Trong cơ cấu tổ chức quản lý của ngân hàng thương mại cổ phần, Hội đồng quản trị là cơ quan quản trị, hoạch định những chiến lược, giám sát hoạt động kinh doanh của ngân hàng, cơ
Trang 1LÂM KHUÊ TRÚC
PHÁP LUẬT VỀ HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
TẠI VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TP Hồ Chí Minh - Năm 2017
Trang 2LÂM KHUÊ TRÚC
PHÁP LUẬT VỀ HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
CHUYÊN NGÀNH: Luật Kinh tế
MÃ SỐ: 60380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN HUỲNH THANH NGHỊ
TP Hồ Chí Minh - Năm 2017
Trang 3Các tác phẩm, bài viết được trích dẫn trong Luận văn theo nguồn đã được công bố đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của Luận văn là trung thực mà chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TP Hồ Chí Minh, năm 2017
Tác giả luận văn
Lâm Khuê Trúc
Trang 4Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TÓM TẮT LUẬN VĂN
PH ẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỘI ĐỒNG QU ẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 6
1.1 Khái niệm chung về ngân hàng thương mại cổ phần và quản trị ngân hàng thương mại cổ phần 6
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của Ngân hàng thương mại cổ phần 6
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần 9
1.1.3 Vai trò và lợi ích của quản trị ngân hàng hiệu quả 11
1.2 Hội đồng quản trị 13
1.2.1 Lịch sử của Hội đồng quản trị 13
1.2.2 Đặc điểm của Hội đồng quản trị 15
1.2.3 Cơ cấu của Hội đồng quản trị 17
1.2.3.1 Số lượng của thành viên Hội đồng quản trị 17
1.2.3.2 Điều kiện trở thành thành viên Hội đồng quản trị 18
1.2.3.3 Phẩm chất, năng lực của thành viên Hội đồng quản trị 22
1.2.3.4 Các dạng thành viên Hội đồng quản trị 23
1.2.3.5 Chức năng của Hội đồng quản trị 27
1.2.3.6 Mô hình Hội đồng quản trị trong công ty của các nước trên thế giới và Việt Nam 29
Trang 52.1 Thành viên Hội đồng quản trị không điều hành 33 2.2 Thành viên Hội đồng quản trị ngân hàng thương mại cổ phần là tổ chức 36 2.3 Thành viên Hội đồng quản trị độc lập 39 2.4 Quyền và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị 43 2.4.1 Quyền và trách nhiệm của Hội đồng quản trị 43 2.4.2 Quyền giám sát hoạt động điều hành kinh doanh của Tổng giám đốc/Giám đốc 46 2.5 Hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về Hội đồng quản trị ngân hàng thương mại cổ phần 49
KẾT LUẬN 57
Trang 6IFC: Công ty tài chính quốc tế
KSV: Kiểm soát viên
LDN: Luật doanh nghiệp
LCTCTD: Luật các tổ chức tín dụng
NĐ: Nghị định
NĐT: Nhà đầu tư
NHTM: Ngân hàng thhương mại
NHTMCP: Ngân hàng thương mại cổ phần
OECD: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
Trang 7Theo đó, khái niệm về quản trị ngân hàng được định nghĩa là các thoả thuận
về quyền hạn, nghĩa vụ, vai trò và trách nhiệm của các cơ quan khác nhau trong doanh nghiệp bao gồm Hội đồng quản trị, Ban điều hành, các cổ đông lớn và cổ đông thiểu số nếu xét về khía cạnh nội bộ Ở khía cạnh bên ngoài, các thoả thuận này bị chi phối bởi các quy tắc, luật lệ bên ngoài nhằm tạo ra một sân chơi bình đẳng, minh bạch, công bằng bất kể là từ cổ đông hay Hội đồng quản trị
Về đặc điểm và cơ cấu của Hội đồng quản trị, Tác giả muốn đi sâu phân tích các loại thành viên Hội đồng quản trị trong đó vai trò của thành viên Hội đồng quản
trị không điều hành và thành viên Hội đồng quản trị độc lập đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc nâng cao chức năng giám sát của Hội đồng quản trị
Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật về Hội đồng quản trị ngân hàng
thương mại cổ phần và hướng hoàn thiện
Trong chương 2, Tác giả sẽ phân tích thực trạng quy định pháp luật Việt Nam
về các vấn đề pháp lý về Hội đồng quản trị theo Luật Doanh nghiệp 2014, Luật các
tổ chức tín dụng 2010 và các văn bản có liên quan, đồng thời so sánh với quy định pháp luật của các nước trên thế giới Qua đó, Tác giả sẽ chọn lọc những quy định tiến bộ từ các nước và phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam để đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về quản trị Hội đồng quản trị
tại ngân hàng thương mại cổ phần
Trang 8PH ẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Từ khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường và đặc biệt là kể từ khi
Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO vào đầu năm 2007, vấn đề quản trị doanh nghiệp đã được đặt ra như là một yêu cầu cấp thiết và quan trọng trong sự phát triển chung của nền kinh tế Quản trị doanh nghiệp tốt đồng nghĩa với
khả năng tiếp cận tài chính, đầu tư, nâng cao giá trị tăng trưởng
Năm 2011 các ngân hàng thương mại nước ngoài với tiềm lực tài chính mạnh,
có kinh nghiệm quốc tế dày dặn đã được quyền bình đẳng trên mọi lĩnh vực với các ngân hàng thương mại trong nước Hoạt động tài chính ngân hàng tại Việt Nam ngày càng trở nên đa dạng hơn Việc giữ thị phần và phát triển kinh doanh trong
một môi trường cạnh tranh gay gắt ngày càng trở nên khó khăn hơn bao giờ hết Để
có thể tự tin trụ vững và phát triển trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt với các ngân hàng ngoại, các ngân hàng thương mại Việt Nam cần nâng cao công tác quản trị ngân hàng và đáp ứng các tiêu chuẩn quản trị quốc tế
Trong cơ cấu tổ chức quản lý của ngân hàng thương mại cổ phần, Hội đồng
quản trị là cơ quan quản trị, hoạch định những chiến lược, giám sát hoạt động kinh doanh của ngân hàng, cơ quan tuyển chọn bộ máy điều hành và là đại diện của chủ
sở hữu Nếu Hội đồng quản trị hoạt động tốt thì ngân hàng phát triển tốt, các quyết định và hành động của Ban điều hành thể hiện đúng ý chí và đảm bảo lợi ích của cổ đông và những người có lợi ích liên quan nhằm vào sự phát triển dài hạn của ngân hàng
Thời gian qua, tại Việt Nam, khung pháp luật về quản trị ngân hàng thương mại cổ phần đã có nhiều thay đổi theo chiều hướng tích cực Việc thay thế Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 bằng Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, cũng như việc ban hành mới quy định về quản trị công ty đối với công ty đại chúng là những điển hình thực tế nhất
Trang 9Tuy nhiên, sau một thời gian áp dụng, pháp luật về Hội đồng quản trị ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam đã phát sinh những mâu thuẫn, bất cập, chưa phù hợp với các chuẩn mực quốc tế Xuất phát từ thực trạng trên, Tác giả đã quyết
định chọn đề tài “Pháp luật về Hội đồng quản trị ngân hàng thương mại cổ phần
t ại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” để làm Luận văn thạc sĩ luật học cho mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tại Việt Nam từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, báo cáo khoa học về vấn đề quản trị công ty như:
Luận văn thạc sĩ của học viên Trần Lương Đức tại Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2007, với đề tài “Chế độ pháp lý về quản trị công ty theo Luật doanh nghiệp”
Đề tài tập trung phân tích các vấn đề đến việc quản trị nội bộ trong công ty cổ phần theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005, làm rõ mối quan hệ và sự tác động ảnh hưởng lẫn nhau của các bộ phận cấu thành công ty trong đó đề cập đến việc: Quyền
và nghĩa vụ của cổ đông, đối xử công bằng với cổ đông, minh bạch hóa thông tin trong công ty, Hội đồng quản trị, quản trị điều hành và cơ chế giám sát trong công
ty
Bài báo “Quản trị công ty cổ phần của các công ty cổ phần ở Việt Nam” của tác giả Trương Lê Quốc Công được đăng trên Tạp chí Chứng khoán ngày 26/10/2004 và “Một số giải pháp cơ bản quản trị công ty cổ phần” của tác giả Nguyễn Đình Cung được đăng tải trên Tạp chí chứng khoán ngày 30/12/2005 Hai bài báo này tác giả lấy Luật Doanh nghiệp 1999 để làm căn cứ pháp lý cho việc nghiên cứu của mình Những công trình này đã có những đóng góp to lớn về mặt khoa học, tuy nhiên bài báo chỉ tập trung vào phân tích các vấn đề có tính nguyên tắc về quản trị của công ty cổ phần nói chung
Trên cơ sở tham khảo các đề tài trên, trong Luận văn của mình, Tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu phân tích Hội đồng quản trị tại ngân hàng thương mại cổ phần trên
cơ sở đánh giá những tồn tại, hạn chế của pháp luật hiện hành để từ đó đề xuất hướng hoàn thiện cụ thể
Trang 103 Câu hỏi nghiên cứu
Với những thực trạng về Hội đồng quản trị ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam trong tình hình hiện này, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra cho Luận văn này như sau:
- Hội đồng quản trị tại các công ty cổ phần nói chung và ngân hàng thương mại
cổ phần nói riêng có những đặc thù gì mà các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam đặc biệt quan tâm?
- Vấn đề về tổ chức, quản trị của Hội đồng quản trị tại các công ty cổ phần nói chung và ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng đang được pháp luật quy định như thế nào? Các quy định này có phù hợp với thực tiễn hay không? Còn vướng
mắc, bất cập gì cần phải được tháo gỡ?
- Với những khó khăn, hạn chế nêu trên thì cần phải có những giải pháp gì để hoàn thiện các quy định về quản trị của Hội đồng quản trị tại các ngân hàng thương
mại cổ phần ở Việt Nam và làm cho các quy định này dễ dàng áp dụng trong thực
tiễn (trên cơ sở đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới, các nguyên tắc quản trị của Tổ chức phát triển và hợp tác kinh tế)?
4 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là nhằm góp phần phân tích và khái quát
một số vấn đề cơ sở lý luận về Hội đồng quản trị ngân hàng thương mại cổ phần Đồng thời phân tích thực trạng quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về Hội đồng
quản trị ngân hàng thương mại cổ phần từ đó rút ra được những kết quả đã đạt được cũng như nhìn nhận những bất cập, hạn chế về vấn đề này Trên cơ sở đó Tác giả sẽ
đề xuất một số giải pháp, kiến nghị mang tính cụ thể, đồng bộ nhằm hoàn thiện các quy định về Hội đồng quản trị ngân hàng thương mại cổ phần hiện nay ở nước ta
Để đạt được mục đích nêu trên, Tác giả sẽ tập trung vào các mục tiêu như sau: Thứ nhất, tìm hiểu về vấn đề cơ bản của Hội đồng quản trị
Trang 11Thứ hai, phân tích và đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam điều
chỉnh về Hội đồng quản trị của công ty nói chung và ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng
Thứ ba, phân tích thực trạng về quản trị của Hội đồng quản trị tại các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam
Thứ tư, phân tích và so sánh quy định của pháp luật của Việt Nam và một số
quốc gia trên thế giới như Mỹ, Pháp, Anh,… về Hội đồng quản trị và đề ra một số
giải pháp góp phần hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành
Hội đồng quản trị ngân hàng thương mại cổ phần là một vấn đề khá rộng lớn
và nhiều vấn đề để nghiên cứu Do đó, để đạt được mục đích nêu trên, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:
- Quy định pháp lý có liên quan đến Hội đồng quản trị tại ngân hàng thương
mại cổ phần theo quy định tại Luật doanh nghiệp năm 2014, Luật các tổ chức tín dụng, Nghị định 59/2009/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại, Thông tư 121/2012/TT-BTC về quản trị công ty đại chúng
- Phân tích một số vấn đề về Hội đồng quản trị theo pháp luật của một số quốc gia khác cũng như so sánh với các nguyên tắc quản trị của Tổ chức phát triển
và hợp tác kinh tế (OECD), từ đó rút ra một số ưu điểm phù hợp với thực tiễn
tại Việt Nam cần áp dụng trong thực tế
5 Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu, Luận văn sử dụng các phương pháp sau đây:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phương pháp này nhằm làm rõ quy
định của pháp luật về Hội đồng quản trị tại các ngân hàng thương mại cổ phần
- Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn:Phương pháp này được sử dụng
để tìm ra những bất cập trong quản trị, điều hành của Hội đồng quản trị tại các ngân hàng thương mại cổ phần
- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng để đối chiếu các quy
định về Hội đồng quản trị ngân hàng thương mại cổ phần theo quy định pháp luật
Trang 12Việt Nam với thông lệ quốc tế và quy định pháp luật của một số quốc gia tiến bộ trên thế giới để lý giải các vấn đề trong Luận văn và đề xuất các giải pháp hoàn thiện
6 Kết cấu của Luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn được chia thành 2 Chương :
Chương 1 Những vấn đề lý luận cơ bản về Hội đồng quản trị ngân hàng thương mại cổ phần
Chương 2 Thực trạng quy định của pháp luật về Hội đồng quản trị ngân hàng thương mại cổ phần và hướng hoàn thiện
Trang 13C HƯƠNG 1
1.1 Khái niệm chung về ngân hàng thương mại cổ phần và quản trị ngân hàng thương mại cổ phần
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của Ngân hàng thương mại cổ phần
Quá trình hình thành và hoàn thiện hệ thống ngân hàng đã tạo ra các NHTM
mà được biết đến với chức năng kinh doanh tiền tệ Không giống như các tổ chức tài chính khác, NHTM luôn được coi là bách hoá tài chính, cung ứng rất nhiều các sản phẩm, dịch vụ về tài chính “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp
m ột danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là cấp tín dụng, gửi tiết
ki ệm và dịch vụ thanh toán – và cũng thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so
v ới bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”1 Để xây dựng khái niệm NHTM, có thể dựa vào tính chất và mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính, hoặc kết hợp tính chất, mục đích và đối tượng hoạt động
Theo pháp luật của nước Mỹ: “Bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền
g ửi 1 Ngân hàng Trung ương Thụy Điển – Bank of Sweden thành lập vào năm 1669 được coi là ngân hàng trung ương đầu tiên trên thế giới, tiếp đến là Ngân hàng Trung ương Anh – Bank of England, 1694, Ngân hàng Trung ương Mỹ – US Federal Reserve, 1912 cho phép Khách hàng rút ti ền theo yêu cầu (như bằng cách
vi ết séc hay bằng việc rút tiền điện tử) và cho vay đối với tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một ngân hàng”
Theo Luật Ngân hàng Pháp năm 1941 thì những xí nghiệp hay cơ sở hành
ngh ề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các s ố tiền mà họ dùng vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay tài chính thì được coi là ngân hàng
1 Peter S Rose (2002), Commercial Bank Managament, Richard D Irwin, Inc.
Trang 14Luật Ngân hàng Ấn Độ năm 1950 (bổ sung năm 1959) quy định: Ngân hàng
là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tư
Khái niệm ngân hàng thương mại tại Luật Ngân hàng Đan Mạch năm 1930
dựa trên sự kết hợp với đối tượng hoạt động: “Những ngân hàng thiết yếu gồm các
nghi ệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương mại và các giá
tr ị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, b ảo hiểm,…”
Pháp luật Việt Nam cũng đưa ra khái niệm về ngân hàng khá thống nhất với các quốc gia khác trên thế giới, Luật Các tổ chức tín dụng 2010 xác định:2
“Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các
ho ạt động ngân hàng Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao g ồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác
- Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”
LCTCTD 2010 không trực tiếp đưa ra khái niệm NHTM và NHTMCP mà chỉ định nghĩa thông qua khái niệm ngân hàng và hoạt động ngân hàng Khái niệm NHTM và NHTMCP được NĐ 59/2009/NĐ-CP định nghĩa như sau: “Ngân hàng
thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các t ổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật
Ngân hàng thương mại cổ phần là ngân hàng thương mại được tổ chức dưới hình th ức công ty cổ phần” 3
2 Điều 4 LCTCTD 2010
3 Khoản 1 và Khoản 3 Điều 5 Nghị định 59/2009/NĐ-CP
Trang 15Theo đó, các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng không được phép sử dụng thuật ngữ “ngân hàng” trong tên của tổ chức, trong các phần phụ thêm của tên, văn bản, thông báo hoặc quảng cáo của mình mà thuật ngữ đó có thể gây nhầm lẫn cho công chúng về việc tổ chức của mình là một ngân hàng.4
Từ các khái niệm trên có rút ra một số đặc điểm cơ bản của NHTMCP như sau5:
Một là, NHTM là một doanh nghiệp đặc thù kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ
- tín dụng Các hoạt động của NHTM nhằm thúc đẩy và lưu chuyển các dòng tiền tệ phục vụ cho việc giao dịch, thanh toán phát sinh hàng ngày trong nền kinh tế, đồng
thời thông qua các hoạt động huy động vốn và cho vay các NHTM có khả năng tạo tiền từ các nghiệp vụ kinh doanh của mình thông qua các công cụ lãi suất, tỷ giá Vì
vậy, NHTM còn là một mắt xích góp phần ổn định chính sách tiền tệ quốc gia, đặc
biệt là các quốc gia đang chuyển đổi nền kinh tế để tham gia hội nhập khu vực và quốc tế như nước ta
Hai là, sản phẩm hàng hóa mà ngân hàng kinh doanh và làm dịch vụ là tiền
và các chứng từ có giá như cổ phiếu, thương phiếu, hối phiếu, trái phiếu, tín phiếu
Đó là sản phẩm cao cấp của nền kinh tế thị trường vì vậy nó vận động theo một quy trình và phải được điều hành bởi nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn nhất định,
dựa trên những cơ sở do luật pháp quy định
Ba là, trong quá trình hoạt động, NHTM không tạo ra sản phẩm dở dang, tồn kho mà tạo ra sản phẩm hàng hóa trực tiếp cung ứng cho người tiêu dùng khi có nhu cầu, bởi lẽ đó hoạt động của ngân hàng dựa vào thương hiệu, uy tín tạo ra đối
với khách hàng vì vậy các ngân hàng phải không ngừng nâng cao chất lượng, dịch
vụ cung cấp và không ngừng quảng bá tiếp thị hình ảnh của mình đối với khách hàng
Bốn là, hoạt động ngân hàng là cầu nối giữa các nhà đầu tư, các doanh nghiệp,
cá nhân có vốn nhàn rỗi và các nhà đầu tư, các doanh nghiệp, các cá nhân có nhu cầu vay vốn vì vậy các ngân hàng góp phần không nhỏ vào việc giải quyết nạn thất
4 Điều 3 Nghị định 59/2009/NĐ-CP
5 Phan Thị Cúc (2008), Giáo trình tín dụng ngân hàng, NXB Thống Kê, trang 12 – 13.
Trang 16nghiệp, nâng cao nhu cầu và mức sống của dân cư, góp phần ổn định trật tự xã hội cũng như góp phần đảm bảo vốn đối với các ngành kinh tế nhằm phát triển ngành nghề, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một quốc gia
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần
Các NHTMCP – bản thân chúng cũng là doanh nghiệp, song đó là các doanh nghiệp đặc biệt Do đó, quản trị NHTMCP cũng giống như quản trị một doanh nghiệp hoặc một công ty
Thuật ngữ Corporate Governance tạm dịch là quản trị doanh nghiệp đã được thừa nhận rộng rãi và được nhiều quốc gia trên thế giới nghiên cứu
Theo Tổ chức hợp tác và phát triển (OECD): “Quản trị công ty là hệ thống
các cơ chế, các hành vi quản lý Cơ chế này xác định việc phân chia các quyền và nghĩa vụ giữa cổ đông, Hội đồng quản trị, các chức năng quản lý và những người
có l ợi ích liên quan, quy định trình tự ban hành các quyết định kinh doanh Bằng cách này, công ty t ạo ra một cơ chế xác lập mục tiêu hoạt động, tạo ra phương diện
th ực thi và giám sát việc thực hiện các mục tiêu đó”6
Theo Ngân hàng thế giới (WB): Quản trị là một hệ thống các yếu tố pháp luật, thể chế và thông lệ quản lý của các công ty Nó cho phép công ty có thể thu hút được các nguồn tài chính và nhân lực, hoạt động có hiệu quả và nhờ đó tạo ra các giá trị kinh tế lâu dài cho các cổ đông, trong khi vẫn tôn trọng quyền lợi của những người có lợi ích liên quan và của xã hội Đặc điểm cơ bản nhất của một hệ thống
quản trị công ty là7:
i Tính minh bạch của các thông tin tài chính, kinh doanh và quá trình giám sát
nội bộ đối với hoạt động quản lý;
ii Bảo đảm thực thi các quyền của cổ đông;
iii Các thành viên trong HĐQT có thể hoàn toàn độc lập trong việc thông qua các quyết định, phê chuẩn kế hoạch kinh doanh, tuyển dụng người quản lý
6 Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) (2004), Các nguyên tắc quản trị công ty
7 Cao Đình Lành (2/2008), Tiếp cận quản trị Công ty cổ phần trên phương diện kết hợp hài hoà lợi ích của các bên, T ạp chí Nhà nước và Pháp luật
Trang 17trong việc giám sát tính trung thực và hiệu quả của hoạt động quản lý và trong
việc miễn nhiệm người quản lý khi cần thiết
Các định nghĩa trên cho thấy, quản trị công ty trước hết bao gồm các thiết chế điều chỉnh các mối quan hệ giữa các chủ sở hữu với nhau và giữa họ với bộ máy điều hành trong những doanh nghiệp qui mô lớn mà sở hữu và điều hành đã bắt đầu tách rời.8 Quản trị công ty nhằm bảo vệ lợi ích của các bên liên quan trong chính các doanh nghiệp kinh doanh
Tương tự, quản trị ngân hàng cũng được thiết lập dựa trên những cốt lõi này Trong NHTMCP, việc quản trị sẽ là một cơ chế nhằm điều khiển và kiểm soát hoạt động của ngân hàng Nói đến quản trị, các nhà kinh tế học và các chuyên gia ngân hàng sẽ hình dung không những là việc quản trị, thực hiện quyết định và tổ chức
nội bộ của các ngân hàng mà còn là việc quản trị thanh khoản (khả năng thanh toán
và quy mô của ngân hàng), quản trị tài sản có, tài sản nợ, quản trị vốn, quản trị tín dụng9
Như vậy, có thể thấy hoạt động quản trị ngân hàng thương mại cổ phần sẽ có các đặc điểm sau:
Một là, hoạt động ngân hàng chịu sự tác động mạnh mẽ từ các thông tin về tài chính được đưa ra từ nhiều nguồn khác nhau và khó nhận định đánh giá Cùng với
đó là sự đa dạng về các đối tượng thụ hưởng nên khó quản lý, nhiều khoản nợ ngắn hạn dẫn đến độ rủi ro hoạt động là rất cao và rất dễ dẫn đến phá sản, chịu sự quản
lý chặt chẽ với nhiều quy định khắt khe và chi tiết do tầm quan trọng trong hệ
thống, nếu đổ vỡ có thể gây ra tổn thất lớn và trên phạm vi rộng
Hai là, quản trị điều hành được đặt trên cơ sở của sự tách bạch giữa quản lý và
sở hữu NHTMCP do các cổ đông là chủ sở hữu, nhưng để công ty tồn tại và phát triển phải có sự dẫn dắt của HĐQT, sự điều hành của BĐH, sự giám sát của BKS
và sự đóng góp của người lao động, những người này không phải lúc nào cũng có chung ý chí và quyền lợi Điều này dẫn đến cần phải có một cơ chế để nhà đầu tư
8 Phạm Duy Nghĩa (2004), Chuyên khảo về Luật kinh tế, NXB Đại học quốc gia Hà Nội
9 Lê Văn Tề, Nguyễn Thị Xuân Liễu (2003), Quản trị ngân hàng thương mại, NXB Thống Kê, Hà Nội
Trang 18cũng như cổ đông có thể hướng hoạt động của ngân hàng phát triển, đem lại hiệu
quả cao nhất
Cuối cùng, quản trị NHTMCP xác định quyền hạn và trách nhiệm giữa các nhóm lợi ích, các thành viên khác nhau trong ngân hàng, bao gồm các cổ đông, HĐQT, BĐH, BKS Đồng thời, quản trị ngân hàng cũng lập ra các quy tắc, quy trình, thủ tục ra các quyết định trong ngân hàng, qua đó ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực và chức vụ, giảm thiểu những rủi ro liên quan đến hoặc có nguồn gốc từ các giao dịch với các bên có liên quan, những xung đột lợi ích tiềm năng và từ việc không có tiêu chuẩn rõ ràng hoặc không tuân thủ các quy định về công bố thông tin
và không minh bạch
1.1.3 Vai trò và lợi ích của quản trị ngân hàng hiệu quả
Quản trị NHTM là một vấn đề rất quan trọng vì nhiều lý do:
Thứ nhất, NHTM chiếm vị trí chủ đạo trong hệ thống tài chính của các nền kinh tế đang phát triển và là công cụ cực kỳ quan trọng của tăng trưởng kinh tế
Thứ hai, do thị trường tài chính tại các nền kinh tế đang phát triển thường phát triển chậm, NHTM thường được coi là nguồn cung cấp tài chính quan trọng nhất đối với phần lớn các doanh nghiệp
Thứ ba, ngoài việc cung cấp phương tiện thanh toán, NHTM ở các nước đang phát triển còn là kênh nhận tiền gửi tiết kiệm chính của nền kinh tế
Có thể thấy NHTM là trung gian tài chính quan trọng của nền kinh tế, do đó, công chúng và thị trường có sự nhảy cảm rất lớn đối với bất kỳ khó khăn nào nảy sinh từ những hạn chế rất nhỏ trong ngân hàng Quản trị công ty yếu kém có thể
dẫn đến sự sụp đổ của các ngân hàng, gây nên những tổn thất kinh tế và xã hội cực
kỳ nghiêm trọng do những ảnh hưởng tiêu cực lên hệ thống bảo hiểm tiền gửi, cũng như gây tác động lớn về kinh tế vĩ mô, ví dụ như rủi ro dây chuyền, làm ảnh hưởng
xấu đến các hệ thống thanh toán Điều này đã được minh chứng qua cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu giữa năm 2007 Ngoài ra, quản trị công ty yếu kém có thể khiến thị trường mất niềm tin vào khả năng quản lý hiệu quả tài sản và nợ phải trả
Trang 19của ngân hàng, kể cả tài sản tiền gửi Điều này có thể châm ngòi cho việc rút tiền
gửi đột biến và dẫn đến khủng hoảng khả năng thanh toán của ngân hàng Thực tế, ngoài trách nhiệm với cổ đông, các ngân hàng còn có trách nhiệm với các khách hàng gửi tiền của mình và với các bên có quyền lợi liên quan khác Bởi vậy, hoạt động của NHTM luôn chịu sự điều chỉnh của hệ thống luật định chặt chẽ và sự giám sát thường xuyên Trong đó có nhiều hướng dẫn và khuyến nghị về quản trị NHTM đã được ban hành
Quản trị ngân hàng hiệu quả là điều kiện cần thiết để xây dựng và duy trì sự tín nhiệm và lòng tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng giúp ngân hàng
có thể minh bạch hơn, giá trị cao hơn và tạo điều kiện giám sát tốt hơn Đây chính
là những yếu tố cốt yếu cho sự vận hành lành mạnh của ngành ngân hàng cũng như toàn bộ nền kinh tế Những ngân hàng thực hiện tốt việc quản trị thường có khả năng tiếp cận dễ dàng hơn tới các nguồn vốn giá rẻ, và thường đạt được hiệu quả hoạt động cao hơn so với các ngân hàng khác Những ngân hàng kiên trì theo đuổi các tiêu chuẩn cao trong quản trị ngân hàng sẽ giảm thiểu nhiều rủi ro liên quan tới các khoản đầu tư trong ngân hàng Đối với những ngân hàng tích cực thực hiện các biện pháp quản trị lành mạnh cần phải có một đội ngũ nhân viên chủ chốt nhiệt tình
và có đủ năng lực để xây dựng và thực thi các chính sách quản trị ngân hàng hiệu
quả Những ngân hàng này thường đánh giá cao công sức của những nhân viên đó
và bù đắp xứng đáng cho họ, trái với nhiều ngân hàng khác thường không nhận
thức rõ hoặc phớt lờ lợi ích của các chính sách và những biện pháp quản trị Đồng
thời, các ngân hàng thực hiện những biện pháp quản trị hiệu quả như vậy thường
hấp dẫn hơn trong con mắt của các NĐT, những người sẵn sàng cung cấp vốn cho ngân hàng với chi phí thấp hơn
Nhìn chung, các NHTMCP nói riêng và CTCP nói chung thực hiện tốt việc
quản trị sẽ đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế quốc dân và cho xã hội Những ngân hàng này thường là những ngân hàng vững mạnh có thể tạo ra của cải vật chất
và giá trị khác cho các cổ đông, người lao động, cộng đồng và quốc gia; trái lại,
những ngân hàng có hệ thống quản trị yếu kém sẽ dẫn đến việc người lao động bị
Trang 20mất công ăn việc làm, mất tiền trợ cấp và thậm chí có thể còn làm giảm niềm tin trên thị trường chứng khoán
1.2 Hội đồng quản trị
HĐQT là một thiết chế quan trọng, từng được ví là “khối óc” của doanh nghiệp HĐQT chịu trách nhiệm chỉ đạo và xây dựng chiến lược, giám sát kết quả quản trị, đảm bảo sự trung thực của báo cáo tài chính, có kế hoạch đào tạo nhân sự
kế nhiệm cho các vị trí quản lý cấp cao HĐQT hoạt động vì lợi ích của ngân hàng,
bảo vệ quyền lợi của tất cả các cổ đông, do đó, một HĐQT độc lập, chuyên nghiệp
và hiệu quả đóng vai trò thiết yếu trong việc thực thi những biện pháp quản trị ngân hàng hiệu quả
1.2.1 Lịch sử của Hội đồng quản trị
Trong xã hội công nghiệp hoá, toàn cầu hoá hiện nay, các loại hình công ty là các thành tố cơ bản của nền kinh tế thị trường Trong tất cả các loại công ty, CTCP nói chung và NHTMCP nói riêng là loại hình tiêu biểu của công ty hiện đại, nhiều NHTMCP trên thế giới có quy mô lớn với cơ cấu tổ chức phức tạp, có ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội Thậm chí, thực sự về các mặt, NHTMCP hiện đại đã rất giống như một quốc gia thu nhỏ Xuất phát từ tầm quan trọng của NHTMCP và đi theo sự trưởng thành và phát triển của nó, vấn đề quản trị công ty trở thành sự quan tâm nghiên cứu rộng rãi của các quốc gia trên thế giới
Sự tách biệt quyền sở hữu với quyền quản lý kinh doanh là một đặc trưng mang tính bản chất của NHTMCP so với các loại hình doanh nghiệp khác Từ đặc điểm này đã đưa ra một vấn đề mang tính trọng yếu và then chốt đó chính là cơ cấu
tổ chức quản lý ngân hàng cổ phần Cơ cấu tổ chức của một NHTMCP là một tổ chức bị ảnh hưởng lớn đến tư tưởng “phân quyền và chế ước” của lý luận chính trị dân chủ phương tây để xây dựng nền dân chủ pháp quyền NHTMCP của các nước tuy có thể có bộ máy quản lý khác nhau nhưng tư tưởng lập pháp cũng như các điều luật lại có điểm giống nhau là xét ở góc độ pháp lý Điểm nổi bật là ba cơ quan quyền lực và chức năng (ĐHĐCĐ, HĐQT và TGĐ, BKS) phân chia các quyền
Trang 21năng quyết định, quản lý điều hành và kiểm soát mà ẩn sau nó chính là nguyên tắc
mỗi bên có quyền, trách nhiệm rõ ràng, chế ước lẫn nhau Phân quyền và chế ước là vấn đề trọng tâm, then chốt của mỗi ngân hàng nói chung, trong đó mạnh mẽ nhất,
nổi bậc nhất là NHTMCP – loại hình công ty đối vốn triệt để
Trong NHTMCP, HĐQT là một trong ba cơ quan trong tổ chức của NHTMCP Đây là cơ quan đại diện cho chủ sở hữu thực hiện quyền quản lý ngân hàng Điều này có nghĩa là quyền lực của đông người (ngân hàng có số lượng cổ đông lên tới hàng triệu người) nay tập trung cho một số người Số người này tập hợp thành một cơ quan, gọi là HĐQT Đi theo sự phát triển của NHTMCP, quyền
lực của ngân hàng ngày càng tập trung vào cơ quan quản lý của ngân hàng là HĐQT Điều này về khía cạnh lập pháp chính là tư tưởng HĐQT nằm ở vị trí trung tâm của ngân hàng – có vai trò trọng yếu và quyền lực to lớn HĐQT là cơ quan điều hành, liên quan đến sự thắng bại, suy thịnh của ngân hàng Nói một cách khác, HĐQT là cơ quan then chốt của cơ cấu quản lý ngân hàng Xét về vị trí này, người
ta phát hiện quyền lực của ngân hàng cội nguồn từ quyền lực HĐQT Rồi sau đó,
một phần quyền lực sẽ được chuyển giao cho TGĐ
Phần lớn pháp luật điều chỉnh quản trị NHTMCP liên quan đến HĐQT, với nhiều quy định cụ thể được xây dựng nhằm củng cố lòng tin của NĐT, của người
gửi tiền rằng các thành viên HĐQT sẽ làm những điều đúng đắn HĐQT chịu trách nhiệm quản lý hoặc định hướng cho các hoạt động của ngân hàng Điều minh
chứng cho vị trí trung tâm của HĐQT, ngay từ đầu thế kỷ XX, Luật Công ty cổ
phần Đức (1937) đã quy định: HĐQT chỉ đạo công ty (Điều 76), đại diện công ty trong hoạt động tố tụng và ngoài tố tụng (Điều 78) Còn ĐHĐCĐ chỉ quyết định
những vấn đề đặc thù mà phát luật và điều lệ công ty đã quy định Đối với các vấn
đề thuộc về phạm vi nghiệp vụ kinh doanh, ĐHĐCĐ có quyền quyết định khi HĐQT yêu cầu (Điều 119) Điều 80 Luật Công ty Anh có quy định: nghiệp vụ công
ty do HĐQT điều hành HĐQT có thể thực hiện tất cả các quyền mà pháp luật công
ty và điều lệ công ty không quy định là thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ, chỉ cần HĐQT tuân thủ các quy định của luật công ty và các quy chế do ĐHĐCĐ ban hành
Trang 22Việc xác lập HĐQT nằm ở vị trí trung tâm của quyền lực ngân hàng là một
kết quả tất yếu trong sự phát triển của nền kinh tế, cũng như NHTMCP Tuy nhiên, các nhà làm luật đã thấy yếu tố bất cập khi quyền lực của HĐQT ngày càng bành trướng, trong một khả năng có thể, nó tiềm ẩn nguy cơ phá hoại cơ chế phân quyền
và chế ước quyền lực của công ty Trước nguy cơ này, các nhà làm luật đã nổ lực tìm giải pháp hạn chế quyền lực của HĐQT như tăng cường giám sát hoạt động của HĐQT, hay bổ sung thành viên HĐQT độc lập hay quy định thành viên HĐQT hạn
chế một số việc nhất định…
1.2.2 Đặc điểm của Hội đồng quản trị
HĐQT là cầu nối giữa chủ sở hữu và các nhà quản trị, nhiệm vụ của họ là bảo
vệ lợi ích của cổ đông, đặc biệt là thực hiện trách nhiệm quản lý và giám sát hành
vi của nhà quản trị, đưa ra các quyết định quan trọng, tuyển dụng đội ngũ các nhà quản trị cho doanh nghiệp… Đặc điểm HĐQT thường được xem xét trên các khía
cạnh, đó là quy mô giữa HĐQT, sự tách bạch giữa chủ tịch HĐQT và giám đốc điều hành, sự độc lập của HĐQT
Th ứ nhất, sự tách bạch giữa người sở hữu vốn và người sử dụng vốn HĐQT
do các cổ đông bầu ra, thay mặt các cổ đông thực hiện giám sát hoạt động của
những người quản lý điều hành, ngăn ngừa mâu thuẫn và xung đột lợi ích giữa các cổ đông và ban lãnh đạo ngân hàng, nhằm bảo vệ quyền lợi, đồng vốn của các cổ đông
Th ứ hai, trên cương vị chính thức, HĐQT tách biệt với BĐH HĐQT không
can thiệp vào hoạt động hàng ngày mà chỉ tư vấn và giám sát hoạt động của BĐH,
dựa trên các chiến lược kinh doanh đã được HĐQT đề ra và được ĐHĐCĐ thông qua Sự phân bổ quyền lực HĐQT và BĐH, về pháp lý giữa họ chính thức chia toàn
bộ những quyết định của ngân hàng mà không đòi hỏi sự chấp thuận của cổ đông ra thành những quyết định đòi hỏi sự phê chuẩn của HĐQT và những quyết định thuộc thẩm quyền của BĐH
Trang 23Th ứ ba, HĐQT được phân biệt chính thức với các cổ đông của ngân hàng Sự
tách biệt này giúp tiết kiệm chi phí của việc ra quyết định để quản lý các hoạt động của ngân hàng Ngoài ra, khi HĐQT được thành lập một cách tách biệt thì nó còn
có thể giúp kiểm tra về những hành vi cơ hội chủ nghĩa của các cổ đông nắm quyền
kiểm soát – hoặc là đối với các cổ đông khác, hoặc là đối với các đối tác khác liên quan đến công ty như người gửi tiền hay người lao động Cũng như thế, HĐQT có
thể mang đến cho cổ đông nhỏ hay các thành phần khác như người lao động vả người gửi tiền một cơ hội tiếp cận thông tin đáng tin cậy hay tham gia trực tiếp vào việc ra quyết định của ngân hàng Đồng thời, thông qua việc giao phó cho các cá nhân được bổ nhiệm một vai trò cụ thể là người ra quyết định đại diện cho ngân hàng Điều này giúp đẩy mạnh khả năng HĐQT sẽ hành động chủ yếu vì lợi ích của
tất cả các thành phần có liên quan trong ngân hàng thông qua các nguyên tắc và áp
lực xã hội
Th ứ tư, HĐQT là cơ quan làm việc theo chế độ tập thể Mặc dù, các thành
viên HĐQT có nhiệm vụ riêng và phải chịu trách nhiệm cá nhân về những công
việc đó nhưng vai trò của HĐQT lại thuộc về thẩm quyền của tập thể Có nghĩa là các thành viên HĐQT không được trực tiếp chỉ đạo cán bộ quản lý làm bất kỳ điều
gì với tư cách là cá nhân Không một thành viên HĐQT nào có thể thay mặt công ty
để cung cấp một sự đảm bảo hoặc cam kết điều gì Vì thế, sẽ không có thẩm quyền riêng của từng cá nhân trừ khi cá nhân này được HĐQT uỷ quyền thực hiện một số nhiệm vụ nhất định thuộc quyền hạn của HĐQT và cũng trừ trường hợp một số quyền riêng của Chủ tịch HĐQT
Th ứ năm, HĐQT thường có nhiều thành viên và là một cơ cấu đa dạng Cơ
cấu này – trái với cơ cấu tập trung quyền lực trong một người được uỷ thác, như trong nhiều công ty tín thác tư nhân – tạo thuận lợi cho việc giám sát lẫn nhau và
kiểm tra việc ra quyết định theo phong cách riêng Mức độ đáp ứng hữu ích của cơ
cấu hội đồng lại phụ thuộc vào cơ cấu sở hữu của ngân hàng Ví dụ, khi sự sở hữu ngân hàng chỉ tập trung vào tay một hay một vài cổ đông, hội đồng sẽ có vai trò quan trọng để bảo vệ quyền lợi của những cổ đông không nắm quyền kiểm soát
Trang 24thoát khỏi sự áp đặt hoặc gây phương hại từ cổ đông nắm quyền kiểm soát; hơn là
để bảo vệ các cổ đông thoát khỏi sự lạm quyền của TGĐ
Đa dạng là một nhân tố quan trọng trong việc xây dựng một HĐQT Tất cả các thành viên phải là các cá nhân đủ điều kiện nhưng sự đa dạng của các kinh nghiệm, giới tính, chủng tộc và tuổi Tuy nhiên, sự đa dạng không được hiểu theo nghĩa là thành viên đại diện cho quyền lợi riêng Thay vào đó, các thành viên nên đại diện cho quyền lợi của tất cả các cổ đông
1.2.3 Cơ cấu của Hội đồng quản trị
Theo quy định tại Luật các tổ chức tín dụng 2010, cơ cấu tổ chức quản lý của tổ chức tín dụng dưới hình thức công ty cổ phần bao gồm Đại hội đồng cổ đông,
Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc).10
1.2.3.1 Số lượng của thành viên Hội đồng quản trị
Số lượng thành viên HĐQT của NHTMCP phải nằm trong giới hạn được quy định trong LCTCTD 2010 Theo đó, HĐQT của NHTMCP phải có tối thiểu 5 và tối đa là 11 thành viên, trong đó có ít nhất một TVĐL, HĐQT phải có ít nhất một
phần hai tổng số là TVĐL và thành viên không phải là người điều hành tổ chức tín
dụng.11 Tuy nhiên, số lượng cụ thể sẽ do ĐHĐCĐ quyết định và ghi vào điều lệ NHTMCP
Về cơ bản, pháp luật các quốc gia quy định số lượng thành viên HĐQT nhắm
tới một quy mô sao cho ngân hàng có thể tổ chức các cuộc thảo luận có hiệu quả và
có tính chất xây dựng Đồng thời, HĐQT phải luôn đưa ra quyết định kịp thời, hợp lý cũng như tổ chức một cách hiệu quả công việc của các Uỷ ban trực thuộc HĐQT, nếu những Uỷ ban này được thành lập
Số lượng thành viên HĐQT cần được quyết định dựa trên yêu cầu của pháp
luật, cũng như nhu cầu cụ thể của ngân hàng và cổ đông Việc có quá ít hay quá nhiều thành viên HĐQT đều có thể làm giảm hiệu quả của quá trình ra quyết định
10 Khoản 1 Điều 32 LCTCTD 2010
11 Kho ản 1, Điều 62, LCTCTD 2010
Trang 25Một HĐQT có quy mô quá nhỏ có thể khiến ngân hàng không được hưởng lợi ích
từ các kỹ năng đa dạng và kinh nghiệm phù hợp do các thành viên đem lại Trong khi đó, một HĐQT có quy mô quá lớn sẽ gây khó khăn cho việc quản lý và khiến cho việc tìm kiếm sự đồng thuận trở thành một công việc khó khăn và mất nhiều
thời gian Thách thức trong việc lựa chọn một HĐQT có quy mô phù hợp nằm ở chổ phải tạo được sự cân bằng phù hợp
1.2.3.2 Điều kiện trở thành thành viên Hội đồng quản trị
Theo LCTCTD 2010, một thành viên HĐQT phải đáp ứng những yêu cầu sau đây:12
- Có đạo đức nghề nghiệp
- Là cá nhân sở hữu hoặc người được ủy quyền đại diện sở hữu ít nhất 5% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng, trừ trường hợp là TVĐL của HĐQT hoặc có
bằng đại học trở lên về một trong các ngành kinh tế, quản trị kinh doanh, luật
hoặc có ít nhất 03 năm là người quản lý của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp hoạt động trong ngành bảo hiểm, chứng khoán, kế toán, kiểm toán hoặc có ít nhất 05 năm làm việc trực tiếp tại các bộ phận nghiệp vụ trong lĩnh
vực ngân hàng, tài chính, kiểm toán hoặc kế toán
- Không thuộc các đối tượng sau :13
Người thuộc đối tượng không được tham gia quản lý, điều hành theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và pháp luật về phòng, chống tham nhũng
Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình
Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức
12 Kho ản 1 Điều 50 LCTCTD 2010
13 Điểm b Khoản 1 Điều 33 LCTCTD 2010
Trang 26 Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân
Việt Nam, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản
lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp
Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ
những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác
Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị
mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân
Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục
bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định
của Tòa án; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng
Người đã từng là chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh, Tổng giám đốc (Giám đốc), thành viên Hội đồng quản
trị, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát của doanh nghiệp, Chủ nhiệm và các thành viên Ban quản trị hợp tác xã tại thời điểm doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản, trừ trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản vì lý do bất khả kháng
Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tại thời điểm doanh nghiệp bị đình chỉ hoạt động, bị buộc giải thể do vi phạm pháp luật nghiêm trọng, trừ trường hợp là đại diện theo đề nghị của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm chấn chỉnh, củng cố doanh nghiệp đó
Người đã từng bị đình chỉ chức danh Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Trưởng Ban kiểm soát, thành viên Ban kiểm soát, Tổng
Trang 27giám đốc (Giám đốc) của tổ chức tín dụng hoặc bị cơ quan có thẩm quyền xác định người đó có vi phạm dẫn đến việc tổ chức tín dụng bị thu hồi Giấy phép
Theo quy định về quản trị công ty tại Thông tư 121/2012/TT-BTC: Thành viên HĐQT của một công ty không được đồng thời là thành viên HĐQT của trên năm (05) công ty khác, trừ trường hợp là thành viên HĐQT của các công ty trong cùng tập đoàn hoặc các công ty hoạt động theo nhóm công ty, bao gồm công ty mẹ
- công ty con, tập đoàn kinh tế hoặc là người đại diện của công ty quản lý quỹ, công
ty đầu tư chứng khoán.14
Theo các thông lệ tốt về quản trị, để tránh xung đột lợi ích, không nên bầu chọn những cá nhân sau đây vào HĐQT15:
Thành viên HĐQT của một ngân hàng là đối thủ cạnh tranh;
Thành viên BĐH của một ngân hàng là đối thủ cạnh tranh;
Nhân viên của một ngân hàng là đối thủ cạnh tranh;
Không nên đề cử vào HĐQT những cá nhân là người thân của nhà cung
cấp, các đơn vị phụ thuộc, hay nhân viên của một đơn vị kiểm toán độc lập
Theo đề nghị, ĐHĐCĐ sẽ thông qua một nghị quyết về những điều kiện cần thiết cho việc bầu chọn thành viên HĐQT, có xem xét đến bản chất hoạt động và mục tiêu của ngân hàng Các điều kiện này có thể là những điều kiện chung, áp
dụng cho mọi thành viên HĐQT, và cũng có thể là điều kiện cụ thể, áp dụng cho
một thành viên nào đó trong HĐQT
Đối với ngân hàng nói riêng và doanh nghiệp nói chung, các chiến lược, sản
phẩm, dịch vụ và tất cả quy trình, quy định nội bộ đều mang những lợi thế cạnh tranh và tính bảo mật nhất định Chính vì vậy, để tránh xung đột lợi ích liên quan
14 Khoản 3 Điều 30 Thông tư 121/2012/TT-BTC về Quản trị công ty đại chúng
15 Qu ỹ đầu tư Mê Kông – Mekong Capital (2003): Đề nghị các thông lệ tốt cho quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam
Trang 28đến các bí mật kinh doanh giữa các đối thủ cạnh tranh trực tiếp, thông lệ quốc tế đều khuyến nghị không nên bầu những cá nhân nêu trên vào HĐQT
Ngoài ra, thành viên HĐQT là những cổ đông được ĐHĐCĐ bầu, mà thường
là những cổ đông lớn Đôi khi lợi ích của những cổ đông lớn tham gia quản trị điều hành ngân hàng có thể xung đột với lợi ích của ngân hàng Nếu họ hành động đi ngược lại lợi ích ngân hàng, bản thân họ chỉ phải gánh chịu thiệt hại theo tỉ lệ phần trăm cổ phần họ nắm giữ Những quyết định của người quản lý, điều hành có thể
nhằm mục đích mang lại lợi ích, những ưu đãi cho bản thân hoặc người thân, với chi phí và rủi ro do ngân hàng gánh chịu Do đó, giải pháp đã được các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam áp dụng là đưa vào cơ cấu HĐQT những thành viên HĐQT độc lập
Theo đó, pháp luật Việt Nam bước đầu cũng đã quy định về thành viên HĐQT độc lập như sau16:
- Không phải là người đang làm việc cho chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng đó hoặc đã làm việc cho chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng đó trong 03 năm liền kề trước đó
- Không phải là người hưởng lương, thù lao thường xuyên của tổ chức tín dụng ngoài những khoản phụ cấp của thành viên HĐQT được hưởng theo quy định
- Không phải là người có vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em và vợ, chồng
của những người này là cổ đông lớn của tổ chức tín dụng, người quản lý hoặc thành viên BKS của tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng
- Không trực tiếp, gián tiếp sở hữu hoặc đại diện sở hữu từ 1% vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của tổ chức tín dụng; không cùng người có liên quan sở hữu từ 5% vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của tổ chức tín dụng
- Không phải là người quản lý, thành viên BKS của tổ chức tín dụng tại bất kỳ
thời điểm nào trong 05 năm liền kề trước đó
16 Khoản 2 Điều 50 LCTCTD 2010
Trang 29Với điều kiện trên, những thành viên HĐQT độc lập này trong HĐQT sẽ giám sát hữu hiệu các cổ đông lớn tham gia quản lý, điều hành ngân hàng, bảo về quyền lợi của cổ đông nhỏ
Quy định này được xây dựng dựa trên nguyên tắc về quản trị ngân hàng lành mạnh của Ủy ban Basel và được áp dụng tại nhiều quốc gia tiên tiến trên thế giới Mục đích của việc đưa ra quy định về thành viên HĐQT độc lập nhằm
tạo cơ sở pháp lý để các ngân hàng có thể lựa chọn những người có năng lực quản
trị mà không nhất thiết là người có vốn hoặc là người có lợi ích không đáng kể tại ngân hàng, đồng thời đạt được một số yêu cầu quan trọng về quản trị ngân hàng, như: tăng tính trách nhiệm trong quá trình đưa ra quyết định của các thành viên HĐQT; giảm khả năng xung đột lợi ích giữa việc đưa ra quyết định và việc điều hành công việc hàng ngày của ngân hàng; tạo sự kiểm tra và cân bằng quyền lực, đảm bảo ngân hàng hoạt động lành mạnh, đảm bảo các quyền quyết định của HĐQT là khách quan, vì lợi ích tốt nhất của ngân hàng Áp dụng quy định này, các NHTMCP sẽ có một HĐQT với những thành viên giám sát đắc lực, nâng cao tiêu chí khách quan cho hoạt động quản trị của ngân hàng Nhận thức được vấn đề này, một số NHTM Việt Nam đã mạnh dạn đổi mới mô hình quản trị bằng việc đưa vào HĐQT những TVĐL
1.2.3.3 Phẩm chất, năng lực của thành viên Hội đồng quản trị
Với vai trò là trung tâm trong cơ cấu quản trị của NHTMCP, các thành viên HĐQT cần phải có những kỹ năng và kinh nghiệm cần thiết để đóng góp cho công tác của HĐQT Theo IFC, thành viên HĐQT phải có những phẩm chất và năng lực
cần thiết như sau:
Nh ững phẩm chất cá nhân và năng lực cần có ở các thành viên HĐQT
• Có tư chất lãnh đạo
• Liêm chính
• Có trách nhiệm
• Kinh nghiệm trong ngành
• Khả năng đánh giá công việc kinh doanh
Trang 30• Chín chắn
• Có đạo đức
• Kiến thức chuyên môn đặc biệt,
ví dụ: Tài chính và kế toán;
Quản trị rủi ro và Kiểm soát nội
bộ; Quản trị chiến lược Nguồn: IFC, tháng 3 năm 2004
Đa số các công ty của Việt Nam cho rằng kinh nghiệm công tác trong công ty
và trong ngành, cũng như sự trưởng thành của cá nhân là các tiêu chí quan trọng khi lựa chọn thành viên HĐQT Điều này đã được cụ thể hoá tại Điều 50 LCTCTD
2010 Ngược lại, các tiêu chí khác như sự độc lập, kiến thức chuyên môn và năng
lực lãnh đạo được xem là thứ yếu Như vậy có thể suy ra rằng những lợi ích mà sự độc lập của các thành viên HĐQT mang lại vẫn chưa được nhìn nhận đầy đủ tại các công ty của Việt Nam
Do đó, Điều lệ của ngân hàng cần nêu rõ những tiêu chí về phẩm chất và năng
lực của thành viên HĐQT Các thành viên HĐQT cần có những phẩm chất và năng lực sau :
Có khả năng cân bằng lợi ích của tất cả các bên có quyền lợi liên quan và đưa ra những quyết định hợp lý
Có kinh nghiệm chuyên môn và trình độ học vấn cần thiết để hoạt động
một cách có hiệu quả
Có kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, am hiểu về thị trường, sản phẩm và đối thủ cạnh tranh
Có khả năng biến kiến thức và kinh nghiệm thành các giải pháp thực tiễn
1.2.3.4 Các dạng thành viên Hội đồng quản trị
Thông lệ quốc tế phân biệt các dạng thành viên HĐQT tuỳ theo mức độ liên quan của thành viên HĐQT đối với công việc của ngân hàng, và xếp các thành viên HĐQT vào ba nhóm: điều hành, không điều hành và độc lập Tại Việt Nam, Thông
tư 121/2012/TT-BTC quy định về quản trị công ty đại chúng xếp thành viên HĐQT
Trang 31vào ba nhóm: (i) các thành viên điều hành, (ii) các thành viên không điều hành và (iii) các TVĐL Có thể nói, Thông tư 121/2012/TT-BTC đã có những quy định rất tiến bộ phù hợp với thông lệ quốc tế
Nói cách khác, thành viên trong BĐH đồng thời đóng vai trò là thành viên trong HĐQT được gọi là thành viên HĐQT điều hành
Theo Quy định tại NĐ 59/2009/NĐ-CP về tổ chức, hoạt động của NHTM tối thiểu ½ tổng số thành viên HĐQT phải là thành viên HĐQT không điều hành và độc lập17
Theo quy định của một số quốc gia trên thế giới, thành viên HĐQT không điều hành của một công ty thường được hiểu là những thành viên HĐQT không nắm giữ một vị trí điều hành trong công ty, tức là không phải thành viên trong BĐH Thành viên HĐQT không điều hành cần có những phẩm chất sau đây để hoạt động một cách có hiệu quả:
Liêm chính và có tiêu chuẩn đạo đức cao
Phán quyết chuẩn xác
Khả năng và ý chí đương đầu với thách thức và tìm tòi cái mới
Khả năng giao tiếp tốt
Phần lớn các bộ quy tắc quốc gia và quốc tế về quản trị công ty khuyến nghị HĐQT nên được hợp thành từ đa số thành viên không điều hành Bởi vì những thành viên này là những người có thể cung cấp cái nhìn khách quan từ bên ngoài và phán quyết không thiên vị Đồng thời, họ có thể bổ sung các kinh nghiệm và kiến
thức từ bên ngoài cho các thành viên HĐQT còn lại cũng như cung cấp các mối quan hệ hữu ích cho sự phát triển của ngân hàng
Tại phần lớn các quốc gia trong Liên minh Châu Âu (EU), thành viên HĐQT không điều hành thường thực hiện công việc giám sát chức năng tài chính và ra quyết định chiến lược của công ty Ngoài các lĩnh vực trên, có ba mảng công việc
cần đến sự giám sát khách quan của thành viên HĐQT không điều hành18như là:
17 Khoản 2, Điều 16, Nghị định 59/2009/NĐ-CP
18 Báo cáo c ủa Nhóm các chuyên gia cấp cao trong lĩnh vực Luật Công ty về khuôn khổ luật pháp hiện đại cho Luật Công ty tại châu Âu, tháng 10 năm 2002, trang 60
Trang 32 Bổ nhiệm thành viên HĐQT
Thù lao cho các cán bộ quản lý cấp cao và thành viên HĐQT
Kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập
Tại Anh Quốc, báo cáo Higgs phân chia vai trò của một thành viên HĐQT không điều hành gồm bốn vấn đề19như sau:
Chiến lược: các thành viên HĐQT không điều hành cần phải đóng góp
vào việc xây dựng chiến lược của ngân hàng
Kết quả hoạt động: các thành viên HĐQT không điều hành cần phải xem
xét kỹ lưỡng kết quả hoạt động của BĐH trong việc đạt được những mục đích và mục tiêu đã đề ra và giám sát việc báo cáo kết quả hoạt động
Rủi ro: các thành viên HĐQT không điều hành cần kiểm tra để đảm bảo
rằng các thông tin tài chính được công bố là chính xác, và việc kiểm soát tài chính cùng hệ thống quản trị rủi ro trong ngân hàng là vững mạnh và không thể xâm phạm
Nhân sự: các thành viên HĐQT không điều hành chịu trách nhiệm xác
định mức thù lao phù hợp dành cho các thành viên HĐQT điều hành, có vai trò chính trong việc bổ nhiệm, và đôi khi là miễm nhiệm, các cán bộ
quản lý cấp cao, cũng như trong việc quy hoạch cán bộ quản lý
IFC định nghĩa “thành viên HĐQT độc lập” là thành viên HĐQT đáp ứng được tất cả các yêu cầu sau :
Không phải là nhân viên của công ty hay nhân viên của các bên liên quan
của công ty trong 5 năm gần nhất
Không phải là, và không liên quan tới doanh nghiệp đóng vai trò tư vấn cho công ty hoặc các bên có liên quan của công ty
Không liên quan tới một khách hàng hoặc một nhà cung cấp quan trọng
của công ty hoặc các bên liên quan của công ty
Không có hợp đồng dịch vụ cá nhân với công ty, các bên liên quan của công ty hoặc các chức năng quản lý cấp cao của công ty
19 Derek Higgs, Báo cáo về vai trò và hiệu quả của các thành viên HĐQT độc lập, năm 2003
Trang 33 Không liên quan tới một tổ chức phi lợi nhuận nhận những khoản tiền đóng góp lớn từ công ty hoặc các bên liên quan của công ty
Không phải là cán bộ điều hành của một công ty nơi có một GĐ nào đó
của công ty có chân trong HĐQT của công ty đó
Không phải là thành viên trong gia đình trực hệ của một cá nhân đang là, hoặc trong 5 năm gần nhất đã là, một cán bộ điều hành của công ty hoặc các bên liên quan của công ty
Hiện tại, và trong 5 năm gần nhất, không có liên quan tới và không phải là nhân viên của một công ty kiểm toán hiện nay hay trước kia của công ty
hoặc của các bên liên quan của công ty
Không phải là cá nhân kiểm soát của công ty (hoặc là thành viên của một nhóm các cá nhân và/hoặc các pháp nhân kiểm soát công ty) hoặc là anh
chị em, cha mẹ, ông bà, con cái, cô, dì, chú, bác, anh chị em họ, cháu của
cá nhân đó hoặc là vợ, chồng, vợ goá, chồng goá, người thừa kế, người có quan hệ hôn nhân hoặc người thừa kế của những người kể trên (hoặc một
uỷ thác hay dàn xếp mà những cá nhân đã kể trên là người thụ hưởng duy nhất) hoặc là nhà điều hành, nhà quản lý hoặc đại diện cá nhân của bất kỳ
cá nhân nào được nói đến trong mục này hiện đã chết hoặc mất năng lực hành vi
Trong định nghĩa này, một cá nhân được xem là “có liên quan” với một bên nào đó nếu cá nhân ấy: (i) có quyền sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp đối với bên đó;
hoặc (ii) là nhân viên của bên đó; “các bên liên quan” đối với công ty là một cá nhân hoặc một pháp nhân nào đó kiểm soát công ty, bị kiểm soát bởi công ty, hoặc
nằm dưới sự kiểm soát chung với công ty
Các bộ quy tắc quốc gia và quốc tế về quản trị công ty có những định nghĩa tương tự về thành viên HĐQT độc lập Chẳng hạn, tại Anh Quốc, một thành viên HĐQT không điều hành được xem là độc lập khi HĐQT xác định rằng thành viên HĐQT đó độc lập về tính chất và độc lập trong phán quyết, và không có các mối quan hệ hay các tình huống có thể ảnh hưởng tới, hoặc có vẻ như ảnh hưởng tới,
Trang 34phán quyết của thành viên HĐQT đó Những mối quan hệ hoặc những tình huống như vậy bao gồm những mối quan hệ hoặc những tình huống trong đó một thành viên HĐQT20:
Là một nhân viên cũ của công ty hoặc tập đoàn, và công việc của cá nhân
đó (hoặc các mối quan hệ vật chất của cá nhân đó với công ty) kết thúc chưa đầy 5 năm trước đó
Có, hoặc tự có trong vòng ba năm qua, quan hệ kinh doanh quan trọng với công ty, hoặc trực tiếp, hoặc có tư cách là đối tác, cổ đông, thành viên HĐQT, hay cán bộ cao cấp của một tổ chức từng có mối quan hệ như vậy
với công ty
Đã từng hoặc đang được nhận thù lao từ công ty ngoài khoản thù lao dành cho thành viên HĐQT, tham gia vào quyền chọn cổ phần của công ty
hoặc một hoạt động/chương trình nào đó liên quan đến kế hoạch trả lương, hoặc là thành viên trong chương trình hưu bổng của công ty
Có mối quan hệ gia đình gần gũi với một cố vấn, một thành viên HĐQT
hoặc một cán bộ cấp cao trong công ty
Là thành viên HĐQT của công ty khác, hoặc có mối quan hệ mật thiết với các thành viên HĐQT khác thông qua hoạt động ở một công ty, tổ chức khác
Đại diện cho một cổ đông lớn
Đã là thành viên HĐQT quá mười năm
1.2.3.5 Chức năng của Hội đồng quản trị
- Chức năng định hướng chiến lược, kế hoạch của ngân hàng:
HĐQT đóng vai trò then chốt trong việc quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn, dài hạn và kế hoạch kinh doanh hằng năm của ngân hàng Sau khi BĐH trình lên HĐQT và ĐHĐCĐ những phương hướng nhiệm vụ phát triển và kế
20
https://www.frc.org.uk/getattachment/ca7e94c4-b9a9-49e2-a824-ad76a322873c/UK-Corporate-Governance-Code-April-2016.pdf
Trang 35hoạch hàng năm HĐQT có trách nhiệm xem xét kĩ lưỡng và ra quyết định cuối cùng cho chiến lược và kế hoạch phát triển kinh doanh Vai trò của HĐQT là vô cùng quan trọng trong ngân hàng, chiến lược và kế hoạch của ngân hàng nếu không được HĐQT thông qua thì cũng không được thực thi Ngược lại, nếu HĐQT không
thực hiện tốt vai trò đôn đốc, định hướng rà soát lại chiến lược thì cũng không đạt được một chính sách chiến lược và kế hoạch tốt cho sự phát triển Vì vây, có thể nói HĐQT có nhiệm vụ là trung tâm quyết định chiến lược phát triển
Quyết định chiến lược đặt ra mục tiêu cho toàn bộ ngân hàng, giữ cho tất cả các bộ phận trong ngân hàng phối hợp với nhau hướng về mục tiêu chung Mục tiêu
phấn đấu của HĐQT là chỉ đạo, quản lý đạt các chỉ tiêu đã cam kết trước ĐHĐCĐ, đặc biệt là chỉ tiêu lợi nhuận
- Chức năng giám sát của HĐQT
Đây là một chức năng quan trọng của HĐQT, giám sát ở đây không có nghĩa
là hậu kiểm mà giám sát được hiểu là HĐQT phải biết rõ, nắm bắt từ đó điều chỉnh
kịp thời chức năng định hướng của HĐQT các vấn đề hoạt động của ngân hàng HĐQT giám sát hoạt động của TGĐ – người được HĐQT bổ nhiệm để điều hành
hoạt động hàng ngày của ngân hàng Để làm được điều này, HĐQT cần:
Giám sát liệu các hoạt động của BĐH có phù hợp với chiến lược và chính sách mà HĐQT đã thông qua không, bao gồm cả mức độ chấp nhận rủi ro/khẩu vị rủi ro
Họp thường xuyên với BĐH
Chất vấn và rà soát có tính phê phán những giải thích và thông tin mà BĐH cung cấp
Xây dựng chuẩn mực hoạt động chính thức cho BĐH phù hợp với mục tiêu dài hạn, chiến lược và sự vững mạnh tài chính của ngân hàng và giám sát hoạt động của BĐH dựa trên những chuẩn mực này
Đảm bảo rằng kiến thức và chuyên môn của BĐH vẫn phù hợp căn cứ vào tính chất kinh doanh và mức độ cũng như loại hình rủi ro của ngân hàng