nghệ thuật hát bội Nhưng, bên cạnh vị thế tác giả xuất sắc của hàng chục kịch bản tuồng nổi tiếng, ông
còn được người đời xưng tụng với cương vị nhà thơ, “nhà viết từ khúc lỗi lạc” (Đỗ
Văn Hỷ) Tìm hiểu thơ và từ Đào Tấn, chúng ta không chỉ có cái nhìn trọn vẹn hơn
về con người, nhân cách, tư tưởng và tâm hồn “mai hoa” cao quý của nhà thơ, hiểu
Trang 7thêm nỗi lòng, tâm trạng của một vị quan chính trực, có “đủ lương tri trí tuệ sáng
su ốt để thấy rõ kẻ thù chủ yếu của mình nhưng bất lực và bế tắc trong một thời kì hoàn toàn b ế tắc” [52,231] mà còn thấy được bút pháp tinh tế, uyển chuyển, tài hoa
của tác giả khi sáng tác thơ ca và từ khúc Đó cũng là lí do người viết chọn đề tài
“ Đặc điểm thơ và từ Đào Tấn”
2 L ịch sử vấn đề
Nghiên cứu về Đào Tấn và sự nghiệp văn chương của ông đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và không ít các bài phê bình, đánh giá Đặc biệt, tháng 12 năm 1977, Ty Văn hóa và Thông Tin Nghĩa Bình đã tổ chức hội nghị khoa học nghiên cứu nghệ thuật tuồng Đào Tấn để làm sáng tỏ thân thế và sự nghiệp của tác
giả, qua đó đánh giá toàn bộ con người và sự nghiệp của một nghệ sĩ lớn trót sinh vào thời đại mà “mọi điều đều đảo ngược” (Bế Kiến Quốc) Trong các bản tham
luận đó, bên cạnh những bản tập trung tìm hiểu tâm trạng Đào Tấn qua các vở
tuồng, nghiên cứu về nghệ thuật tuồng Đào Tấn nói chung cũng như đi sâu phân tích từng vở tuồng nói riêng để xác định tiếng nói nhân đạo hay tâm trạng bế tắc, bi
phẫn của nhà soạn giả lỗi lạc còn có những bản tham luận nghiên cứu và đánh giá
về thơ và từ khúc của Đào Tấn
Trong bài “Tìm hi ểu Đào Tấn” (Kỷ yếu hội nghị Đào Tấn, nhà thơ, nghệ sĩ
tu ồng xuất sắc, Ty Văn hóa và Thông tin Nghĩa Bình), Xuân Diệu tỏ ra đặc biệt
quan tâm đến từ khúc của Đào Tấn “Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” cho
rằng “người viết tuồng Đào Tấn và người làm từ khúc Đào Tấn là một, có người
tâm h ồn bên trong dào dạt mà viết từ, mới có người hành động xã hội bằng viết
tu ồng Người viết tuồng Đào Tấn phấn đấu để viết tuồng cho tốt, cho có tác dụng xã
h ội, đồng thời người làm từ Đào Tấn lắng nghe tâm hồn mình, tâm trạng mình ”
Qua việc giới thiệu một số bài từ, chỉ ra nội dung của từ Đào Tấn (“những tâm tình,
tình c ảm của một con người đứng trước thiên nhiên, trước xã hội và nhất là trước cái th ực tiễn có thật là bản thân tâm trạng của mình”,“nói đến cao độ cái buồn đau
c ủa mình” [11,242]), đánh giá về “không khí nhạc điệu tâm tình” các bài từ, Xuân
Diệu có nhận định “Từ của Đào Tấn báo hiệu chủ nghĩa lãng mạn” [11, 242]
Trang 8Tác giả Thu Hoài trong bản tham luận “Đất nước và tâm trạng Đào Tấn
qua m ột số thơ và từ” (Kỷ yếu hội nghị Đào Tấn, nhà thơ, nghệ sĩ tuồng xuất sắc,
Ty Văn hóa và Thông tin Nghĩa Bình) cũng đưa ra một số nội dung cơ bản của thơ
và từ Đào Tấn như ghi lại hiện tình đất nước (ở nơi kinh thành và quê hương Quy Nhơn của tác giả) trong những năm cuối thế kỉ XIX, thể hiện nỗi buồn, sự băn khoăn, nỗi cô đơn, sự bế tắc trong tư tưởng của nhà thơ, phản ánh tấm lòng yêu thương, trân trọng nhân dân lao động của vị “quan to song lại lắm phen thăng
trầm”: “Thi sĩ rất mực yêu con người, tình ông thăm thẳm đậm đà, mọi vật dưới
ngòi bút ông đều sinh động, đáng yêu như một tâm hồn quyến rũ” [16,443], thể hiện
“kh ối mâu thuẫn lớn trong ý thức hệ của bản thân tác giả” [16,446] Ngoài ra, còn
có một số nội dung được tác giả Thu Hoài nhắc đến như tình cảm bè bạn, tình cảm
với người vợ hiền Trong phần cuối bản tham luận của mình, tác giả bài viết đã đưa
ra một nhận định về thơ và từ của cụ Đào: “Con người trong thơ chữ Hán của ông
đã bắt đầu có cá tính, thế giới nội tâm đã được miêu tả, tái hiện trung thực và đa
d ạng Trước kia Phạm Thái đã viết từ, song phải đến Đào Tấn, từ mới được sử
d ụng một cách uyển chuyển tài tình” [16,449]
Cũng tại hội nghị khoa học nghiên cứu nghệ thuật tuồng Đào Tấn năm 1977, tác giả Lê Xuân Lít đã trình bày những nghiên cứu của mình về nỗi lòng cụ Đào qua
những trang thơ và từ viết về đề tài mùa xuân Trong bản tham luận “Mùa xuân
trong thơ và từ của Đào Tấn”, tác giả đã viết: “Đào Tấn mong đừng thay đổi ước
mơ hay đúng hơn là đừng thay lòng Nhưng thực tại bộc con người lúc ấy phải thay lòng, n ếu không mọi ước mơ đều bị tan vỡ Cái bi kịch của tâm trạng nhà thơ họ Đào là chỗ ấy.” [26,433]
Nhà nghiên cứu Hồ Đắc Bích với bản tham luận “Đào Tấn qua thơ, từ và
k ịch bản tuồng” (Kỷ yếu hội nghị Đào Tấn, nhà thơ, nghệ sĩ tuồng xuất sắc, Ty
Văn hóa và Thông tin Nghĩa Bình) cũng đã đưa ra một số ý kiến của mình về con
người và một vài nội dung cơ bản trong thơ và từ của Đào Tấn Theo tác giả, “khi
được đi ra ngoài (ra khỏi bốn bức tường của thư phòng), được tiếp xúc với thực tế, khi ph ải gánh vác vai trò phụ mẫu chi dân” tư tưởng của Đào Tấn đã có sự chuyển
Trang 9đổi từ việc coi “ý vua là ý trời”, ca ngợi chính sách “dĩ hòa vi quý” của triều đình trước thủ đoạn tằm ăn dâu của thực dân Pháp” sang băn khoăn, chông chênh với tư
tưởng trung quân “Ông cảm thấy buồn cùng cái buồn của quê hương […] buồn cái
bu ồn của đất nước […] và Đào Tấn suy nghĩ về trách nhiệm của mình trước cảnh đau buồn ấy” [3,169] Tất cả những tâm sự, phiền muộn, những day dứt, trăn trở ấy
được Đào Tấn kí gửi trong cả tuồng cũng như thơ, từ khúc
Ở bài viết “Thơ Đào Tấn” đăng trên báo Đại đoàn kết số 45 năm 1977, qua
việc phân tích một số bài thơ trong “Mộng Mai từ lục”, tác giả Hồ Sĩ Hiệp đã giới thiệu khái quát cuộc đời và sự nghiệp của Đào Tấn Trong bài viết của mình tác giả cũng khẳng định rằng, mặc dù Đào Tấn không tham gia phong trào Cần Vương, nhưng ông đã tỏ ra có cảm tình với cuộc khởi nghĩa của Mai Xuân Thưởng, Phan Đình Phùng, với phong trào yêu nước do Phan Bội Châu đề xướng Tuy làm quan cho triều đình nhà Nguyễn, thậm chí là một ông quan to được vua và triều thần
trọng vọng nhưng trong một số bài thơ, tâm trạng u uất đối với thực trạng đất nước
và tấm lòng yêu nước sâu kín của nhà thơ được bộc lộ rõ rệt Đó cũng là tâm sự chung của các nhà thơ yêu nước đương thời
Năm 1978, nhà thơ Xuân Diệu một lần nữa nói đến một số nội dung của thơ
và từ của Đào Tấn với bài viết “Tìm hiểu nhà thơ Đào Tấn” (Tạp chí văn học, số
1) Theo Xuân Diệu, “Có một số bài thơ (và câu đối) của Đào Tấn phản ánh cái
chí, cái hoài bão c ủa mình bắt nguồn từ thái độ ẩn sâu của Đào Tấn” Qua phân
tích bài thơ “Đề Chùa Ông Núi” của Đào Tấn, nhà thơ họ Ngô cho rằng: “Tâm trí
ông (Đào Tấn) dập dồi giữa hai đường đi, hai thái cực: con đường đẹp nhất cao cả
nh ất là đi cứu nước, chống địch, và con đường lẩn tránh, ẩn náu là đi tu” Cũng
trong bài viết này, Xuân Diệu đã khẳng định: Từ chính là “nhật kí tâm hồn” của Đào Tấn và “Hai từ chính của từ khúc họ Đào, là “Thậm cảm hưng vong việc nước
nhà” và n ỗi buồn thân thế […] thân thế đây là cái thân thế hoài bão, thân thế ý chí, xét v ề mặt ấy thì Đào Tấn mãi mãi lênh đênh” [7]
Tác giả Hồ Sĩ Vịnh cũng đưa ra một số nhận định cá nhân về thơ và từ Đào
Tấn trong bài viết “Thơ và từ của Đào Tấn – mấy cảm nhận” trên báo Khoa học
Trang 10xã h ội, Số 33, năm 1997 Theo tác giả, có “hai nội dung chính thường lặp đi lặp lại trong t ừ của Đào Tấn, đó là: Nặng lòng cảm hoài về số phận hưng vong của đất nước trước thảm kịch mới của lịch sử và nỗi buồn của đấng nam nhi chưa làm tròn
ph ận sự” Ngoài ra, bài viết cũng điểm qua vài nét về nghệ thuật trong một số bài
thơ của cụ Đào: “Thơ Đào Tấn có nhiều bài như một bức tranh, một bức tranh có
m ột nét chấm phá Người ta tổng kết thơ Trung Hoa có đặc điểm “thi trung hữu
h ọa”, có lẽ cũng đúng với nhà thơ họ Đào […] Nhân vật trữ tình trong thơ Đào Tấn thường nói ít, im lặng nhiều Dường như nhà thơ cố tình để “ý tại ngôn ngo ại””[62]
Trên tạp chí Sông Hương, số 104 (tháng 10), năm 1997, tác giả Đặng Hiếu Trưng (cháu ngoại của Đào Tấn) đã đưa ra một vài ý kiến về thơ và từ của nhà thơ
họ Đào Ở bài viết “Cảm nhận về tâm hồn và tài năng Đào Tấn qua thơ và từ của
ông”, tác gi ả đã nhận xét: “Về căn bản, dòng thơ ông Đào đẫm chất trữ tình Ý thơ
bu ồn hơn vui, dòng thơ lãng mạn và đẹp đẽ của ông đã cống hiến cho người đọc, người xem, người nghe những phút gần như xuất thần, […] những bài thơ hay như
nh ững món bổ dưỡng tinh thần” [60]
Tác giả Trường Lưu với bài viết “Thơ Đào Tấn và nỗi lòng ưu thời mẫn
th ế của ông (Qua tác phẩm Mộng Mai thi tập)” trên báo Văn nghệ Bình Định, Số
30 năm 2000 cũng đã đánh giá rất cao thơ Đào Tấn Theo tác giả, nhiều bài thơ của
Đào Tấn đã “đạt đến chiều cao sâu của nghệ thuật ngôn từ” và qua việc tìm hiểu
“nh ững gì trong kho tàng văn chương của ông được công bố, chúng ta bước đầu
th ấy được tài nghệ và tâm sự của ông gửi gắm trong đó, và cảm động nhất là những
v ần thơ ưu thời mẫn thế”.[28]
Ở mục “Đào Tấn” trong Từ điển Văn học (bộ mới), 2003, sau khi giới thiệu
sơ lược cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của cụ Đào, Nguyễn Lộc có bàn luận về thơ
và từ của ông Tác giả viết: “Đào Tấn có một số bài thơ kín đáo ca ngợi những nhà
chí sĩ yêu nước chống Pháp lúc bấy giờ như Hoàng Diệu, Phan Đình Phùng, Phan
B ội Châu Nhiều bài thơ của ông nói lên nỗi buồn sâu lắng trước cảnh đất nước ngày m ột rơi vào tay giặc mà mình vẫn bó tay, bất lực Trong sáng tác thơ, Đào
Trang 11T ấn sở trường về các thể từ điệu Những bài từ của ông thường nhẹ nhàng, tình tứ,
có phong cách lãng m ạn khá rõ” [27,382]
Tác giả Nguyễn Thị Ánh trong luận văn Thạc sĩ Ngữ văn “Thế giới nghệ
thu ật thơ Đào Tấn” đã tập trung phân tích cảm quan về cuộc sống và con người
cũng như phương thức thể hiện của thơ Đào Tấn
Gần đây, trong hai bài nghiên cứu của mình về thơ Đào Tấn, tác giả Nguyễn
Đình Thu cũng đã đưa ra một số ý kiến đáng quan tâm Nếu ở bài “Giọng điệu thơ
Đào Tấn”, sau khi khảo cứu toàn bộ thơ chữ Hán của Đào Tấn và đi sâu phân tích
các giọng điệu chủ yếu trong thơ ông như: sôi nổi, thiết tha, ngợi ca, thương cảm,
chua xót, phê phán, đả kích, trăn trở, suy tư tác giả đã đi đến kết luận: “Qua
gi ọng điệu thơ Đào Tấn, chúng ta có thể khẳng định ông là con người có nhiều
ph ẩm chất đáng quý của một bậc hiền nho, yêu thiên nhiên, có tư tưởng thân dân,
có khát v ọng cứu nước Đó còn là một người vừa sôi nổi, thiết tha nhưng cũng hay yên l ặng trong những trăn trở, suy tư Tất cả điều đó là biểu hiện của một vị quan đầy trách nhiệm nhưng cũng là con người cá nhân đa tình, đa cảm” [55] thì trong
bài “Con người thiền nhân Đào Tấn trong thơ”, tác giả lại tập trung nghiên cứu
mảng thơ viết về đạo Phật của Mộng Mai tiên sinh và chỉ ra rằng “chính chất Thiền
trong con người Đào Tấn đã góp phần làm cho một trọng quan triều đình mà lại rất
g ần gũi với nhân dân, sống nhân ái chan hòa, thấu hiểu được thế thái nhân tình trong xã h ội ba đào đầy biến động” [56]
Nh ận xét chung:
Bước đầu tìm hiểu, chúng tôi đã thu thập được một số tài liệu nghiên cứu, đánh giá về thơ và từ của Đào Tấn Các bài viết này đã ít nhiều đưa ra được một vài phương diện cơ bản trong nội dung cũng như nghệ thuật thể hiện trong thơ và từ khúc của cụ Đào, đồng thời phác họa đôi nét về tâm hồn, nhân cách, những trăn trở, day dứt trong lòng vị quan lớn liêm khiết, trinh bạch triều Nguyễn Tuy nhiên, chưa
có một công trình nào nghiên cứu hoàn chỉnh về nội dung và nghệ thuật của hai
mảng sáng tác này trong di sản nghệ thuật mà Đào Tấn để lại
Trang 123 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng mà luận văn tập trung nghiên cứu là các sáng tác thơ và từ của tác
giả Đào Tấn Qua thơ và từ của Mộng Mai tiên sinh, luận văn hướng đến làm rõ
những nét cơ bản trong nội dung và nghệ thuật biểu hiện của các sáng tác, đồng thời góp phần khám phá vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách cao quý của tác giả
Tài liệu khảo sát chủ yếu của luận văn là tập văn bản: Thơ và từ Đào Tấn,
Vũ Ngọc Liễn (chủ biên), Nguyễn Thanh Hiện, Tống Phước Phổ, Mạc Như Tòng,
Đỗ Văn Hỷ hiệu đính, Xuân Diệu giới thiệu, Hoàng Trung Thông bạt (Nxb Văn
học, Hà Nội, 1987)
4 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài Đặc điểm thơ và từ Đào Tấn, chúng tôi vận dụng các
phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
− Phương pháp thống kê: phương pháp này được áp dụng để thống kê các nội
dung thường lặp đi lặp lại trong 110 bài thơ và từ của Đào Tấn Kết quả thống
kê này cho phép người viết bước xác định được tâm trạng, những tình cảm, suy tư, trăn trở chủ yếu của tác giả khi mượn thơ ca, từ khúc để ký thác nỗi lòng
− Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phương pháp này được vận dụng nhằm
tiếp cận và khảo sát từng tác phẩm thơ và từ cụ thể, từ kết quả phân tích, chúng tôi sẽ khái quát nên những luận điểm chính trong nội dung cũng như nghệ thuật thể hiện của các tác phẩm
− Phương pháp loại hình: Thơ của Đào Tấn là thơ cổ điển, mang những đặc
điểm của thơ chữ Hán (hàm súc, cô đọng, “ý tại ngôn ngoại”…), còn Từ thì mang đặc điểm ngôn ngữ của thể loại từ (uyển ước, thanh tân, giàu nhạc điệu) Luận văn sử dụng phương pháp loại hình nhằm xác định những điểm
gặp gỡ về nghệ thuật thể hiện của thơ, từ Đào Tấn so với thơ chữ Hán, từ khúc nói chung và những nét độc đáo, sáng tạo của riêng tác giả
Ngoài các phương pháp trên, luận văn còn kết hợp sử dụng một số phương
pháp khác như phương pháp lịch sử (nghiên cứu những ảnh hưởng của thời đại,
Trang 13các yếu tố văn hóa đến nội dung sáng tác và nghệ thuật biểu hiện của các bài thơ,
từ), phương pháp so sánh để làm rõ đặc điểm nội dung và nghệ thuật của thơ và từ
Đào Tấn
5 Đóng góp của luận văn
Bằng việc phân tích, tìm hiểu, lí giải các tác phẩm thơ và từ cụ thể, luận văn
cố gắng đưa ra cái nhìn hoàn chỉnh, bao quát về những đặc điểm chính trong nội dung của thơ và từ Đào Tấn Từ đó, khẳng định vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách và tấm lòng yêu nước, yêu dân của Mộng Mai thi sĩ
Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về nghệ thuật thể hiện của hai mảng sáng tác này của Đào Tấn, người viết mong muốn chỉ ra những điểm đặc sắc trong
thơ và từ khúc, đặc biệt là ở thể loại từ vì Đào Tấn là tác giả được đánh giá là “nhà
vi ết từ khúc lỗi lạc” với số lượng từ khá phong phú về số lượng, sâu sắc về nội dung
và tinh tế trong hình thức thể hiện
6 C ấu trúc luận văn
Cấu trúc luận văn gồm các phần cơ bản sau:
− Phần mở đầu
− Phần nội dung: gồm 3 chương
+ Chương 1: Đào Tấn – con người, thời đại và sự nghiệp sáng tác
Trong chương này, luận văn sẽ giới thiệu về thân thế, quan nghiệp, sự nghiệp sáng tác cũng như thời đại mà Đào Tấn sinh trưởng, tham chính để từ đó tìm hiểu
những tác động của quê hương, gia đình, bối cảnh xã hội đến tâm trạng, tư tưởng
của nhà thơ cũng như tìm hiểu những tình cảm của ông với đất nước, dân tộc, với gia đình, bằng hữu
+ Chương 2: Những đặc điểm chính trong nội dung thơ và từ Đào Tấn
Ở chương hai, chúng tôi sẽ tập trung phân tích và chỉ rõ những đặc điểm chính về nội dung của thơ và từ Đào Tấn, từ đó khám phá những miền tâm trạng ẩn kín, những ưu tư, trăn trở trong suy nghĩ cũng như hiểu thêm nỗi lòng, tâm trạng
của một con người trung lương, chính trực
+ Chương 3: Những đặc điểm chính trong nghệ thuật thơ và từ Đào Tấn
Trang 14Trong chương ba, luận văn sẽ tìm hiểu những đặc điểm về mặt ngôn ngữ, thể
loại và giọng điệu của thơ và từ Đào Tấn Việc phân tích những đặc điểm nghệ thuật ở đây sẽ góp phần cùng với việc chỉ ra những đặc điểm nội dung làm sáng tỏ con người, nhân cách, tư tưởng và tâm hồn thanh sạch của nhà thơ
− Phần kết luận
− Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 15Chương 1: ĐÀO TẤN – CON NGƯỜI,
TH ỜI ĐẠI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC
1.1 Con người và thời đại
1.1.1 Con người
1.1.1.1 Thân th ế
Đào Tấn tên thật là Đào Đăng Tấn, tự là Chỉ Thúc, hiệu là Mộng Mai và Tô Giang, tiểu hiệu là Mai Tăng Ông sinh ngày 27 tháng 2 năm Ất Tỵ (1845) (năm Thiệu Trị thứ 5), mất ngày rằm tháng 7 năm Đinh Mùi tức ngày 28 tháng 8 năm
1907, thọ 63 tuổi Tuy nguyên quán Đào Tấn ở làng Vinh Thạnh, tổng Nhơn Ân,
phủ Tuy Phước, tỉnh Bình Định (nay là Vĩnh Thạnh, Phước Lộc, Tuy Phước, Bình Định) nhưng từ thuở lọt lòng cho đến khi theo gia đình trở về quê cha mưu sinh, tránh nạn cường hào, ông gắn bó chủ yếu với mảnh đất Tùng Giản (tục gọi là Gò
Bồi, cũng thuộc phủ Tuy Phước) Đào Tấn sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân thanh bần, nền nếp, đức độ, chuộng nghĩa mến nhân Những di sản tinh
thần tốt đẹp đó chính là nền tảng vững chắc cho sự hình thành nhân cách cao đẹp
của ông về sau Thân phụ Đào Tấn là cụ Đào Đức Ngạc, một nho sĩ nghèo, chuyên nghề thầy thuốc và nghề coi tướng số Sau khi kết duyên cùng cô thôn nữ Hà Thị Loan, con gái một gia đình người Huế di dân vào Bình Định sinh sống, chàng nho sĩ nghèo làng Vinh Thạnh quyết định lập nghiệp tại vùng Gò Bồi Chồng tiếp tục nghề
cũ, vợ bán quán và đổi nước chè, họ sống thanh bạch, yên ấm trong một mái nhà tranh đơn sơ, nhỏ hẹp phía dưới chợ Gò Bồi, dọc theo bờ đê, đường xuống Tân
Giản để tới bến đò qua Quy Nhơn Gia đình cụ Đào Đức Ngạc có ba người con trai, song người con cả là ông Đào Đức Hanh và người con út là ông Đào Tịnh Viễn đều không có gì xuất sắc, chỉ có Đào Tấn sau này thi đỗ làm quan, chức cao quyền
trọng, lập nhiều công trạng có ích cho dân, cho nước, đồng thời có nhiều đóng góp
xuất sắc cho nền văn học nước nhà
Với bản chất thông minh, lanh lẹ, ngay từ nhỏ Đào Tấn đã sớm yêu thích văn chương, say mê tuồng hát bội Những lúc thư nhàn, rảnh rỗi ông thường hay cùng
bạn bè bắt chước diễn trò tuồng hát mua vui Tuy ham chơi và không chuyên chú
Trang 16vào việc học với các thầy đồ quanh vùng Gò Bồi nhưng Đào Tấn rất sáng dạ, học đâu nhớ đó, 13, 14 tuổi đã tinh thông nghĩa sách và biết làm thơ Người dân vùng
Gò Bồi vẫn truyền tai nhau câu chuyện cậu bé Đào Tấn làm thơ giễu ba người khách cao ngạo khi xưa Hôm ấy, có ba người khách vào quán bà cụ thân sinh của Đào Tấn uống nước Trời trưa có gió nồm, không gian trong quán lại thoáng đãng,
ba người cao hứng làm thơ Chuyện sẽ chẳng có gì nếu họ không kiêu căng, đắc ý, không coi người xung quanh ra gì Thấy điều chướng tai, gai mắt, cậu bé Đào Tấn – khi ấy đang ngồi giúp mẹ quạt nước bên cạnh – liền lấy cây quạt lửa quạt lia quạt lịa trước mũi Một người khách thấy vậy bèn hỏi:
− Chú nhỏ biết làm thơ à?
Đào Tấn đáp:
− Biết chút chút
Người khách lại nói:
− Vậy hãy vịnh Bát nước chè Hễ hay thì thưởng tiền, dở thì đánh 10 cán quạt Đào Tấn nghĩ ngợi chốc lát rồi đọc:
Trên th ời bọt nước lênh đênh nổi Dưới lại con rồng dấp dới bay
Ba ông khách đều kinh ngạc, đang định lấy tiền thưởng thì cậu bé họ Đào ngăn lại
và đọc tiếp hai câu:
M ỗi chữ nghìn vàng cân mới xứng
Ba th ầy một nhúm thấm chi khoe
Nói xong bỏ chạy mất
Lớn hơn một chút, Đào Tấn thường hay làm thơ, vè hài hước đem dán tại
chợ Gò Bồi để bài xích, giễu nhạo lũ cường hào, hương thân hay hà hiếp, sách nhiễu dân lành Năm Đào Tấn 18 tuổi, vua Tự Đức ban bố 10 điều răn (Thập điều)
để cải tạo tư tưởng, tổ chức xã hội và buộc nhân dân phải học tập Hàng trăm nhân
khẩu làng Tùng Giản bị bắt đến đình làng nghe giảng những điều vô bổ, vừa mệt
vừa bất mãn song chẳng ai đủ can đảm lên tiếng phàn nàn Một hôm, giữa chợ Gò
Bồi xuất hiện một bài thơ giễu như sau:
Trang 17Th ập điều là cái chi chi?
Hàng đêm nói mãi ra gì mà nghe!
Hương thân giảng giải lè nhè,
B ắt dân tập hợp mà nghe thập điều
Gò B ồi dân chúng đã kêu vang,
H ết việc quan gia đến việc làng, Xâu thu ế quanh năm lo muốn chết,
Mà đêm nằm ngủ cũng không an
Chỉ trong một thời gian ngắn, bài thơ nhanh chóng được đông đảo nhân dân vùng Gò Bồi ưa thích và lưu truyền sang các vùng lân cận Mọi người đều biết rõ tác giả của bài thơ ấy là Đào Tấn nhưng người dân trong làng yêu mến, phục tài chàng trai họ Đào bao nhiêu thì lũ hương thân, cường hào càng “ngứa mắt” gia đình Đào Tấn bấy nhiêu Biết không thể sống yên ổn với lũ cầm quyền làng Gò Bồi ngang ngược, tàn bạo, cụ Đào Đức Ngạc liền đưa cả gia đình về lại sinh quán ở làng Vinh Thạnh Tại đây, Đào Tấn đã được theo học một trong bốn vị “tứ hiền” vùng Tuy Phước, cụ Tú Diêu (Nguyễn Diêu), người rất tinh thông Nho học, Hán văn,
Quốc văn, lại có khả năng sáng tác tuồng, làm thơ xuất chúng Nhân tài, tri kỉ gặp nhau Cụ Tú đã đem tất cả sở học của mình truyền thụ cho người học trò yêu Chỉ sau năm năm chuyên tâm học tập cộng thêm tài năng thiên bẩm và sự tiếp thu tài nghệ uyên bác của thầy, tại khoa thi Đinh Mão, năm Tự Đức thứ 20 (1867), cậu học trò tài hạnh kiêm toàn Đào Tấn đã đỗ cử nhân hạng ưu tú
Theo thông lệ của triều đình, cử nhân của mỗi kì thi Hương phải đến Kinh đô thi Hội Song vì gia thế khó khăn, lại thêm lòng chẳng mấy ham thích chen chân
Trang 18vào đường công danh nên Đào Tấn đã cáo bệnh không đi cũng chẳng xin bổ quan Mãi đến năm 1871 (Tự Đức thứ 24), triều đình Huế mới xét lại danh sách cử nhân còn chưa được bổ nhiệm để trưng tập, Đào Tấn được bổ vào Hàn Lâm Điển Tịch, sung chức Hiệu thư ở Nội Các Trong bốn năm thư rỗi ở quê nhà, Đào Tấn dành
phần lớn thời gian đi ngao du sơn thủy, thăm thú cảnh đẹp trong tỉnh đồng thời theo đuổi văn chương và hát bội, tìm những người có học, có tài để kết bạn Ông còn thường cùng thầy học và các ca công rành nghề như ông bầu Thường (Quản ca Thường), ông Mười Hiệp (Đội Hiệp) trao đổi văn lý, tình lý, điệu nghệ…của nghệ thuật hát bội, nhờ đó mà kiến thức về văn chương cũng như sự hiểu biết về tuồng hát của Đào Tấn ngày một uyên thâm
Khi còn ở Vinh Thạnh, lúc mới đậu cử nhân, Đào Tấn kết duyên cùng bà
Phạm Thị Trận Trong suốt thời gian ông nhậm chức ở Kinh đô, bà ở lại quê nhà Bình Định, thay ông phụng dưỡng mẹ cha Sau đám tang cụ Đào Đức Ngạc, mặc dù Đào Tấn muốn đưa bà cùng trở lại Huế để hưởng cuộc sống an nhàn nhưng người
vợ từ thuở tào khang ấy của ông từ chối Bà nguyện ở lại quê nhà để coi sóc việc khói hương, thờ phượng, lòng chẳng mơ phú quý, vinh hoa
Trong thời gian làm quan ở Huế, Đào Tấn gặp hai người con gái tài sắc là bà Tôn Nữ Ngọc Triêm và bà Tôn Nữ Nhuận Khanh (thường gọi là bà Diêu Tiên) Vậy
là, “Trai phong lưu Bình Định, Gái thanh lịch Thừa Thiên”, chẳng mấy chốc:
Ba sinh dù ch ẳng hương nguyền Khuôn xanh s ẵn mối lương duyên buộc ràng
Khi Đào Tấn được thăng Hiệp Biện Đại học sĩ và được phong Tử Tước thì theo lệ của triều đình, vợ ông cũng sẽ được phong tặng tước hiệu Tuy nhiên do bà
Phạm Thị Trận cảm thấy mình không thích hợp nhận lấy phẩm hàm quá cao nên từ
chối sắc phong Nhất phẩm mệnh phụ Vinh dự ấy thuộc về bà Tôn Nữ Ngọc Triêm Lúc bấy giờ, do dư luận không hiểu nội tình nên chê bai Đào Tấn “đeo thói bạc của
k ẻ giàu sang”, phụ bạc người vợ đã gắn bó với mình từ thuở hàn vi Các vị túc nho
ở Bình Định cũng trách móc:
Trang 19− Bụng Đào Tấn chứa thiên kinh vạn quyển nhưng bỏ sót câu nói của Tống
Hoằng chép trong Hậu Hán Thư: “Tào khang chi thê bất khả hạ đường”
Sau này, khi bà Phạm Thị Trận mất, Đào Tấn bày tỏ sự tiếc thương vô hạn trong bài văn điếu thống thiết:
T ự cổ sinh ly túc cảm thương Tranh giao t ử biệt tự tương vương Hoàng pha hà x ứ phần tam xích Lão nhãn tha hương lệ sổ hàng
Đa sự xuân phong xuy mộng tán
Vô tình hàn nguy ệt chiếu canh trường Hoàn gia nh ật thị tân hàn tiết
Nh ẫn kiến đường không chỉ quải tường
(Sinh ly lòng chịu lắm đau thương
Tử biệt thêm bao nỗi đoạn trường
Gò vắng chôn đâu tình cựu chẩm
Mắt già tuôn mối lệ tha hương Đìu hiu thổi gió xuân tàn mộng
Lạnh lẽo soi canh nguyệt gác rường Hàn thực ngày về thăm chốn cũ Còn trơ lưng vách mảnh thê lương)
Theo tác giả của “Đào Tấn và hát bội Bình Định”, Đào Tấn có bốn người
con gái là bà Đào Thị Kim Anh, Đào Thị Kim Yến, Đào Thị Bích Tiên (tức Trúc Tiên), bà Đào Thị Cẩm Cầu (tức Chi Tiên) và bảy người con trai Ông Đào Bá
Trang 20Quát, con bà Phạm Thị Trận, đỗ cử nhân nhưng mất sớm Ông Đào Thụy Thạch đỗ
cử nhân, làm quan đến chức Án sát Ông Thạch nổi tiếng hay chữ song cũng như người anh trai cùng cha khác mẹ, ông mất khi chưa kịp thi thố tài năng với đời Ông Đào Nhữ Tuyên đỗ cử nhân, làm quan đến chức Án sát, sau khi về trí sĩ, ông được phong Bố chánh Ông Đào Nhữ Thuần đậu tú tài, làm ấm thọ và tri phủ Hàm Thuận (nay là Bình Thuận) Ông Đào Nhữ Tiếu đỗ tú tài nhưng không ra làm quan Ngoài
ra, Đào Tấn còn có hai người con trai nữa là Đào Khả Kiện và Đào Binh Thứ (tục
gọi là Ấm Bồ) Ấm Bồ tính nết đã hung hăng, diện mạo lại dữ tợn, thường hay cậy quyền thế làm nhiều điều phi pháp Để giữ gìn thanh danh cho Đào Tấn, người nhà
phải đem Ấm Bồ về Vinh Thạnh coi giữ nghiêm ngặt Ấm Bồ ra đời khi Bồi Ba (tên
bồi Tây hống hách, hay ỷ thế chủ ức hiếp dân lành) bị Đào Tấn xử chém cho nên dân gian thường truyền tai nhau rằng Ấm Bồ chính là do Bồi Ba đầu thai để báo thù Đào Tấn Khi nhắc đến người con trai này, bà Chi Tiên đã từng than thở rằng:
− Ấm Bồ là một cục bùn dơ ném vào dòng suối trong mát của họ Đào !
Nhưng cuối cùng “bùn dơ đã trôi đi sạch, dòng suối trong mát họ Đào vẫn trong mát nghìn thu” (Quách Tấn) bởi:
Thanh tuy ền tế ẩm tri chân vị
B ất phụ nhân gian phất diệm truyền
(Nước suối trong uống từng ngụm nhỏ mới biết được chân vị
Chẳng phụ với người đời thì hương thơm mãi mãi truyền)
1.1.1.2 Quan nghi ệp
Đào Tấn làm quan từ đời Tự Đức đến đời Thành Thái (1871 – 1904), kinh qua nhiều chức vụ lớn trong triều đình nhà Nguyễn Tuy phẩm cao quyền trọng song không vì thế mà ông tỏ ra lộng hành, phách lối Trọn đời, Đào Tấn luôn giữ cho mình cốt cách thanh sạch, cao quý, ông là một vị quan thanh liêm, cương trực, được giới sĩ phu nể trọng và nhân dân yêu mến
Dưới thời Tự Đức, sau khi được triều đình Huế bổ nhiệm, giữ chức Hiệu thư chưa bao lâu thì một năm sau, năm 1872 (Tự Đức thứ 25), Đào Tấn được vua giao cho soạn thảo ba vở tuồng có tính thời sự: Đãng khấu, Bình địch, Tam Bảo thái
Trang 21giám th ủ bửu Mỗi vở có ba hồi, chỉ được diễn trong cung đình nhưng ai cũng biết
chủ trương, chính sách của Tự Đức và triều Nguyễn lúc bấy giờ: bằng mọi cách
phải quét (đãng) cho sạch những cuộc nổi dậy chống chính quyền của nhân dân – lũ
giặc cỏ (khấu) trong mắt triều đình, phải “bình” cho xong những cuộc xâm lăng của
bọn ngoại lai cướp nước (địch), phải bang giao với giặc Pháp, thực hiện chính sách
“dĩ hòa vi quý” với kẻ thù để có thể giữ vững (thủ) đất nước Tuy nhiên dù quan
quân nhà Nguyễn đã cố gắng “quét” cho sạch, “dẹp” cho yên, “thủ” cho vững song
thế cuộc lại chẳng như ý vua mong đợi Giặc Pháp mưu mô, quỷ quyệt đã chiếm hết Nam Kì, lăm le uy hiếp Bắc Kì và dòm ngó dải đất Trung Kì Quan binh triều đình
hoảng loạn, càng đánh càng thua Khắp nơi, nông dân nổi dậy chống giặc ngoại xâm
và chống cả triều đình phong kiến ươn hèn, phản động Đứng trước tình cảnh đất nước đang lâm vào thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Đào Tấn cũng như bao người có tâm huyết với dân, với nước đều mong triều đình và nhân dân cùng nhau đánh đuổi kẻ thù, nhưng sâu xa trong tư tưởng của ông, “mê thuyết tôn quân” và những ràng
buộc khe khắt của đạo đức Nho gia vẫn luôn ngự trị Hai chữ trung quân mù quáng
đã khiến ông chưa lập tức nhìn thấy ngay tội lỗi của vua mà chỉ đổ tội cho bọn quan
lại hèn nhát xúi vua làm bậy Ông chủ trương chống lại kẻ thù, ông mỉa mai, lên án
lũ quan lại nhà nho phản động, cam tâm làm tay sai đắc lực cho giặc như bọn Hoàng Cao Khải, Nguyễn Thân, nhưng lại chưa đứng hẳn về phía cách mạng và vẫn còn vấn vương, day dứt với tư tưởng “trung quân” đã không còn phù hợp với hiện
thực mới của xã hội
Năm 1874 (Tự Đức thứ 27), Đào Tấn được thăng Biên tu, sung chức Hiệu thư, kế đó lĩnh chức tri phủ Quảng Trạch (Quảng Bình) Trong thời gian này, nhờ làm việc trong Nội Các, được tiếp xúc với nhiều tập sách quý trong thư viện, vốn tri
thức của ông ngày càng thêm rộng mở Vua Tự Đức cũng vì thế mà ưu ái ông hơn
dù khi ấy ông chỉ là một tiểu thần
Trong những tháng ngày làm tri phủ Quảng Trạch, nhờ đức độ và nhân cách cao đẹp của mình, Đào Tấn được nhân dân nơi đây hết lòng tôn kính, cảm phục
Trang 22Giữ chức tri phủ Quảng Trạch chưa lâu, đến năm 1876 (Tự Đức thứ 29), Đào
Tấn được triệu về kinh, thăng Thừa chỉ nội các, hai năm sau (1878) thăng Thị độc
học sĩ Đây cũng là thời gian ông phụng chỉ sáng tác các vở tuồng: Tứ quốc lai
vương, Quần trân hiến thụy và viết tiếp vở Vạn bửu trình tường do Diên Khánh
vương chấp bút còn dang dở Văn tuồng Đào Tấn lúc này chuyên chú hơn về mặt văn chương thuần túy Ba năm sau đó (1881), Đào Tấn được thăng Hồng lô tự khanh nhưng vẫn chỉ là hữu danh vô thực Năm 1882, Đào Tấn được lãnh chức
Thừa Thiên phủ doãn, không còn phải thuộc quyền quan trên như khi còn làm Hồng
lô tự khanh Trong hai năm 1882 – 1883, ông phụ trách cai quản 6 huyện tỉnh Thừa Thiên, lập nhiều công tích cho dân, cho nước, được triều đình tặng 3 chữ “Thanh,
Th ận, Cần” (trong sạch, thận trọng, chuyên cần) và được vua Tự Đức phê tặng 4
chữ “bất úy cường ngự” (không sợ uy mạnh nhà vua)
Đầu xuân 1883, thế nước đã vô cùng nguy khốn Mặc dù rất muốn cứu nguy cho giang sơn nhưng vì lực bất tòng tâm, Đào Tấn chỉ đành đau lòng thở than cho
thời vận đất nước Con người tận lực vì dân vì nước ấy tủi hổ vô cùng khi bản thân hưởng lộc nước, chịu ơn vua mà không thể báo đền Ít lâu sau, mượn cớ phụng dưỡng cha mẹ già, Đào Tấn dâng sớ xin từ quan Vua Tự Đức chẳng những không chuẩn y mà còn tức giận giáng ông bốn cấp Sự việc xảy ra chưa được bao lâu thì cụ Đào Đức Ngạc mất, Đào Tấn được phép về lại nguyên quán chịu tang cha
Trong khi ông đang thọ tang tại quê nhà thì ở kinh thành Huế, vua Tự Đức băng hà (1883) Chẳng bao lâu sau, triều đình nhà Nguyễn kí hiệp ước “bán nốt” hai
miền Bắc Kì và Trung Kì cho Pháp Cơ nghiệp nghìn năm của cha ông trong phút
chốc đã hoàn toàn rơi vào tay kẻ thù Mặc dù đã biết trước, mặc dù đã cố ý từ quan lánh về quê xa để không phải tận mắt chứng kiến cuộc thế tang thương song khi nghe tin xã tắc, giang sơn mất vào tay ngoại bang, nhân dân cơ khổ dưới trời loạn
lạc, Đào Tấn vẫn không khỏi đau lòng rơi lệ Từ sâu trong thâm tâm, con người ấy
rất muốn “ra sức đoạn kình”, “ra tay bộ hổ”, chống giặc cứu nước nhưng cũng như
Phạm Như Xương, Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh tự biết mình không thể
Trang 23xoay chuyển thế thời, ông đành ngậm ngùi lui về ở ẩn, tìm đến cõi Phật tại núi Linh Phong
Từ năm 1885 trở đi, phong trào Cần Vương ở Bình Định nổi dậy mạnh mẽ
Bi quan trước tình hình trong nước lúc bấy giờ (thế giặc hùng hậu, triều thần chẳng đồng lòng đánh đuổi kẻ thù, người thật sự yêu nước thì ít kẻ thừa cơ trục lợi thì nhiều, nghĩa sĩ tuy hăng hái, nhiệt tình nhưng vũ khí thì quá ít ỏi, thô sơ, nghĩa quân chưa có đường hướng chiến đấu) lại thêm nặng gánh ưu phiền của bản thân (thân cô
thế cô, danh vị còn thấp, mẹ già đơn chiếc), Đào Tấn không tham gia ứng nghĩa Tuy vậy ông vẫn giữ lòng tôn kính với các sĩ phu, nghĩa đảng
Tham thiền tại Linh Phong tự được hai năm, đến năm 1887, Đào Tấn bất ngờ
nhận được chiếu chỉ triệu về kinh đô của vua Đồng Khánh (Đồng Khánh lên ngôi, thay vua Hàm Nghi năm 1885) Thực ra đây chỉ là âm mưu của Pháp, mượn tay Đồng Khánh để gọi Đào Tấn về làm con bài chiêu an sĩ phu, học giả cả nước Trước tình thế éo le này, Đào công vô cùng khó xử Bởi lẽ khi xưa ông đã chẳng ứng nghĩa
Cần Vương, nay sao có thể muối mặt ra làm quan dưới triều ông vua bù nhìn của
giặc Pháp Nhưng cuối cùng vì biết kẻ thù chẳng bao giờ để mình ở yên nơi núi
thẳm rừng sâu, hơn nữa mẹ già còn đó, phận làm con đâu thể buông xuôi, Đào Tấn đành vâng chỉ về kinh Đồng Khánh cho ông tái lĩnh chức Thừa Thiên Phủ doãn, thăng hàm Quang lộc Tự khanh lại còn ban Thượng phương bảo kiếm, cho phép ông được tiền trảm hậu tấu Nhân cơ hội ấy, ông quyết tâm đem tài năng ra giúp dân, giúp nước cho vẹn nghĩa sơ chung
Trong thời gian Đào Tấn làm Phủ doãn ở Huế, có tên tay sai của viên Khâm
sứ Pháp (dân ta thường gọi là Bồi Ba) rất hống hách, ngang ngược, hay ỷ thế chủ hà
hiếp, sách nhiễu nhân dân, không coi triều đình, chính quyền sở tại ra gì Các quan
lại ở Huế vì e ngại đụng chạm đến quan lớn của chính phủ Pháp nên đều kiêng dè
hắn, mặc cho hắn công nhiên lộng quyền Người dân trong vùng bị hắn cưỡng bức, bóc lột trắng trợn cũng chỉ đành im lặng, không dám hé môi phản ứng
Biết chuyện, Thừa Thiên phủ doãn lặng lẽ cho người theo dõi Bồi Ba, hễ
thấy hắn ức hiếp dân lành, vi phạm luật pháp triều đình thì bắt ngay Một hôm, vợ
Trang 24Bồi Ba quen thói hiếp đáp dân lành, ngang nhiên đánh người giữa chợ Đông Ba Quan quân theo dõi bắt thị về phủ nhốt lại Bồi Ba hay tin, hùng hổ dẫn người xông đến phủ Đào công toan làm lộng thì bị tống giam Y cho nô bộc về báo với chủ Viên Khâm sứ Pháp đến tận phủ đường ra mặt bênh vực Lúc bấy giờ Đào Tấn mới
từ tốn luận tội của gã tay sai từ xưa đến nay Viên khâm sứ biện minh:
− Hiện thời còn một số người Việt Nam có não bài Pháp Họ thấy tên Bồi Ba trung thành với tôi nên ghét mà bịa đặt chuyện kia chuyện nọ, khiến ngài nghe trái
lẽ mà giận đó thôi, chớ hắn đâu dám làm chuyện phi pháp thế ấy
Đào Tấn truyền lệnh dẫn Bồi Ba ra Tên đầy tớ hống hách thấy chủ thân hành đến can thiệp nên quen thói cũ, chỉ thẳng mặt Đào Tấn mắng nhiếc, mạt sát không tiếc lời Phủ doãn Thừa Thiên nổi trận lôi phong, đập bàn thét lính đem chém Viên Khâm sứ Pháp tái mặt, cản lại:
− Tôi khuyên ngài hãy nể mặt tôi
Đào Tấn đáp trả:
− Tôi mong quan lớn biết trọng pháp luật Nam triều Tôi thay mặt vua để cai
trị dân, để giữ an ninh trật tự trong nước Những kẻ phạm pháp, tôi phải trừng trị, không ai được phép can thiệp Như tên bồi này, quan lớn thử nghĩ, đối với tôi đây
và có mặt quan lớn đó mà hắn còn dám hành hung bậc ấy, huống hồ đối với dân chúng và sau lưng quan lớn Mà vì sao hắn lại có những hành động không kể đến phép nước như thế? Có phải tại vì quan lớn dung ẩn hay không? Quan lớn đã trưởng
ác cho hắn mà quan lớn không biết Nếu quan lớn muốn tha hắn thì kiếm đây ấn đây, tôi xin giao cho quan lớn
Viên Khâm sứ thất kinh, đứng dậy xin lỗi Đào Tấn sau đó quay sang mắng tên Bồi Ba:
− Mày làm thì mày chịu, tao không phương cứu mày
rồi cau có bỏ ra về
Tất nhiên, tên Bồi Ba bị xử chém, bêu đầu ngoài chợ Nhân dân trong thành vui mừng bày hương án, ngoài miệng thì cảm tạ trời đất song trong lòng thì biết ơn Đào Tấn vô cùng
Trang 25Sau vụ chém Bồi Ba, triều đình Huế sợ Đào Tấn lại “gây chuyện” với chính
phủ Pháp nên đổi ông sang Thị lang Bộ Hộ, sung Tham tá cơ mật viện rồi Khâm phái đi công cán Gia Định về việc bang giao Pháp – Nam
Năm 1888 (Đồng Khánh thứ 3), Đào Tấn được thăng Tham tri Bộ Hộ, một năm sau (1889 – Thành Thái nguyên niên), ông lĩnh chức Tổng đốc An Tịnh lần thứ
nhất Trong thời gian làm Tổng đốc, ông rất chú trọng việc chăm lo cho bách tính,
cố gắng lựa chọn đường lối cai quản phù hợp để có thể làm cho nhân dân an cư lạc nghiệp Với những nhân sĩ cựu đảng Cần Vương, những học giả ưu tú, ông lấy tình
bằng hữu chân thành để kết giao Với lê dân trăm họ, ông trải lòng phụ mẫu yêu thương để đối đãi Với những người nông nổi trót sa chân phạm tội ông lấy lượng bao dung, nghiêm mà khoan để cải biến con người Tình ấy, đức ấy của quan Tổng đốc được đông đảo nhân dân, sĩ phu trong vùng hết lời ca ngợi
Thời gian làm Phủ doãn Thừa Thiên cũng là thời gian người nghệ sĩ lớn trong lốt ông quan to Đào Tấn được thỏa sở nguyện của mình Nhậm chức Tổng đốc chưa lâu, ông đã cho người lập rạp hát lấy tên là Như Thị Quan, mời tất cả các danh ca Bình Định đưa ra đất Nghệ để vừa học nghề vừa diễn tuồng Những lúc thư
rỗi, ông thường cùng con đọc sách, viết văn và tổ chức những đêm hát bội cho nhân dân đến xem Bên cạnh một Tổng đốc Đào Tấn hiền hậu, uy nghiêm, người ta còn
thấy một đạo diễn, một diễn viên Đào Tấn có tâm, có tài thực sự
Năm 1894 (Thành Thái thứ 6), Đào Tấn về Thượng thư Bộ Công lần thứ
nhất, đến năm 1896 (Thành Thái thứ 8), ông đổi qua Binh Bộ Thượng thư Qua năm sau, ông giữ chức Hình Bộ Thượng thư Tháng 5 năm ấy, cụ bà thân sinh ông mất
tại Kinh thành Huế, ông được cho về chịu tang mẹ
Tháng 3 năm 1898 (Thành Thái thứ 10), Đào Tấn được thăng Hiệp biện đại
học sĩ, lãnh chức Nam Nghĩa Tổng đốc Tại đây ông kết thâm giao với nhiều nhân
sĩ ưu tú như Nguyễn Thuật, Nguyễn Thành, Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh
Tám tháng sau ngày nhậm chức Tồng đốc Nam Nghĩa, Đào Tấn được đổi sang làm Tổng đốc An Tịnh lần thứ hai, nắm quyền tiết chế trong tay, triều thần đều
nể trọng Lần này, ông quảng giao không còn dè dặt nữa
Trang 26Khoa thi Canh Tí năm (1900), Phan Bội Châu đỗ thủ khoa Đào Tấn biết Phan Bội Châu là một chí sĩ nuôi mộng lớn, mượn khoa danh để có thể hoạt động cách mạng nên hết lòng ưu ái
Mùa hạ năm Tân Sửu (1901), kế hoạch cướp vũ khí của quân Pháp, chiếm
lấy tỉnh Nghệ An nhân lúc giặc đang kỉ niệm quốc lễ 14 – 7 của Phan Bội Châu, Phan Bá Ngọc, Vương Thúc Quỳ và một số nhân sĩ khác bị bại lộ Khi tên Việt gian Nguyễn Điềm đến dinh Tổng đốc tâng công, Đào Tấn chẳng những trì hoãn việc cho quân lùng bắt mà còn sai người mật báo để Phan Bội Châu sớm hủy tài liệu và
Việc vừa dốc lòng chăm lo cho dân vừa âm thầm ủng hộ nghĩa binh, lo việc
cứu nước đã khiến Đào Tấn hết sức nhọc lòng nhưng niềm say mê với nghệ thuật trong trái tim người nghệ sĩ lớn ấy không vì thế mà phai nhạt Để thỏa hoài bão từ thuở niên thiếu và cũng là để mang lại lợi ích cho hậu thế, ông quyết tâm phát triển
mạnh nghệ thuật hát bội Ngoài việc mở rạp hát, trường dạy hát ông còn đưa anh em nghệ sĩ vào quân đội, hưởng lương triều đình để có thể yên lòng theo nghiệp Nội quan trong triều đều biết chuyện này nhưng một mặt vì Thành Thái cũng yêu thích hát bội, mặt khác uy thế Đào Tấn lúc này đã đủ nên họ cũng không làm khó dễ
Năm Thành Thái thứ 14 (1902), Đào Tấn được thăng Thái Tử Thiếu Bảo rồi được phong Tử Tước và Phong tặng Tam Đại: Cụ Đào Đức Ngạc được cáo tặng Gia nghị Đại phu, cụ bà Hà Thị Loan được cáo phong Tam phẩm Thục nhân Đời ông
nội và đời ông cố của Đào Tấn cũng được truy tặng quan hàm chiếu theo điển lễ ngày xưa của triều đình phong kiến Sang năm sau – 1903, Đào Tấn về Thượng thư
bộ Công lần thứ hai, sung Cơ mật Viện Đại thần Lần về bộ này, ông bị tên quyền
thần cũng là tên Việt gian khét tiếng Nguyễn Thân vu tội thông đồng với sui gia (ông Hường Hàng) xâm phạm, biển thủ của công (đấu giá một số gỗ cũ ở trại Đông
Trang 27Ba khi chưa có lệnh của cấp trên) Vốn đã sẵn mối thâm thù, nay lại có cơ hội “nhổ
cỏ tận gốc”, Nguyễn Thân và bè lũ phe cánh của hắn nhất định buộc vua Thành Thái cách hết chức tước của Đào Tấn Mặc dù biết Đào Tấn vô tội và mặc dù đã
từng dứt khoát tuyên bố: “Ta còn ngồi trên ngôi này thì Đào Tấn không mất một
tr ật nào hết” nhưng Thành Thái vẫn không thể bảo vệ được người cận thần trung
lương Cuối cùng, không cam lòng để lẽ phải bị dập vùi, người ngay thẳng phải chịu hàm oan, Hà Đình Nguyễn Thuật lén sai người thân tín khẩn cấp đưa mật thư cầu
cứu Toàn quyền Đông Dương ở Hà Nội1
Vốn biết Nguyễn Thuật và Đào Tấn là hai đại thần công minh, liêm chính, viên Toàn quyền liền đi ngay vào Kinh thành Huế
Để làm vừa lòng đôi bên, Toàn quyền Đông Dương quyết định vẫn giữ phẩm hàm,
chức tước cho Đào Tấn nhưng buộc ông phải rút lui khỏi quan trường
Năm ấy Đào Tấn tròn 60 tuổi
Tuy đã về hưu, vui cảnh làm “lão tiên già” nhàn tản, sống thanh đạm trong mái nhà lợp tranh yên bình nhưng con người nghệ sĩ trong ông vẫn không thôi trăn
trở, nặng lòng với nghệ thuật tuồng Ông lại mở trường dạy hát, lấy tên là Học Bộ Đình và nhờ những nghệ nhân có tài, có tâm đến phụ trợ Bao nhiêu hoa lợi thu được từ bốn mẫu lộc điền vua ban khi về hưu và mấy mẫu đầm nuôi cá của bản thân, ông đều trợ cấp hết cho các thầy dạy Chẳng những thế ông còn tham gia cố
vấn, chỉ vẽ từng nét, giải thích từng điểm hay, điểm sai của từng học viên, từng diễn viên Tất cả những hoạt động trên của Đào Tấn luôn nằm trong tầm “để ý” của Chính phủ Pháp song thấy ông chỉ một lòng tận tâm với nghệ thuật tuồng, không làm hại gì đến trị an đất nước nên chúng cũng không ngăn cấm Các sĩ phu Bình Định sau khi thấy được công tích, đức độ, nhân cách thanh sạch và tấm lòng son
vẹn toàn ông dành cho dân, cho nước đã không còn giữ thái độ ác cảm với ông như trước đây
Ba năm sau (1907), Đào Tấn mất Mộ phần ông được đặt tại núi Hoàng Mai theo đúng di nguyện lúc sinh thời:
1 M ột số tài liệu cho rằng, người lo lót, chạy vạy cho Đào Tấn chính là vợ ông chứ không phải Hà Đình Nguy ễn Thuật
Trang 28Mai sơn tha nhật tàng mai cốt Ưng hữu mai hoa tác mộng hồn
(Đề Mai sơn thọ viên) (Núi Mai rồi gửi xương Mai nhé
Ước được hoa mai hóa mộng hồn)
(Xuân Diệu dịch)
Có thể thấy, trong suốt quan nghiệp của mình, Đào Tấn không gặp nhiều trở
ngại, mặc dù trong nước, trong triều đình lúc đó biết bao biến cố, đổi thay dâu bể đã
xảy ra Tuy không tham dự trực tiếp tham dự các phong trào yêu nước chống giặc, chĩa mũi nhọn văn chương vào kẻ thù như Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích, Phan Đình Phùng… mà chỉ làm một ông quan to trong triều nhưng trọn đời Đào Tấn là ông quan thanh liêm, có lòng ưu ái với dân, với nước và mang nhiều tâm sự đắng cay với thời cuộc
1.1.2 Th ời đại
Nhìn lại chặng đường quá khứ mà Đào Tấn đã đi qua, có thể thấy, thời đại
mà ông sinh trưởng và tham chính là thời đại đầy bão tố, biến động
Tháng 9 năm 1858, viện cớ triều đình nhà Nguyễn cản trở việc thông thương,
cấm đoán Công giáo và tàn sát các giáo sĩ, thực dân Pháp chính thức mở cuộc tấn công vào cửa ngõ Đà Nẵng Sau khi vấp phải sự kháng cự mạnh mẽ của nhân dân
và quân đội triều đình, đồng thời nhận thấy cảng biển này không phải là nơi thuận
tiện để tiến hành chiến tranh xâm lược, thực dân Pháp quyết định Nam tiến, đặt mục tiêu chiếm đánh mới là Gia Định Hơn năm tháng sau, ngày 18 tháng 2 năm 1859, thành Gia Định rơi vào tay thực dân sau tám ngày liên tiếp bị chiến hạm Pháp pháo kích ác liệt Kể từ đây, kẻ thù nhanh chóng triển khai kế hoạch “tằm ăn dâu”, lần lượt chiếm ba tỉnh miền Đông, rồi ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ Sự bành trướng của con bạch tuộc chủ nghĩa thực dân không chỉ dừng lại ở đó Ít lâu sau, mượn cớ giúp
đỡ chính quyền phong kiến dẹp loạn, chúng tiếp tục đánh ra Bắc Kỳ và sau cùng đổ
bộ vào dải đất Trung Kỳ, chiếm trọn ba miền tổ quốc Đất nước, nhân dân Việt Nam
lại một lần nữa rơi vào ách thống trị của ngoại bang
Trang 29Trước những hành động xâm lược của kẻ thù, nhân dân cả nước đồng loạt
nổi dậy Các phong trào yêu nước như phong trào Cần Vương, phong trào Đông du, Đông kinh nghĩa thục, phong trào nông dân khởi nghĩa liên tiếp nổ ra và kéo dài gần
hết thế kỉ XIX Quân Pháp tuy đã đánh chiếm được nước ta những phải liên tục đối phó với hoạt động đấu tranh sôi nổi của nhân dân, các đạo quân ứng nghĩa ngày đêm phục kích, bao vây địch, làm cho chúng thất điên bát đảo Trong khi nhân dân
cả nước đồng lòng chiến đấu, quyết liệt chống trả kẻ thù khiến chúng phải e dè, kiêng nể: “Thực tế đâu đâu cũng là trung tâm kháng chiến Cuộc kháng chiến có cơ
s ở và hệ thống khắp nơi Có thể nói rằng hễ có bao nhiêu người Việt Nam thì có
b ấy nhiêu trung tâm kháng chiến Đúng hơn là phải xem mỗi người nông dân đang
bó lúa là m ột trung tâm kháng chiến” [33, 277] thì triều đình nhà Nguyễn, đại diện
hợp pháp của đất nước Việt Nam, lại từng bước đẩy phong trào yêu nước, đấu tranh
chống giặc của nhân dân vào cảnh khó khăn, khốc liệt Trên thực tế, cuộc chiến đấu không cân sức với thực dân Pháp của dân tộc ta không chỉ làm nổi bật truyền thống yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc của nhân dân mà còn làm lộ rõ sự khiếp nhước
và sự khủng hoảng, rối ren cực độ của chính quyền phong kiến tập quyền
Thực ra sự khủng hoảng, rối ren này vốn đã tồn tại ngay từ khi cuộc phân tranh kéo dài mấy trăm năm của hai đàng Trịnh – Nguyễn diễn ra và nó ngày càng
trở nên trầm trọng hơn khi Gia Long Nguyễn Ánh phản kích thành công nhà Tây Sơn, lập nên một vương triều mới theo mô hình vương triều Mãn Thanh để đàn áp hàng trăm cuộc khởi nghĩa của nông dân trong nước Đến thời Tự Đức, những mâu thuẫn gay gắt giữa tầng lớp thống trị và nhân dân bị trị vẫn không hề thuyên giảm
Trước họa xâm lược của kẻ thù, triều đình Huế một lần nữa lại bộc lộ sự đối kháng quyết liệt với đông đảo quần chúng Bộ phận đầu não của nhà nước ngay từ đầu đã không có sự đồng tâm đánh giặc với nhân dân trăm họ Nội triều chia làm hai phe:
chủ hòa và chủ chiến Phái chủ hòa chủ trương giữ thế thủ, đề nghị kéo dài tình
trạng giằng co với địch để làm chúng “nản lòng” lui binh! Phái chủ chiến thì nhất quyết chiến đấu với kẻ thù nhưng lại yếu thế và vẫn còn mang nặng tư tưởng thủ
cựu Ngoài ra còn một phái nữa ở thế lưng chừng, do dự không biết “nên đánh hay
Trang 30nên hòa” mà Tự Đức là đại diện tiêu biểu Trong suốt khoảng thời gian thương nghị
với kẻ thù, nhà vua hoàn toàn không chủ quyết bất cứ điều gì mà lúng túng giao toàn bộ trách nhiệm cho phái bộ triều đình Tuy có những hạn chế đáng trách song nhìn chung, ở giai đoạn đầu của cuộc chiến chống thực dân, Tự Đức và triều đình
Huế đã phần nào đứng cùng chiến tuyến với nhân dân, công kích kẻ thù, ngăn cản chúng đánh chiếm giang sơn
Thế nhưng sau khi thành Gia Định thất thủ, triều đình Huế đã thối lui Nếu nhân dân Nam Kì anh dũng bao nhiêu, kiên quyết chiến đấu với kẻ thù bao nhiêu thì chính quyền phong kiến nhà Nguyễn lại hèn hạ, bạc nhược bấy nhiêu khi chủ động nghị hòa, đáp ứng hiệp ước Nhâm Tuất 1862 của thực dân Pháp, dâng ba tỉnh miền
đông cho giặc khiến chúng phải bất ngờ: “Người ta ngạc nhiên về sự dễ dàng của
người An Nam, trước kia đã từng bác bỏ các ý định giảng hòa của chúng ta với bao nhiêu b ực tức, đột nhiên lại đến yêu cầu một hiệp ước mà điều kiện hình như đắt giá đối với họ” [33, 286] Thêm vào đó, quan quân nhà Nguyễn còn ra sức bóc lột nhân
dân để bồi thường chiến phí theo yêu cầu của địch, thi hành lệnh giải giáp, tăng cường truy lùng thủ lĩnh các nghĩa quân để các phong trào kháng chiến phải tan rã Đến năm 1864, phái bộ triều đình do Phan Thanh Giản dẫn đầu lại kí tạm ước thừa
nhận quyền “bảo hộ” của thực dân Pháp trên lục tỉnh Nam Kì, dâng tiếp ba tỉnh
miền tây cho kẻ thù Tiếp đến, lợi dụng việc triều đình Huế nhờ quân đội nước bảo
hộ dẹp yên giặc biển ở Bắc Kì, cộng với việc có sẵn trong tay hiệp ước Giáp Thân
1874, quân Pháp tấn công Hà Nội và nhanh chóng chiếm được thành cũng như các
tỉnh lân cận Trước hành động cướp nước trắng trợn của kẻ thù, triều đình Huế dường như đã tê liệt mọi ý chí kháng cự và ngày càng lộ rõ sự phản bội với nhân dân, với cơ đồ nghìn năm xương máu mà cha ông gây dựng Tính chất phản động
đó đã bộc lộ hoàn toàn sau hiệp ước Harmand 1883 và hiệp ước Patenôtre 1884:
thừa nhận nước ta là thuộc địa của Pháp, “xác định rõ vị thế mới của nhà Nguyễn –
v ị thế tay sai lệ thuộc – của chính quyền thực dân Pháp, cả về đối nội lẫn đối ngo ại” [33,334] Kể từ đây, triều đình phong kiến chính thức đứng ngoài trận tuyến
Trang 31chiến đấu của toàn dân tộc, trở thành đối tượng đả kích thứ hai của nhân dân bên
Ba là dân ch ỉ biết dân
M ặc quân, mặc quốc, mặc thần, mặc ai
đã gây ra biết bao xáo trộn trong sự sắp xếp lực lượng các giai cấp và làm phân hóa sâu sắc các tầng lớp trong xã hội Từ sau khi bộ mặt thật của quan quân triều Nguyễn bại lộ, nhân dân ta lâm vào cảnh “một cổ hai tròng”, cùng một lúc phải chịu
sự đè nén, bóc lột thậm tệ của triều đình Huế và thực dân Pháp Nhưng, đúng như Nguyễn Trung Trực từng nói: “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người
Nam đánh Tây”, dường như càng bị đè nén, áp bức bao nhiêu thì sức phản kháng và
tinh thần quật khởi của nhân dân càng trở nên bền bỉ và mạnh mẽ bấy nhiêu Họ trở thành linh hồn, trung tâm của cuộc chiến trường kì chống Pháp và chống cả triều đình Huế Chính giặc Pháp, những kẻ đứng bên kia chiến tuyến của cuộc chiến tranh không cân sức này đã thừa nhận sức chịu đựng và chiến đấu kiên cường của nhân dân Việt Nam: “Phải công nhận nước Việt này đã có một sức sống vô cùng
m ạnh mẽ để có thể chịu đựng và chiến đấu trong bao nhiêu năm dài – trong khi thi ếu thốn tất cả mọi phương tiện – để có thể bảo vệ đất nước họ” [33,338] Thế
nhưng triều đình nhà Nguyễn đã mù quáng quên đi bài học “Phúc chu thủy tín dân
do th ủy” mà cha ông đã đúc kết tự ngàn xưa, để rồi lúng túng trong cuộc chiến với
kẻ thù và cuối cùng hoàn toàn rơi vào bế tắc, để mất giang sơn vào tay giặc
Thế cuộc nhiễu nhương, loạn lạc không chỉ tạo nên những đổi thay trong xã
hội mà còn tạo nên sự băng hoại, đỗ vỡ về đạo đức, sự phân hóa sâu sắc trong tư tưởng của tầng lớp trí thức phong kiến Tuy cùng đọc chung một thứ sách thánh
hiền, cùng bước ra từ cửa Khổng sân Trình nhưng trong cơn sóng gió dữ dội của
thời đại, tầng lớp trí thức Nho học Việt Nam đã không còn là một tầng lớp thuần
Trang 32nhất như ở những thế kỉ trước Sự phân hóa sâu sắc trong tư tưởng đã chia tầng lớp trí thức thành nhiều phái Có những người lên rừng mộ nghĩa đánh Tây, có người
chọn con đường xuất dương tìm đường cứu nước, dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp
giải phóng quê hương; có những người tuy yêu nước nhưng không đủ can đảm cùng nhân dân dấy nghĩa, bi quan với thời cuộc nên lui về ở ẩn, giữ trọn khí tiết kẻ sĩ và
kí thác mọi nỗi lòng của mình vào văn chương , nhưng cũng có kẻ thừa lúc đất nước khốn nguy ra sức đầu cơ kiếm chác hay bán nước, bán vua, thẳng tay đàn áp các cuộc khởi nghĩa, lập công danh trên xương máu của những người đứng lên giải phóng dân tộc Rõ ràng, những bài học luân lí nghiêm cẩn về đạo làm người của hệ
tư tưởng Khổng Mạnh đã không còn đủ sức kìm tỏa con người trong lúc “sao dời
vật đổi”, “sóng cả trào dâng” Lí tưởng trung quân mà bao thế hệ nhà nho dành trọn
cuộc đời để tôn thờ cũng không còn phù hợp với cuộc thế tang thương, dâu bể mà đất nước và nhân dân đang phải trải qua
Nhìn chung, những biến động lớn lao của thời đại đã để lại trong tâm thức
của Đào Tấn và biết bao kẻ sĩ đương thời những dư chấn mạnh mẽ Thời gian đầu tham dự chính trường, cũng như nhiều thế hệ nhà nho Việt Nam, Đào Tấn hăm hở
nhập thế với lí tưởng “trí quân, trạch dân” Việc được Tự Đức quan tâm ưu ái khi
chỉ giữ một chức quan nhỏ trong Nội các và cuộc sống yên ả trong bốn bức tường kính cẩn, thâm nghiêm của triều đình Huế dường như đã làm cho Đào Tấn bị “lạc
lối” trong “mê thuyết tôn quân” Ông không nhận ra được căn nguyên sâu xa của
những cuộc khởi nghĩa của nông dân chống lại sự bóc lột, áp bức của triều đình Nhưng càng đi sâu vào xã hội trong chặng đường làm quan về sau, khi tận mắt
chứng kiến quê hương đất nước bị kẻ thù dày xéo, nhân dân loạn lạc, điêu đứng, khi đắng lòng nhận ra những hành động trắng trợn phản bội tổ quốc của các đấng “minh quân” triều Nguyễn, cái nhìn và tư tưởng của Đào Tấn đã có sự đổi thay Lòng tin nơi đức sáng của thiên tử đã sụp đổ:
Ân tình li ệt phụ quên sao được, Cái chí trung quân v ỡ nát rồi
(Hoàng Phi Hổ quá Giới Bài quan)
Trang 33Song càng đắng lòng vì hai chữ “trung quân” đã đổ vỡ ấy bao nhiêu ông càng bế tắc vì không tìm được lối ra trong bể đời đen tối, nhiễu loạn bấy nhiêu
Cuối cùng, sau nhiều lần được tiếp xúc với những sĩ phu yêu nước, được gần gũi,
gắn bó với thực tế cuộc sống, chiến đấu anh dũng của nhân dân, ông đã tìm được lối
đi cho mình Tuy không đủ can đảm công khai tham gia hàng ngũ của những người yêu nước, trực tiếp chiến đấu với kẻ thù hay dùng văn chương làm mũi nhọn công kích vào bọn cướp nước và lũ bán nước nhưng ông đã âm thầm hỗ trợ lãnh tụ của các phong trào yêu nước, dùng chính vị thế ông quan to đang có của mình giúp đỡ các nghĩa đảng, nghĩa quân; đồng thời ông cũng gửi trọn lòng yêu nước, yêu dân,
những băn khoăn, day dứt cũng như mọi buồn thương, tủi nhục của mình vào văn chương, nghệ thuật
1.2 S ự nghiệp sáng tác
Có thể nói, cuộc đời Đào Tấn là cuộc đời của một người luôn tận tụy với nước, với dân và cũng hết lòng với văn chương, nghệ thuật Sinh thời, đã có lần người nghệ sĩ lớn trong ông từng hạ bút tâm sự về ước vọng trăm năm của đời mình:
Ti ếu ngã phù sinh như mãn bách
Dã ưng đề vịnh biến thiên nhai
(Tuế đán ngẫu thành) (Cười mình nếu sống đầy trăm tuổi
Chỉ thích đề ngâm khắp dưới trời)
(Vũ Ngọc Liễn dịch) Cái sở nguyện được sống trọn với nghệ thuật ấy được ông ký gửi qua hàng
loạt kịch bản tuồng, hàng trăm bài thơ, từ và rất nhiều câu đối, văn biểu
1.2.1 K ịch bản tuồng
Trong số những nhà soạn tuồng Việt Nam từ xưa đến nay, Đào Tấn là tác gia tài năng nhất và cũng là tác gia có số lượng tác phẩm nhiều nhất (kể cả tác phẩm sáng tác và tác phẩm nhuận sắc) Kịch bản tuồng của Đào Tấn không những đã
phản ánh sâu sắc những vấn đề xã hội đương thời mà còn bộc lộ rõ diễn biến tư
Trang 34tưởng cũng như những mâu thuẫn trong thế giới quan của ông, đặc biệt là quan
niệm về hai chữ “trung quân” và tấm lòng ưu ái của ông đối với đất nước, nhân dân
Khi còn theo học cụ tú Nguyễn Diêu, nhờ hấp thu tài nghệ của thầy cùng tài năng thiên bẩm của bản thân, năm 19 tuổi Đào Tấn đã sáng tác vở tuồng đầu tay:
Tân Dã đồn (còn gọi là Từ Thứ quy Tào hay Từ Thứ phân binh) Vở tuồng lấy sự
tích “Từ thứ quy Tào” trong Tam quốc diễn nghĩa làm cốt truyện Tuy không được
đánh giá cao như các vở tuồng được Đào Tấn sáng tác giai đoạn về sau như Diễn võ
đình, Trầm hương các, Hộ sinh đàn, Hoàng Phi Hổ quá Giới Bài quan nhưng Tân Dã đồn lại có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp sáng tác cũng như trong quá
trình phát triển tư tưởng của ông về hai chữ trung, hiếu
Trong thời gian làm Hiệu thư tại kinh thành Huế, Đào Tấn đã phụng chỉ Tự
Đức soạn thảo ba vở tuồng: Đãng khấu, Bình địch, Tam bảo thái giám thủ bửu
Đây là ba vở tuồng có tính thời sự Lúc bấy giờ, các cuộc nội chiến trong nước do nông dân đứng lên khởi nghĩa nổ ra liên miên Triều đình Huế gọi đó là những cuộc làm loạn của bọn “thảo khấu” cần phải “đãng”, còn “địch” là bọn xâm lăng Pháp
cần phải “bình” Tam bảo thái giám thủ bửu diễn sự tích Trịnh Hòa đời Minh được
vua sai đi bang giao với các nước láng giềng để mong giữ vững đất nước đang bị ngoại bang đe dọa
Trong ba tác phẩm thì Đãng khấu và Tam bảo thái giám thủ bửu vẫn còn
chưa rõ lai lịch để chúng ta có thể biết rõ thực chất và đánh giá chính xác giai đoạn Đào Tấn đã viết tuồng theo đơn đặt hàng của Tự Đức Chính vì lí do đó mà trong quá trình nghiên cứu về Đào Tấn và kịch bản tuồng của ông, khi nhắc đến hai pho
tuồng này, nhiều học giả đã chọn giải pháp "đề cập một cách lơ lửng" Theo các tác
giả của “Thư mục tư liệu về Đào Tấn”, Đãng khấu, Bình địch và Tam bảo thái
giám th ủ bửu chỉ được trình diễn trong sân khấu cung đình cho vua quan nhà
Nguyễn xem, ngoài ra không ai biết đến Dường như chính Đào Tấn sau khi vâng
chỉ soạn xong cũng “quên béng” các vở tuồng trên nên trong các chặng đường hoạt
động nghệ thuật về sau, ông không hề nhắc đến Ngoài ra, có một hiện tượng trái
ngược đáng lưu ý là những tầng lớp bị gọi là “giặc cỏ” trong Đãng khấu, Bình địch
Trang 35và Tam b ảo thái giám thủ bửu lại trở thành đối tượng ngợi ca trong các kịch bản
tuồng cuối đời của cụ Đào
Năm 1876, Đào Tấn vâng mệnh thiên tử về kinh và viết các vở: Tứ quốc lai
vương, Quần trân hiến thụy, Vạn bửu trình tường
Nội dung và thời gian ra đời của Tứ quốc lai vương ra sao đến giờ vẫn là
câu hỏi mà nhiều nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm được câu trả lời Trước Đào Tấn, Diên Khánh Vương2 có soạn vở tuồng dài 60 hồi Quần phương tập khánh, lấy cây
cỏ hoa trái làm nhân vật Sau đó ít lâu, Tự Đức hạ chỉ cho Đào Tấn soạn một vở
tuồng khác, lấy những bảo vật trong thiên hạ làm nhân vật để sánh với Quần
phương tập khánh, do đó Quần trân hiến thụy ra đời Cũng như các vở Đãng
kh ấu, Bình địch, Tam bảo thái giám thủ bửu, Quần trân hiến thụy chỉ được diễn
xướng trong hoàng cung nên ít được người đời biết đến Theo tác giả Quách Tấn, không ai biết vở tuồng có bao nhiêu hồi, nội dung nói những gì, chỉ nghe những
người gần Đào Tấn nhiều nhất nói rằng: “Trong tuồng nhân vật chính là Vi Sĩ
Châu S ỹ Châu là hình ảnh của Đào công lúc thiếu thời Sỹ Châu nhà nghèo, chăm
h ọc Không tiền mua dầu, đêm đêm nhặt củi làm đuốc để đọc sách tập văn cho đến sáng Lúc Đào công học cùng thầy tú Nhơn Ân, cũng tương tợ như vậy Sỹ Châu
v ốn biết thương, bổng, côn, quyền Đào công cũng ưa tập võ nghệ, tay chân mềm
d ẻo, múa đao múa kiếm rất nghề Đến khi thi đậu, Sỹ Châu được vua sáng biết tài Đào công bước chân vào hoạn đồ, cũng được vua Tự Đức có biệt nhãn ” [50,169]
Cũng theo Quách Tấn vì Quần trân hiến thụy ít được biết đến nên khi viết về Đào
Tấn nhiều tác giả đã lầm vở tuồng này với vở Quần phương tập khánh của Diên
Khánh vương
Sau khi đọc Quần trân hiến thụy, để thỏa mãn lòng ham thích hát bội của
mình, vua Tự Đức tiếp tục hạ chỉ cho Đào Tấn soạn thêm một pho tuồng nữa là Vạn
b ửu trình tường Nhân vật trong tuồng được xây dựng trên cơ sở các vị thuốc bắc,
2 Diên Khánh Vương tên thật là Nguyễn Phúc Tấn hay Nguyễn Phúc Thản – con trai thứ 7 của vua Gia Long, thân m ẫu của ông là bà Chiêu Nghi Nguyễn Thị Điền Ông là người mực thước, trung thực, được nhi ều đời vua tin yêu
Trang 36tính thuốc ra sao thì tính người như vậy Theo hai ông Quách Tấn, Quách Giao, tác
giả của “Đào Tấn và hát bội Bình Định”, thì vở tuồng có 216 hồi, đóng thành 108 quyển, được ba soạn giả là Ngô Quý Đồng, Vũ Đình Phương và Đào Tấn biên soạn trong hai năm; ông Ngô Quý Đồng soạn 28 hồi, Vũ Đình Phương soạn 36 hồi, còn bao nhiêu là công trình của Đào Tấn Thế nhưng theo một số tài liệu khác thì Vạn
b ửu trình tường chỉ dài 108 hồi, Diên Khánh vương chấp bút 40 hồi đầu, Đào Tấn
viết tiếp 68 hồi cuối, ở hồi thứ 41, Đào Tấn lấy chủ đề là “Hoa trì mộng” (Giấc
mộng ao hoa) Tương truyền, khi vở tuồng được dâng lên thẩm duyệt, vua Tự Đức
đã hết sức ngợi khen các soạn giả và đặt bút phê rằng “Thần hồ kỳ hỹ!” (Thần diệu thay! Kỳ tuyệt vậy!)
Trong giai đoạn 1889 – 1893 (Thành Thái thứ 1 đến thứ 5), Đào Tấn đã nhuận sắc cho các vở tuồng dân gian như: Tam nữ đồ vương (cải biên và đổi tên
thành Khuê các anh hùng), Sơn hậu, Đào Phi Phụng và viết tác phẩm: Diễn võ đình
Trong gia phả họ Đào, ông Đào Nhữ Tuyên cho rằng Khuê các anh hùng
được Đào Tấn cải biên vào lúc ông làm tổng đốc An Tĩnh lần thứ nhất (1889 –
1893) nhưng theo ông Quách Tấn thì Đào Tấn viết vở Khuê các anh hùng trong
thời gian ông quy y tại núi Linh Phong, cũng là lúc vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần vương, văn thân, nghĩa sĩ trong nước nhiệt tình hưởng ứng phong trào yêu nước
chống Pháp (1885 – 1887) Trong Khuê các anh hùng, Đào Tấn nhiều lần mượn lời
nhân vật để bày tỏ nỗi đau xót với thời cuộc và để biện minh cho tấm lòng của mình
với nước, với dân
Sau sự kiện vua Hàm Nghi bị bắt, nghĩa quân Phan Đình Phùng sắp tan rã,
Đào Tấn đã mượn sự tích Triệu Khánh Sanh trong sách sử đời Tống để viết Diễn võ
đình: Thái sư Bàng Hồng muốn nắm trọn quyền bính trong nước nên tìm đủ mọi
cách để tiêu diệt đám trung thần nhà Tống Họ Triệu, năm đời có huân công, ba triều phò vua giúp nước, bị triều đình nghe lời sàm tấu của Bàng Hồng, tru di toàn
tộc, chỉ còn sống sót một mình Triệu Khánh Sanh Khánh Sanh bị Bàng Hồng truy
nã phải giả gái, lấy tên là Bích Đào đến lánh nạn tại nhà Vương Quý, một ông quan
Trang 37đã về hưu Vương Quý vốn là bạn đồng liêu của cha Khánh Sanh nên sau khi biết chuyện đã gả con gái là Kiều Quang cho chàng Bàng Hồng dò la biết được, đem quân đến vây bắt Khánh Sanh phải từ giã vợ, bỏ cố quốc sang tị nạn bên nước Phiên Viết Diễn võ đình, Đào Tấn đã thầm kín kí thác niềm hi vọng phục quốc,
giải phóng giang sơn ở những lớp người tương lai như Cường Để, Phan Bội Châu
Từ năm 1894 đến năm 1902, Đào Tấn đã sáng tác các vở tuồng được đánh
giá là “b ộc lộ hết bản chất, tư tưởng của ông, […] là tiếng nói cuối cùng, tiếng nói chân thành nh ất của trái tim ông, […] là tấm gương phản chiếu xã hội phong kiến
Vi ệt Nam cuối thế kỉ XIX” [15, 24]: Trầm hương các, Hoàng Phi Hổ quá Giới Bài quan, C ổ Thành (còn gọi là Quan Công hồi Cổ Thành) và Hộ sinh đàn
Tr ầm hương các (16 lớp) mượn đề tài ở truyện Phong thần để “phơi bày cái
hi ện thực nhá nhem, bẩn thỉu [ ] đến rùng rợn trong cung đình vua Trụ đời nhà Thương” Thông qua bức tranh “hiện thực yêu quái”, ghê gớm đó, thời đại điên
đảo, nhiễu nhương của Đào Tấn được đặc tả một cách sắc nét Bài hát của Đát Kỷ lúc rủ rê lũ yêu quỷ ở động cáo giả làm tiên đến dự yến tiệc hoàng triều là một góc
của thời đại của ông:
B ộ bộ vân trình vọng thúy vi Hành tàng hư thiệt tự gia tri
L ộc Đài lương dạ khai xuân yến
Ch ỉ thích đăng tiền quỷ xướng thi
(Nhẹ nhẹ đường mây ngóng khắp nơi
Thực hư, kín hở tự mình chơi
Tiệc xuân Đài Lộc vui đêm vắng
Chỉ thấy bên đèn quỷ hát thôi)3
Theo “Thư mục tư liệu về Đào Tấn”, Hoàng Phi Hổ quá Giới Bài quan (3
h ồi) có nguồn gốc từ vở tuồng cũ “Hoàng Phi Hổ phản Thương” (hoặc “Phản Thương đầu Chu”), không rõ tác giả, Đào Tấn đã sửa chữa đôi chỗ ở hồi 1 và 2,
lược bỏ một số chi tiết thừa và viết lại hoàn toàn hồi 3 Cùng mượn đề tài của truyện
3 B ản dịch thơ trích từ Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 12
Trang 38Phong Thần để sáng tác hai kịch bản tuồng: Trầm hương các và Hoàng Phi Hổ
quá Gi ới Bài quan nhưng nếu ở Trầm hương các, vị hậu tổ của nghệ thuật tuồng
chỉ phản ánh sự sa đọa ghê gớm của vua Trụ – tên hôn quân vô lại nhà Thương, sự tác oai tác quái của lũ yêu quỷ trong triều, qua đó phê phán sự sa đọa trong cung
cấm thời Thành Thái, lập nên bản cáo trạng tố cáo bộ mặt thật của xã hội phong
kiến Việt Nam đương thời thì ở Hoàng Phi Hổ quá Giới Bài quan, Đào Tấn đã tập
trung bút lực, công kích mạnh mẽ vào sự phân hóa, thối nát của nội bộ triều đình nhà Thương Tác phẩm cũng chính là lời tuyên án đanh thép của phiên tòa kết tội triều đình phong kiến Việt Nam suy vong, bạc nhược, bán nước Hoàng Phi Hổ
quá Gi ới Bài quan được đánh giá là “bước ngoặt tư tưởng của Đào Tấn” (Vũ
Ngọc Liễn)
Ngoài Tr ầm hương các, Hoàng Phi Hổ quá Giới Bài quan, trong thời gian
làm tổng đốc An Tĩnh, Đào Tấn còn sáng tác vở tuồng Cổ Thành Lâu nay, nhiều
người lầm tưởng rằng cái tên Cổ Thành có nghĩa là cái thành cũ, thực ra Cổ Thành
là một địa danh của Trung Quốc Trong Tam quốc diễn nghĩa, sau khi thất thủ ở thành Hạ Bì, ba anh em Lưu – Quan – Trương bị thất lạc, Trương Phi đã chiếm Cổ Thành làm cứ địa, ngày đêm rèn binh tích lương chờ ngày phục thù Đây cũng chính
là nơi xảy ra xung đột dữ dội giữa Quan Công và Trương Phi: Trương Phi nghi ngờ Quan Công hàng Tào phản Thục Thông qua xung đột giữa hai anh em Quan – Trương, Đào Tấn khắc họa tính cách nhân vật theo quan niệm riêng của ông
Viết tuồng Cổ Thành, Đào Tấn ngầm chỉ trích triều đình nhà Nguyễn ươn
hèn, sớm đầu hàng giặc Pháp khiến cho đất nước phải chia ba, lê dân loạn lạc, lầm than Hàm ý đó được bộc lộ qua lời nói bất mãn của Trương Phi:
Nghĩ quái cho Nhị ca Phi
Đầu! Đầu! Đầu! là đầu làm sao hè?
Thương hại ca ca Phi!
Kh ổ! Khổ! Khổ! hư hư Khổ lắm ca ca
Tuy có chút oán trách, tức giận nhưng chính Đào Tấn vẫn không thôi ấp ủ hi
vọng “Bắc Nam Trung sẽ thu về một mối như cũ, như Lưu Quan Trương hội họp
Trang 39nơi Cổ Thành sau bao năm chia cách”
Cũng như Trầm hương các, Hoàng Phi Hổ quá Giới Bài quan, Cổ Thành,
H ộ sinh đàn là vở tuồng tiêu biểu của Đào Tấn Tác phẩm miêu tả cuộc chiến đấu
gian truân, khổ ải của những người anh hùng, tráng sĩ mà tiêu biểu là vợ chồng Tiết Cương Họ sống ngoài vòng cương tỏa của luật pháp triều đình, tập hợp nhân sĩ
chống lại chế độ quân chủ phản động do bè lũ bất nhân, phi nghĩa thống trị Tuy
mượn đề tài từ Thuyết Đường nhưng Đào Tấn đã lựa chọn, tinh lọc lại cho phù hợp
với văn hóa và hoàn cảnh nước ta lúc bấy giờ Hộ sinh đàn ở đây không phải là
đàn đỡ đẻ theo nghĩa thông thường mà là cái đàn thần, cái đàn mà “Hộ sinh sứ giả”
đã bước lên nhận lĩnh sứ mệnh đi “hộ chân thai”, “cứu quý tử” Đó là cái đàn mà cụ Đào Vinh Thạnh đặt niềm mơ ước trong tương lai đất nước sẽ có một đấng anh hùng dám đứng lên đánh đuổi ngoại bang, chấn hưng giang sơn và một ngày nào đó:
Th ế cuộc nan bình duy hữu hận Tha hương tương khế khởi vô tình Thiên sơn hảo tác tam hùng hội
H ải vũ tùng kim bát biểu thanh
(Cuộc thế khó ngăn dòng nước hận
Những người khác xứ kết tình thâm Non cao đón khách anh hùng hội
Biển thẳm hẹn ngày sóng gió yên)4
1.2.2 Thơ và Từ khúc
Trong sự nghiệp văn chương của mình, ngoài việc sáng tác tuồng để thỏa
niềm đam mê nghệ thuật và để gửi gắm nỗi lòng, Đào Tấn còn viết thơ và từ khúc Theo một số tài liệu nghiên cứu, thơ và từ của Đào Tấn được sao chép rải rác ở nhiều tập, có tập chép riêng thơ ông, có tập chép chung với thơ của nhiều người
khác Trong đó, bản chép đáng tin cậy hơn hết là tập “Tiên nghiêm Mộng Mai
4 B ản dịch thơ trích từ Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 12
Trang 40ngâm th ảo” do hai người con gái của Đào Tấn là bà Trúc Tiên và Chi Tiên ký lục,
tác giả Tịnh Ba sao lại vào năm 1964, cả tập gồm 107 bài
Bên cạnh tập Tiên nghiêm Mộng Mai ngâm thảo, các nhà nghiên cứu còn đưa ra hai tập Mộng Mai từ lục gồm 59 bài và Mộng Mai thi tồn 36 bài Ngoài ra,
theo các tác giả sưu tầm, Đào Tấn còn có khoảng 45 bài thơ và từ được chép lẻ tẻ không thành tập
Tổng hợp các tập văn bản trên lại, số lượng thơ và từ sưu tập được của Đào
Tấn là 247 bài (trong đó có 2 bài thơ Nôm được cho là của cụ Đào), “so với con số
mà nhi ều người trước kia kể lại (hơn 1000 bài) thì thơ và từ của Đào Tấn còn bị
m ất quá nhiều” (Vũ Ngọc Liễn)
Qua quá trình đối chiếu nhiều mặt, năm 1987 tác giả Vũ Ngọc Liễn và sáu
người nữa trong nhóm biên soạn của ông đã chọn lọc 110 bài (86 bài thơ và 24 bài
từ) được tin là của Đào Tấn và giới thiệu các tác phẩm này với người đọc trong tập
“Thơ và từ Đào Tấn”, Nxb Văn học
Năm 2003, tác giả Vũ Ngọc Liễn trong tập “Đào Tấn – Thơ và từ” (Vũ
Ngọc Liễn biên khảo), Nxb Sân khấu đã bổ sung thêm 36 bài từ, nâng số lượng từ khúc của Đào Tấn lên 60 bài Tuy nhiên, gần đây, kết quả biện ngụy của các nhà nghiên cứu ở viện Văn học cho thấy: trong số 60 bài từ của Mộng Mai từ lục có tới
43 bài là tác phẩm của các từ gia Trung Quốc, 17 bài còn lại, chỉ có 11 bài có thể tin được là tác phẩm đích thực của Đào Tấn, 6 bài còn lại vẫn cần nhiều lưu ý khi giới thiệu, nghiên cứu5
Theo gia phả họ Đào, ngoài tuồng hát, thi từ, Đào Tấn còn viết nhiều văn
biểu, câu đối và sáng tác cả âm nhạc Trong thời gian làm quan với triều Nguyễn, Đào Tấn từng được sắc chỉ giao cho soạn thảo nhiều nhạc chương khúc điệu Tiếc
rằng, do nhiều nguyên nhân, những sáng tác âm nhạc đó của Đào Tấn đều đã bị thất truyền
5 Xem thêm “S ự thực nào cho “Mộng Mai từ lục” của Đào Tấn” và “Thêm ” của Phạm Văn Ánh, Th.S Vi ện Văn học