Theo Luật công cụ chuyển nhượng của Việt Nam năm 2005: “Hối phiếu đòi nợ là giấy tờ có giá do Người ký phát lập, yêu cầu Người bị ký phát thanh toánkhông điều kiện một số tiền xác định k
Trang 1CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HỐI PHIẾU VÀ NGHIÊN CỨU SO
SÁNH CÁC NGUỒN LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỐI PHIẾU
1 Hối phiếu và các nguồn luật điều chỉnh hối phiếu
1.1 Khái niệm và đặc điểm của hối phiếu
1.1.1 Hối phiếu đòi nợ
a) Khái niệm
Về khái niệm, mỗi quốc gia hay một tổ chức lại đưa ra một khái niệm khácnhau cho hối phiếu đòi nợ Tuy có sự khác nhau trong cách hành văn Luật hốiphiếu của các quốc gia, nhưng nội dung của các khái niệm đó vẫn có những điểmtương đồng
Theo Luật công cụ chuyển nhượng của Việt Nam năm 2005: “Hối phiếu đòi
nợ là giấy tờ có giá do Người ký phát lập, yêu cầu Người bị ký phát thanh toánkhông điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhấtđịnh trong tương lai cho Người thụ hưởng.”
Theo Điều 3 Luật thương mại thống nhất Hoa Kỳ bản sửa đổi năm 1995 đưa
ra một khái niệm chung về công cụ chuyển nhượng gồm có hối phiếu, kỳ phiếu, séc,giấy gửi tiền Khái niệm chỉ rõ: “Phương tiện chuyển nhượng có nghĩa là một lệnhhoặc một lời hứa thanh toán một số tiền nhất định cho người cầm phiếu” ” Mộtphương tiện là một kỳ phiếu, nếu nó là một lời hứa và là một hối phiếu, nếu nó làmột lệnh” ” Lệnh là một yêu cầu thah toán bằng văn bản do người yeeu cầu phấthành Yêu cầu này có thể gửi cho bất kỳ ai, bao gồm cả người đưa ra yêu cầu hoặcđược gửi cho một người hay nhiều người”
Theo Đạo luật Hối phiếu Anh quốc 1882 (BEA 1882): “Hối phiếu đòi nợ(Bill of exchange) là một mệnh lệnh vô điều kiện của một người ký phát (drawer)cho một người khác (drawee), yêu cầu người này khi nhìn thấy phiếu hoặc đến mộtngày cụ thể nhất thể nhất định hoặc đến một ngày có thể xác định trong tương laiphải trả một số tiền nhất định cho một người nào đó hoặc theo lệnh của người nàytrả cho người khác hoặc trả cho người cầm hối phiếu.”
Trang 2Theo như Luật quốc gia của các nước tham gia Công ước Geneva 1930 gồm
có Ôxtrâylia, Bỉ, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Hi Lạp, Hungari, Luxembua,Monaco, Hà Lan, Na Uy, Ba Lan, Liên bang Xô Viết, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Braxin,Nhật Bản tương tự như khái niệm của Luật Thống nhất về hối phiếu 1930
Theo Luật Thống nhất về hối phiếu thuộc Công ước Geneva 1939, hối phiếuđòi nợ bao gồm nội dung:
- Tiêu đề “Hối phiếu đòi nợ” được ghi trên bề mặt của hối phiếu và bằngngôn ngữ ký phát hối phiếu
- Một lệnh đòi tiền vô điều kiện để thanh toán một số tiền nhất định
- Tên của Người trả tiền (Người bị ký phát)
- Tuyên bố thời gian thanh toán
- Tuyên bố địa điểm thanh toán
- Tên của Người thụ hưởng hoặc tên của người mà theo lệnh của Người thụhưởng anh ta được thanh toán
- Tuyên bố ngày và địa điểm phát hành hối phiếu đòi nợ
- Chữ ký của Người ký phát hối phiếu đòi nợ ( Drawer)
b) Đặc điểm
Hối phiếu đòi nợ có bốn đặc điểm
Thứ nhất, hối phiếu được hình thành từ các hợp đồng giao dịch cơ sở Những
hối phiếu không được hình thành từ giao dịch cơ sở được gọi là hối phiếu khống
Thứ hai, hình thức của hối phiếu đòi nợ rất dễ nhận dạng trực tiếp Dù là tồn
tại dưới hình thức phi chứng từ, hình thức của hối phiếu cũng được qui định rõ ràng
để mọi người có thể nhận dạng dễ dàng, trực tiếp và trung thực, vì nó là một tài sảntài chính vô hình nhưng lại chứa đựng các quyền pháp lý rất quan trọng đối với bên
kí phát
Thứ ba, hối phiếu là trái vụ một bên Sở dĩ nói như vậy, vì hối phiếu là một
công cụ do một người phát hành, yêu cầu người bị kí phát thực hiện nghĩa vụ dân sựtrả tiền, vì vậy nghĩa vụ dân sự có được thực hiện hay không hoàn toàn phụ thuộc
Trang 3vào sự chấp nhận của người bị kí phát Hối phiếu sẽ trở nên vô hiệu khi bị người bị
kí phát từ chối thanh toán một cách hợp pháp hoặc bị phá sản
Cuối cùng, hối phiếu mang tính chất “trừu tượng” Đặc điểm này thể hiện ở
chỗ trên hối phiếu không cần phải ghi nội dung quan hệ kinh tế, mà chỉ cần ghi rõ
số tiền phải trả là bao nhiêu và trả cho ai, người nào sẽ thanh toán, thời gian thanhtoán là khi nào… và không cần phải nói lên nguyên nhân việc phải trả tiền trên hốiphiếu
c) Các thanh phần liên quan đến hối phiếu
Từ khái niệm về hối phiếu trên có thể thấy rõ các thành phần liên quan đếnviệc lập và thanh toán hối phiếu gồm:
- Người ký phát hối phiếu (Drawer): thông thường là người bán, đại diện tổ
chức xuất khẩu, cung ứng dịch vụ
- Người trả tiền hối phiếu (Drawee): hay người nhận ký phát, người bị ký
phát: là người mà hối phiếu gởi đến cho họ, đòi tiền họ (có thể là người mua, Ngânhàng mở L/C, Ngân hàng thanh toán, )
- Người chấp nhận (Accepter): Là người bị ký phát sau khi ký chấp nhận hối
phiếu, thường là Ngân hàng
- Người hưởng lợi hối phiếu (Beneficiary): hay người thụ hưởng: trước hết là
người ký phát hối phiếu, kế đến là người do người ký phát hối phiếu chỉ định trênhối phiếu Theo luật quản chế ngoại hối ở nước ta người hưởng lợi là các Ngânhàng kinh doanh đối ngoại được Ngân hàng nhà nước cấp giấy phép
- Người chuyển nhượng (Endorser) - hay người ký hậu: Là người chuyển
quyền hưởng lợi hối phiếu cho người khác bằng cách trao tay hay bằng thủ tục kýhậu Bị ràng buộc trách nhiệm với những người ký hậu phía sau và người cầmphiếu Người chuyển nhượng hối phiếu đầu tiên chính là người ký phát hối phiếu
- Người bảo lãnh: Là bất kỳ người nào ký tên vào hối phiếu, ngoại trừ người
ký phát và người bị ký phát, thường là Ngân hàng nổi tiếng
d) Vai trò của hối phiếu
Trang 4Ngay từ khi xuất hiện, hối phiếu được xem là một phương tiện thanh toánhữu hiệu Giảm đáng kể những rủi ro, thiệt hại trong quá trình thực hiện các giaodịch mua bán, đáp ứng được nhu cầu thanh toán trong trường hợp có sự khác nhau
về địa lý giữa nơi bán và nơi mua
Và hiện nay, hối phiếu vẫn giữ vai trò quan trọng trong hoạt động thươngmại quốc tế Song song với vai trò là một phương tiện thanh toán, hối phiếu cònđược xem là một công cụ tín dụng Sở dĩ có vai trò này bởi vì người ta thực hiện cáchoạt động chiết khấu trên hối phiếu
Tín dụng chiết khấu hối phiếu được hiểu là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, màthực chất của hình thức này là Ngân hàng tiến hành mua lại các hối phiếu thươngmại đang trong thời kỳ chưa đến hạn thanh toán và cung ứng một khoản vốn chocác thương nhân để họ có điều kiện tiếp tục tái sản xuất Khi kết thúc thời hạn chiếtkhấu, Ngân hàng sẽ đòi tiền ở người có nhiệm vụ trả tiền hối phiếu
1.1.2 Hối phiếu nhận nợ
a Khái niệm
Hối phiếu nhận nợ (hay còn gọi là kỳ phiếu) là một cam kết trả tiền vô điềukiện do Người lập phiếu phát ra hứa trả một số tiền nhất định cho Người thụ hưởngqui định trên kì phiếu hoặc theo lệnh của người này để trả cho một người khác
b Đặc điểm
Hối phiếu nhận nợ cũng là một tài sản tài chính vô hình, vì thế nó cũng mangbốn đặc điểm tương tự như hối phiếu đòi nợ, tuy nhiên cũng có một số điểm khácbiệt
Thứ nhất, kì phiếu là một công cụ hứa trả tiền chứ không phải là công cụ đòi
tiền, cho nên cần có một Người thứ ba đứng ra bảo lãnh thanh toán
Thứ hai, kì phiếu là một công cụ hứa trả tiền vô điều kiện do con nợ viết ra
để hứa trả một số tiền nhất định cho chủ nợ, cho nên không phát sinh yêu cầu chấpnhận thanh toán
Trang 5Thứ ba, người lập phiếu phải phát hành kì phiếu hứa trả tiền trước khi Người
thụ hưởng kì phiếu thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng giao dịch cơ sở Sau khi thựchiện nghĩa vụ, Người thụ hưởng mới ủy thác cho ngân hàng thu tiền của hối phiếunhận nợ từ Người lập phiếu
Cuối cùng, các quy định pháp lý đối với hối phiếu đòi nợ cũng có thể áp
dụng cho hối phiếu nhận nợ, trong chừng mực không trái đối với tính chất và đặcđiểm của hối phiếu nhận nợ Ví dụ quy định ký hậu, thời hạn thanh toán, truy đòikhông thanh toán, thanh toán thay bởi người thứ ba, bảo lãnh ……
1.2 Các nguồn luật điều chỉnh hối phiếu
- Luật hối phiếu Anh BEA 1882 (Bill of Exchange Act of 1882)
Một đạo luật để soạn thảo luật liên quan đến hối phiếu, séc và hối phiếu (18tháng 8 năm 1882) Mặc dù rất nhiều nước áp dụng ULB 1930 nhưng nước Anh vẫndùng luật BEA 1882 của mình
- Luật Thương mại thống nhất của Mĩ UCC 2002 (Uniform Commercial Code
of 2002)
UCC 2002 – Uniform Commercial Code of 2002 được ban hành năm 2002,
áp dụng trong phạm vi nước Mỹ và các nước châu Mỹ Latinh khi sử dụng các công
cụ thanh toán quốc tế để giao dịch
- Luật Các công cụ chuyển nhượng của Việt Nam 2005
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xác hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
đã được sửa đổi và bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12 năm
2001 của Quốc hội khóa X, luật này qui định về công cụ chuyển nhượng như hốiphiếu, kì phiếu và séc
Luật này được áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức và cánhân nước ngoài tham gia vào quan hệ công cụ chuyển nhượng trên lãnh thổ nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 62 Nghiên cứu so sánh các quy định pháp lý về hối phiếu trong BEA 1882, UCC 2002 và Luật công cụ chuyển nhượng Việt Nam 2005
2.1 Hối phiếu đòi nợ
2.1.1 Nội dung hối phiếu đòi nợ
Hối phiếu thường bao gồm những nội dung sau : (1) tiêu đề, (2) số hiệu, (3)
số tiền, (4) địa điểm ký phát, (5) ngày ký phát, (6) mệnh lệnh đòi tiền, (7) thời hạnthanh toán, (8) người thụ hưởng, (9) người bị ký phát, (10) người ký phát, (11) địađiểm thanh toán
Khoản 2, Điều 2 Luật công cụ chuyển nhượng của Việt Nam 2005 ghi rõ:
“Hối phiếu đòi nợ không có giá trị nếu thiếu một trong các nội dung quy địnhtại khoản 1 Điều này, trừ các trường hợp sau đây:
- Thời hạn thanh toán không được ghi trên hối phiếu đòi nợ thì hối phiếu đòi
nợ sẽ được thanh toán ngay khi xuất trình;
- Địa điểm thanh toán không được ghi trên hối phiếu đòi nợ thì hối phiếu đòi
nợ sẽ được thanh toán tại địa chỉ của người bị ký phát;
- Địa điểm ký phát không được ghi cụ thể trên hối phiếu đòi nợ thì hối phiếuđòi nợ được coi là ký phát tại địa chỉ của người ký phát.”
Nhận xét tổng thể:
Nhìn chung, hối phiếu theo quy định của Mỹ UCC 2002 quy định khá chung,tùy ý theo thỏa thuận của các bên còn Hối phiếu theo quy định của luật Việt Nam vàchâu Âu quy định rất cụ thể, chi tiết, từng điều khoản được dẫn chiếu cụ thể, riêngbiệt
Trang 7“Hối phiếu đòi nợ không có giá trị nếu thiếu một trong các nội dung quy địnhtại khoản 1 Điều này, trừ các trường hợp sau đây:
- Thời hạn thanh toán không được ghi trên hối phiếu đòi nợ thì hối phiếu đòi
nợ sẽ được thanh toán ngay khi xuất trình;
- Địa điểm thanh toán không được ghi trên hối phiếu đòi nợ thì hối phiếu đòi
nợ sẽ được thanh toán tại địa chỉ của người bị ký phát;
- Địa điểm ký phát không được ghi cụ thể trên hối phiếu đòi nợ thì hối phiếuđòi nợ được coi là ký phát tại địa chỉ của người ký phát.”
Chính vì vậy đối với luật Việt Nam cần ghi rõ tiêu đề nếu khống sẽ khôngcòn giá trị nữa
Theo BEA 1882 và UCC 2002 không bắt buộc hối phiếu phải có tiêu đề,miễn là trong nội dung có diễn đạt từ “hối phiếu đòi nợ”
Số tiền ghi trên hối phiếu
Phải là một số tiền xác định, được ghi một cách đơn giản, rõ ràng và dễ nhậnbiết Số tiền có thể được ghi cả bằng chữ và bằng số và phải khớp nhau Trongtrường hợp số tiền bằng số và bằng chữ không khớp nhau, số tiền bằng chữ sẽ đượcthanh toán Đây là luật của hầu hết các quốc gia Châu Âu, Hoa Kỳ và Việt Nam
Khoản 3, Điều 16 Luật công cụ chuyển nhượng công cụ của Việt Nam 2005
“Khi số tiền trên hối phiếu đòi nợ được ghi bằng số khác với số tiền ghi bằng chữthì số tiền ghi bằng chữ có giá trị thanh toán Trong trường hợp số tiền trên hốiphiếu đòi nợ được ghi hai lần trở lên bằng chữ hoặc bằng số và có sự khác nhau thì
số tiền có giá trị nhỏ nhất được ghi bằng chữ có giá trị thanh toán.”
Khoản 2, Điều 9 Luật Anh BEA 1882 quy định: “ Trong đó tổng số tiền phảitrả được thể hiện bằng lời và cả bằng số liệu, và có sự khác biệt giữa hai số tiền,tổng số được biểu thị bằng các chữ là số tiền phải trả
Theo khoản 3 điều 204, khoản 2 luật UCC 2002 quy định: “ Trong hợp đồngnếu có sự khác biệt giữa chữ và số thì bằng cách chấp nhận giao hàng theo hợpđồng đã có từ trước để mua hàng” Ngoài ra, trong điều 204 có quy định “ Nếu cả
Trang 8người sản xuất và người được trả tiền đã đồng ý vào sửa đổi nếu có sự sai lệch,người được trả tiền có thể thêm vào ngày đó trên ghi chú”
Lãi suất, tỷ giá, thanh toán
Trên hối phiếu có thể quy định lãi suất, tỷ giá và việc thanh toán thành nhiềulần Luật VN chỉ có quy định về lãi suất
Mục 3 khoản 9 luật BEA 1882, trường hợp một hóa đơn được thể hiện phảitrả bằng lãi suất, trừ khi công cụ có quy định khác, tiền lãi sẽ được tính từ ngày củahóa đơn và nếu hóa đơn được thanh toán từ ngày phát hành
Địa điểm ký phát
Là căn cứ để xác định nguồn luật điều chỉnh hối phiếu Hầu hết luật các nướcđều không buộc phải ghi địa điểm ký phát trên hối phiếu Nếu hối phiếu không ghiđịa chỉ ký phát thì có thể suy đoán địa chỉ bên cạnh tên người ký phát
Điều 6 BEA 1882 và Điều 16 khoản 2 Luật công cụ chuyển nhượng ViệtNam quy định nếu không có địa chỉ bên cạnh tên người ký phát thì hối phiếu vôhiệu trừ trường hợp “Địa điểm ký phát không được ghi cụ thể trên hối phiếu đòi nợthì hối phiếu đòi nợ được coi là ký phát tại địa chỉ của người ký phát”
Địa điểm trả tiền
Là nơi người thụ hưởng hối phiếu xuất trình hối phiếu để đòi tiền Luật củanhiều nước yêu cầu phải ghi rõ địa điểm thanh toán trên hối phiếu
Điều 16 khoản 2 Luật công cụ chuyển nhượng Việt Nam quy định “Nếu trênhối phiếu không ghi rõ địa điểm trả tiền thì hối phiếu sẽ được thanh toán tại địa chỉhoặc trụ sở kinh doanh của người bị ký phát.”
Khoản 111 UCC 2002 về mục đích thanh toán của công cụ thương lượng quyđịnh: “Trừ trường hợp có quy định khác đối với các mặt hàng trong Điều 4, mộtcông cụ được thanh toán tại nơi thanh toán ghi trong công cụ Nếu không có địađiểm thanh toán, một công cụ phải được thanh toán theo địa chỉ của người bị kýphát hoặc nhà sản xuất ghi trong công cụ Nếu không có địa chỉ, nơi thanh toán lànơi kinh doanh của người bị ký phát hoặc người tạo ra Nếu người bị ký túc xá hoặc
Trang 9người sản xuất có nhiều hơn một cơ sở kinh doanh, nơi thanh toán là nơi kinh doanhcủa người bị ký phát hoặc người làm thuê do người có quyền thực thi tài liệu Nếungười bị ký phát hoặc người sản xuất không có nơi kinh doanh, nơi thanh toán lànơi ở của người bị ký tụng hoặc người làm thuê.”
Điều 5 khoản 1, BEA 1882 về Địa chỉ thanh toán “Địa điểm người bị ký phátphải được nêu tên hoặc được chỉ định trong hóa đơn với sự chắc chắn hợp lý”
Ngày ký phát hối phiếu
Là thời điểm phát sinh quyền đòi tiền của Người ký phát đối với Người bị kýphát và cũng là căn cứ để xác định thời hạn trả tiền của hối phiếu Trường hợp trênhối phiếu không ghi rõ ngày ký phát, Theo Luật Công cụ chuyển nhượng Việt Namthì hối phiếu vô hiệu (Khoản 2 Điều 16 ) trong khi BEA quy định hối phiếu đó vẫn
có hiệu lực và có thể bổ sung ngày chính xác
Khoản 2 Điều 113 UCC 2002 về thời hạn của công cụ Thương Lượng, nếukhông có ngày ký phát thì sẽ có quy định khác “Nếu một công cụ không được ghingày, ngày của nó là ngày phát hành hoặc, đối với công cụ không công bố, ngày bắtđầu sở hữu chủ sở hữu.”
Thời hạn thanh toán hối phiếu :
Khoản 2 Điều 16 Luật chuyển nhượng Việt Nam 2005 Trong trường hợp
“Thời hạn thanh toán không được ghi trên hối phiếu đòi nợ thì hối phiếu đòi nợ sẽđược thanh toán ngay khi xuất trình”
“Điều 42 Thời hạn thanh toán
1 Thời hạn thanh toán của hối phiếu đòi nợ được ghi theo một trong các thờihạn sau đây:
a) Ngay khi xuất trình;
b) Sau một thời hạn nhất định kể từ ngày hối phiếu đòi nợ được chấp nhận;c) Sau một thời hạn nhất định kể từ ngày ký phát;
d) Vào một ngày được xác định cụ thể
Trang 102 Hối phiếu đòi nợ không có giá trị nếu ghi nhiều thời hạn thanh toán hoặcghi thời hạn không đúng quy định tại khoản 1 Điều này.”
Theo BEA 1882 Điều 14 về thời gian thanh toán, thanh toán phải đúng hạntrừ một số trường hợp:
- “Hóa đơn đến hạn và phải thanh toán trong tất cả các trường hợp vào ngàycuối cùng của thời gian thanh toán theo hoá đơn cố định hoặc, nếu đó là ngày làmviệc, vào ngày làm việc tiếp theo”
- “Khi dự luật được trả vào một thời hạn nhất định sau ngày, sau khi nhìn thấy,hoặc sau khi xảy ra một sự kiện cụ thể, thời gian thanh toán được xác định bằngcách loại trừ ngày mà từ đó bắt đầu chạy và bao gồm ngày thanh toán.”
- “Khi một hóa đơn phải trả trong một khoảng thời gian cố định sau khi nhìnthấy, thời gian bắt đầu chạy từ ngày chấp nhận nếu dự luật được chấp nhận, và kể từngày ghi nhận hoặc phản đối nếu dự luật được ghi nhận hoặc phản đối vì khôngphải chấp nhận, hoặc không giao hàng”
Điều 118 UCC 2002 về giới hạn thời gian quy định “Một hành động bắt buộcnghĩa vụ của một bên phải trả một hối phiếu được chấp nhận, không phải là sécđược chứng nhận phải được bắt đầu (i) trong vòng sáu năm sau ngày đến hạn hoặcngày ghi trong bản dự thảo hoặc chấp nhận nếu nghĩa vụ của chấp nhận thanh toántại một thời điểm nhất định, hoặc (ii) trong vòng sáu năm kể từ ngày chấp nhận, nếunghĩa vụ của bên chấp nhận được thanh toán theo yêu cầu.”
Về quy định ghi tên người thụ hưởng trên hối phiếu :
Theo khoản 4 điều 31 hình thức và nội dung ký chuyển nhượng của LuậtViệt Nam 2005 “ Khi chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng đầy đủ, ngườichuyển nhượng ký vào mặt sau của hối phiếu đòi nợ và phải ghi đầy đủ tên củangười được chuyển nhượng, ngày chuyển nhượng.” Họ tên và địa chỉ phải được ghi
rõ ràng và đầy đủ Nếu tên và địa chỉ người thụ hưởng không được ghi trên hốiphiếu, Luật công cụ chuyển nhượng Việt Nam quy định hối phiếu đó là vô hiệu
Trong khi BEA lại quy định số tiền ghi trên hối phiếu sẽ được thanh toán chongười cầm giữ hối phiếu
Trang 11 Về quy định ghi tên người bị ký phát trên hối phiếu :
Luật công cụ chuyển nhượng Việt Nam và quy định nếu không ghi rõ tênngười bị ký phát hối phiếu sẽ vô hiệu trong khi BEA quy định hối phiếu đó vẫn cógiá trị nếu thể hiện được một sự ‘ rõ ràng hợp lý”
Người ký phát là người lập ra mệnh lệnh đòi tiền vô điều kiện Chữ ký củangười ký phát là bắt buộc Luật công cụ chuyển nhượng Việt Nam còn yêu cầu phảiđóng dấu nếu người ký phát là cơ quan, tổ chức
2.1.2 Các nghiệp vụ liên quan đến hối phiếu đòi nợ
a Chấp nhận
Khái niệm
Điều 4.16 Luật Công cụ chuyển nhượng: chấp nhận là cam kết của người bị
ký phát về việc sẽ thanh toán toàn bộ hoặc một phần số tiền ghi trên hối phiếu đòi
nợ khi đến hạn thanh toán bằng việc ký chấp nhận trên hối phiếu đòi nợ theo quyđịnh của Luật này
Điều 13, khoản 2 Luật Anh BEA 1882 về Định nghĩa và điều kiện chấpnhận:
(1) Việc chấp nhận một dự luật là ý nghĩa của người rút ra sự đồng ý củamình với thứ tự của người ký phát
(2) Sự chấp nhận không hợp lệ trừ khi nó đáp ứng các điều kiện sau đây, cụthể là:
- Phải được ghi vào hóa đơn và được ký bởi người bị ký Chỉ có chữ ký củangười bị ký phát mà không có thêm từ là đủ
- Không được nói rằng người bị ký phát sẽ thực hiện lời hứa của mình bằngbất cứ phương tiện nào khác ngoài việc thanh toán tiền”
Điều 409 UCC 2002 về Chấp nhận: “Chấp nhận" có nghĩa là thỏa thuận kýkết của người bị ký phát phải trả một hối phiếu như đã trình bày Phải ghi vào bản
dự thảo và chỉ có thể có chữ ký của người bị ký phát Việc chấp nhận có thể đượcthực hiện vào bất kỳ lúc nào và có hiệu lực khi thông báo theo hướng dẫn được đưa
Trang 12ra hoặc bản dự thảo được chấp nhận được đưa ra nhằm mục đích trao quyền chongười nhận chấp nhận”
Hình thức chấp nhận
Trong Luật công cụ chuyển nhượng quy định, Điều 21, Khoản 1: Người bị
ký phát thực hiện việc chấp nhận hối phiếu đòi nợ bằng cách ghi trên mặt trước củahối phiếu đòi nợ cụm từ "chấp nhận", ngày chấp nhận và chữ ký của mình Nếuthiếu ngày chấp nhận hoặc chữ ký, thì chấp nhận được coi là vô hiệu
Trong khi BEA không bắt buộc phải có ngày chấp nhận.Theo BEA, trườnghợp không ghi ngày ký chấp nhận, người nắm giữ có thể tự bổ sung ngày ký chấpnhận thực tế (Điều 18 BEA 1882)
Theo Điều 409 UCC 2002, luật Mỹ yêu cầu “Người bị ký phát phải trả mộthối phiếu như đã trình bày Phải ghi vào bản dự thảo và chỉ có thể có chữ ký củangười bị ký phát”
Thời hạn chấp nhận
Về thời hạn xuất trình để yêu cầu chấp nhận:
Đối với hối phiếu trả chậm: Trong ULB và Luật công cụ chuyển nhượng,thời hạn xuất trình hối phiếu để yêu cầu chấp nhận là 1 năm, nếu thời hạn thanhtoán hối phiếu vào một thời điểm nhất định sau khi xuất trình Về khoản này, BEAquy đinh, thời hạn là thời gian hợp lý
Đối với hối phiếu quá hạn thanh toán: Trong ULB và Luật công cụ chuyểnnhượng quy định vô hiệu, BEA cho phép chấp nhận trong trường hợp quá hạn thanhtoán sau khi bị từ chối thanh toán trước đó, trước khi người ký phát ký
Về thời hạn trả lời yêu cầu chấp nhận sau khi xuất trình yêu cầu:
Trong Điều 19 Luật công cụ chuyển nhượng quy định, thời hạn chấp nhậnhối phiếu là 2 ngày kể từ ngày xuất trình hối phiếu, trong trường hợp hối phiếuđược xuất trình dưới hình thức thư bảo đảm bảo qua mạng bưu chính công cộng thìthời hạn này được tính từ ngày người bị ký phát xác nhận đã nhận được hối phiếu
Trang 13Luật UCC 2002, Điều 409 “Việc chấp nhận có thể được thực hiện vào bất kỳlúc nào và có hiệu lực khi thông báo theo hướng dẫn được đưa ra hoặc bản dự thảođược chấp nhận được đưa ra nhằm mục đích trao quyền cho người nhận chấp nhận “
Điều 14 Luật BEA 1882 về thời gian chấp nhận “Một dự luật có thể đượcchấp nhận-
(1) Trước khi ký kết với người ký phát, hoặc trong trường hợp không đầy đủ;(2) Khi quá hạn, hoặc sau khi đã bị làm mất hiệu lực bởi một sự từ chối chấpnhận trước đó, hoặc bằng cách không thanh toán;
(3) Khi một hóa đơn thanh toán sau khi nhìn thấy được làm mất hiệu lực bởikhông chấp nhận, và người bị ký phát sau đó chấp nhận nó, chủ sở hữu, nếu không
có bất kỳ thỏa thuận khác, có quyền có hóa đơn được chấp nhận vào ngày trình bàyđầu tiên cho thu hút để chấp nhận”
b Ký hậu chuyển nhượng
Khái niệm
Mục 31, BEA 1882: một hối phiếu được chuyển nhượng khi được chuyển từngười này qua người khác theo cách mà sau đó người được chuyển nhượng trởthành người hưởng lợi của hối phiếu
Mục 4 điều 14 Luật công cụ chuyển nhượng Việt Nam: chuyển nhượng làviệc người thụ hưởng chuyển giao quyền sở hữu công cụ chuyển nhượng cho ngườinhận chuyển nhượng theo các hình thức chuyển nhượng đã quy định
UCC 2002: không nêu định nghĩa
Hình thức
Trong Luật Công cụ chuyển nhượng chỉ cho phép ký sau hối phiếu,
Trong khi BEA và còn cho phép ký trên một tờ giấy kèm theo
Trong UCC không đề cập đến
Tính chất của ký hậu
Trang 14Ký hậu phải vô điều kiện, bất kỳ một điều khoản bổ sung nào đều được coi là
vô hiệu
Theo Luật công cụ chuyển nhượng: ký hậu là bằng chứng thể hiện cam kếttrả tiền hối phiếu của người ký hậu đối với người thụ hưởng kế tiếp (người được kýhậu) trong trường hợp hối phiếu bị từ chối thanh toán
Còn trong BEA, không quy định trách nhiệm của người ký hậu là bắt buộctrả tiền hối phiếu cho người được chuyển nhượng
c Bảo lãnh
Khái niệm
Điều 24, Luật công cụ chuyển nhượng định nghĩa, Bảo lãnh hối phiếu đòi nợ
là việc người thứ ba (sau đây gọi là người bảo lãnh) cam kết với người nhận bảolãnh sẽ thanh toán toàn bộ hoặc một phần số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ nếu đãđến hạn thanh toán mà người được bảo lãnh không thanh toán hoặc thanh toánkhông đầy đủ
Hình thức bảo lãnh
Cả BEA và Luật công cụ chuyển nhượng đều cho phép bảo lãnh bằng cách
ký trực tiếp lên hối phiếu hoặc bằng một văn bản riêng đính kèm và nếu bảo lãnhkhông ghi rõ tên của người được bảo lãnh thì việc bảo lãnh được coi là cho người
ký phát
Luật công cụ chuyển nhượng còn yêu cầu tên, địa chỉ, chữ ký của người bảolãnh và tên người được bảo lãnh Luật công cụ chuyển nhượng quy định, việc bảolãnh được thực hiện bằng cách người bảo lãnh ghi cụm từ “bảo lãnh”, số tiền bảolãnh, tên, địa chỉ, chữ ký của người bảo lãnh và tên người được bảo lãnh trên hốiphiếu hoặc trên tờ phụ đính kèm hối phiếu
Quyền và nghĩa vụ của người bảo lãnh
Luật công cụ chuyển nhượng quy định về quyền hạn và nghĩa vụ của ngườibảo lãnh:
Trang 15- Thanh toán hối phiếu đúng số tiền đã cam kết nếu người được bảo lãnhkhông thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán của mình khi đếnhạn thanh toán
- Sau khi thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, người bảo lãnh được tiếp nhận cácquyền của người được bảo lãnh
- Có quyền hủy bỏ việc bảo lãnh nếu hối phiếu không có đầy đủ những nộidung bắt buộc
d Truy đòi
Quyền truy đòi
Trong cả Luật các công cụ chuyển nhượng quy định, người thụ hưởng cóquyền truy đòi đối với người ký phát, người bảo lãnh, người chuyển nhượng trướcmình trong các trường hợp sau:
- Hối phiếu đòi nợ bị từ chối chấp nhận một phần hoặc toàn bộ
- Hối phiếu đến thời hạn thanh toán mà không được thanh toán theo nội dungcủa hối phiếu
- Người bị ký phát bị tuyên bố phá sản, giải thể, chết hoặc mất tích, kể cảtrường hợp hối phiếu đòi nợ đã được chấp nhận hoặc chưa được chấp nhận
- Hối phiếu chưa đến thời hạn thanh toán nhưng người ký phát bị tuyên bốphá sản, giải thể, chết hoặc mất tích và hối phiếu chưa được chấp nhận
Trang 16chối, kèm theo tên và địa chỉ của người đã thông báo cho mình Việc thông báo nàyđược thực hiện cho đến khi người ký phát nhận được thông báo về việc hối phiếuđòi nợ bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán Nếu trong thời hạn lậpkháng nghị có xảy ra sự kiện bất khả kháng thì thời gian diễn ra bất khả khángkhông tính vào thời hạn thông báo
Địa điểm lập kháng nghị
Địa điểm lập kháng nghị chỉ được quy đinh tại điều 19, khoản 3 trong BEA:
- Tại địa điểm hối phiếu bị từ chối
- Trường hợp hối phiếu được xuất trình và từ chối thông qua bưu điện: lậpkháng nghị tại địa điểm hối phiếu bị trả lại
- Đối với hối phiếu có địa điểm thanh toán khác với địa chỉ người bị ký phát:địa điểm lập kháng nghị tại địa điểm thanh toán
Giấy tờ cần thiết
Trong BEA, Mục 51, khoản 7, quy định: một kháng nghị phải bao gồm bảnsao hối phiếu và được ký bởi một công chứng viên và phải ghi rõ:
- Người yêu cầu lập kháng nghị
- Nơi và ngày tạo lập kháng nghị
- Nguyên nhân hay lý do lập kháng nghị
- Mệnh lệnh đã đưa ra và câu trả lời với mệnh lệnh đó (nếu có) hoặc thực tế làngười bị ký phát hay người chấp nhận hối phiếu không thể tìm thấy
- Lời hứa trả một số tiền nhất định vô điều kiện
- Công bố thời hạn trả tiền
- Công bố địa điểm trả tiền
Trang 17- Tên của người được trả tiền hoặc trả tiền theo lệnh của người đó
- Công bố ngày và địa điểm phát hành kỳ phiếu
- Tên và chữ ký của người phát hành kỳ phiếu
Do các quy định pháp lý đối với hối phiếu đòi nợ có thể áp dụng để điềuchỉnh đối với kỳ phiếu trong chừng mực không trái đối với kỳ phiếu cũng giống vớihối phiếu đòi nợ
CHƯƠNG II: VÍ DỤ MINH HỌA SO SÁNH CÁC NGUỒN LUẬT ĐIỀU
CHỈNH HỐI PHIẾU
1 Hối phiếu minh họa